1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những vấn đề chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

35 3,5K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 203,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết, tác dụng và vai trò của bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Khái niệm : Ta có thể định nghĩa: Bảo hiểm chính là một sự cam kết bồi thường của người b

Trang 1

Những vấn đề chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng

đường biểnBiên tập bởi:

Bùi Văn Khoa

Trang 2

Những vấn đề chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng

Trang 3

5 Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

6 Khiếu nại đòi bồi thường trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển

7 Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển

Tham gia đóng góp

Trang 4

Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng

đường biển

Trên thế giới

Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời Nó ra đời và phát triển cùng với sự pháttriển của hàng hoá và ngoại thương Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, vận chuyểnhàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển người ta biết tránh tổn thất toàn bộmột lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều thuyền khác nhau Đây

có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá Đến thế kỷ thứ XII thương mại

và giao lưu hàng hoá bằng đường biển giữa các nước phát triển Nhiều tổn thất lớn xảy

ra trên biển vì khối lượng và giá trị của hàng hoá ngày càng tăng, do thiên tai, tai nạnbất ngờ, cướp biển gây ra làm cho giới thương nhân lo lắng nhằm đối phó với các tổnthất nặng nề có khả năng dẫn tới phá sản họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh Nếuhành trình gặp phải rủi ro gây ra tổn thất toàn bộ thì các thương nhân được xoá nợ, nếuhành trình may mắn thành công thì ngoài vốn vay họ còn phải trả chủ nợ một khoản tiềnlãi với lãi suất rất cao Lãi suất cao và nặng nề này có thể coi là hình thức ban đầu củaphí bảo hiểm

Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá đã ra đời, trong đó ngườibán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghi trong đơn Từ đó hợpđồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời với tư cách như là một nghề riêng độc lập

Năm 1468 tại Venise nước Ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải đã ra đời Sự pháttriển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của bảo hiểmhàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước, hiệp ước quốc tế liên quan đến thương mại

và hàng hải như: Mẫu hợp đồng bảo hiểm của Lloyd's 1776 và Luật bảo hiểm của Anhnăm 1906 (MiA - Marine insurance Act 1906), công ước Brucxen năm 1924, HagueVisby 1986, Hămbua năm 1978, Incoterms 1953,1980,1990,2000 Các điều khoản vềbảo hiểm hàng hải cũng ra đời và ngày càng hoàn thiện

Nói về bảo hiểm hàng hải không thể không nói tới nước Anh và Lloyd's Nước Anh làmột trong những nước có sự phát triển hiện đại về thương mại và hàng hải lớn nhất trênthế giới Có thể nói lịch sử phát triển của ngành hàng hải và thương mại thế giới gắnliền với sự phát triển của nước Anh, thế kỷ XVII nước Anh đã có nền ngoại thương pháttriển với đội tàu buôn mạnh nhất thế giới và trở thành trung tâm thương mại và hàng hảicủa thế giới Do đó nước Anh cũng là nước sớm có những nguyên tắc, thể lệ hàng hải vàbảo hiểm hàng hải Năm 1779, các hội viên của Lloyd's đã thu thập tất cả các nguyên tắcbảo hiểm hàng hải và quy thành một hợp đồng chung gọi là hợp đồng Lloyd's Hợp đồng

Trang 5

này đã được Quốc hội Anh thông qua và được sử dụng ở nhiều nước cho đến 1982.Từngày 1/1/1982, đơn bảo hiểm hàng hải mẫu mới đã được Hiệp hội bảo hiểm Londonthông qua và được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay.

Không chỉ riêng bảo hiểm hàng hải, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thếgiới, các loại hình bảo hiểm cũng phát triển hết sức mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế và mọi mặt của đời sống xã hội, văn hoá và giao lưu quốc tế

Ở Việt Nam:

Thời kỳ đầu, nhà nước giao cho một công ty chuyên môn trực thuộc Bộ Tài chính kinhdoanh bảo hiểm đó là công ty Bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng công ty Bảo hiểm ViệtNam (gọi tắt là Bảo Việt) Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập ngày 17/12/1964theo Quyết định số 179/CP và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965

Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cho công

ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo giá FOB, CF và bán theogiá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm

Từ năm 1965 - 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại trong đó

có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Từ sau 1970 Bảo Việt có quan hệ tái bảo hiểmvới Liên Xô (cũ), Ba Lan, Triều Tiên Trước đó Bảo Việt chỉ có quan hệ tái bảo hiểmvới Trung Quốc

Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và mở rộng phạm vihoạt động Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nước xã hội chủ nghĩa cũthì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám định, tái bảo hiểm với hơn

40 nước trên thế giới Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào hoạt động, Bộ Tài chính đã banhành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển Gần đây, đểphù hợp với sự phát triển thương mại và ngành hàng hải của đất nước, Bộ Tài chính đãban hành quy tắc chung mới - Quy tắc chung 1990 (QTC-1990) cùng với Luật Hàng hảiViệt Nam Quy tắc chung này là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ, xuất phát

từ yêu cầu bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài thìviệc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm là một đòi hỏi thiết thực Để đápứng yêu cầu cấp bách trên, Nghị định 100/CP của chính phủ về hoạt động kinh doanhbảo hiểm đã được ban hành ngày 18/12/1993 đã tạo điều kiện cho nhiều công ty bảohiểm ra đời và phát triển Hiện nay với sự góp mặt của 10 công ty bảo hiểm gốc trong cảnước, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu phát triển với sự cạnh tranh gay gắt giữacác công ty, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vẫn là một nghiệp vụ truyền

Trang 6

thống mà các nhà bảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì và phát triển với các biện pháp, chiếnlược, sách lược giành thắng lợi trong cạnh tranh.

Trang 7

Sự cần thiết, tác dụng và vai trò của bảo

hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

Khái niệm :

Ta có thể định nghĩa: Bảo hiểm chính là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểmđối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm donhững rủi ro đã thoả thuận gây ra với điều kiện người được bảo hiểm góp cho người bảohiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhậpkhẩu thì người được bảo hiểm có thể là người mua hoặc người bán tuỳ theo điều kiệnthương mại và điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong hợp đồng mua bán mà hai bên

đã thoả thuận với nhau Đối tượng bảo hiểm ở đây chính là hàng hoá đã được mua bảohiểm

Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển :

Ngành bảo hiểm đã ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà con ngườikhông thể khống chế được Nếu có những rủi ro xảy ra mà không có các khoản bù đắpthiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm, đặc biệt là những rủi ro mang tính thảm hoạ gây

ra tổn thất rất lớn thì chủ tàu và chủ hàng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính trong việckhắc phục hậu quả do các rủi ro đó gây ra Vì vậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểmcho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trở thành một nhu cầu rất cầnthiết và nó có những tác dụng sau:

Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng hoá do hạn chế tổn thất nhờ tăng cường bảo quảnkiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất

Thứ hai, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốcdân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước Khi các đơn vị kinh doanhxuất nhập khẩu nhập hàng theo giá FOB, CF, xuất theo giá CIF, CIP sẽ tạo ra khả năngcạnh tranh của bảo hiểm trong nước với nước ngoài Nhờ có hoạt động bảo hiểm trongnước các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ở nước ngoài, nói cách khác là không phảixuất khẩu vô hình

Thứ ba, khi các công ty có tổn thất hàng hoá xảy ra sẽ được bồi thường một số tiền nhấtđịnh giúp họ bảo toàn được tài chính trong kinh doanh Số tiền chi bồi thường của các

Trang 8

Thứ tư, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên tham gia bảo hiểm đã trở thành nguyên tắcthể lệ và tập quán trong thương mại quốc tế Nên khi hàng hoá xuất nhập khẩu gặp rủi

ro gây ra tổn thất các bên tham gia sẽ được công ty bảo hiểm giúp đỡ về mặt pháp lý khixảy ra tranh chấp với tàu hoặc các đối tượng có liên quan

Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển :

Do đặc điểm của vận tải biển tác động đến sự an toàn cho hàng hoá được chuyên chở làrất lớn Vì vậy vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển càng được khẳng định rõ nét :

Một là, hàng hoá xuất nhập khẩu phải vượt qua biên giới của một hay nhiều quốc gia,người xuất khẩu và nhập khẩu lại ở xa nhau và thường không trực tiếp áp tải được hànghoá trong quá trình vận chuyển do đó phải tham gia bảo hiểm cho hàng hoá Ở đây, vaitrò của bảo hiểm là người bạn đồng hành với người được bảo hiểm

Hai là, vận tải đường biển thường gặp nhiều rủi ro tổn thất đối với hàng hoá do thiên tai,tai nạn bất ngờ gây nên như: mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, mất cắp, cướp biển,bão, lốc, sóng thần vượt quá sự kiểm soát của con người Hàng hoá xuất nhập khẩuchủ yếu lại được vận chuyển bằng đường biển đặc biệt ở những nước quần đảo như Anh,Singapore, Nhật, Hồng Kông do đó phải tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu

Ba là, theo hợp đồng vận tải người chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất của hànghoá trong một phạm vi và giới hạn nhất định Trên vận đơn đường biển, rất nhiểu rủi

ro các hãng tàu loại trừ không chịu trách nhiệm, ngày cả các công ước quốc tế cũngquy định mức miễn trách nhiệm rất nhiều cho người chuyên chở (Hague, Hague Visby,Hamburg ).Vì vậy các nhà kinh doanh phải tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhậpkhẩu

Bốn là, hàng hoá xuất nhập khẩu thường là những hàng hoá có giá trị cao, những vật tưrất quan trọng với khối lượng rất lớn nên để có thể giảm bớt thiệt hại do các rủi ro cóthể xảy ra, việc tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trở thành một nhu cầu cầnthiết

Năm là, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã có lịch sử rất lâu đời do đó việc tham giabảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đã trở thành mộttập quán, thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại thương

Như vậy, việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển là rất quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong thương mại quốc tế

Trang 9

Những nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng

đường biển

Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển :

Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển.

• Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua hợp đồng giữangười mua và người bán với nội dung về: số lượng, phẩm chất, ký mã hiệu, quycách đóng gói, giá cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phí bảohiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán

• Trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có sự chuyển giao quyền sở hữu lôhàng hoá xuất nhập khẩu từ người bán sang người mua

• Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phảichịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch tuỳ theo quy định, thông lệ củamỗi nước Đồng thời để vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảohiểm theo tập quán thương mại quốc tế Người tham gia bảo hiểm có thể làngười mua hàng (người nhập khẩu) hay người bán hàng (người xuất khẩu).Hợp đồng bảo hiểm thể hiện quan hệ giữa người bảo hiểm và người mua bảohiểm đối với hàng hoá được bảo hiểm Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thìphải chuyển nhượng lại cho người mua hàng, để khi hàng về đến nước nhập,nếu bị tổn thất có thể khiếu lại đòi người bảo hiểm bồi thường

• Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương tiện khácnhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển Ngườivận chuyển hàng hoá đồng thời cũng là người giao hàng cho người mua Vì vậyngười chuyên chở là bên trung gian phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc hànghoá đúng quy cách, phẩm chất, số lượng từ khi nhận của người bán đến khigiao cho người mua hàng

Quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn bên chủyếu là: người bán (bên xuất khẩu), người mua (bên nhập khẩu), người vận chuyển vàngười bảo hiểm Vì vậy, cần phải phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên liên quan

và khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá các bên liên quan phải thực hiện đầy đủ cácnghĩa vụ của mình

Trang 10

Trách nhiệm của các bên liên quan.

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:-Hợp đồng mua bán

-Hợp đồng vận chuyển

-Hợp đồng bảo hiểm

Ba hợp đồng này là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm của các bên liên quan vàtrách nhiệm này phụ thuộc điều kiện giao hàng của hợp đồng mua bán Theo các điềukiện thương mại quốc tế “INCOTERMS 2000” (International Commercial Tearms) cómười ba điều kiện giao hàng được phân chia thành bốn nhóm E, F, C, D có sự khácnhau về cơ bản như sau: Thứ nhất là nhóm E- quy ước người bán đặt hàng hoá dướiquyền định đoạt của người mua ngay tại xưởng của người bán (điều kiện E- giao tạixưởng); Thứ hai là nhóm F- quy ước người bán được yêu cầu giao hàng hoá cho mộtngười chuyên chở do người mua chỉ định (nhóm điều kiện F: FCA, FAS và FOB); Thứ

ba là nhóm C- quy ước người bán phải hợp đồng thuê phương tiện vận tải, nhưng khôngchịu rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá hoặc các phí tổn phát sinh thêm docác tình huống xảy ra sau khi đã gửi hàng và bốc hàng lên tàu (nhóm điều kiện C: CFR,CIF, CPT và CIP); Thứ tư là nhóm D- quy ước người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi rocần thiết để đưa hàng hoá tới địa điểm quy định (nhóm điều kiện D: DAF, DES, DEQ,DDU, DDP) Trong đó thông dụng nhất là điều kiện FOB, CFR và CIF

Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà

có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Có những điều kiện giao hàng mà ngườibán không có trách thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá Như vậy, tuybán được hàng nhưng dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do người mua đảm nhận (điềukiện FOB) Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hànghoá, người bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá(điều kiện CIF) Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất,vận chuyển, bảo hiểm khi giao hàng theo điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bánhàng còn giành cho họ dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó Vì vậy, nếunhập khẩu hàng theo điều kiện FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vậnchuyển và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bánhàng theo gía CIF, người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm Như vậy

sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận tải đường biển và ngành bảo hiểm củaquốc gia đó

Nói chung, trách nhiệm của các bên liên quan được phân định như sau:

• Trách nhiệm của người bán (bên xuất khẩu): phải chuẩn bị hàng hoá theo đúnghợp đồng trong mua bán ngoại thương về số lượng, chất lượng, quy cách, loại

Trang 11

hàng, bao bì đóng gói và tập kết hàng đến cảng tới ngày nhận, thông báo tàuđến nhận chuyên chở, giao hàng cho tàu khi qua lan can an toàn mới hết tráchnhiệm về những rủi ro tai nạn đối với hàng hoá Ngoài ra, người bán phải làmcác thủ tục hải quan, kiểm dịch, lấy giấy chứng nhận kiểm định phẩm chất,đóng gói bao bì phải chịu được điều kiện vận chuyển bốc dỡ thông thường.Cuối cùng, người bán phải lấy được vận tải đơn sạch Nếu bán hàng theo điềukiện CIF người bán còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho lô hàng hoá sau đó

ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho ngườimua

• Trách nhiệm của người mua (bên nhập khẩu): nhận hàng của người chuyên chởtheo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợpđồng mua bán ngoại thương, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toángiao nhận hàng với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây lên(nếu có), nếu có sai lệch về số lượng hàng đã nhập khác với hợp đồng mua bánnhưng đúng với hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nạiđối với người bán nếu phẩm chất, số lượng hàng hoá được nhận có sai lệch vớivận tải đơn thì người mua căn cứ vào biên bản trên bảo lưu quyền khiếu nại vớichủ phương tiện chuyên chở Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảohiểm cho hàng hoá nếu mua hàng theo giá CF và mua bảo hiểm, thuê tàu trảcước phí vận chuyển hàng hoá nếu mua hàng theo gía FOB hay nhận lại chứng

từ bảo hiểm do người bán chuyển nhượng nếu mua hàng theo giá CIF

-Trách nhiệm của người vận chuyển: chuẩn bị phương tiện chuyên chở theo yêu cầu kỹthuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợp đồng vậnchuyển Theo tập quán thương mại quốc tế thì tàu chở hàng bắt buộc phải tham gia bảohiểm thân tàu và P and I Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho ngườigửi hàng Vận đơn (Bill of Loading) là một chứng từ vận chuyển hàng hải trên biển dongười vận chuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa ngườivận chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đâychỉ quan tâm đến hai loại cơ bản là: vận đơn hoàn hảo (Clean B/L) hay còn gọi là vậnđơn sạch và vận đơn không hoàn hảo (Unclean B/L) Người vận chuyển phải chịu tráchnhiệm với những rủi ro xảy ra đối với hàng hoá theo quy định và phải có trách nhiệmbảo vệ, chăm sóc cho lô hàng hoá chuyên chở trong hành trình từ cảng đi đến cảng đích

• Trách nhiệm của người bảo hiểm: có trách nhiệm với những rủi ro được bảohiểm gây ra cho lô hàng hoá tham gia bảo hiểm, người bảo hiểm cũng có tráchnhiệm kiểm tra các chứng từ liên quan đến hàng hoá, hành trình vận chuyển vàbản thân tàu chuyên chở Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm củabảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổnthất và đòi người thứ ba nếu họ gây ra tổn thất này

Trang 12

Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là nhữngtai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên hoặc những mối đe doạ nguyhại, khi xảy ra sẽ gây lên tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm Ví dụ như : tàu đắm,hàng mất, hàng bị đổ vỡ, hư hỏng Rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyểnbằng đường biển có nhiều loại, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể phân rủi ro thànhnhững loại sau:

* Thiên tai : Thiên tai là những hiện tượng tự nhiên mà con người không thể chi phốiđược như : biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần

* Tai hoạ của biển: là những tai hoạ xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển như : tàu bị mắccạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, tàu bị lật úp, mất tích những rủi ro này được gọi lànhững rủi ro chính

* Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do các tác động ngẫu nhiên bên ngoài,không thuộc những tai hoạ của biển nói trên Tai nạn bất ngờ khác có thể xảy ra trên biểnnhưng nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển, có thể xảy ra trên bộ, trên khôngtrong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá, giao nhận, lưu kho, bảo quản hàng như :hàng hoá bị vỡ, lát, hấp hơi, thiếu hụt, mất trộm, mất cắp, không giao hàng những rủi

ro này được gọi là những rủi ro phụ

* Rủi ro do bản chất hoặc do tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm hoặc những thiệthại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm chễ

Theo nghiệp vụ bảo hiểm thì những rủi ro của hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển có thể được chia thành các loại sau đây:

* Rủi ro thông thường được bảo hiểm: là những rủi ro được bảo hiểm một cách bìnhthường theo các điều kiện bảo hiểm gốc Đây là những rủi ro mang tính bất ngờ ngẫunhiên xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm như: thiên tai, tai hoạ của biển, tainạn bất ngờ khác tức là bao gồm cả rủi ro chính và rủi ro phụ

* Rủi ro bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì phải thoả thuậnriêng, thoả thuận thêm chứ không được bồi thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc.Loại rủi ro này gồm : rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố được bảo hiểm theo điềukiện riêng

Trang 13

* Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro không được người bảo hiểm nhận bảohiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trường hợp Đó là các rủi

ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra hoặc các thiệt hại do nội tỳ, bản chất của hànghoá, do lỗi của người được bảo hiểm, thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, rủi

ro có tính chất thảm hoạ mà con người không lường trước được, quy mô, mức độ và hậuquả của nó

Tóm lại, các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất Việcphân nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan trọng để xácđịnh rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay không Những tổn thấtnào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây ra mới được bồi thường

Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển:

Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là những hư hỏng, thiệt hại của hànghoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra

Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có hai loại tổn thất là tổn thất bộ phận và tổn thấttoàn bộ:

* Tổn thất bộ phận là tổn thất mà một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một hợpđồng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại Tổn thất bộ phận có thể là tổn thất về sốlượng, trọng lượng, thể tích hoặc giá trị

* Tổn thất toàn bộ tức là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm bị mấtmát, hư hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới bảo hiểmnữa Một tổn thất toàn bộ có thể là tổn thất toàn bộ thực tế hay tổn thất toàn bộ ước tính:

- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng hay bịphá huỷ toàn bộ, không lấy lại được như lúc mới bảo hiểm nữa Trong trường hợp này,người bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm

- Tổn thất toàn bộ ước tính tức là thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm chưa tớimức tổn thất toàn bộ nhưng đối tượng bảo hiểm bị từ bỏ một cách hợp lý vì tổn thất toàn

bộ thực tế xét ra là không thể tránh khỏi hoặc những chi phí đề phòng, phục hồi tổn thấtlớn hơn giá trị của hàng hoá được bảo hiểm Khi đối tượng là hàng hoá bị từ bỏ, sở hữu

về hàng hoá sẽ chuyển sang người bảo hiểm và người bảo hiểm có quyền định đoạt vềhàng hoá đó Khi đó, người được bảo hiểm có quyền khiếu nại đòi bồi thường tổn thấttoàn bộ

Căn cứ vào tính chất tổn thất và trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất được chia làm hai loại

là tổn thất chung và tổn thất riêng:

Trang 14

* Tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý vàhợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy hiểmchung, thực sự đối với chúng Khi xảy ra tổn thất chung chủ hàng và người bảo hiểmphải điền vào Bản cam đoan, Giấy cam đoan đóng góp vào tổn thất chung Bản camđoan, Giấy cam đoan này được xuất trình cho chủ hàng hoặc thuyền trưởng khi nhậnhàng Nội dung nói chung khi xảy ra tổn thất chung người được bảo hiểm phải báo chocông ty bảo hiểm biết để công ty hướng dẫn làm thủ tục không tự ý ký vào Bản camđoan.

* Tổn thất riêng: là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hay một số quyền lợi của các chủhàng và chủ tàu trên một con tàu Như vậy, tổn thất riêng chỉ liên quan đến từng quyềnlợi riêng biệt Trong tổn thất riêng, ngoài thiệt hại vật chất còn phát sinh các chi phí liênquan nhằm hạn chế những thiệt hại khi tổn thất xảy ra, gọi là tổn thất chi phí riêng Tổnthất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt thiệt hại hoặc để khỏi

hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp, dỡ, gởi hàng, đóng gói lại, thay thế bao bì ở bếnkhởi hành và dọc đường Chi phí tổn thất riêng làm hạn chế và giảm bớt tổn thất riêng,tổn thất riêng có thể là tổn thất bộ phận hoặc là tổn thất toàn bộ Tổn thất riêng có đượcngười bảo hiểm bồi thường hay không phụ thuộc vào rủi ro có được thoả thuận tronghợp đồng bảo hiểm hay không chứ không như tổn thất chung

Trang 15

Điều kiện bảo hiểm trong bảo hiểm hàng

hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng

Trách nhiệm của người bảo hiểm đối với hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm gốc củaViệt Nam được quy định theo bản Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩuvận chuyển bằng đường biển năm 1990 do Bộ Tài chính ban hành Quy tắc này đượcxây dựng trên cơ sở điều khoản ICC ngày 1/1/1982 của Viện những người bảo hiểmLondon (Institute of London Underwriters - ILU) Vì các điều kiện này được áp dụng ởhầu hết các nước trên thế giới thay thế các điều kiện cũ ICC-1963 và trở thành tập quánthông dụng quốc tế Nó bao gồm các điều kiện sau:

- Institute cargo clauses C (ICC-C) - điều kiện bảo hiểm C

- Institute cargo clauses B (ICC-B) - điều kiện bảo hiểm B

- Institute cargo clauses A(ICC-A) - điều kiện bảo hiểm A

- Institute war clauses - điều kiện bảo hiểm chiến tranh

- Institute strikes clauses - điều kiện bảo hiểm đình công

Điều kiện bảo hiểm C (ICC- C).

Rủi ro được bảo hiểm :

- Cháy hoặc nổ;

- Tàu hay xà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp;

Trang 16

- Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản " hai bên cùng

có lỗi" ghi trong hợp đồng vận tải

Rủi ro loại trừ :

Trừ khi có thoả thuận khác, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những mấtmát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:

- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa hoặc hành động thù địch;

- Việc chiếm, bắt giữ, cầm giữ tài sản hoặc kiềm chế và hậu quả của chúng;

- Mìn, thuỷ lôi, bom hay những vũ khí chiến tranh khác đang trôi dạt;

- Đình công, cấm xưởng, rối loạn lao động hoặc bạo động;

- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng, người gây rối loạn lao động hoặc bạo động,

Trang 17

- Hành động ác ý hay cố ý của bất cứ người nào.

Trong mọi trường hợp, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những mất mát,

hư hỏng và chi phí do:

- Việc làm xấu cố ý của người được bảo hiểm;

- Chậm chễ là nguyên nhân trực tiếp;

- Tàu hay xà lan không đủ khả năng đi biển và do tàu, xà lan, phương tiện vận chuyểnhoặc container không thích hợp cho việc chuyên chở hàng hoá mà người được bảo hiểmhay người làm công cho họ đã biết về tình trạng đó vào thời gian bốc xếp hàng hoá ;

- Bao bì không đầy đủ hoặc không thích hợp;

- Hao hụt tự nhiên, hao mòn tự nhiên, dò chảy thông thường;

- Chủ tàu, người quản lý tàu hoặc thuê tàu không trả được nợ hoặc thiếu thốn về mặt tàichính gây ra

Điều kiện bảo hiểm B (ICC- B).

Rủi ro được bảo hiểm:

Như điều kiện C và mở rộng thêm một số rủi ro sau:

- Động đất, núi lửa phun, sét đánh;

- Nước cuốn khỏi tàu;

- Nước biển, nước sông chảy vào tàu, xà lan, hầm hàng, phương tiện vận chuyển,container hoặc nơi chứa hàng;

- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi xếp hànglên hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan

Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:

Như điều kiện C

Rủi ro loại trừ:

Ngày đăng: 28/11/2014, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w