Mục đích nghiên cứu Khóa luận “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng” được lựa chọn nhằm giải quyết các mục đích cơ bản sau: Hệ thống hóa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo – TS Nguyễn Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu
và thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời biết ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Thăng Long, đặc biệt là các thầy cô khoa kinh tế quản lý đã truyền đạt những kiến thức quý báu là nền tảng giúp em thực hiện đề tài này
Khóa luận hoàn thành còn nhờ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám đốc và cán
bộ nhân viên phòng Tài chính – Kế toán của Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1
1.1 Khái quát về vốn lưu động của doanh nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động 1
1.1.2 Phân loại vốn lưu động 2
1.1.3 Vai trò của vốn lưu động 4
1.2 Tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở các doanh nghiệp 5
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động 5
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 5
1.2.3 Các phương pháp nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 6
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 9
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động 12
1.3 Bảo toàn vốn lưu động 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH TƯ VẤN THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 18
2.1 Tổng quan chung về Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng thuộc tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam 18
2.1.1 Giới thiệu về Chi nhánh 18
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh 18
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh của Chi nhánh 19
2.1.4 Cơ cấu bộ máy quản lý tại Chi nhánh 19
2.2 Phân tích tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh trong ba năm 2011 – 1013 20
2.2.1 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận 20
2.2.2 Tình hình tài sản – nguồn vốn 25
2.3 Thực trạng hoạt động quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng 31
Trang 62.3.1 Cơ cấu vốn lưu động của Chi nhánh qua các năm 31
2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán 35
2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời 37
2.3.4 Phân tích tỷ suất sinh lời ROE theo phương pháp Dupont 38
2.3.5 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng vốn lưu động 40
2.3.6 Những đặc điểm cơ bản ảnh hưởng đến tình hình sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh 43
2.4 Đánh giá chung tình hình sử dụng vốn lưu động tại CCDC 44
2.4.1 Kết quả đạt được 44
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 45
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH TƯ VẤN THIẾT KẾ VÀ XÂT DỰNG 48
3.1 Định hướng kinh doanh của Chi nhánh trong thời gian tới 48
3.1.1 Môi trường kinh doanh 48
3.1.2 Định hướng phát triển 49
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại chi nhánh 50
3.2.1 Tổ chức cơ cấu vốn lưu động hợp lí 50
3.2.2 Quản lý chặt chẽ và thu hồi các khoản phải thu, hạn chế tối đa nguồn vốn bị chiếm dụng 51
3.2.3 Quản lý và giảm thiểu lượng hàng tồn kho 53
3.2.4 Thực hiện tốt công tác dự toán ngân quỹ 55
3.2.5 Chủ động xây dựng kế hoạch huy động vốn SXKD 55
3.2.6 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh 56
3.2.7 Nâng cao trình độ của các cán bộ công nhân viên 57
KẾT LUẬN
Trang 7Chủ sở hữu Chi phí Nhân công Nhân công trực tiếp Ngân sách nhà nước Sản xuất chung SXKD
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh 21
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán 26
Bảng 2.3 Tỷ trọng cơ cấu vốn lưu động của Chi nhánh 31
Bảng 2.4 Nguồn vốn lưu động của Chi nhánh 34
Bảng 2.5 Khả năng sinh lời của Chi nhánh Tư vấn thiết kế và xây dựng 35
Bảng 2.6 Khả năng sinh lời của Chi nhánh Tư vấn thiết kế và xây dựng 37
Bảng 2.7 Phân tích ROE theo phương pháp Dupont 38
Bảng 2.8 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động của Chi nhánh 40
Bảng 2.9 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Chi nhánh 42
Biểu đồ 2.1 Doanh thu qua các năm 22
Biểu đồ 2.2 Lợi nhuận của chi nhánh qua các năm 24
Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng cơ cấu vốn lưu động qua các năm 31
Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng nguồn vốn lưu động của Chi nhánh 34
Biểu đồ 2.5 Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động 43
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý tại Chi nhánh 19
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, tạo ra cơ
sở vật chất - kỹ thuật để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu việc đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, kinh tế
xã hội ở các vùng, ngành đang trở thành mối quan tâm hàng đầu Điều đó đồng nghĩa với việc khối lượng công việc của ngành XDCB càng ngày càng tăng lên mà song song với nó là số vốn đầu tư XDCB cũng không ngừng gia tăng Vấn đề đặt ra là phải
có biện pháp để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, khắc phục tình trạng thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất kinh doanh xây lắp phải trải qua nhiều giai đoạn với thời gian thi công kéo dài
Chi nhánh Tư vấn thiết kế và xây dựng là một doanh nghiệp SXKD nhưng có tỷ
lệ vốn lưu động trong vốn kinh doanh chiếm một tỷ lệ lớn Chi nhánh đang có kế hoạch mở rộng hơn nữa hoạt động SXKD, thì việc quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động được coi là một vấn đề thời sự cho các nhà quản trị doanh nghiệp
Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng nên việc quản
lý về đầu tư xây dựng rất khó khăn phức tạp, nhất là quản lý vốn lưu động có đặc tính luân chuyển theo chu kỳ là một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các đơn vị xây lắp, đảm bảo mang lại lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh cho đơn
vị Nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động, dưới sự giúp đỡ của Ban giám đốc và cán bộ, nhân viên công ty cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo - TS Nguyễn Thanh Bình, em đã quyết định lựa
chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh tư vấn thiết kế và
xây dựng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh tư vấn thiết
kế và xây dựng” được lựa chọn nhằm giải quyết các mục đích cơ bản sau:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp;
Đánh giá thực trạng tình hình công tác sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng;
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho doanh nghiệp trong thời gian tới
Trang 103 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so sánh, kết hợp các số liệu tính toán, phân tích và rút ra kết luận
6 Kết cấu khóa luận
Bố cục bài khóa luận tốt nghiệp của em gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Chi nhánh
tư vấn thiết kế và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động
Quản trị tài chính là một trong những hoạt động quan trọng nhất của doanh nghiệp, bao gồm nhiều mặt trong đó quản lý vốn doanh nghiệp là một nội dung đặc biệt được chú trọng và xuyên suốt Các nhà quản trị tài chính hoạch định các chính sách quản lý vốn với mục tiêu đảm bảo cho quá trình SXKD hoạt động ổn định và đạt hiệu quả cao nhất
Một doanh nghiệp dù thuộc lĩnh vực sản xuất hay thương mại khi tiến hành kinh doanh đều cần phải có vốn David Begg đưa ra định nghĩa trong cuốn “Kinh tế học” rằng: “Vốn hiện vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác Ngoài ra còn có vốn tài chính Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo” Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của vốn
Trong cơ cấu vốn doanh nghiệpkhi tham gia quá trình SXKD, vốn cố định là tài sản không bị thay đổi hình dáng hiện vật ban đầu trong khi giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển
Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động hay nguồn vốn mà doanh nghiệp dùng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ ), sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt trong giai đoạn lưu thông Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho Giá trị của tài sản lưu động thường chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp
Đây là một chỉ số tài chính dùng để đo lường hiệu quả hoạt động cũng như năng lực tài chính trong ngắn hạn của một công ty Vốn lưu động dương có nghĩa là công ty
có khả năng chi trả được các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình Ngược lại, nếu vốn lưu
Trang 12động là một số âm tức là hiện tại công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tài sản hiện có của mình (bao gồm tiền mặt, khoản phải thu, tồn kho)
Nếu như lượng tài sản hiện tại của một công ty không lớn hơn các tổng các khoản nợ hiện tại thì công ty này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán cho các chủ nợ trong ngắn hạn Trường hợp xấu nhất là công ty có thể bị phá sản.Nhìn vào các
vụ phá sản trong kinh doanh, tuy nguyên nhân có thể xuất phát từ nhiều yếu tố không chỉ do quản lý vốn lưu động kém hiệu quả, song cũng thấy được sự yếu kém của một
số doanh nghiệp trong hoạch định và kiểm soát chặt chẽ vốn lưu động là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ
1.1.2 Phân loại vốn lưu động
Tổ chức và quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp hết sức quan trọng bởi doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả thì sản xuất càng được nhiều thành phẩm Tùy thuộc vào những tiêu thức và mục đích cụ thể mà doanh nghiệp phân loại vốn lưu động khác nhau để dễ dàng quản lý Một số tiêu thức cơ bản
để phân loại vốn lưu động như sau:
1.1.2.1 Phân loại theo từng giai đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất bao gồm: vật liệu chính, vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, bao bì đóng gói và công cụ dụng cụ nhỏ…
Vốn lưu động trong quá trình sản xuất bao gồm: giá trị sản phẩm dở dang chế
tạo, bán thành phẩm, chi phí phân bổ
Vốn lưu động trong quá trình lưu thông bao gồm: giá trị thành phẩm, vốn
trong thanh toán và vốn bằng tiền
Từ cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình SXKD, đồng thời có những biện pháp thích hợp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hữu hiệu nhất
1.1.2.2 Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo tiêu thức này, vốn lưu động được chia thành:
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, kể
cả kim loại quý (Vàng, bạc, đá quý …)
Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm
ứng, các khoản phải thu khác
Vốn vật tư hàng hóa:
Vốn vật tư hàng hóa (hay còn gọi là hàng tồn kho) bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản phẩm dở dang và thành phẩm
Trang 13Vốn về chi phí trả trước:
Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có liên quan đến nhiều chu
kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản …
1.1.2.3 Phân loại dựa theonguồn hình thành
Theo cách thức này, vốn được chia làm 2 loại: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu:
Đây là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sở hữu, định đoạt Mỗi loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thì vốn sở hữu lại có hình thái riêng như vốn đầu tư do doanh nghiệp tự bỏ
ra, vốn đầu tư từ NSNN, vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần, vốn góp từ các thành viên trong công ty liên doanh, vốn bổ sung từ lợi nhuận…
Nợ phải trả:
Vốn lưu động hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức, vốn vay bằng cách phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Đặc điểm nguồn vốn lưu động này doanh nghiệp chỉ được sử dụng trong một thời gian nhất định
Với hình thức phân lại này dễ dàng nhìn ra kết cấu vốn của doanh nghiệp được hình thành từ vốn tự có của danh nghiệp hay nợ phải trả, song những khoản nợ phải trả đều kèm theo chi phí sử dụng của nó Vì vậy các nhà quản trị tài chính cần tính toán sao cho các nguồn tài trợ ở mức tối ưu nhằm giảm thấp chi phí sử dụng vốn
Từ đó có các chính sách quản lý, huy động và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, đảm bảo tính an toàn hơn khi sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.1.2.4 Phân loại dựa vào biện pháp quản lý vốn lưu động
Vốn lưu động định mức: là vốn được quy định cần thiết, thường xuyên cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: vốn dự trữ trong sản xuất, vốn thành phẩm
Vốn lưu động không định mức: là bộ phận vốn lưu động trực tiếp phục vụ cho
giai đoạn lưu thông thành phẩm gồm vốn trong thanh toán, vốn bằng tiền…
1.1.2.5 Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn lưu động có thể phân chia nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp thành hai loại: nguồn vốn lưu độngtạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên
Trang 14Nguồn vốn lưu độngtạm thời:
Vay ngắn hạn ngân hàng: doanh nghiệp có thể tiến hành làm hồ sơ vay vốn
ngắn hạn của ngân hàng, khi hết quá trình sản xuất kinh doanh thu được tiền
sẽ trả cho ngân hàng cả gốc và lãi
Sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi có trong doanh nghiệp: đó là các khoản
vốn chiếm dụng của doanh nghiệp như các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp, các khoản trả cán bộ công nhân viên nhưng chưa đến hạn trả, các khoản đặt cọc của khách hàng hay các khoản mua chịu của doanh nghiệp
Chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ khác: khi doanh nghiệp bán chịu
hàng cho đối tác sẽ nhận được thương phiếu của khách hàng Nếu cần vốn mà chưa đến hạn trả của khách hàng, doanh nghiệp có thể lên ngân hàng để chiết khấu thương phiếu lấy một khoản tiền nhỏ hơn giá trị thực của thương phiếu
Nguồn vốn lưu độngthường xuyên:
Vay trên thị trường tài chính: bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu
của doanh nghiệp trên thị trường tài chính Bằng cách này doanh nghiệp sẽ có một lượng vốn dài hạn và ổn định
Sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc lợi nhuận để lại: doanh nghiệp nào cũng có
một lượng vốn chủ nhất định khi mới thành lập, doanh nghiệp làm ăn có lãi có trích lợi nhuận nhằm tái sản xuất mở rộng kinh doanh
Trong cách phân loại này mỗi nguồn vốn đều có ưu, nhược điểm riêng của nó Nếu doanh nghiệp chọn nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản lưu động thì có ưu điểm là lãi suất chịu thấp, vốn có thể quay vòng nhanh, doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn Nhưng nhược điểm là doanh nghiệp dễ bị mắc phải rủi ro thanh toán khi chiếm dụng quá nhiều vốn và rủi ro về lãi suất thay đổi trên thị trường Đối với nguồn vốn dài hạn ưu điểm là ít chịu rủi ro thanh toán và lãi suất thị trường, song sử dụng nguồn này sẽ phải chịu chi phí cao và bị lãng phí vốn vì thông thường sử dụng vốn ngắn hạn
để tài trợ cho tài sản lưu động
1.1.3 Vai trò của vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 15Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
Vốn lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa Vốn lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra
1.2 Tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụngvốn lưu động ở các doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Một doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu Muốn được như vậy doanh nghiệp cần phải làm tốt công tác quản lý doanh nghiệp, trong đó bao gồm quản lý vốn lưu động là một hoạt động quản trị vô cùng quan trọng, không chỉ đem lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh năng lực, trình
độ khai thác và sử dụng tài sản lưu động, vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình SXKD để đảm bảo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí của doanh nghiệp
Dưới góc độ kinh tế đánh giá thì hiệu quả SKXD được thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận hay nói cách khác chỉ tiêu lợi nhuận nói lên hiệu quả sử dụng vốn
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Như đã nói ở trên để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều kiện không thể thiếu là vốn Khi đã có đồng vốn trong tay thì một câu hỏi nữa đặt ra là
ta phải sử dụng đồng vốn đó như thế nào để vốn đó sinh lời, vốn phải sinh lời là nhân
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Lợi ích kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồng vốn, tiết kiệm được vốn tăng tích lũy để thực hiện tái sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn hơn
Trang 16Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tạo ra sự an toàn và đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Việc quản lý tài sản lưu động tốt sẽ giúp doanh nghiệp tạo một cơ cấu vốn hợp lý, duy trì hoạt động kinh doanh bình thường, liên tục, tránh ứ đọng vốn, giảm thiểu chi phí và đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
Đảm bảo khả năng linh hoạt về tài chính, tăng cường sự tự chủ và giảm bớt rủi ro trong kinh doanh Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động giúp vốn lưu động quay vòng nhanh dẫn đến tiết kiệm cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có vốn hoạt động SKXD, tự chủ không bị phục thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài, sử dụng linh hoạt nguồn vốn sẽ làm giảm thiểu những rủi ro của doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng tăng cường sự gắn bó của doanh nghiệp với thị trường, góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội như thỏa mãn các nhu cầu của các thành viên trong xã hội về thu nhập, công việc…
1.2.3 Các phương pháp nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong
doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính có nhiều phương pháp tiến hành đánh giá, đối với việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông thường các nhà phân tích sử dụng các phương pháp đó là: phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số và phương pháp Dupont
1.2.3.1 Phương pháp so sánh
Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực quản lý tài chính, và khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động các nhà quản lý cũng rất hay sử dụng phương pháp này Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh là các chỉ tiêu tài chính phải thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…và theo mục đích phân tích mà xác định số gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân Các tiêu chuẩn
so sánh gồm:
- So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện trong kỳ trước để thấy
rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp là tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được, cũng như vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu với tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Trang 17Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong từng trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng, chắc chắn ta sẽ phát hiện được tình hình tài chính Phân tích tỷ số cho phép phân tích đầy đủ khuynh hướng vì một số dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng nghiên cứu riêng rẽ
1.2.3.3 Phương pháp Dupont
Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các tỷ số tài chính Vì vậy, nó được gọi là phương pháp Dupont Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được những nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ảnh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
- Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản tạo ra bao nhiều đồng lãi cho chủ sở hữu
- Chỉ tiêu này so với doanh nghiệp khác càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời lớn, tiềm năng cao
ROA =
LNST Tổng tài sản
Trang 18Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá xem doanh nghiệp hoạt động hiệu quả đến đâu
Tỷ suất lợi nhuận biên (ROS)
Lợi nhuận biên là tỉ số so sánh thu nhập trên một đồng doanh thu, nó được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho doanh thu Chỉ tiêu này thể hiện mối liên quan giữa doanh thu và lợi nhuận Đây là hai yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, doanh thu thể hiện vai trò và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, và lợi nhuận thể hiện chất lượng hiệu quả cuối cùng của doanh nghiệp
Ý nghĩa của chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận cho chủ sở hữu ROS là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy chỉ số càng cao chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
Đẳng thức Dupont:
Như vậy qua khai triển chỉ tiêu ROE chúng ta có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đó là lợi nhuận sau thuế, tài sản ngắn hạn, doanh thu và vốn CSH.Để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh (tức là gia tăng ROE) doanh nghiệp có sự lựa chọn cơ
Khi áp dụng công thức Dupont vào phân tích các nhà phân tích nên tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số nay qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào trong
ba nguyên nhân kể trên từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau
Dạng thức mở rộng của công thức Dupont cũng phân tích tương tự như dạng thức cơ bản song nhà phân tích phải nhìn sâu hơn vào cơ cấu của biên lợi nhuận ròng
LNST Vốn CSH
LNST TSNH
TSNH Doanh thu
Doanh thu Vốn CSH
ROS =
LNST Doanh thu
Trang 19nhờ nhìn vào ảnh hưởng từ các khoản lợi nhuận khác ngoài khoản lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp và ảnh hưởng của thuế
Nhìn vào chỉ tiêu này các nhà phân tích sẽ đánh giá được mức tăng biên lợi nhuận của doanh nghiệp đến từ đâu Nếu nó chủ yếu đến từ các khoản lợi nhuận khác như thanh lý tài sản hay đến từ việc doanh nghiệp được miễn giảm thuế tạm thời thì các nhà phân tích cần lưu ý đánh giá lại hiệu quả hoạt động thật sự của doanh nghiệp
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động có rất nhiều chỉ tiêu nhưng nhìn chung các nhà phân tích tài chính thường chỉ sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản
1.2.4.1 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu khả năng thanh toán của doanh nghiệp dành được rất nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư, nhà cung cấp…, để đánh giá doanh nghiệp có đủ khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn không Từ đó đưa ra những quyết định đầu tư, cho vay…đối với doanh nghiệp Dưới đây là một số chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán thường dùng:
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:là thước đo khả năng thanh toán ngắn
hạn của doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó
Hệ số khả năng thanh toán nhanh: phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp mà không phụ thuộc vào việc bán tài sản là dự trữ, tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh (K’)
=
Tổng TSNH - Kho
Nợ ngắn hạn K’ = 1: tốt nhất vì khi đó doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao
K’ < 1: phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp kém
Trang 20Hệ số khả năng thanh toán tức thời:Thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn
bằng số tiền đang có của doanh nghiệp Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt quyết định tính thanh toán nên chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đánh giá khắt khe khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh
toán tức thời
= Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Theo các công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng giảm xuống; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn Tuy nhiên ở đây xuất hiện mâu thuẫn đó là khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, không thể nói một cách đơn giản tình hình tài chính của doanh nghiệp là tốt nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn
1.2.4.2 Các chỉ tiêu về khả nănghoạt động kinh doanh
Số vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà hàng tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ, số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá tốt
Số vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
trong kỳ
Số ngày tồn kho bình quân:cho biết một lần luân chuyển của hàng tồn kho
trung bình hết bao nhiêu ngày Tỷ số này càng nhỏ thì càng tốt, vì số ngày luân chuyển của hàng tồn kho càng nhỏ chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyển được càng nhanh, càng
có lợi cho doanh nghiệp
Số ngày tồn kho bình quân =
360
Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay các khoản phải thu:phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải
thu thành tiền mặt của doanh nghiệp, số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản nợ càng nhanh, doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tốt
Trang 21Số vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân (số ngày một vòng quay khoản phải thu): phản ánh số
ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại
Kỳ thu tiền bình quân =
360
Số vòng quay các khoản
phải thu
1.2.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:
Có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn
Số lần luân chuyển vốn lưu động: phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong kỳ nhất định (thường trong 1 năm)
Kỳ luân chuyển vốn lưu động:cho biết thời gian của vòng quay vốn lưu động
tức là số ngày cần thiết của một vòng quay vốn lưu động Thời gian quay vòng càng nhỏ, vốn quay vòng càng nhanh, điều này sẽ giúp doanh nghiệp nhanh
thu hồi vốn để tái sản xuất
Kỳ luân chuyển vốn lưu động
=
360
Số lần luân chuyển vốn
lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động:do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp
tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động
Trang 22Mức tiết kiệm vốn lưu động
=
M1 (K1 – K0)
360 Trong đó: M1 là Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch
K1,K0 là kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo, kế hoạch
Điều kiện để có mức tiết kiệm vốn lưu động là tổng mức luân chuyển vốn kỳ kế hoạch phỉa lớn hơn kỳ báo cáo và vốn lưu động kỳ kế hoạch phải lớn hơn vốn lưu động kỳ báo cáo
Hàm lượng vốn lưu động: tỷ số này cho biết mỗi đồng doanh thu doanh nghiệp
cần sử dụng bao nhiêu đồng vốn lưu động Chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả kinh tế càng cao
Hàm lượng vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
Tỷ suất sinh lời củavốn lưu động:Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của
vốn lưu động, nó cho biết mỗi đơn vị tài sản lưu động đang sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời của vốn
lưu động
=
Lợi nhuận sau thuế Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn
Đánh giá chung: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói chung của doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho phép các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp có một cái nhìn chính xác, toàn diện
về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của đơn vị mình từ đó đề ra các biện pháp, các chính sách các quyết định đúng đắn, phù hợp để việc quản lý và sử dụng đồng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng ngày càng có hiệu quả trong tương lai Suy cho cùng việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là nhằm vào việc nâng cao lợi nhuận Có lợi nhuận chúng ta mới có tích luỹ để tái sản xuất ngày càng
mở rộng
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Tình hình sử dụng vốn lưu động ở mỗidoanh nghiệp đều có những điểm khác nhau, bên cạnh đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố
Trang 23trong và ngoài doanh nghiệp Để có thể hình dung được rõ nét các nhân tố này ta có thể chia chúng thành 2 nhóm nhân tố chủ quan và khách quan
1.2.5.1 Nhân tố chủ quan
Nhóm các nhân tố chủ quan là nhóm các nhân tố thuộc về phía doanh nghiệp Một số các nhân tố chính có thể nhắc đến như:
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay nói cách khác là doanh thu và lợi nhuận Doanh thu và lợi nhuận cao hay thấp phản ánh vốn lưu động
sử dụng hiệu quả hay không hiệu quả Do đó vấn đề mấu chốt đối với doanh nghiệp là phải tìm mọi cách để nâng cao doanh thu và lợi nhuận
Sự phùhợp giữa vốn cố định và vốn lưu động trong doanh nghiệp
Mỗi loại hình doanh nghiệp lại có một cơ cấu riêng về vốn sao cho đó là phù hợp nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp Sự cân đối giữa tỷ trọng vốn lưu động với vốn cố định sẽ thúc đẩy quá trình phát triển của doanh nghiệp đồng thời nó cũng có tác động lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Nếu trong doanh nghiệp lượng vốn lưu động quá nhiều so với nhu cầu của doanh nghiệp, trong khi đó vốn cố định thì không đủ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra một cách bình thường, điều này cũng sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Dễ gây ứ đọng vốn lưu động tốn kém chi phí phải trả cho các nguồn tài trợ, nhưng cũng không đảm bảo hoạt động SXKD khi không
có đủ vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh
Nếu vốn lưu động quá ít không đủ cho hoạt động kinh doanh, vốn cố định quá nhiều sẽ dẫn đến dư thừa vốn cố định, như vậy doanh nghiệp sẽ gây ra lãng phí nguồn vốn khi đầu tư vào tài sản cố định, làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp
Tóm lại, một sự huy động vốn không hợp lý cũng có thể gây nên tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hụt vốn, cả hai trường hợp đều không tốt vì đều không đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải có những chính sách huy động vốn một cách hợp lý nhất để tiết kiệm chi phí cũng như đảm bảo cho hoạt động SXKD được diễn ra một cách bình thường và liên tục
Các nhân tố thuộc trình độ quản lý vốn của doanh nghiệp
Chất lượng công tác quản lý vốn lưu động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Bởi vì, công tác quản lý vốn lưu động sẽ giúp cho doanh nghiệp dự trữ được một lượng tiền mặt tốt vừa đảm bảo được khả năng thanh toán vừa tránh được tình trạng thiếu tiền mặt tạm thời hoặc lãng phí do giữ quá nhiều tiền mặt, đồng thời cũng xác định được một lượng dự trữ hợp lý giúp cho quá
Trang 24trình sản xuất kinh doanh được liên tục mà không bị dư thừa gây ứ đọng vốn Ngoài ra công tác quản lý vốn lưu động còn làm tăng được số lượng sản phẩm tiêu thụ chiếm lĩnh thị trường thông qua chính sách thương mại
Các yếu tố thuộc về trình độ quản trị nguồn nhân lực
Quản trị nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng chính trong bất cứ doanh nghiệp nào Đó là một trong những nhân tố quyết định trong quá trình SXKD của doanh nghiệp Trình độ của quản trị nguồn nhân lực được được đánh giá qua việc phân
bổ cán bộ công nhân viên vào những bộ phận, phòng ban phù hợp với trình độ của từng cá nhânthông qua trình độ lành nghề, học vấn, kinh nghiệm, hiểu biết…trình độ quản trị nguồn nhân lực vì thế cũng là một nhân tố hết sức quan trọng quyết định hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp Bởi vì, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động mà những cán bộ công nhân trong doanh nghiệp là người trực tiếp quản lý và sử dụng tài sản lưu động, nếu lựa chọn nguồn nhân lực trình độ kém hoặc không thích hợp với vị trí công việc sẽ dẫn đến sử dụng tài sản lưu động không đúng hay gây lãng phí làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động và làm cho hiệu quả SXKD giảm Vì vậy, doanh nghiệp cần có những chính sách phân bổ và đào tạo hợp lý nguồn nhân lực nhằm phát triển được hết tiềm năng của cán bộ công nhân viên, không chỉ vì nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động mà còn vì mục đích phát triển doanh nghiệp
Ảnh hưởng của ngành nghề kinh doanh đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng hết sức sâu sắc tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Nhìn chung có thể chia các doanh nghiệp ra thành các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp nặng, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp nhẹ và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì sẽ có nhu cầu
về vốn lưu động khác nhau, do đó hoạt động quản lý và sử dụng vốn lưu động cũng khác nhau Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp nặng thì nhu cầu về vốn lưu động của họ không cao, chỉ chiếm khoảng 20-30% vốn của doanh nghiệp Còn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp nhẹ thì nhu cầu về tài sản lưu động của họ là trung bình khoảng 50% tổng vốn của doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ có nhu cầu
về vốn lưu động là nhiều nhất chiếm tới 70-80% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Như vậy, đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau cần phải có một chế độ sử dụng và quản lý vốn lưu động sao cho phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh
Trang 25nghiệp mình, có như vậy mới có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.5.2 Nhân tố khách quan
Là các nhân tố bên ngoài tác động vào làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Các yếu tố đó bao gồm:
Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế
Nền kinh tế khi vận hành luôn mang trong nó sự biến đổi và rất nhiều những rủi
ro tiềm ẩn Sự thay đổi thường xuyên của các biến số kinh tế này luôn đặt doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản nếu không có biện pháp ứng phó kịp thời Các biến số chủ yếu trong nền kinh tế thay đổi đó là:
- Các biến động về cung cầu hàng hóa trên thị trường:Các biến động này làm
cho giá cả mặt hàng thay đổi, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải có biện pháp quản lý sao cho giá cả của sản phẩm sản xuất ra đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường mà không làm giảm chất lượng của sản phẩm
- Lạm phát: Khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát tức là hiện tượng mất giá
của đồng tiền, làm cho giá cả của hàng hóa, nguyên vật liệu tăng nhanh và biến động không ngừng, khi đó doanh nghiệp cần có những chính sách đối với quản lý vốn lưu động sao cho việc các biến số kinh tế thay đổi không làm ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp
- Sự thay đổi của lãi suất trên thị trường:Điều này làm cho việc sử dụng vốn
của doanh nghiệp sẽ trở nên đắt đỏ hơn, vì thế doanh nghiệp cần phải có biện pháp nhằm quản lý và sử dụng vốn lưu động một cách tiết kiệm và hợp lý nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp
- Sự thay đổi về chính sách kinh tế của Nhà nước: Đây là nhân tố có ảnh hưởng
rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng Vì tuỳ theo từng thời kỳ, tuỳ theo từng mục tiêu phát triển mà Nhà nước có những chính sách ưu đãi về vốn về thuế và lãi suất tiền vay đối với từng ngành nghề
cụ thể, có chính sách khuyến khích đối với ngành nghề này nhưng lại hạn chế ngành nghề khác Bởi vậy khi tiến hành sản xuất kinh doanh bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm và tuân thủ chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Sự biến động của các thị trường
Thị trường các nhân tố sản xuất, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường máy móc thiết bị…các thị trường này thường xuyên thay đổi để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường hiện nay Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi của nguyên vật liệu, giá nhân công lao động, máy móc thiết bị…không chỉ về giá cả mà còn về chất lượng và mức độ khan hiếm Vì vậy doanh nghiệp cần phải tăng cường
Trang 26quản lý hoạt động của doanh nghiệp, nhất là quản lý việc sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Sự phát triển của khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tác động đến tất cả các mặt của nền kinh tế xã hội, doanh nghiệp chịu rất nhiều tác động của công nghệ, nếu áp dụng công nghệ đúng chỗ và tiên tiến sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển Mặt khác, sự phát triển của khoa học công nghệ thường làm giảm giá trị của sản phẩm khi nó trở nên lỗi thời hơn so với hiện tại hoặc nếu doanh nghiệp không điều chỉnh giá kịp thời sẽ làm mất tính cạnh tranh so với những sản phẩm cùng loại làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng
Sự thay đổi của môi trường tự nhiên
Trong quá trình SXKD doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro do thiên tai: hạn hán, lũ lụt…không thể lường trước được Bên cạnh đó, các nguyên nhiên vật liệu sản xuất thuộc các ngành chế biến thực phẩm thường bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự thay đổi thời tiết, khí hậu Doanh nghiệp cần lập những kế hoạch quản lý sao cho quá trình hoạt động SXKD không bị gián đoạn và không phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, phòng tránh các thiệt hại có thể xảy ra
1.3 Bảo toàn vốn lưu động
Bảo toàn vốn lưu động trong doanh nghiệp là bảo đảm số vốn lưu động thu hồi sau mỗi chu kỳ kinh doanh đủ để doanh nghiệp tiếp tục SXKD trong kỳ tiếp theo đồng thời bổ sung thêm cho nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc đầu tư thêm các trang thiết
bị, máy móc…phục vụ sản xuất
Định kỳ tháng,quý,năm các doanh nghiệp phải xác định các khoản chênh lệch giá tài sản lưu động thực tế tồn kho ở doanh nghiệp bao gồm các khâu:Vật tư dự trữ,bán thành phẩm,sản phẩm dỡ dang và thành phẩm để bổ sung vốn lưu động Tổng số chênh lệch giá (sau khi đã bù trừ giữa các khoản chênh lệch tăng và giảm) được hạch toán bổ sung các nguồn vốn lưu động ngân sách cấp và doanh nghiệp tự bổ sung
Cơ quan quản lý cấp trên doanh nghiệp và cơ quan tài chính phải xác định hệ số bảo toàn vốn lưu động hàng năm cho từng nghành, từng doanh nghiệp.Hệ số trượt giá bình quân của vốn lưu động được tính phù hợp với đặc điểm cơ cấu tài sản lưu động từng nghành,từng doanh nghiệp trên cơ sở mức tăng giảm giá thực tế cuối năm so với đầu năm của một số vật tư chủ yếu tính theo cơ cấu kế hoạch của từng doanh nghiệp
Số vốn phải bảo toàn hàng năm về vốn lưu động của doanh nghiệp được tính theo công thức sau:
Trang 27Trong công thức trên:
- Số vốn đã được giao là số vốn lưu động giao lần đầu cho doanh nghiệp đã được xác định trong biên bản giao nhận vốn; số vốn phải bảo toàn đến đầu năm là số vốn được giao nhận đã điều chỉnh theo hệ số bảo toàn vốn đén đầu năm sau
- Hệ số trượt giá vốn lưu động của doang nghiệp trong năm được xác định theo nguyên tắc đã nêu,do cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính xác định cho doanh nghiệp
Các biện pháp bảo toàn vốn lưu động:
- Định kỳ phải tiến hành kiểm kê đánh giá và đánh giá lại vật tư hàng hoá, vốn bằng tiền, vốn thanh toán để xác định vốn hiện có của doanh nghiệp theo giá trị hiện tại Trên cơ sở kiểm kê, đánh giá vật tư hàng hoá mà đối chiếu với số liệu sổ sách kế toán để điều chỉnh cho hợp lý
- Các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh, bảo toàn vốn ngay trong quá trình kinh doanh trên cơ sở có sự thay đổi về giá do nhà nước quyết định điều chỉnh (doanh nghiệp nhà nước).Như vậy sẽ đảm bảo đủ vốn lưu động cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh ứ đọng vốn ( phải trả lãi vay), thúc đẩy tốc độ luân chuyển vốn dẫn đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Tổ chức khai thác tốt nguồn tài trợ vốn lưu động:
+ Trước hết về trình tự khai thác nguồn vốn: doanh nghiệp cần khai thác triệt
để các nguồn vốn nội bộ và các khoản vốn có thể chiếm dụng một cách hợp pháp, thường xuyên
+ Nếu số vốn lưu động còn thiếu, doanh nghiệp tiếp tục khai thác đến nguồn
bên ngoài doanh nghiệp như: Vốn liên doanh, vốn vay của ngân hàng, hoặc các công ty tài chính, vốn phát hành cổ phiếu, trái phiếu Khi khai thác các nguồn vốn bên ngoài, điều đáng lưu ý nhất là phải cân nhắc yếu tố lãi suất tiền vay
- Giải quyết những vật tư ứ đọng kém, mất phẩm chất, theo chế độ tài chính hiện hành (gắn với trách nhiệm vật chất)
- Có biện pháp tích cực để thu hồi nợ nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Dành một phần lợi nhuận để bù đắp trượt giá tránh bị mất vốn
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN
LƯU ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH TƯ VẤN THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 Tổng quan chung về Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng thuộc tổng công
ty xây dựng công nghiệp Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu về Chi nhánh
Tên giao dịch: Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng
Tên giao dịch Quốc tế: Consulting Center for Design & Construction
Tên Công Ty viết tắt:CCDC
Trụ sở chính: Lầu 3 - Số 5 Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội
Số điện thoại: 04.35142418/35143 350
E-mail : ccdchn@fpt.vn
Website: www.ccdc.com.vn
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh
Chi nhánhTư vấn Thiết kế và Xây dựng là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập theo quyết định số: 263 /1996/QĐ-TCNS ngày 11/5/1996 của Tổng công ty Hoá chất Việt Nam Chi nhánh là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Công ty Hoá chất Việt Nam Sau gần 9 năm hoạt động có hiệu quả, Chi nhánh Tư vấn Thiết kế và Xây dựng được chuyển về trực thuộc Tổng Công ty Cổ phần Xây dựng Công nghiệp Việt Nam theo quyết định số: 03/1999/QĐ-BCN ngày 19/01/1999 của Bộ Công nghiệp Với đội ngũ gần 200 cán bộ, nhân viên của chi nhánh bao gồm các nhà tư vấn, thiết kế và các chuyên gia có kinh nghiệm đang làm việc trong nước và Quốc tế với chuyên môn ngành nghề đa dạng, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực xây dựng : Các công trình dân dụng, Công nghiệp, Giao thông, Thuỷ lợi, Hạ tầng kỹ thuật và Môi trường,v.v
Chi nhánh đã đầu tư mua sắm nhiều phần mềm chuyên dụng có bản quyền phục
vụ công tác thiết kế như Phần mềm Phân tích và thiết kế Nhà cao tầng: ETABS của Hãng CSI (thuộc Trường Đại học Berkeley - Hoa Kỳ), Phần mềm phân tích ứng suất, biến dạng của nền đất phục vụ thiết kế Tầng hầm, Tường chắn đất : SIGMAZ - Bộ phần mềm GEOSLOPE của Hãng Geoslope International Ltd (Canada).
Trang 292.1.3 Ngành nghề kinh doanh của Chi nhánh
Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng chuyên thực hiện các dịch vụ tư vấn đầu
tư xây dứng bao gồm các lĩnh vực sau:
Lập dự án đầu tư các công trình có vốn đến nhóm B Thiết kế các công trình công nghiệp và dân dụng đến nhóm B;
Tư vấn đấu thầu các công việc : thiết kế, mua sắm thiết bị, xây lắp các công trình, xác định giá xây dựng và giá tư vấn xây dựng phục vụ cho chủ đầu tư và các nhà thầu;
Kiểm định chất lượng công trình xây dựng, quản lý dự án;
Lập dự án đầu tư xây dựng và thiết kế các công trình công nghiệp đến nhóm
A, công trình nguồn điện, trạm biến áp, đường dây điện 220KV;
Thiết kế quy hoạch chi tiết khu dân cư, khu chức năng đô thị, khu công nghiệp;
Thẩm tra dự án, thẩm định thiết kế, tổng dự toán, giám sát kỹ thuật xây dựng, tổng thầu thiết kế quản lý dự án các công trình công nghiệp và dân dụng;
Xây dựng thực nghiệm các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp ngành, cấp nhà nước do đơn vị thiết kế, xây lắp các công trình do tổng công ty giao
2.1.4 Cơ cấu bộ máy quản lý tại Chi nhánh
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý tại Chi nhánh
(Nguồn Phòng kế hoạch tổng hợp)
Giám đốc
Phó Giám Đốc
Đội quản lý chất lượng
Phòng quản lý
Trang 30Giám đốc: là người đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước hội
đồng quản trị, tổng công ty và pháp luật về điều hành hoạt động của công ty Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, và hàng năm của công
ty
Phòng tài chính - kế toán: Do kế toán trưởng công ty tổ chức quản lý điều hành,
có chức năng tham mưu cho giám đốc thực hiện các công tác thống kê, kế toán tài chính Thực hiện hạch toán kinh tế, cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin cần thiết chính xác giúp cho giám đốc có những quyết sách sản xuất kinh doanh và đầu tư hiệu quả
Phòng kế hoạch tổng hợp: Tham mưu về đối nội và đối ngoại, giúp lãnh đạo chi
nhánh chỉ đạo, quản lý sản xuất kinh doanh các lĩnh vực: Kế hoạch, thị trường, báo cáo thống kê, quản lý kỹ thuật; Quản lý và điều hành công việc về tổ chưc và tiền lương; Quản lý và điều hành công việc về văn phòng
Phòng thiết kế xây dựng: Là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức và sản xuất của
chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng,phòng có chức năng: Thiết kế phần xây dựng thuộc các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp; Đào tạo cán bộ chuyên môn cho chi nhánh và tổng công ty; Tham mưu cho lãnh đạo chi nhánh trong công tác thị trường trong lĩnh vực thiết kế xây dựng
Phòng thiết kế đường dây và trạm: Tư vấn thiết kế, giám sát tác giả, giám sát
thi công, thẩm định các dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo đường dây trên không, đường cáp ngầm, trạm biến áp cấp điện áp từ hạ áp đến cao áp; Tham mưu cho lãnh đạo chi nhánh trong công tác thị trường trong lĩnh vực thiết kế đường dây và trạm;
Đào tạo cán bộ chuyên môn cho chi nhánh và tổng công ty
Phòng quản lý dự án: Tham mưu giúp lãnh đạo chi nhánh chỉ đạo, quản lý sản
xuất kinh doanh các lĩnh vực: Tư vấn đầu tư và đấu thầu, tư vấn giám sát, quản lý và điều hành dự án; Khai thác thị trường; Đào tạo cán bộ về chuyên môn
2.2 Phân tích tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi nhánh trong ba năm 2011 – 1013
Để nắm rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh, chúng ta có thể xem xét một cách tổng quát kết quả kinh doanh của chi nhánh thông qua các báo cáo tài chính trong một vài năm trở lại đây
2.2.1 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của công ty được phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Các số liệu trên báo cáo cho biết thông tin tổng hợp về kết quả sử dụng vốn, lao động kỹ thuật và kinh nghiệm của công ty Sau đây là báo cáo kết quả kinh doanh của chi nhánh trong ba năm 2011-2012-2013:
Trang 31Bảng 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh
Trang 32Về doanh thu:
Biểu đồ 2.1 Doanh thu qua các năm
(Nguồn: tính toán của tác giả)
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụnăm 2012 của chi nhánh là 278.561.661.772 đồng, nhận thấy so với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm
2011 là 141.219.968.483 đồng đã tăng lên 137.341.693.289 đồng, tương ứng tăng 97,25% Đặc biệt, đến năm 2013 với tốc độ phát triển nhanh chóng của các công trình
đô thị đã đưa tổng doanh thu lên đến561.538.677.496 đồng, tăng 282.977.015.724 đồng so với năm 2012, tương ứng tăng 101,59%.Mặc dù nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thoát hẳn khỏi sự ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu song CCDC vẫn khẳng định vị thế của mình và không ngừng phát triển, nguyên nhân do ban giám đốc đã biết nắm bắt thời cơ, mang về cho chi nhánh những hợp đồng lớn Một vài công trình chi nhánh đã hợp tác thi công trong năm qua đó là: nhà máy cơ khí Tam Bảo, nhà máy thực phẩm Thái Bình, dự án xây dựng chợ Đồng Đăng, căn hộ liền kề khu đô thị mới Bắc Ninh…
Các khoản giảm trừ doanh thu: Một thành công của chi nhánh đó là trong ba năm
2011, 2012 và 2013 các khoản giảm trừ doanh thu đều bằng 0, đây là điều chi nhánh luôn cố gắng duy trì vì các sản phẩm chi nhánh bàn giao cho khách hàng đều đạt đúng tiêu chuẩn của hợp đồng, có nghĩa chi nhánh không phải mất khoản chi phí nào để sửa chữa hay bồi thường cho khách hàng Nhờ vậy, uy tín của chi nhánh trong lòng khách hàng cũng được nâng cao rõ rệt, mang đến nhiều cơ hội với những bản hợp đồng lớn hơn cho chi nhánh Ngoài ra, các khoản giảm trừ doanh thu bằng 0 đồng nghĩa với doanh thu thuần đúng bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu hoạt động tài chính năm 2012 là 2.272.751.834 đồng, tăng 459.290.995 đồng so với doanh thu hoạt động tài chính năm 2011, mức tăng không lớn tương ứng 25,33% Sang năm 2013, mức tăng cũng chỉ nhích lên một chút là33.97%,
có nghĩa tăng 772.125.759 đồng so với năm 2012 lên mức 3.044.877.593 đồng.Các
141.219.968.483
278.561.661.772
561.538.677.496
Trang 33khoản doanh thu tài chính chi nhánh nhận được chủ yếu do lãi tiền gửi ngân hàng với lãi suất 13,5%/năm làm tăng lợi nhuận đầu tư tài chính Ngoài ra, trong năm 2013 chi nhánh có cho các công ty CP Bê tông Ly tâm Vinainco, công ty TNHH MTV Xây lắp hóa chất và công ty TNHH MTV Cơ khí hóa chất Hà Bắc vay với số lãi nhận được là 501.359.207 đồng chiếm 16,67% tỷ trọng doanh thu hoạt động tài chính của chi nhánh.Đây chỉ là một chỉ số nhỏ trong chỉ tiêu doanh thu và tác động không đáng kể đến tình hình doanh thu của chi nhánh.Hiện tại, công ty chưa thực hiện đầu tư cổ phiếu, trái phiếu… trên thị trường tài chính vì vậy doanh thu hoạt động tài chính mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với doanh thu bán hàng Như vậy, công ty hiện chưa chú trọng vào hoạt động này
Năm 2012 chi nhánh có khoản thu nhập khác 213.171.204 đồng tăng 105.136.885 đồng so với năm 2011 (là 108.034.319 đồng) Tuy nhiên, lại có sự tăng đột biến khoản thu nhập khác trong năm 2013 lên đến 6.637.270.125 đồng (tăng khoảng 30 lần so với năm trước đó) Sở dĩ có sự tăng vọt này là do Tổng công ty đầu
tư nhiều máy móc thiết bị công nghệ mới nên chi nhánh đang thanh lý dần các thiết bị máy móc cũ như máy tính ở bộ phận thiết kế, các thiết bị đo lường – khảo sát công trình,…
Về chi phí:
Khoản mục quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến cơ cấu chi phí đó là giá vốn hàng bán Năm 2011 giá vốn hàng bán là 130.644.968.828 đồng; năm 2012 giá vốn là 256.212.607.215 đồng tăng cao hơn năm 2011 là 125.567.638.387 đồng, tương ứng 96,11%; sang năm 2013 giá vốn là 532.761.872.570 đồng, tăng 276.549.265.355 đồng, tương ứng 107,94% so với năm 2012.Tưởng như mức tăng chi phí này là không tôt đối với lợi nhuận của chi nhánh, song nhìn lên mức tăng doanh thu thuần đạt 97,25% (năm 2012) và 101,59% (năm 2013) thì hoàn toàn hợp lý Việc nhận được nhiều hợp đồng đồng nghĩa chi phí sản xuất cũng phải tăng theo để đảm bảo sản phẩm tạo ra có chất lượng tốt, các dự án xây dựng chi nhánh nhận thầu hầu hết là thuê công ty ngoài thực hiện, chi nhánh chỉ thực hiện giám sát nên chi phí rất lớn
Chi phí tài chính của chi nhánh trong năm 2012 là 408.531.721 đồng, tăng 342.266.817 đồng so với năm 2011, tương ứng tăng 516,51% Khoản chi phí tài chính
mà chi nhánh phải chi trả chính là chi phí trả lãi vay của chi nhánh Với mức tăng 516,51% cho thấy chi nhánh đã vay nợ hơn rất nhiều mà ở đây chủ yếu là vốn lưu động để chi trả cho công ty thuê ngoài tham gia xây dựng công trình Với số lượng công trình lớn hơn vào năm 2013 thì lượng chi phí tài chính phải trả đã tăng lên đến 2.039.587.041 đồng, tương ứng tăng 399.25% so với năm 2012, trong đó tiền trả lãi vay là791.447.243 đồng còn lại là phí bảo lãnh, chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện Tuy việc vay vốn này mất chi phí lãi vay song nó đảm bảo cho chi nhánh có thể
Trang 34thanh toán đúng thời hạn với các bên được thuê của dự án, giúp tăng uy tín của chi nhánh
Chi phí quản lý kinh doanh năm 2011 là 6.862.064.502 đồng, năm 2012 tăng 1.510.399.042 đồng (tương ứng 22,01%) so với năm 2011, chi phí quản lý kinh doanh
2013 là11.451.731.336 đồng, so với năm 2012 tăng 3.079.267.792 đồng (tương ứng 36,78%).Vài năm gần đây có thể nói là thời kỳ kinh doanh thành công của chi nhánh với nhiều dự án lớn vì thế khối lượng công việc rất nhiều, chi nhánh phải tuyển thêm nhiều đội ngũ nhân viên cho các dự án song chi nhánh đã cắt giảm bớt được chi phí cho việc tiếp thị - quảng bá bởi hiện nay chi nhánh cũng khá có tiếng trong ngành Mặt trái là nó làm giảm lợi nhuận trước thuế của chi nhánh
Điều đáng khen khoản mục chi phí khác trong năm 2012 là 0 đồng, ngay cả năm
2011 con số cũng là rất nhỏ chỉ 980.312 đồng.Đến năm 2013 chi phí khoản mục này lại xuất hiện nhưng không đáng kể chỉ có115.486 đồng.Chi nhánh luôn hoàn thành tốt các dự án để bàn giao cho khách hàng đúng thời hạn và chất lượng theo yêu cầu trong hợp đồng nên không bị mất chi phí bị phạt hay đền bù
Về lợi nhuận:
Biểu đồ 2.2 Lợi nhuận của chi nhánh qua các năm
(Nguồn: tính toán của tác giả)
Sau khi hạch toán các khoản mục doanh thu và chi phí, lấy doanh thu trừ đi chi phí ta có tổng lợi nhuận trước thuế năm 2011 là 5.567.185.095 đồng, chi nhánh kinh doanh có lãi, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là 1.624.929.896 đồng (25% tổng lợi nhuận trước thuế) Tổng lợi nhuận trước thuế năm 2012 là 16.053.982.330 đồng, kinh doanh có lãi nhiều hơn năm 2011 là 10.486.797.235 đồng, chi phí nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là 4.013.495.583 đồng.Năm 2013 lợi nhuận trước thuế tăng lên 24.967.518.781 đồng, nộp thuế TNDN là6.241.879.695 đồng
3.942.255.199
12.040.486.747
18.725.639.086
Trang 35Lợi nhuận sau thuế là khoản lợi nhuận trước thuế trước thuế trừ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, lợi nhuận sau thuế năm 2012 là 12.040.486.747 đồng tăng 8.098.231.548 đồng tương ứng 205,42% so với lợi nhuận sau thuế năm 2011 là 3.942.255.199 đồng Ta dễ dàng nhận thấy lợi nhuận sau thuế thu được tăng khoảng 200% vào năm 2012 là một con số khả quan nhưng xét về lâu dài thì các khoản chi phí lại chiếm tỷ trọng quá lớn so với doanh thu, điều này làm lợi nhuận của chi nhánh chỉ còn lại rất ít Điều này đã được phản ánh ở tình hình lợi nhuận sau thuế vào năm 2013, mặc dù có thể nhận thấy tổng doanh thu thu được từ các hợp đồng, công trình là rất lớn, cao hơn hai lần doanh thu năm 2012 nhưng lợi nhuận cuối cùng sau khi đóng thuế TNDN lại chỉ tăng 55,5% tức tăng 6.685.152.339 đồng lên con thành 18.725.639.086 đồng Tỷ số gia tăng lợi nhuận đã giảm xuống 4 lần so với năm 2012 cho thấy công tác quản lý chi phí chưa hiệu quả, đòi hỏi chi nhánh phải kiểm soát chi phí tài chính và chi phí quản lý kinh doanh hiệu quả hơn để gia tăng lợi nhuận
Nhận xét: Tình hình kinh tế Việt Nam tuy còn nhiều khó khăn, chưa khôi phục sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu song có thể thấy Chi nhánh tư vấn thiết kế và xây dựng đã nhanh nhạy bám trụ được với thị trường, tuy chưa tối thiểu hóa được chi phí nhưng chi nhánh luôn chủ trương lấy tiêu chí hài lòng của khách hàng lên đầu để gia tăng uy tín của chi nhánh với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành