Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp.Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
Trang 1Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Trang 2Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
Trang 3MỤC LỤC
1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh
2 Đặc điểm của vốn kinh doanh
3 Vai trò của vốn kinh doanh
4 Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại
5 Vốn cố định của doanh nghiệp thương mại
6 Sự cần thiết của việc sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả trong các doanh nghiệpthương mại
7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệpthương mại
Tham gia đóng góp
Trang 4Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh
Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh:
Khái niệm vốn kinh doanh:
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng
và nền kinh tế nói chung Do vậy, từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm về vốn, ở mỗimột hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn
Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng: Vốn (tư bản)
là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất Định nghĩa của Mác
về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn Bản chấtcủa vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cốđịnh, nguyên vật liệu, tiền công Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nềnkinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản suất vật chất và cho rằngchỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế Đây là một hạn chếtrong quan niệm về vốn của Mác
P.A.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại, coi đấtđai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá chỉ là kết quả củasản xuất Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng nhưcác đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó Một số hàng hoá vốn có thể tồn tạitrong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn.Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ravừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất Về bản chất vốn là phương pháp sản xuất gián tiếptốn thời gian
David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là: Vốn hiệnvật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất
ra để sản xuất các hàng hoá khác Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt củadoanh nghiệp Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong địnhnghĩa của David Begg
Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nàocũng cần có một lượng vốn nhất định Lượng vốn đó dùng để thực hiện các khoản đầu
tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm tài sản cố định, nguyênvật liệu Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ
đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường Số tiền mà doanh nghiệp thu
về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra, đồng thời
Trang 5phải có lãi Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp.
Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại (DNTM) là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh baogồm:
- Tài sản hiện vật như: nhà kho, cửa hàng, hàng hoá dự trữ
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quí
- Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác
Phân loại vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại có thể được xem xét, phân loại theo cáctiêu thức sau:
* Theo giác độ pháp luật:
- Vốn pháp định: là số vốn tối thiểu cần thiết để đảm bảo năng lực kinh doanh đối vớitừng ngành nghề, từng loại hình doanh nghiệp do pháp luật qui định Dưới mức vốnpháp định thì không thể đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp
Theo Nghị Định 221 và 222 HĐBT ngày 23/07/1991 cụ thể hoá một số điều qui địnhtrong luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân qui định:
+ Vốn pháp định đối với ngành kinh doanh tư liệu sản xuất cho công ty trách nhiệm hữuhạn là 150 triệu đồng, công ty cổ phần là 500 triệu và doanh nghiệp tư nhân là 80 triệuđồng
+ Vốn pháp định cho các cửa hàng dịch vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn là 50 triệuđồng, công ty cổ phần là 200 triệu đồng, doanh nghiệp tư nhân là 20 triệu đồng
- Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của doanhnghiệp Tuỳ theo ngành nghề và loại hình doanh nghiệp nhưng vốn điều lệ không đượcnhỏ hơn vốn pháp định
* Theo giác độ hình thành vốn kinh doanh:
Trang 6- Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là số vốn cầnthiết để đăng kí kinh doanh Đó là vốn đóng góp của các thành viên công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân hoặc vốn của nhà nước giao.
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do trích từ lợi nhuận, do ngân sách nhà nước cấp, sựđóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu… bổ sung để tăng thêm vốn kinh doanh
- Vốn liên doanh: là vốn do sự đóng góp của các bên khi tiến hành cam kết liên doanh,liên kết với nhau trong hoạt động thương mại, dịch vụ
- Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn chủ sở hữu, vốn liên doanh để
có đủ vốn kinh doanh doanh nghiệp phải đi vay của ngân hàng trong và ngoài nước
* Theo giác độ chu chuyển vốn kinh doanh:
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định bao gồm: toàn bộ những tư liệulao động có hình thái vật chất cụ thể có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng quiđịnh
- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông
+ Tài sản lưu động là những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sửdụng để xếp vào tài sản cố định
+ Bộ phận quan trọng của vốn lưu động là dự trữ hàng hoá, vốn bằng tiền như tiền gửingân hàng, tiền mặt tồn quỹ các khoản phải thu ở khách hàng
Việc phân chia các loại vốn này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh doanh thươngmại Vì tính chất của chúng rất khác nhau và hình thức biểu hiện cũng khác nhau nênphải có các biện pháp thích ứng để nâng cao hiệu quả sử dụng các loại vốn này
Trang 7Đặc điểm của vốn kinh doanh
Đặc điểm của vốn kinh doanh:
Đặc điểm của vốn lưu động:
Vốn lưu động dùng trong kinh doanh thương mại tham gia hoàn toàn vào quá trình kinhdoanh giá trị của nó có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển hàng hoá.Vốn lưu động luôn luôn biến đổi hình thái từ tiền sang hàng và từ hàng sang tiền Vốnlưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ hànghoá, vốn bằng tiền và tài sản khác
Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển hàng hoá và thựchiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu chuyển của vốn khác hẳn sovới các đơn vị sản xuất Trong doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là khoản vốnchiếm tỉ trọng lớn nhất khoảng 70 – 80% vốn kinh doanh trong đó, bộ phận dự trữ hànghoá chiếm tỉ lệ cao
Ở mỗi thời điểm nhất định, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại thường thể hiện
ở các hình thái khác nhau như: hàng hoá dự trữ, vật tư nội bộ, tiền gửi ngân hàng, tiềnmặt tồn quĩ, các khoản phải thu và các khoản phải trả
Tuỳ từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh doanh mà vốn lưu độngcủa doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ chu chuyển khác nhau Ví dụ vốncủa doanh nghiệp thương mại có sản suất gia công chế biến khác với đơn vị bán buôn,đơn vị chuyên bán hàng qua kho sẽ khác với đơn vị chỉ bán hàng chuyển thẳng
Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định biểu hiện dưới hình thái tài sản cố định Theo Quyết Định – 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ Tài Chính: Mọi tư liệu lao động và mọi khoản chi phíthực tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà đồng thời thoã mãnhai điều kiện: có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên và có giá trị từ 5 triệu đồng trở lênthì đều được coi là tài sản cố định
Tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình kinh doanh, sau mỗi chu kỳ kinh doanhvẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nên giá trị của nó được chuyển dần từng phầnvào giá trị của sản phẩm
Trang 8Tài sản cố định giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian dài, chỉ tăng thêmkhi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm Tài sản cố định hao mòn dần, có hai loạihao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
- Hao mòn hữu hình phụ thuộc mức độ sử dụng tài sản cố định và các điều kiện khác cóảnh hưởng tới độ bền lâu dài của tài sản cố định như:
+ Hình thức và chất lượng của tài sản cố định
+ Các điều kiện tự nhiên và môi trường…
- Hao mòn vô hình chủ yếu là do tiến bộ khoa học- công nghệ mới và năng suất lao động
xã hội quyết định
Tài sản cố định chuyển đổi thành tiền chậm hơn nhưng những tài sản cố định như: nhàcửa, kho tàng, quầy hàng lại là những tài sản có giá trị cao, là bộ mặt của doanh nghiệp,nên có giá trị thế chấp đối với ngân hàng khi vay vốn
Ngày nay, các doanh nghiệp thương mại thường đầu tư vốn cố định vào xây dựng nhàlàm việc, cửa hàng ở những đầu mối giao thông để tiện liên hệ với khách hàng và nhữngtài sản cố định như các thiết bị văn phòng được chú ý đầu tư nhằm thu hút và phục vụkhách hàng tốt hơn
Trang 9Vai trò của vốn kinh doanh
Vai trò của vốn kinh doanh:
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngànhnghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế Để tiến hành hoạt động kinh doanhđược, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó Số vốn này thểhiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinhdoanh Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động vàphát triển của doanh nghiệp Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định trong việcthành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định Nó làđiều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanhnghiệp Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức huy động vốn màdoanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh
- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện
có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá Bởi vậy các doanh nhân thường ví “buôn tài không bằng dài vốn”.
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong sản suất kinh doanh Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề đểdoanh nghiệp tính toán hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh Nó cũng làchất keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhờnbôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị Nó chỉ phát huy đượctác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh Nếu vốn khôngđược bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiệntượng mất vốn Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽlàm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãngphí, không hiệu quả
Trang 10Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại.
Thành phần và cơ cấu vốn lưu động.
Vốn lưu động là biều hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông Vốn lưuđộng biểu hiện ở cả hai hình thái khác nhau là: hình thái hiện vật và hình thái giá trị
Tài sản lưu động của các doanh nghiệp thương mại gồm vật liệu đóng gói, bao bì, nhiênliệu, dụng cụ và các thứ khác gọi chung là vật tư dùng cho hoạt động mua bán Nộidung vật chất của vốn lưu thông trong doanh nghiệp thương mại là hàng hoá để kinhdoanh, tiền nhờ ngân hàng thu và vốn bằng tiền Nếu như vốn lưu động cần thiết đối vớidoanh nghiệp sản suất để mua vật tư cho sản suất và tiêu thụ sản phẩm, thì đối với doanhnghiệp thương mại, vốn lưu động cần thiết để dự trữ hàng hoá phục vụ kinh doanh, để
tổ chức công tác mua bán hàng hoá
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại được chia thành vốn lưu động định mức vàvốn lưu động không định mức
- Vốn lưu động định mức: là số vốn tối thiểu cần thiết để hoàn thành kế hoạch lưuchuyển hàng hoá và kế hoạch sản suất dịch vụ phụ thuộc của các doanh nghiệp trong kỳ.Vốn lưu động định mức gồm có vốn dự trữ vật tư hàng hoá và vốn phi hàng hoá để phục
vụ cho quá trình kinh doanh
+ Vốn dự trữ hàng hoá là số tiền dự trữ hàng hoá ở các kho, cửa hàng, trạm, trị giá hàng hoá trên đường vận chuyển và trị giá hàng hoá thanh toán bằng chứng từ Nó nhằm đảm bảo lượng hàng hoá bán bình thường cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng khác.
Vốn dự trữ hàng hoá chiếm tới 80 – 90% vốn lưu động định mức và thường chiếmkhoảng 50 – 70% trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
+ Vốn phi hàng hoá là số tiền định mức của vốn bằng tiền Vốn phi hàng hoá gồm cóvốn bằng tiền và tài sản khác
Vốn bằng tiền gồm có: tiền mặt tồn quỹ, tiền bán hàng chưa nộp vào ngân hàng, tiềnứng kinh phí cho các cơ sở, khoản tiền đang chuyển
Tài sản khác gồm: Bao bì, vật liệu bao gói, các công cụ nhỏ, chi phí đợi phân bổ Ngoài
ra còn phụ tùng thay thế và dụng cụ nhỏ
Trang 11- Vốn lưu động không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình kinhdoanh và trong sản suất dịch vụ, nhưng không thể có đủ căn cứ để tính toán định mứcđược.
Vốn lưu động không định mức gồm có: vốn bằng tiền (tiền mua hàng và giao cho nhânviên đi mua hàng), tiền gửi ngân hàng, tài sản có kết toán (các khoản nợ nhờ ngân hàngthu, các khoản nợ phải đòi ở khách hàng, tiền ứng trước để mua hàng, thanh toán công
nợ dây dưa…), các phế liệu thu nhặt trong ngoài vốn, tài sản chờ thanh lý
* Quá trình chu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại:
- Với những doanh nghiệp thương mại thuần tuý, thì quá trình chu chuyển của vốn lưuđộng thường trải qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn I: Mua hàng hoá (T – H), vốn lưu động chuyển từ hình thái giá trị sang hình thái hiện vật.
+ Giai đoạn II: Bán hàng hoá (H – T’), T’ = T + ΔT, vốn lưu động quay trở lại hình thái ban đầu nhưng với số lượng lớn hơn.
Đầu tiên vốn lưu động biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và khi kết thúc cũng lại bằng hình thức tiền tệ Điều đó có nghĩa là hàng hoá được mua vào không phải để doanh nghiệp sử dụng mà để bán ra Hàng hoá bán ra được tức là đã được khách hàng chấp nhận và doanh nghiệp thương mại nhận được tiền doanh thu bán hàng
và dịch vụ Toàn bộ vòng chu chuyển của vốn lưu động thể hiện bằng công thức chung T – H – T’, trong đó T’ = T + Δ T.
Sự vận động của vốn lưu động trong hoạt động kinh doanh thương mại luôn luôn trái với sự vận động của hàng hoá Khi hàng hoá mua về doanh nghiệp thì phải trả tiền, khi xuất hàng ra khỏi doanh nghiệp thì nhận được tiền Kết quả của quá trình vận động tiền tệ lại phản ánh đúng đắn kết quả của hoạt động kinh doanh: kinh doanh lãi hay lỗ, mức độ lãi, lỗ.
- Với những doanh nghiệp thương mại có các đơn vị sản suất phụ thuộc (xí nghiệp,xưởng, tổ, đội sản xuất) thì vốn lưu động của đơn vị sản xuất phụ thuộc gồm có: nguyênvật liệu chính phụ, nhiên liệu, vốn tiền tệ và tài sản có kết toán Vốn lưu động của nhữngđơn vị này trải qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn I: Biến tiền tệ thành dự trữ nguyên vật liệu chính phụ, nhiên liệu, phụ tùng