Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cơ bản của cá Bống cát trắng ..... Phương pháp nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cá Bống cát trắng .... Chính vì lý do ñó, chúng tôi ñược phân công
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả và nghiên cứu trong luận văn là trung thực, ñược các ñồng tác giả cho phép sử dụng
và chưa từng ñược công bố trong bất kỳ trong một công trình nào khác
Họ và tên
Trần Lương Hồng Nhung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- TS Phan Đinh Phúc, người hướng dẫn khoa học trực tiếp ñã tận tình hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và ñóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Lãnh ñạo Trường Đại học Tây Nguyên, tập thể các Thầy Cô giáo Phòng Đào tạo sau ñại học, khoa Khoa học tự nhiên – Công nghệ, khoa Chăn nuôi – Thú y
- Các cán bộ, công nhân viên Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung - Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản III
- Các Thầy Cô giáo ñã tận tâm giảng dạy, truyền thụ những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
- Bạn bè, người thân ñã giúp ñỡ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn
Người thực hiện
Trần Lương Hồng Nhung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn ñề tài 1
2 Mục tiêu ñề tài 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Lược sử vấn ñề nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1 Nghiên cứu về phân loại, phân bố của cá 4
1.1.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học – sinh thái 4
1.1.3 Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh sản 8
1.2 Lược sử nghiên cứu cá ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu về phân loại 9
1.2.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sinh sản của cá 10
1.2.3 Nghiên cứu thủy sinh ở hồ Lắk 13
1.2.4 Nghiên cứu về cá Bống cát trắng 13
1.3 Đặc ñiểm tự nhiên và xã hội của hồ Lắk 15
1.3.1 Vị trí ñịa lý và diện tích của hồ Lắk 15
1.3.2 Chế ñộ thủy văn 16
1.3.3 Địa hình – khí hậu 17
1.3.4 Đặc ñiểm kinh tế xã hội 19
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Vật liệu nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.3.1 Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cơ bản của cá Bống cát trắng 21
2.3.2 Bước ñầu nuôi thử nghiệm sinh sản cá Bống cát trắng 21
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cá Bống cát trắng 21
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm sinh sản cá Bống cát trắng 28
Trang 42.5 Xử lý và phân tích số liệu 30
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Một số ñặc ñiểm sinh học của cá Bống cát trắng 31
3.1.1 Đặc ñiểm về hình thái bên ngoài của cá Bống cát trắng 31
3.1.2 Đặc ñiểm sinh trưởng của cá Bống cát trắng 32
3.1.3 Đặc ñiểm dinh dưỡng của cá Bống cát trắng 38
3.1.4 Đặc ñiểm sinh sản cá Bống cát trắng 43
3.2 Kết quả thứ nghiệm sinh sản trong ñiều kiện nhân tạo của loài cá Bống cát trắng 66
3.2.1 Thuần hóa cá bố mẹ 66
3.2.2 Tạo ñàn cá bố mẹ 69
3.2.3 Đánh giá sức sinh sản của cá nuôi trong bể 69
3.2.4 Tỷ lệ cá thành thục và kết quả sinh sản nhân tạo tại các công thức nuôi vỗ 70
3.1.5 Kết quả thử nghiệm ấp trứng cho cá Bống cát trắng trong môi trường nhân tạo 71
3.1.6 Kết quả ương nuôi cá bột 73
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
4.1 Kết luận 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 0
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chiều dài và chiều rộng của cá Bống cát trắng theo nhóm kích thước 33 Bảng 3.2 Chiều dài và khối lượng của cá Bống cát trắng theo nhóm kích thước 35 Bảng 3.3 Sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng qua các tháng nuôi thử
Bảng 3.13 Đánh giá sức sinh sản của cá nuôi trong bể 69 Bảng 3.14 Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục tại các công thức nuôi vỗ 70 Bảng 3.15 Kết quả cho cá ñẻ nhân tạo tại các công thức nuôi vỗ 70 Bảng 3.16 Kết quả thí nghiệm ấp trứng trong các loại dụng cụ khác nhau tại
Trang 6DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Cơ cấu giới tính của cá Bống cát trắng 46
Đồ thị 3.2 Kích thước thành thục ban ñầu của cá Bống cát trắng cái 57
Đồ thị 3.3 Kích thước thành thục ban ñầu của cá Bống cát trắng ñực 57
Đồ thị 3.4 Kích thước thành thục ban ñầu của cá Bống cát trắng lưỡng tính theo
Đồ thị 3.10 Biến ñộng phần trăm thành thục sinh dục cái theo thời gian 64
Đồ thị 3.11 Biến ñộng phần trăm các giai ñoạn thành thục ñực theo thời gian 65
Trang 81 Lý do chọn ñề tài
Đắk Lắk có hệ thống sông suối dày ñặc với hàng trăm hồ chứa, hồ tự nhiên lớn nhỏ là ñiều kiện thuận lợi ñể phát triển ngành thủy sản nói chung và nghề khai thác thủy sản nội ñịa nói riêng So với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên, khu hệ thuỷ sinh của Đắk Lắk có tính ña dạng sinh học tương ñối cao Theo kết quả ñiều tra của trường Đại học Tây Nguyên về thành phần giống loài khu hệ cá nước ngọt Tây Nguyên, ở Đắk Lắk có 201 loài cá, trong ñó có 22 loài có giá trị kinh tế, 7 loài trong sách ñỏ Việt Nam, 1 loài trong sách ñỏ của IUCN [4]
Hồ Lắk là hồ tự nhiên lớn nhất Đắk Lắk và cả Việt Nam với diện tích khoảng 658 ha Hồ ñược bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh nên có hệ ñộng thực vật phong phú, ña dạng, ñã ñược xác ñịnh là khu rừng lịch sử văn hóa môi trường hồ Lắk từ năm 1995 Hồ là nơi trú ngụ của rất nhiều loài thủy sinh vật, là nguồn lợi cho cư dân ñịa phương sinh sống ở khu vực quanh hồ Bên bờ
hồ còn có buôn Jun, buôn M’Liêng, những buôn người M’Nông cư trú lâu ñời, là cái nôi của nền văn hóa M’Nông Đây không những là ñiểm du lịch ưa thích của nhiều du khách trong ngoài nước mà còn nổi tiếng từ lâu về ñặc sản cá Thát lát,
cá Lăng, cá Trèn bầu, cá Bống…, là những món ăn ngon ñược nhiều người biết ñến [2]
Qua thống kê về cá nước ngọt miền Nam Việt Nam của Mai Đình Yên, có
rất nhiều loài cá Bống như: Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmoratus), cá Bống cát tối (Glossogobius giuris), cá Bống cau (Bustis butis), cá Bống mắt
(Ctenogobius ocellatus), cá Bống cát trắng (Glossogobius sparsipapillus) [32]…
Loài cá Bống cát trắng ở hồ Lắk có giá trị kinh tế cao (giá bán tại chợ thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk dao ñộng từ 80.000ñ - 100.000ñ/kg), ñược nhiều người
ưa chuộng vì thịt thơm ngon, có thể ăn cả xương, chế biến ñược nhiều món ăn như: Cá bống kho tiêu, kho nghệ, chiên giòn…
Trang 9Sự phát triển của kinh tế, xã hội, áp lực về dân số, ô nhiễm môi trường, khai thác thủy sản bừa bãi, ñánh bắt bằng các ngư cụ mang tính hủy diệt ñã làm giảm ña dạng sinh học của thuỷ sinh vật ở hồ Lắk một cách nghiêm trọng Nguồn lợi thủy sản nói chung và một số loài thủy sản ñược coi là ñặc sản của hồ ñã suy giảm nghiêm trọng và ñang có nguy cơ mất hẳn Muốn bảo vệ tốt nguồn lợi thủy sản nói chung, bảo vệ các loài cá Bống nói riêng trước hết phải có những hiểu biết nhất ñịnh về phân loại, ñặc ñiểm sinh thái và sinh học của chúng Việc nuôi thử nghiệm
và xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo có ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen của các loài cá này Về lâu dài sẽ góp phần duy trì sản lượng cá bống theo hướng tối ưu bền vững, góp một phần vào việc ổn ñịnh và phát triển kinh tế cộng ñộng ngư dân khai thác cá ở hồ Lắk
Chính vì lý do ñó, chúng tôi ñược phân công thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu
một số ñặc ñiểm sinh học cá Bống cát trắng Glossogobius sparsipapillus tại
- Thử nghiệm cho sinh sản cá Bống cát trắng Glossogobius sparsipapillus
3 Ý nghĩa của ñề tài
- Bổ sung dẫn liệu về cá Bống cát trắng Glossogobius sparsipapillus
cho khoa học
- Kết quả nghiên cứu bước ñầu hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc ñưa vào xây dựng nuôi sinh sản, nuôi thương phẩm cá Bống cát trắng
Glossogobius sparsipapillus
Trang 104 Giới hạn của ñề tài
- Thời gian: Từ tháng 8năm 2010 ñến tháng 8 năm 2011
- Địa ñiểm:
+ Phòng thí nghiệm bộ môn sinh học ñại cương trường Đại học Tây Nguyên + Văn phòng Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung - Viện Nghiên cứu NTTS III, 53 Ngô Thì Nhậm, phường Tân An, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
+ Khu vực nuôi thử nghiệm: Huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
- Do ñề tài giới hạn về thời gian nghiên cứu nên chúng tôi tập trung thực hiện những nội dung sau:
+ Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cơ bản cá Bống cát trắng Glossogobius
sparsipipallus ở hồ Lắk như ñặc ñiểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản
+ Bước ñầu nghiên cứu nuôi thử nghiệm sinh sản bằng hình thức nuôi trong bể xi măng
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lược sử vấn ñề nghiên cứu trên thế giới
Cá là lớp ñộng vật có số lượng lớn trong tự nhiên, chúng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn Không những thế chúng còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho con người và các loài ñộng vật khác
Trong y tế, nhiều loài cá ñược sử dụng ñể làm thành phần ñiều chế thuốc chữa bệnh như dầu cá, vitamin , phòng bệnh cho con người và các sinh vật khác Theo Đông Y, cá Bống cát trắng còn ñược gọi là Sa ngư, có vị ngọt, tính bình, không ñộc
có các tác dụng noãn trung, ích khí, ấm tỳ vị (Nam dược thần hiệu)
Đối với ñời sống, cá ñược chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, là thức ăn quan trọng trong ngành chăn nuôi Phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến cá còn là nguồn phân bón rất tốt cho trồng trọt
Vì vậy, ngay từ rất sớm ñã có nhiều các công trình nghiên cứu về cá, thuộc nhiều các lĩnh vực khác nhau như: Nghiên cứu về phân loại, phân bố, dinh dưỡng, sinh sản,…
1.1.1 Nghiên cứu về phân loại, phân bố của cá
Ngay từ ñầu thế kỷ XIX có nhiều công trình nghiên cứu về phân loại cá như Boulenger (1851) và Gunther (1899) ñã giới thiệu 6843 loài cá ở bảo tàng Anh [22] Năm 1996 Rainboth ñã công bố cuốn sách “Những loài cá sông Mê Kông ở Campuchia” Cuốn sách này ñã giới thiệu nguồn gốc, phân bố, hình ảnh của 216 loài cá sông Mê Kông thuộc ñịa phận nước Campuchia, trong ñó có 4 loài thuộc
giống cá Bống cát (G.sparsipipallus)[37]
1.1.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học – sinh thái
Những nghiên cứu về tuổi cá ñược tiến hành từ rất sớm Xuvorov và Arnold là hai nhà khoa học người Nga (1909 – 1910) công bố công trình nghiên cứu về tuổi cá ñầu tiên [22]
Trang 12Năm 1973, Pravidin ñã xây dựng phương pháp xác ñịnh phương pháp xác ñịnh tuổi cá Ông khẳng ñịnh: Các xương nắp mang, xương hàm, xương vòm miệng, xương ñai vai và cả xương phẳng của sọ ñều có vân sinh trưởng nhưng vòng vân của xương ñá tai và xương nắp mang vẫn rõ hơn các xương khác [22]
Fulton (1902) ñề ra phương pháp xác ñịnh hệ số béo của cá sau này ñã ñược Clark (1928) kế thừa, sửa ñổi và bổ sung ñưa ra các công thức tính hệ
số béo của cá:
Công thức của Fulton (1902): QFulton = W x 100/L3
Công thức của Clark (1928): QFulton = W0 x 100/L3
Trong ñó:
- Q: Hệ số béo của cá
- L: Chiều dài của cá ño từ mút mõm ñến hết tia vây ñuôi dài nhất (cm)
- W: Khối lượng toàn thân của cá (g)
- W0: Khối lượng của cá ñã bỏ các nội quan (g)
Khi xác ñịnh hệ số béo của cá, người ta ñã lấy khối lượng chung của nó kể cả nội quan Phương pháp như vậy chưa phản ánh ñược những chỉ số thật sự của ñộ béo Năm 1961, Amoxov ñã tìm ra phương pháp xác ñịnh chỉ số cơ cấu bên ngoài mới của cá và ñộ béo của nó không phụ thuộc vào mức ñộ phát triển của tuyến sinh dục, ñộ no của bộ máy tiêu hoá và những nhân tố khác Phương pháp nghiên cứu của ông dựa trên hình dạng cắt ngang của cơ thể
cá, ñặc biệt trên cơ sở xác ñịnh vòng ngang qua lưng cá ở chỗ có chiều cao
cơ thể lớn nhất Ông ñề nghị những số ño chủ yếu sau: Chiều dài cá ñến phần cuối phủ vảy, chiều dài ñầu, chiều cao lớn nhất của cơ thể, những số ño
ở chỗ cắt ngang theo 3 ñiểm của nửa cung lưng
Phương pháp của Amoxov khó áp dụng trong thực tế, vì vậy khi nghiên cứu hiện trường người ta dùng phương pháp xác ñịnh mỡ ñơn giản của Prozoroxkaia Ông ñã ñưa ra một tiêu chuẩn gồm 5 bậc ñể xác ñịnh mỡ của
cá, ñược Nikolxki (1963) trình bày như sau:
Trang 13Bậc 0: Ruột không có mỡ Đôi khi ruột non có một lớp màng trắng mỏng bao phủ Giữa những mấu của ruột non thấy rõ các sợi của màng này
Bậc 1: Có một dải mỡ mỏng nằm giữa phần thứ hai và thứ ba của ruột non Đôi khi ở mép trên của phần thứ hai có một dải mỡ rất hẹp ñứt quãng
Bậc 2: Có một dải mỡ hẹp tương ñối dày ở giữa phần hai và thứ ba của ruột non Ở mép trên của phần thứ hai có dải mỡ hẹp liên tục không ñứt quãng Ở mép dưới của phần thứ ba có chỗ thấy rõ mỡ nằm thành những phần nhỏ riêng biệt Bậc 3: Có dải mỡ rộng ở giữa phần thứ hai và thứ ba của ruột Ở mấu ruột giữa phần thứ hai và thứ ba dải này rộng ra Có một dải mỡ rộng ở mép trên của phần thứ hai và mép dưới của phần thứ ba Ở chỗ cong thứ nhất của ruột, nếu tính từ phần cuối ñầu có một khối mỡ hình tam giác Ở phần ruột cuối hậu môn
ña số các trường hợp ñều có lớp mỡ mỏng
Bậc 4: Ruột hầu như hoàn toàn bị mỡ bao phủ, chỉ trừ có những chỗ trống
mà qua ñó ta nhìn thấy ruột thôi Những chỗ trống nhỏ này thường ở mấu thứ hai
và phần thứ ba của ruột Đôi khi cũng gặp những chỗ trống ấy ở phần thứ hai của ruột Những u mỡ ở hai bên mấu ruột rất lớn
Bậc 5: Tất cả ruột ñều bị phủ một lớp mỡ dày, không có chỗ trống nào, những u mỡ ở hai bên mấu ruột rất lớn
Pravdin là người có công tổng kết các công trình nghiên cứu khoa học về ngư loại học Trong ñó có giới thiệu phương pháp tính ngược sinh trưởng về hàng năm theo tỷ lệ chiều dài thân và ñường kính vẩy, ñược công bố bởi tác giả Einar Lea (1910 – 1937) Phương pháp tính này ñược Rosa Lee (1920) sửa ñổi, bổ sung cho rằng không phải sinh trưởng của chiều dài thân tỉ lệ thuận với bán kính của vẩy mà chỉ có mức tăng của chúng tỷ lệ thuận với nhau khi ñã có một kích thước
n Hiện nay, phương pháp của Elea (1910 - 1937) và Rosa Lee (1920) vẫn ñược sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu về ngư loại học
Trong cuốn sách “Hướng dẫn nghiên cứu cá” của tác giả Pravdin ñã tổng kết công trình nghiên cứu về sinh trưởng của hai tác giả Berverton – Holt (1956) Hai nhà nghiên cứu này ñã giới thiệu phương trình tương quan giữa chiều dài và
Trang 14khối lượng của cá Phương trình này ñược các tác giả Võ Văn Phú [16], [18], Bùi Thanh Loan [12] và nhiều tác giả khác áp dụng
Dựa vào số ño về chiều dài và khối lượng của cá ñể tính tương quan theo phương trình của Berverton – Holt (1956): W = a x Lb
Trong ñó: - W: Khối lượng toàn thân của cá (g)
- L: Chiều dài toàn thân cá (cm)
- a, b: Các hệ số tương quan nhất ñịnh [29]
Năm 1934, trong cuốn sách: “Hướng dẫn thu mẫu và xử lý dữ liệu nghiên cứu
về thức ăn của cá” của Bogorov vạch ra cách thu thập mẫu thức ăn và cách xử lý ñể ñưa ra những nhận ñịnh chính xác về dinh dưỡng của loài cần nghiên cứu [22] Nghiên cứu về dinh dưỡng ñược các nhà khoa học quan tâm, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thức ăn tự nhiên, thức ăn nhân tạo, ñể góp phần tăng mức ñộ sinh trưởng sản lượng và khả năng tái sản xuất quần thể của cá
Theo Pravidin, từ ñầu thế kỷ XX, có rất nhiều công trình nghiên cứu về dinh dưỡng ñã ñược công bố, ñiển hình là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Bogorov (1934), Demenieva và Ilin (1938), Pillay (1953), Brotxkaia (1939), Lisev (1950), Pirojnirov (1953), Borutxki (1955), Jadin (1956, 1960), [22].Tác giả Bogorov năm 1934, ñã giới thiệu cuốn sách: “Hướng dẫn thu mẫu
và xử lý dữ liệu nghiên cứu về thức ăn cho cá” Đây là một tài liệu quý cho các nhà nghiên cứu cá bởi nó vạch ra các cách thu thập mẫu thức ăn và cách xử lý ñể ñưa ra những nhận ñịnh chính xác về dinh dưỡng của các loài cá cần nghiên cứu Năm 1961, Viện hàn lâm khoa học Liên Xô ñã xuất bản cuốn “Hướng dẫn nghiên cứu thức ăn của cá trong ñiều kiện thiên nhiên” do một số chuyên gia về lĩnh vực này viết, dưới sự chỉ ñạo của Borutxki Cuốn sách này ñã trình bày ñầy ñủ phương pháp nghiên cứu thức ăn của các loài cá ăn sinh vật nổi, sinh vật ñáy, ăn thực vật và những loài cá dữ, cho ta danh sách những tài liệu tham khảo chủ yếu [22]
Trang 151.1.3 Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh sản
Năm 1923, Kixelevits ñưa ra phương pháp nghiên cứu xây dựng bậc thang chín muồi sinh dục của cá, ñưa ra sơ ñồ xác ñịnh ñộ chín của tuyến sinh dục của
cá gồm 6 giai ñoạn chung [22]
Năm 1937, Krokhin và Krogiu ñã nghiên cứu bãi ñẻ trứng của cá Hồi Viễn Đông ở Kamksatka Nghiên cứu ñã nêu lên ñược ñiều kiện kiện sinh thái của bãi
ñẻ trứng của cá Hồi [22]
Theo Pravidin, trong công trình nghiên cứu của giáo sư Driagin có thông báo về
hệ số và chỉ số chín muồi sinh dục và những tài liệu về sự di cư ñẻ trứng của cá ở hồ Ilmen Có thể sử dụng tài liệu này như những tài liệu có tính chất hướng dẫn về phương pháp ñể quan sát sự ñẻ trứng của các cá ở các vực nước khác nhau
Năm 1941, trong công trình nghiên cứu về cá Vền (Abramis brama) của tác
giả Velikokhatko ñã thiết lập ñược mối quan hệ giữa sức sinh sản với chiều dài khối lượng và tuổi cá [22]
Ngày nay, ñã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu về sinh sản của cá ñược công bố, song các phương pháp nghiên cứu của Kixelevits (1923) vẫn ñược sử dụng nhiều nhất Ông cho rằng sơ ñồ xác ñịnh ñộ chín của tuyến sinh dục gồm:
- Giai ñoạn I: Những cá thể chưa chín muồi sinh dục Tuyến sinh dục chưa phát triển, nằm sát vào phía trong của vách cơ thể (theo hai bên hông và dưới bóng hơi) và là những sợi dây dài, hẹp hoặc là những ñường mà mắt thường không thể xác ñịnh ñược ñực cái
- Giai ñoạn II: Những cá thể trưởng thành hoặc là những sản phẩm sinh dục phát triển sau khi ñẻ trứng Tuyến sinh dục bắt ñầu phát triển và dày thêm ra tạo thành trứng hoặc tinh sào, hạt trứng nhỏ, mắt thường không nhìn thấy ñược Có thể phân biệt ñược buồng trứng hay tinh sào vì buồng trứng có mạch máu tương ñối lớn, chạy dọc và hướng về phía giữa thân ñập ngay vào mắt Tuyến sinh dục còn nhỏ và chiếm một phần xoang cơ thể
- Giai ñoạn III: Tuyến sinh dục chưa chín nhưng tương ñối phát triển Buồng trứng ñược tăng lên nhiều về kích thước, chiếm từ 1/3 ñến 1/2 xoang
Trang 16bụng và chứa ñầy ñủ những hạt trứng nhỏ, ñục, hơi xám mà mắt thường trông rõ Nếu cắt buồng trứng và nạo nó bằng ñầu kéo ñể lấy ra những hạt trứng riêng, thì trứng khó tách ra khỏi những vách ngăn bên trong của buồng trứng và luôn luôn kết thành từng chùm gồm một vài hạt Tinh sào có phần trước rộng hơn và bị hẹp lại ở phần sau Bề mặt của nó màu hồng, ở một số cá màu hơi ñỏ vì có nhiều mạch máu nhỏ Khẽ ấn vào tinh sào, không thấy sẹ lỏng chảy ra Khi cắt ngang tinh sào, các mép của nó không trơn mà sắc cạnh
- Giai ñoạn IV: Các tuyến sinh dục hầu như ñạt ñến mức phát triển cao nhất Buồng trứng rất lớn và chiếm khoảng 2/3 xoang bụng Hạt trứng lớn, trong suốt và khi ấn có sẹ chảy ra Khi cắt buồng trứng và nạo bằng kéo, trứng rời ra từng cái một Tinh sào màu trắng, chứa sẹ, rất dễ chảy ra khi ta ấn tay vào bụng cá Nếu cắt ngang tinh sào, các mép của nó tròn lại ngay, và chỗ cắt có dịch nhờn chảy ra
- Giai ñoạn V: Trứng và sẹ khi chín, ta dùng tay ấn nhẹ xuống bụng cá trứng và sẹ sẽ chảy ra thành tia Nếu cầm ngược cá lên, lắc nhẹ thì chúng chảy ra tự do
- Giai ñoạn VI: Các cá thể sau khi ñẻ Sản phẩm sinh dục không còn Xoang cơ thể rỗng Buồng trứng và tinh hoàn rất nhỏ, sưng lên, có màu ñỏ thầm Thông thường trong buồng trứng còn lại một ít trứng nhỏ Những trứng ñó chuyển biến và thoái hoá ñi Qua một vài ngày nó lại mọng lên và tuyến sinh dục chuyển sang giai ñoạn II – III
1.2 Lược sử nghiên cứu cá ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về phân loại
Năm 1972, tác giả Vương Dĩ Khang công bố cuốn sách “Ngư loại học” Cuốn sách không chỉ giới thiệu kết quả nghiên cứu của nhiều nhà ngư loại học
mà còn trình bày hình thái cấu trúc cơ thể cá, chu kỳ sống, môi trường, phân bố ñịa lý… của nhiều loài cá [7]
Năm 1992, Mai Đình Yên và cộng sự ñã ñưa ra danh sách các loài cá nước ngọt Nam bộ, công bố trong nghiên cứu “Định loại các loài cá nước
Trang 17ngọt Nam bộ”, trong ñó có mô tả ñặc ñiểm hình thái và cách phân loại loài G
sparsipapillus [33]
Năm 2004 – 2005, Nguyễn Văn Khánh và các cộng sự, tiến hành nghiên cứu: “Thành phần các loài cá ở sông Hàn thành phố Đà Nẵng”, kết quả ñã ñịnh loại ñược 85 loài cá thuộc 71 giống, 48 họ và 15 bộ Trong ñó có 15 loài có giá trị kinh tế, 2 loài có tên trong sách ñỏ [9]
Năm 2005, Ngô Sĩ Vân và Phạm Anh Tuấn trong công trình nghiên cứu:
“Bước ñầu nghiên cứu khu hệ cá vùng núi ñá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình”, kết quả công bố 177 loài trong 95 giống, 36 họ và 11 bộ [31] Năm 2006, Võ Văn Phú và các cộng sự trong báo cáo: “Đánh giá ña dạng sinh học về thành phần loài cá ở Thừa Thiên Huế”, kết quả ñã xác ñịnh ñược 79 loài cá thuộc 38 giống, 13 họ, 5 bộ [17]
Năm 2009, Võ Văn Phú và Nguyễn Duy Thuận trong báo cáo: “Cấu trúc thành phần loài cá ở hệ thống sông Ô Lâu, tỉnh Thừa Thiên Huế”, ñã xác ñịnh
109 loài, 76 giống với 31 họ thuộc 11 bộ khác nhau, trong ñó bộ cá chép chiếm
ưu thế với 37 loài [20]
1.2.2 Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sinh sản của cá
Năm 2002, Nguyễn Tường Anh và Nguyễn Dương Dũng, kích thích cá chép sinh sản bằng 17α – hydroxy 20β – dihydroproggesteron Tác giả nhận thấy
ở liều lượng 5mg/kg luôn cho kết quả rụng trứng và sinh sản tốt [1]
Năm 2003, Nguyễn Thanh Phương và các cộng sự tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học, dinh dưỡng và sinh sản của cá Nâu
Scatophagua argus”, kết quả ñã mô tả ñặc ñiểm hình thái, cơ quan sinh dưỡng, sự
sinh trưởng và các giai ñoạn phát triển phôi, thành thục sinh dục của cá Nâu [21] Năm 2003 – 2004, Nguyễn Văn Triều và các cộng sự tiến hành nghiên cứu ñề
tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học của cá Kết Kryptopterus bleeker”, kết quả ñã
mô tả ñặc ñiểm hình thái, ñặc ñiểm dinh dưỡng và sự thành thục của cá Kết [28] Năm 2004, Lê Thị Nam Thuận, trong nghiên cứu: “Kết quả bước ñầu về mối liên hệ của một số yếu tố môi trường sinh thái và sự xuất hiện các loài thủy
Trang 18sản vùng Thuận An, hệ ñầm phá Tam Giang dựa và cộng ñồng”, kết quả cho thấy có sự dao ñộng mạnh về pH và ñộ mặn giữa các tháng, từ ñó ảnh hưởng rất nhiều ñến sự xuất hiện của các loài thủy sản, một số loài thủy sản chỉ xuất hiện vào một ñiều kiện thời tiết nhất ñịnh trong năm [26]
Năm 2005, trong hội thảo khoa học của Viện nghiên cứu Thủy sản I, tác giả Nguyễn Đức Tuân và các cộng sự ñã ñưa ra kết quả “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo
cá Lăng chấm Hemibragrus guttatus (Lacepede, 1803) trong ñiều kiện nuôi”, kết
quả ñã xây dựng ñược quy trình nhân nuôi và loại thức ăn cho loài cá này [29] Năm 2006, tác giả Ngô Văn Triều trong báo cáo: “Kỹ thuật sinh sản nhân
tạo và ương nuôi cá Rô ñồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) ở Đồng bằng
Sông Cửu Long” ñã chỉ ra loại thức ăn có 30% protein giúp cá thành thục tốt,
tỉ lệ sống của cá con ương trong bể cao hơn ở ao ñất, mật ñộ nuôi là 30 con/100m2 là tốt nhất [27]
Năm 2006, Nguyễn Văn Triều và các cộng sự, trong ñề tài: “Nghiên cứu
ñặc ñiểm sinh học của cá Kết (Kryptopterus bleekeri Gunther, 1864) ”, chỉ ra các
loại thức ăn của cá chủ yếu nghiêng về ñộng vật, nhất là ñộng vật có xương sống, hệ số thành thục là 2,71 [29]
Năm 2006, Phạm Trần Nguyên Thảo và các cộng sự, trong công trình
nghiên cứu: “Đặc ñiểm sinh học, sinh sản của cá Đối (Liza subviridis)”, tác giả
ñã kết luận cá Đối là cá sinh sản nhiều hơn một lần trong một năm, mùa vụ sinh sản chính là tháng 1 ñến tháng 3 hàng năm, sức sinh sản và trọng lượng cá có mối liên quan thuận [25]
Năm 2006, Nguyễn Bạch Loan và các cộng sự, trong ñề tài: “Đặc ñiểm hình
thái, sinh học, sinh sản của cá Leo (Wallago attu Bloch & Schneider, 1801)”, ñã
kết luận hệ số thành thục của cá Leo cao nhất là 0,5 – 0,81% vào tháng 6, mùa vụ sinh sản trong tự nhiên là từ tháng 5 cho ñến tháng 10 hàng năm [11]
Năm 2007, tác giả Nguyễn Phi Nam, trong “Nghiên cứu sản xuất nhân tạo
giống cá Dầy (Cyprinus centralus Nguyen et Mai, 1994) và nuôi thử nghiệm luân
canh cá Dầy thương phẩm trong ao nuôi tôm sú thuộc ñầm phá các tỉnh Thừa Thiên
Trang 19Huế”, ñưa ra các yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới khả năng thành thục và sinh sản của
cá Dầy và ñề xuất quy trình nhân nuôi cá Dầy hoàn chỉnh [14]
Năm 2007, Võ Văn Phú và Bùi Minh Thắng, nghiên cứu: “Đặc tính dinh dưỡng
của cá Sỉnh gai onychostoma laticeps (Gunther, 1896) tại hồ Phú Ninh và các vùng
phụ cận, tỉnh Quảng Nam”, kết quả ñưa ra phổ thức ăn của cá Sỉnh gai tương ñối rộng, tuổi 1+ cường ñộ bắt mồi cao, hệ số béo tăng dần theo nhóm tuổi [19]
Năm 2008, Lý Văn Khánh và các cộng sự trong nghiên cứu: “Đặc ñiểm
sinh học dinh dưỡng và sinh sản của lươn ñồng Monopterus albus”, kết quả lươn
ñồng là loài ăn ñộng vật, lươn ñồng có chiều dài nhỏ hơn 30cm là cái, chiều dài lớn 50cm là ñực, chiều dài nằm từ 30 – 50cm là lưỡng tính, sức sinh sản tuyệt ñối từ 143 – 6813 trứng/cái, sức sinh sản tương ñối 4828 – 65771 trứng/kg, ñường kính trứng ở giai ñoạn IV là 0,5mm [8]
Năm 2009, Bùi Thanh Loan, trong luận văn cao học với ñề tài: “Bước ñầu tìm hiểu ñặc ñiểm sinh học và nuôi thử nghiệm bằng hình thức nuôi lồng loài cá Lăng
ñuôi ñỏ Mystus Wyckioides ở thành phố Buôn Ma Thuột”, kết quả ñã ñưa ra phương
trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng là W = 10,7x10-7xL3,3637, phổ thức ăn của cá Lăng ñuôi ñỏ nghiêng về ñộng vật hơn thực vật [12]
Năm 2010, Võ Văn Phú Nguyễn Thị Hoàn trong báo cáo: “Đặc ñiểm sinh
trưởng của cá chỉ vàng Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa
Thiên Huế”, tác giả ñưa ra phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng theo Von Bertalanffy có dạng:
Chiều dài : Lt = 228,6 x [1 - e-0,379( t + 0,947)]
Khối lượng: Wt = 215 x [1 - e-0,041(t + 0,2815)]2,84899
Thành phần thức ăn chủ yếu là ñộng vật không xương sống, hệ số béo ở nhóm tuổi 2+ là cao nhất [18]
Năm 2011, Võ Văn Phú, Lê Thị Đào trong báo cáo: “Đặc ñiểm sinh sản của
cá Tráp vây vàng Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) tại vùng ven biển Thừa
Thiên Huế” Tác giả ñã trình bày ñược tuyến sinh dục của cá biến ñổi theo 5 giai
Trang 20ñoạn, là loài lưỡng tính, biệt hóa theo hướng ñực trước, cái sau Hệ số thành thục cao nhất vào tháng 12 ñến tháng 3, cá bắt ñầu sinh sản ở tuổi 2+ [16].
1.2.3 Nghiên cứu thủy sinh ở hồ Lắk
Năm 1978, Nguyễn Trọng Nho nghiên cứu một số yếu tố môi trường thủy sinh hồ Lắk [15]
Chương trình Tây Nguyên 2, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật ñã khảo sát chung về khu rừng lịch sử văn hóa hồ Lắk, công bố hồ Lắk có 35 loài cá, 3 loài ốc, 3 loài tôm và 2 loài cua [3]
Năm 1996 – 2005, Phan Đinh Phúc và các cộng sự thực hiện nghiên cứu về chất lượng nước, sản lượng khai thác, khu hệ cá của 3 hồ Eakao, hồ Lắk và hồ Easup, từ ñó ñưa ra các biện pháp quản lý bền vững và khai thác nguồn lợi thủy sản ở ñây Trong ñó ñã ñưa ra nhiều dẫn liệu sinh thái, thành phần loài, ñặc ñiểm sinh học và sinh sản của khu hệ cá ở hồ Lắk [35]
Năm 2000, Nguyễn Thị Thu Hè trong luận án tiến sĩ: “Điều tra khu hệ cá của sông suối Tây Nguyên”, ñã khảo sát và ñưa ra danh sách 86 loài cá có mặt
tại các hồ ở Tây Nguyên, trong ñó có loài cá Bống cát trắng Glossogobius
sparsipapillus thuộc giống cá Bống cát ở hồ Lắk [5]
1.2.4 Nghiên cứu về cá Bống cát trắng
Cá Bống cát trắng G sparsipapillus ñược Akihito và Meguro (1976) mô tả
lần ñầu tiên ở miền Nam Việt Nam (Cần Thơ) [36]
Năm 1992, Mai Đình Yên và các cộng sự, trong: “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” mô tả loài cá Bống cát trắng qua 9 mẫu thu ñược ở Bến Tre, Tân Châu như sau:
L = 82 – 231 mm Lo = 65 – 179 mm
D = VI; I/9 A = I/8 P = 20 V = I/5
L.1 = 30 – 31 TR = 9 – 10 Pred = 20 – 21
H/Lo = 17,9 T/Lo = 31,5 O/T = 13,7 OO/t = 9,6
Thân thon dài, phía sau dẹp ngang, ñầu dẹp ñứng, mõm dài và nhọn Mắt gần như nằm ngang trên ñỉnh ñầu Hai lỗ mũi tương ñối gần nhau, lỗ mũi trước hình
Trang 21ống Miệng rộng, xiên, hàm dưới nhô ra, rãnh miệng kéo dài tới bờ trước của ổ mắt Trên mỗi hàm có nhiều hàm răng, hàng trong và ngoài cùng nở rộng Lưỡi chẻ ñôi, khe mang rộng, trên má có 5 ñường cảm giác chạy song song Vảy tròn, trước vây lưng nhỏ kéo dài ñến bờ sau ổ mắt, thân phủ vảy lược to Vây lưng hai cái rời nhau, vây bụng hình bầu dục dài, vây ñuôi tù Thân có màu nâu, có 5 ñường ñốm ñen nhạt dọc theo ñường giữa hông Bề rộng ñốm ñen nhỏ hơn nửa chiều cao thân tại chỗ ñó, trên nắp mang có màu nâu ñen, có ñốm ñen nhạt [30] Năm 1993, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương trong cuốn sách:
“Định loại cá nước ngọt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” cũng mô tả giống cá Bống cát qua 28 mẫu phân tích cho rằng kích thước 56 – 195 mm với phần mô tả
có một chút khác biệt: Đầu to, dẹp bằng, rộng ñầu tương ñương với chiều cao thân, mõm dài nhọn, hướng lên trên Phần thân cá có tiết diện trọn, phần sau dẹp bên, thân tròn thẳng Mặt lưng màu xám, mặt bụng màu vàng nhạt Dọc theo sống lưng có những ñốm màu ñậm hơn, ñường kính của những ñốm ñó lớn hơn
so với khoảng cách giữa chúng [10]
Năm 1996, Rainboth trong: “Fish of the Cambodian Mekong” mô tả kích
thước của Cá Bống cát trắng G sparsipapillus có kích thước tới 12 cm, thân
thon dài, phía sau dẹp ngang, có 5 ñường cảm giác chạy song song trên má, dọc sống lưng có những ñốm màu ñen nhạt [37]
Năm 2000, trong luận án tiến sĩ: “Điều tra khu hệ cá của sông suối Tây
Nguyên”, tác giả Nguyễn Thị Thu Hè ñã mô tả loài Cá Bống cát trắng G
sparsipapillus như sau:
L = 80 –100 mm Lo = 65 – 80 mm
D = VI; I.9 A = I.8 P = 20 V = I.5
H/Lo = 17% T/Lo = 31% O/T = 13% OO/t = 9%
Thân thon dài, ñuôi dẹp bên, ñầu dẹp ñứng, miệng rộng và xiên, mõm dài, hàm dưới dài hơn hàm trên, trên hàm có nhiều răng Lưỡi chẻ ñôi, trên má có 5 ñường cảm giác ñơn Vảy trước vây lưng kéo dài ñến bờ sau ổ mắt Vây lưng hai cái rời nhau, vây ngực tròn dài, vây bụng hình bầu dục dài vây ñuôi tù Cá có
Trang 22màu vàng nhạt, có 5 ñường ñốm ñen nhạt chạy dọc theo ñường giữa hông Nắp mang có màu ñen, vây lưng và vây ñuôi lốm ñốm ñen Thức ăn của cá chủ yếu là giáp xác và cá con [5]
Như vậy, các nghiên cứu về loài cá Bống cát trắng (G sparsipapillus) còn
rất ít, chủ yếu mới chỉ mô tả ñặc ñiểm hình thái bên ngoài, chưa có một công trình nào nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học và sinh sản
1.3 Đặc ñiểm tự nhiên và xã hội của hồ Lắk
1.3.1 Vị trí ñịa lý và diện tích của hồ Lắk
Hình 1.1 Ảnh hồ Lắk từ vệ tinh
Hồ Lắk nằm ở tọa ñộ vị trí ñịa lý: 12024’22’’- 12026’25’’N; 108009’26’’ -
108012’07’’E Tọa ñộ trung tâm: 12025’31’’ N và 108010’55’’E Vùng phụ cận
Hồ Lắk về phía xã Yang Tao tiếp giáp với Vườn Quốc gia Chư Yang Sin và Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Ka
Toàn bộ khu hồ Lắk bao gồm một vùng bãi bồi, ñầm, hồ bằng phẳng có diện tích 540 ha vào mùa khô, 658 ha về mùa mưa
Hồ Lắk có 2/3 diện tích thuộc ñịa phận thị trấn Liên Sơn, phần còn lại thuộc ñịa phận xã Yang Tao
Trang 23Dưới sự ảnh hưởng của các chuyển ñộng kiến tạo cùng với tác ñộng của khí hậu nhiệt ñới, ñịa hình ñồi núi bao quanh vùng ñầm lầy thung lũng, hồ Lắk bị chia cắt mạnh, thay ñổi ñột ngột, phân hóa tiểu ñịa hình tạo nên nhiều cảnh quan ñẹp với khung cảnh ñầm hồ, cánh ñồng rộng lớn ñược bao bọc bởi núi non hùng vĩ [4]
1.3.2 Chế ñộ thủy văn
Địa bàn huyện Lắk nằm trong lưu vực sông Srêpôk Toàn vùng có mạng lưới sông suối dày ñặc, với mật ñộ 0,65 – 0,85 km/km2 Các sông suối trong vùng chủ yếu thuộc lưu vực sông Krông Ana, Krông Nô, với một số suối lớn như suối Đăk Phơi, suối Đắk Liêng, suối Đắk Kao, suối Đắk Pôk, Các con suối trên ñịa bàn chảy về sông Krông Ana hoặc Krông Nô Đây là hai nhánh sông chính của sông Srêpôk
Sông Krông Nô (sông cha): bắt nguồn từ dãy núi Chư Yang Sin ñộ cao trên 2.000m chảy về phía Tây qua các thung lũng rồi chuyển sang hướng Bắc hợp lưu với sông Krông Ana Sông chính dài 189 km, lòng sông dốc, thung lũng hẹp Diện tích lưu vực trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk là 3.930 km2 , chủ yếu là vùng rừng núi nằm dọc ranh giới giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng Phần hạ lưu dòng chảy tương ñối gấp khúc, gây lũ lụt và bồi ñắp lượng phù sa ñáng kể hai bên bờ vào mùa mưa Phân mùa của các dòng chảy tại sông Krông Nô theo 2 mùa: Mùa mưa
từ tháng 7 – 11, mùa khô từ tháng 12 – 6 Vào mùa mưa lưu lượng các dòng chảy tăng cao, gấp nhiều lần so với mùa khô
Sông Krông Ana (sông mẹ): Bắt nguồn từ núi cao trên 2.000m, hợp thành từ bốn nhánh sông chính là Krông Búk, Krông Păk, Krông Bông, Krông K’Mar, chảy qua vùng Đông Nam lưu vực sông Srêpôk và thung lũng Lạc Thiện rồi hợp lưu với sông Krông Nô ở phía Tây, nơi có thung lũng rộng và bằng phẳng Chiều dài sông chính Krông Ana là 215km Tổng diện tích lưu vực 3.960 km2 Lòng sông rộng và sâu, dòng chảy gấp khúc nhiều tại phần hạ lưu Về mùa mưa, nước trên thượng nguồn chảy về ồ ạt, phần hạ lưu nước bị ứ ñọng gây lũ lụt hai bên bờ sông, bồi ñắp lượng phù sa ñáng kể cho những cánh ñồng dọc hai bên bờ Phân mùa của các dòng chảy tại sông Krông Ana theo 2 mùa: Mùa mưa từ tháng 8 – 12 (chậm hơn 1 tháng
Trang 24so với mùa mưa sông Krông Nô, mùa khô từ tháng 1 – 7 Giống như sông Krông
Nô, lưu lượng nước mùa mưa cao hơn nhiều so với mùa khô
Chế ñộ ngập lụt của hệ thống sông, suối trên ñịa bàn huyện Lắk thường xảy
ra vào khoảng tháng 9 ñến tháng 11, nhưng hiện tượng ngập lụt ở ñây thường rút nhanh, không gây úng lụt nhiều mà chỉ gây lụt cục bộ ở một số vùng trũng trong khu vực Lưu lượng dòng chảy mùa mưa chiếm khoảng 60 - 80% lưu lượng cả năm Lưu lượng dòng chảy mùa khô chiếm khoảng 20 - 40 % trong năm Tuy nhiên, một số suối tại ñây có nước quanh năm kể cả về mùa khô [4]
1.3.3 Địa hình – khí hậu
1.3.3.1 Đặc ñiểm ñịa hình
Địa hình huyện Lắk ñược phân chia ra hai loại chính:
- Địa hình núi cao ñược hình thành bởi dãy núi cao Chư Yang Sin, ñộ cao trung bình 800 - 1000m so với mực nước biển Riêng các dãy núi bao quanh hồ Lắk có ñộ cao thấp hơn, chủ yếu từ 500-600m
- Địa hình vùng trũng có ñộ cao trung bình 400 - 500m Vùng thấp nhất là
hồ Lắk có ñộ cao trung bình 420m so với mực nước biển [4]
1.3.3.2 Đặc ñiểm khí hậu
Khí hậu huyện Lắk vừa mang nét chung của khí hậu vùng nhiệt ñới gió mùa miền Nam Việt Nam, vừa mang tính chất khí hậu vùng cao nguyên nhiệt ñới ẩm và ñặc thù của khí hậu thung lũng trên cao nguyên, mỗi năm có hai mùa
rõ rệt Mùa mưa bắt ñầu từ tháng 5 ñến hết tháng 10, chiếm trên 94% lượng mưa cả năm, mùa khô bắt ñầu từ tháng 11 ñến hết tháng 4 năm sau, lượng mưa không ñáng kể, trong ñó tháng 2 và tháng 3 hầu như không mưa
Đặc ñiểm cơ bản của khí hậu huyện Lắk thể hiện qua các yếu tố sau:
- Chế ñộ nhiệt: Nhiệt ñộ trung bình năm 240C - 250C Nhiệt ñộ tối cao tuyệt ñối 380C (xảy ra vào tháng 3, tháng 4) Nhiệt ñộ tối thấp tuyệt ñối
100C (xảy ra vào tháng 12, tháng 1)
- Chế ñộ mưa ẩm: Do chịu ảnh hưởng của khí hậu Tây Trường Sơn nên
vùng hồ Lắk thường có mưa lớn trong khoảng tháng 5 ñến tháng 8 và chủ yếu
Trang 25vào tháng 8, sớm hơn mùa lũ của sông Krông Ana và sông Krông Nô Tổng lượng mưa bình quân hàng năm khá lớn từ 1.800 – 1.900 mm, lượng mưa cao nhất có năm lên tới 2.800 mm Tháng 8 là tháng mưa nhiều nhất, lượng mưa lên tới 320 mm Về mùa khô không khí rất khô cây cỏ úa vàng, ñất ñai ruộng ñồng nứt nẻ, lượng mưa rất ít, chỉ từ 4 - 5 mm vào tháng 1 và tháng 2
- Độ ẩm không khí: ñộ ẩm không khí tương ñối hàng năm bình quân từ 80%
ñến 85%, ñặc biệt về mùa khô ñộ ẩm không khí rất thấp khoảng 70% (trung bình
tháng 2) Độ ẩm không khí có khi lên ñến 95% vào những ngày tháng 7, tháng 8
- Khí hậu huyện Lắk nói chung và khí hậu hồ Lắk nói riêng vừa mang nét chung của khí hậu nhiệt ñới gió mùa miền Nam Việt Nam, vừa mang tính chất khí hậu vùng cao nguyên nhiệt ñới ẩm và ñặc thù của khí hậu thung lũng trên cao nguyên Mỗi năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt ñầu từ tháng
5 ñến hết tháng 10, chiếm trên 94% lượng mưa của cả năm, mùa khô bắt ñầu
từ tháng 11 ñến hết tháng 4 năm sau, lượng mưa không ñáng kể, trong ñó, tháng 2 và tháng 3 gần như không mưa
- Lượng mưa trung bình hằng năm thấp hơn khu vực từ 1.800 – 1.900mm
có phần thấp hơn khu vực xung quanh, nguyên nhân do bị che khuất bởi dãy núi Chư Yang Sin ở phía Đông Nam
- Tích ôn cả năm khoảng 8.000 – 8.5000C, nguồn sáng dồi dào, bình quân giờ chiếu sáng/ năm 1.700 – 2.400 giờ; nhiệt ñộ trung bình từ 24 – 250C, biên ñộ dao ñộng ngày ñêm lớn 12 – 140C
- Chế ñộ gió: Hướng gió chủ yếu vào mùa mưa là Tây Nam, vào mùa khô
là Đông Bắc, tốc ñộ gió bình quân 2,4 – 5,4 m/s
- Lượng nước bốc hơi bình quân vào mùa khô là 14,9 – 16,2 mm/ngày, vào
các tháng mùa mưa thì lượng bốc hơi thấp trung bình từ 1,5 – 1,7 mm/ngày, các tháng mùa khô, lượng nước bốc cao, lượng nước trong hồ giảm mạnh, ñộ sâu ở mức thấp nhất, nước hồ ñục [4]
Trang 261.3.4 Đặc ñiểm kinh tế xã hội
1.3.4.1 Đặc ñiểm lịch sử văn hóa
Hồ Lắk là cái nôi của dân tộc M’Nông, có 3 dân tộc chính: M’Nông Rơ Lăm, M’Nông Gar, M’Nông Bih Mỗi dân tộc có những ñặc trưng về văn hóa
về nhà ở, sắc phục, nhạc cụ…
Quanh hồ là các buôn Jun, buôn M’Liêng… có lịch sử lâu ñời Các buôn làng còn lưu giữ ñược các ñặc ñiểm văn hóa ñặc sắc riêng biệt của người M’Nông như: Sắc phục, trang sức, nhạc cụ, các kiểu kiến trúc nhà ở, kho thóc, thuyền ñộc mộc, những tập quán sinh hoạt lễ hội, ma chay…
Hồ Lắk là một ñiểm thu hút khách du lịch với nhiều loại hình du lịch khác nhau như: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tìm hiểu văn hóa bản ñịa, lịch sử[4]
1.3.4.2 Đặc ñiểm dân cư
Bao quanh hồ là ñịa phận hành chính của thị trấn Liên Sơn và các xãYang Tao, Bông Krang, Đắk Liêng
- Thị trấn Liên Sơn: Là vùng trung tâm của huyện Lắk, có 1224 hộ, dân số
là 6945 người, chủ yếu là người Kinh 5329 người, M’Nông 1328 người, Tày 61
người, dân tộc khác là 62 người số hộ nghèo là 214 hộ
- Xã Yang Tao: Nằm ở Đông Bắc hồ Lắk, có 1535 hộ, dân số là 7010 người, trong ñó người M’Nông có 6415 người, người Kinh 670 người, người Ê
Đê có 45 người Số hộ nghèo là 600 hộ
- Xã Bông Krang: Nằm ở phía Đông Nam hồ Lắk, có 1167 hộ, dân số là 6095 người, trong ñó chủ yếu là người M’Nông có 5034 người, người Kinh có 670 người, người Ê Đê có 25 người, các dân tộc khác 168 người Số hộ nghèo là 614 hộ
- Xã Đăk Liêng: Nằm ở phía Tây hồ Lắk, có 1943 hộ, dân số 9761 người, chủ yếu là người M’Nông với 5166 người, Kinh có 3912 người, Tày 464 người, số hộ nghèo là 486 hộ [4]
Trang 271.3.4.3 Đặc ñiểm kinh tế
Các xã xung quanh hồ Lắk chủ yếu là người M’Nông, ñời sống kinh tế còn rất thấp, sống chủ yếu bằng nghề nông: Trồng lúa nước, ñốt nương làm rẫy và ñánh bắt nguồn lợi thủy sản từ hồ
Người dân xung quanh hồ sản xuất chủ yếu trên ñất nương rẫy có ñộ dốc lớn, xói mòn mạnh, mất màu nhanh nên chỉ canh tác trong 2 năm rồi bỏ ñi Ruộng nước của người dân chủ yếu tập trung ở vùng trũng, vùng ñầm lầy
và thường bị mất mùa do lũ lụt hoặc hạn hán gây ra
Về chăn nuôi, chủ yếu là bò, trâu, heo, gà… theo hình thức chăn thả [4]
1.3.4.4 Giao thông
Hồ Lắk nằm về phía Đông Nam thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Từ Buôn Ma Thuột, ñi theo quốc lộ 27 khoảng 56km theo hướng Đông Nam Mạng lưới ñường giao thông liên xã và thị trấn tương ñối thuận tiện cho việc ñi lại, giao thương lưu thông hàng hóa [4]
Trang 28CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tên loài tiếng Việt: Cá Bống cát trắng
Tên loài tiếng Anh: Linecheek tank goby
Tên khoa học: Glossogobius sparsipapillus (Akihito & Meguro, 1976)
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Để thực hiện ñề tài này chúng tôi ñã sử dụng các vật liệu nghiên cứu sau ñây:
- Khay ñựng vật mẫu
- Thước kẹp ñể ño các số ño về chiều dài, chiều rộng, chiều cao
- Kính hiển vi ñể quan sát ñịnh loại thức ăn trong dạ dày cá
- Máy ảnh ñể chụp các vật mẫu
- Kính lúp dùng ñể quan sát cá
- Vợt bắt cá, xô nhựa và rổ ñựng thức ăn khi nuôi thử nghiệm sinh sản
- Một số vật liệu cần thiết khác: Cân xác ñịnh khối lượng cá và ñịnh lượng thức ăn, giấy ño pH, test thử một số yếu tố môi trường, sổ ghi chép…
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của ñề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:
2.3.1 Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cơ bản của cá Bống cát trắng
- Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng
- Nghiên cứu về ñặc ñiểm dinh dưỡng
- Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh sản
2.3.2 Bước ñầu nuôi thử nghiệm sinh sản cá Bống cát trắng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cá Bống cát trắng
Trang 292.4.1.1 Nghiên cứu về sinh trưởng
a Xác ñịnh kích thước, khối lượng
- Xác ñịnh kích thước, khối lượng theo từng nhóm kích thước, mỗi nhóm hơn kém nhau 0,5cm
- Dùng thước kẹp ñể ño cá, sai số cho phép 0,01mm và phân loại theo các nhóm trên
- Dùng cân ñiện tử ñể cân khối lượng của từng cá thể cá theo từng nhóm kích thước sai số cho phép 0,01g
b Nghiên cứu khả năng sinh trưởng theo từng nhóm kích thước
Xác ñịnh các chỉ tiêu sinh trưởng sau :
+ Tốc ñộ tăng trưởng tuyệt ñối: TĐTTTĐ = ( X2-X1)/∆t
+ Hệ số thức ăn: HSTA = Tổng lượng thức ăn ñã tiêu tốn/kg sinh trưởng của cá Trong ñó:
X1 chỉ tiêu về kích thước, khối lượng ở thời ñiểm ban ñầu t1
X2 chỉ tiêu về kích thước, khối lượng ở thời ñiểm sau t2
∆t là khoảng thời gian thí nghiệm
+ Tương quan giữa chiều dài (L) và chiều rộng (Wd): Wd = aL + b
+ Tương quan chiều dài (L) và khối lượng (W): W = a *L b
Trong ñó: W: khối lượng, L : chiều dài, a : hằng số, b: số mũ của mối quan
hệ giữa chiều dài và khối lượng [22], [34], [35]
2.4.1.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng cá Bống cát trắng
a Xác ñịnh thành phần thức ăn
- Thu mẫu cá ở các ñịa ñiểm nghiên cứu
- Giải phẫu và thức ăn ñược tách khỏi ruột, dạ dày của từng cá thể và ñược quan sát bằng mắt thường, bằng kính lúp, bằng kính hiển vi Định loại thành phần thức ăn thành từng nhóm Sử dụng khóa phân loại tảo của tác giả Phạm Hoàng Hộ [6], khóa phân loại ñộng vật không xương sống của tác giả Nguyễn Xuân Quýnh [23], Đặng Ngọc Thanh [24] và các loại thức ăn tự nhiên của cá ñể xác ñịnh thành
phần thức ăn
Trang 30kê số lượng mẫu (dạ dày) có chứa loại thức ăn ñó
+ Kết quả thường ñược biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa số cá mà dạ dày
có chứa loại thức ăn nào ñó với tổng số mẫu ñem phân tích [11], [34], [35]
c Xác ñịnh ñộ béo
Xác ñịnh ñộ béo của cá theo:
+ Công thức Fulton (1902): Q = Wx100/L3
+ Công thức Clark (1928): Q0 = W0x100/L3
Trong ñó: Q và Q 0 là ñộ béo Fulton và Clark; W là khối lượng toàn thân cá (g);
W 0 là khối lượng toàn thân cá ñã bỏ nội quan (g); L là chiều dài (cm) [22],[34],[35]
2.4.1.3 Nghiên cứu về sinh sản của cá Bống cát trắng
a Phương pháp phân biệt giới tính
Xác ñịnh cá ñực, cá cái dựa vào ñặc ñiểm hình thái của cơ quan sinh dục của tác giả Nikolxki (1944, 1963) ñược giới thiệu trong cuốn “Hướng dẫn nghiên cứu cá” của tác giả Pravdin [22]
b Phương pháp nghiên cứu tuổi phát dục
- Ở cá thường sử dụng thang 6 bậc ñể ñánh giá sự phát triển của tuyến sinh dục
- Hình thái tuyến sinh dục của các loài cá nói chung ñược Xakun và Buskaia ñã mô tả 1968, có thể tóm tắt như sau:
Tuyến sinh dục cái
+ Giai ñoạn I: Buồng trứng chỉ là hai sợi chỉ mảnh, nhỏ, màu trắng xám do mạch máu chưa phát triển
Trang 31+ Giai ñoạn II: Buồng trứng có kích thước lớn hơn một ít, có màu hồng nhạt do có nhiều mạch máu và mô liên kết hơn
+ Giai ñoạn III: Thể tích buồng trứng tăng lên, bề mặt buồng trứng có màu hồng nhạt Mắt thường ñã phân biệt ñược ñực cái
+ Giai ñoạn IV: Buồng trứng chiếm phần lớn xoang bụng Có thể nhìn rõ các hạt trứng tròn và màu vàng nhạt ở bên trong buồng trứng
+ Giai ñoạn V: Buồng trứng ñạt kích thước lớn nhất và ở tình trạng sẳn sàng tham gia sinh sản
+ Giai ñoạn VI: Phần lớn trứng ñã ñược phóng ra môi trường ngoài, buồng trứng teo nhỏ lại Toàn bộ buồng trứng mềm nhão và có màu ñỏ thẫm Bên trong buồng trứng còn lại những hạt trứng ở các giai ñoạn khác nhau
Tuyến sinh dục ñực
+ Giai ñoạn I - II: Tuyến sinh dục của cá ñực (tinh sào) chưa phát triển, chỉ
là hai sợi chỉ nhỏ có màu hồng nhạt nằm sát hai bên xương sống
+ Giai ñoạn III: Tinh sào có màu hồng, có nhiều mạch máu phân bố
+ Giai ñoạn IV: Tinh sào có màu trắng sữa, ñạt kích thước lớn nhất và phân thùy rõ ràng
+ Giai ñoạn V: Tinh sào ở trạng thái sẵn sàng tham gia sinh sản.Tinh trùng chứa ñầy trong ống dẫn tinh, toàn bộ buồng tinh có màu trắng sữa
+ Giai ñoạn VI: Tinh sào ñã sinh sản xong, bề mặt tinh sào có màu ñỏ hồng, mềm nhão
- Phương pháp ñánh giá tuổi phát dục của cá:
+ Mổ buồng trứng và tinh sào ñể xác ñịnh cá ở giai ñoạn nào (từ giai ñoạn III trở lên là thời ñiểm thành thục lần ñầu, có thể phân biệt ñược ñực, cái)
+ Tính ñược kích thước sinh sản lần ñầu tính theo chiều dài [22], [31]
c Phương pháp nghiên cứu mùa vụ sinh sản trong năm
- Tiến hành thu mẫu vào ngày 15 hàng tháng, mỗi lần thu mẫu 60 con (30 con ñực và 30 con cái) và phân tích tại chỗ:
+ Số lượng cá ở các giai ñoạn
Trang 32+ Cân và ño khối lượng, kích thước buồng trứng và tinh sào
+ Cân và ño khối lượng, kích thước cá
d Phương pháp nghiên cứu sức sinh sản
- Tính sức sinh sản tuyệt ñối: Sức sinh sản tuyệt ñối (Absolute fecundity -
S) ñược xác ñịnh theo phương pháp Laurence & Briand (1990) là toàn bộ trứng
ñếm ñược trong buồng trứng ở giai ñoạn III và IV theo từng nhóm kích thước
- Cách tiến hành: Cân một phần nhỏ của buồng trứng, ñếm số trứng của một phần buồng trứng trên kính hiển vi, sau ñó tính ra cho cả buồng trứng:
- Sức sinh sản tuyệt ñối (F) S = nG/g
- Trong ñó: F-Sức sinh sản tuyệt ñối; G-Khối lượng buồng trứng; g-Khối
lượng trung bình của mẫu trứng ñược lấy ra ñể ñếm; n-Số trứng trung bình của mẫu trứng ñược lấy ra ñể ñếm
- Tính sức sinh sản tương ñối theo công thức sau: s = S/W
- Trong ñó: s là sức sinh sản tương ñối; S là sức sinh sản tuyệt ñối; W là
khối lượng toàn thân [22], [31], [34], [35]
Trang 33- Từ giai ñoạn III ñến giai ñoạn V có sự phân tán kích thước trứng theo nhóm, xác ñịnh kích thước trứng nào chiếm ưu thế nhằm ứng dụng trong sinh sản [33], [35]
Trang 34f Phương pháp nghiên cứu biến ñổi tuyến sinh dục qua các tháng
- Định kỳ một lần một tháng thu mẫu các tuyến sinh dục
- Phân tích tổ chức mô học các tuyến sinh dục thông qua việc cắt lát tế bào tuyến sinh dục, phân tích ñồng thời giới tính và mức ñộ thành thục qua các tháng trong năm theo phương pháp của Hilton
- Các bước tiến hành:
+ Cố ñịnh mẫu tuyến sinh dục bằng dung dịch Bouin:
750 ml dung dịch axit picric bão hòa
250 ml dung dịch formalin 40%
50 ml dung dịch axit axetic ñậm ñặc
Định hình mẫu trong 24h sau ñó ngâm trong nước từ 1 - 3h
+ Khử nước ở mẫu cố ñịnh: Lần lượt ñưa mẫu qua cồn etylic ở các nồng ñộ tăng dần: Cồn 700 một lần từ 30 – 60 phút; Cồn 950 ba lần mỗi lần 30 – 60 phút; Cồn 1000 ba lần, mỗi lần 30 – 60 phút
+ Làm trong mẫu: Xilen I: Một lần trong 60 phút
Xilen II: Một lần trong 60 phút
+ Thấm paraffin: Mẫu ñã ñược làm trong chuyển vào parafin ñun nóng ở nhiệt ñộ từ 560C – 580C, trong 4h
+ Đúc parafin: Sử dụng máy ñể ñổ paraffin nóng chảy vào khuôn ñã có mẫu, sau ñó ñặt khuôn trên dàn lạnh cho paraffin ñông lại tạo khối parafin có chứa mẫu, nên ñặt mẫu chung ở một mặt khuôn ñể cắt mẫu ñược thuận tiện + Cắt gọt khối parafin có chứa mẫu: Dùng dao mỏng cắt gọt bỏ những phần parafin thừa và mặt của khối mẫu sâu khoảng 3 - 5 µm
+ Cát lát mẫu: Gắn khối parafin chứa mẫu vào máy Mitocrom, tiến hành cát những lát mô dày 5 – 7 µm, ñưa lát cắt vào nước ấm (40-500C) khoảng 1 ñến 2 phút ñể cắt lát giãn, không bị nhăn Dùng slide ñể lấy lát cắt ra khỏi nước có miết qua abumin Đặt lên máy sấy slide ở nhiệt ñộ 40 – 600C trong thời gian 1 – 4h + Nhuộm Hematoxylin và Eosin
Loại bỏ parafin ở lát cắt bằng xilen I: 5 phút, xilen II: 5 phút
Trang 35Làm no mẫu nước: Cồn 1000 I: 2 – 3 phút; Cồn 1000 II: 2 – 3 phút; Cồn 950I: 2 – 3 phút; Cồn 950 II: 2 – 3 phút; Cồn 800 I: 2 – 3 phút; Cồn 800 II: 2 – 3 phút + Nhúng mẫu trong nước lã 3 – 6 lần, nhuộm Hematoxylin – Mayer (4 – 6 phút), rửa qua nước chảy nhẹ (4 – 6 phút), nhuộm Eosin: 2 – 3 phút
+ Làm mất mẫu nước: Cồn 950 I: 10 lần nhúng; cồn 950 II: 10 lần nhúng; cồn 1000 I: 10 lần nhúng; cồn 1000 II: 10 lần nhúng
Làm trong mẫu: Xilen I: 2 – 3 phút, xilen II: 2 – 3 phút
+ Làm sạch lamen, dán mẫu lên lam bằng Bomcanada ñể bảo quản và quan sát dưới kính hiển vi [16], [31], [34]
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm sinh sản cá Bống cát trắng 2.4.2.1 Chọn ñịa ñiểm và công tác chuẩn bị bể nuôi thử nghiệm sinh sản
- Nuôi tại: Xã Bôngkrang – huyện Lắk – tỉnh Đắk Lắk
- Bể nuôi: Diện tích: 1,5m x 0,8m x 0,8m
2.4.2.2 Thí nghiệm nuôi vỗ cá bố mẹ
Nuôi vỗ cá bố mẹ theo 3 công thức khác nhau, sử dụng 3 bể có kích thước 1,5 x 0,8 x 0,8m ñể nuôi vỗ cá bố mẹ Các bể có mức nước sâu 0,5 – 0,7m, ñáy cát dày 0,05 – 0,15m Thay nước ñịnh kỳ trong bể, giữ nước luôn sạch
Công thức 1 (CT1): Trong ao nuôi 150 cá bố mẹ, tổng khối lượng 305g, tỷ
lệ ñực/cái là 1/1 Tạo dòng chảy trong bể máy bơm dòng chảy với lưu tốc 0,005m3/phútvà máy sục khí ñảm bảo hàm lượng oxy hoà tan ñạt 5,5 – 6mg/l Công thức 2 (CT 2): Trong ao nuôi 150 cá bố mẹ, tổng khối lượng 295g, tỷ
lệ ñực/cái là 1/1 Không tạo dòng chảy mà chỉ dùng máy sục khí, sục 24/24 giờ Công thức 3 (CT 3): Trong bể nuôi 150 cá bố mẹ, tổng khối lượng 324g, tỷ
lệ ñực/cái là 1/1 Tạo dòng chảy mà không sục khí nhân tạo trong bể
Cho cá ăn (áp dụng cho cả 3 công thức): Từ tháng 1 – 4 cho cá ăn thức ăn tươi sống là cá tạp Từ tháng 5 ñến khi cá ñẻ xong cho cá ăn thức ăn tươi sống gồm cá và tôm theo tỷ lệ khối lượng là 3/1 Cho ăn theo mức ăn hết của cá (dao ñộng từ 2 – 5%) Cho thức ăn vào các sàng ñể có thể kiểm soát mức tiêu thụ của cá
Trang 362.4.2.3 Thí nghiệm ấp trứng
Thí nghiệm ấp trứng trong 3 loại dụng cụ sau:
Dụng cụ 1: Khay ấp có kích thước 0,37 x 0,23 x 0,05m có ñáy bằng nhôm, xung quanh là lưới có cỡ 25 mắt/cm2 ñặt trong bể xi măng có kích thước 1,5 x 0,8 x 0,8m, mực nước sâu 0,2m, trứng ngập sâu trong nước khoảng 3 – 5cm Sục khí thường xuyên trong bể ñảm bảo hàm lượng oxy hoà tan ñạt 5,5 – 6mg/l Trong quá trình ấp, loại bỏ trứng hỏng và trứng không thụ tinh, tránh hiện tượng nấm phát triển gây chết cả những trứng có chất lượng tốt Thay nước ñịnh kỳ 8giờ/lần, mỗi lần thay 1/2 – 2/3 lượng nước trong bể ấp
Dụng cụ 2: Khay ấp trứng cá rô phi có kích thước 0,37 x 0,23 x 0,05m làm bằng nhôm, mỗi bên thành (chiều dài) có 6 – 8 lỗ thoát nước Lưu lượng nước chảy qua khay là 0,5 lít/phút Trong quá trình ấp, loại bỏ trứng không thụ tinh và trứng chết tránh hiện tượng nấm phát triển
Dụng cụ 3: Ấp trứng trong chậu có sục khí và thay nước ñịnh kỳ, chậu men
có dung tích 5 lít, ấp 2000 trứng/chậu
2.4.2.4 Thí nghiệm ương nuôi cá bột
Cá bột thu ñược từ ñợt nuôi vỗ cá bố mẹ và ấp trứng nhân tạo, chia thành 3 lô:
Lô 1: Thả 2.000 cá bột trong bể có kích thước 1,5 x 0,8 x 0,8m, bể có mức nước sâu 0, 3 – 0,5m, ñáy bể có lót lưới cỡ 25 mắt/1cm2, sục khí ñảm bảo nồng
ñộ oxy hoà tan từ 0,55 – 0,6mg/l, tạo dòng chảy trong bể với lưu tốc lưu tốc 0,2m3/phút
Lô 2: Thả 2.000 cá bột trong bể có kích thước 1,5 x 0,8 x 0,8m, bể có mức nước sâu 0, 3 – 0,5m, ñáy bể có lót lưới cỡ 25 mắt/1cm2, tạo dòng chảy trong bể với lưu tốc lưu tốc 0,005m3/phút
Lô 3: Thả 2.000 cá bột trong bể có kích thước 1,5 x 0,8 x 0,8 m, bể có mức nước sâu 0, 3 – 0,5m, ñáy bể có lót lưới cỡ 25 mắt/1cm2, sục khí ñảm bảo nồng
ñộ oxy hoà tan từ 0,55 – 0,6mg/l
Trang 37Thức ăn của cá bột ở cả 3 lô là lòng ñỏ trứng luộc chín, tán nhỏ qua rây, cho cá bột ăn 3 lần/ngày vào sáng, chiều và tối Thường xuyên thay nước trong
bể 1ngày/lần, tránh hiện tượng chất bẩn, thức ăn thừa lắng ñọng gây bệnh cho cá Thời gian ương nuôi cá bột là 30 ngày, theo dõi các chỉ tiêu tốc ñộ tăng trưởng, tỉ lệ sống của 3 lô
2.4.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ nở (%) = (Tổng số cá bột thu ñược/tổng số trứng thụ tinh)x100
Trang 38CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Một số ñặc ñiểm sinh học của cá Bống cát trắng
Tên loài tiếng Việt: Cá Bống cát trắng
Tên loài tiếng Anh: Linecheek tank goby
Tên khoa học: Glossogobius sparsipapillus (Akihito & Meguro, 1976)
3.1.1 Đặc ñiểm về hình thái bên ngoài của cá Bống cát trắng
Theo các tác giả Nguyễn Thị Thu Hè [5], Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương [10], Mai Đình Yên [32], Rainboth [37] và qua phân tích các mẫu thu thập ñược, nhìn chung cá Bống cát trắng có hình thái mô tả như sau:
Thân thon dài, phía sau dẹp ngang, ñầu dẹp ñứng, mõm dài và nhọn Mắt gần như nằm ngang trên ñỉnh ñầu, hai lỗ mũi tương ñối gần nhau, lỗ mũi trước hình ống Miệng rộng, xiên, hàm dưới nhô ra, rãnh miệng kéo dài tới bờ trước của ổ mắt Trên mỗi hàm có nhiều hàm răng, hàng trong và ngoài cùng nở rộng Lưỡi chẻ ñôi, khe mang rộng, màng mang phát triển, trên má có 5 ñường cảm giác chạy song song, tất cả ñều là ñường ñơn Vảy tròn, trước vây lưng nhỏ kéo dài ñến bờ sau ổ mắt, thân phủ vảy lược to
Vây lưng hai cái rời nhau Khởi ñiểm vây lưng thứ hai trước vây hậu môn, vây ngực tròn dài, vây bụng hình bầu dục dài, vây ñuôi tù
Thân có màu nâu, có 5 ñường ñốm ñen nhạt dọc theo ñường giữa hông Bề rộng ñốm ñen nhỏ hơn nửa chiều cao thân tại chỗ ñó Trên nắp mang có màu nâu
Trang 39ñen, có ñốm ñen nhạt Khi cá còn sống ở dưới nước có màu ñậm hơn khi bắt lên
bờ Cá có kích thước nhỏ, khoảng 5 – 8cm
Hình 3.1 Cá Bống cát trắng 3.1.2 Đặc ñiểm sinh trưởng của cá Bống cát trắng
3.1.2.1 Tương quan chiều dài và chiều rộng
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cá và các ñộng vật nói chung, sự gia tăng về chiều dài và chiều rộng cơ thể thường có mối liên hệ với nhau Sau khi phân tích 2.353 mẫu cá Bống cát trắng, mối tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của quần thể cá Bống cát trắng tương ñối chặt chẽ
Cá Bống cát trắng có chiều dài dao ñộng từ 2,2 cm ñến 8,6cm tương ứng với chiều rộng dao ñộng từ 0,25cm ñến 1,85cm Chiều dài của cá thu ñược vào ñầu mùa khô thường từ 4,5 – 7,5 cm, chiều dài của cá thu ñầu mùa mưa thu ñược từ 3,5 – 6 cm
Trang 40Bảng 3.1 Chiều dài và chiều rộng của cá Bống cát trắng theo nhóm kích thước
Chiều dài 3,4881 ± 0,0216 9,99 Chiều rộng 0,59272±0,00504 13,73
Đực 171 Chiều dài 3,7175 ± 0,0210
7,38 Chiều rộng 0,6369 ± 0,0072 14,74 Chưa
xác ñịnh 99
Chiều dài 3,1253 ± 0,0428 13,63 Chiều rộng 0,4714 ± 0,0111 23,44
Cái 123 Chiều dài 4,5390 ± 0,0260 6,35
Chiều rộng 0,7951 ± 0,0090 12,60 Đực 468 Chiều dài 4,6066 ± 0,0125 12,01
Chiều rộng 0,8398 ± 0,0047 12,01 Chưa
xác ñịnh 34
Chiều dài 4,5882 ± 0,0422 5,36 Chiều rộng 0,7474 ± 0,0159 12,43
Chiều dài 5,4295 ± 0,0413 5,05 Chiều rộng 1,4643 ± 0,0463 20,96 Đực 282 Chiều dài
5,4961 ± 0,0168
5,14 Chiều rộng 1,5001 ± 0,0163 18,23 Chưa
xác ñịnh 28
Chiều dài 5,5536 ± 0,0467 4,45 Chiều rộng 1,5147 ± 0,0171 19,20 Trên 6 Lưỡng 66 Chiều dài 6,4182 ± 0,0449 5,68