Cho đến năm 1970 thời kì phát triển cao độ của nền kinh tế Nhật Bản kết thúc Cho đến năm 1970 thời kì phát triển cao độ của nền kinh tế Nhật Bản kết thúc Hình ảnh điển hình của một ngườ
Trang 1CÁC VẤN ĐỀ XOAY QUANH LAO ĐỘNG NỮ GIỚI
NHẬT BẢN
CÁC VẤN ĐỀ XOAY QUANH LAO ĐỘNG NỮ GIỚI
NHẬT BẢN
ĐỀ TÀI:
Trang 2Phần trình bày
LỜI MỞ ĐẦU
1 Hiện trạng của lao động nữ giới
2 Sự chênh lệch về tiền lương giữa nam và nữ
3 Phụ nữ làm quản lý
4 Phụ nữ sau khi kết hôn
5 Phụ nữ sau khi sinh con
6 Tổng kết
LỜI MỞ ĐẦU
1 Hiện trạng của lao động nữ giới
2 Sự chênh lệch về tiền lương giữa nam và nữ
3 Phụ nữ làm quản lý
4 Phụ nữ sau khi kết hôn
5 Phụ nữ sau khi sinh con
6 Tổng kết
Trang 3Cho đến năm 1970 (thời kì phát triển cao độ của nền kinh tế Nhật Bản kết thúc )
Cho đến năm 1970 (thời kì phát triển cao độ của nền kinh tế Nhật Bản kết thúc )
Hình ảnh điển hình của một người phụ nữ Nhật Bản là sau khi tôt nghiệp cấp 3, họ vừa đi làm ở công ty vừa tham gia các lớp học về nấu ăn, trà đạo, cắm
hoa….trong 4-5 năm để chuẩn bị cho việc lấy chồng
Nếu có đối tượng kết hôn phù hợp thì họ sẽ nghỉ việc và kết hôn, trở thành người nội trợ, chăm lo các công việc gia đình
Hình ảnh điển hình của một người phụ nữ Nhật Bản là sau khi tôt nghiệp cấp 3, họ vừa đi làm ở công ty vừa tham gia các lớp học về nấu ăn, trà đạo, cắm
hoa….trong 4-5 năm để chuẩn bị cho việc lấy chồng
Nếu có đối tượng kết hôn phù hợp thì họ sẽ nghỉ việc và kết hôn, trở thành người nội trợ, chăm lo các công việc gia đình
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 4Khi vai trò của người phụ nữ trong xã hội bắt đầu được
Năm 1985 ‘’ Luật cơ hội việc làm bình đẳng nam nữ’’ được ban hành, mang lại những cơ hội việc làm bình đẳng như nam giới cho phụ nữ liên quan về các chế độ tuyển dụng, bố trí công việc, thăng tiến,độ tuổi về hưu,nghỉ việc…
Trang 5Đến năm 1999, Luật lao động được cải chỉnh
và sửa đổi, trong đó quy định sự phân biệt khoảng cách lao động nam nữ được cấm bỏ
Đến năm 1999, Luật lao động được cải chỉnh
và sửa đổi, trong đó quy định sự phân biệt khoảng cách lao động nam nữ được cấm bỏ
Tuy nhiên, trên thực tế việc phân biệt giữa lao động nam nữ vẫn không hề nhỏ một chút nào
Tuy nhiên, trên thực tế việc phân biệt giữa lao động nam nữ vẫn không hề nhỏ một chút nào
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
1 Hiện trạng lao động nữ giới Nhật Bản
Trang 131.1 So sánh với nam giới về năng lực và ý chí làm việc.
Bảng so sánh về người có năng lực ,ý chí làm việc và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giữa nam giới và nữ giới (độ tuổi trên 15) theo bộ lao động và phúc lợi Nhật Bản năm 2011
Tỷ lệ tham gia của nữ giới vào lực lượng lao động ít, đa phần họ ở nhà nội trợ và chăm sóc con cái
Trong số những người phụ nữ đang làm việc, hơn một nửa là lao động không chính thức, hoặc làm bán thời gian Cơ hội thăng tiến, tăng lương hay được đào tạo bị hạn chế
Trang 14Năm 2002
Tên nước Tỷ lệ lao động nữ so
với nam (%)
Tỷ lệ lao động nữ ở độ tuổi lao động nữ (%)
Thứ tự chỉ số phát triển giới (GDI) trong 144
Nhật Bản là một trong những quốc gia trên có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới <<<nam giới
Gây ra nhiều hệ quả ảnh hưởng đến nền kinh tế Nhật bản: thiếu nguồn lực lao động, đặc biệt là trong những lĩnh vực cần lao động nữ…
Trang 151-2 Số hộ gia đình có phụ nữ đi làm
Trang 16[Bảng thể hiện chi tiết số người chồng-vợ đi làm và không đi làm]
-Số người chồng đi làm : 75.9% (Không kể những người đã nghỉ hưu)
-Hộ gia đình có vợ chồng cùng đi làm(45.4%) gấp đôi số hộ gia đình có vợ chồng cùng không đi làm (20.2%)
-Số người vợ đi làm : 45.4 + 4 = 49.4%
-Số người chồng đi làm : 75.9% (Không kể những người đã nghỉ hưu)
-Hộ gia đình có vợ chồng cùng đi làm(45.4%) gấp đôi số hộ gia đình có vợ chồng cùng không đi làm (20.2%)
Trang 17• Vẫn có những người đi làm dù đã kết hôn, sinh con nhưng chỉ dừng lại
ở mức xấp xỉ 1 nửa tổng số hộ gia đình
• Vẫn có những người đi làm dù đã kết hôn, sinh con nhưng chỉ dừng lại
ở mức xấp xỉ 1 nửa tổng số hộ gia đình
Trang 191-3 Sự phân biệt nam nữ dựa trên hình thức tuyển dụng
Trong số đó phụ nữ chiếm hơn 1 nửa lao động không chính quy.
Trong số đó phụ nữ chiếm hơn 1 nửa lao động không chính quy.
Trang 20Lao động của cả nước từ 15 tuổi trở lên, phân theo loại hình lao động (năm 2010)
Trang 21Trong bối cảnh Nhật Bản đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt lực lượng lao động, tăng số lao động nữ
đã trở thành một trong những chiến lược chính của kế hoạch cải tổ kinh tế mà Thủ tướng Shinzo Abe đang thực hiện nhằm đưa Nhật Bản thoát khỏi nhiều thập kỷ trì trệ
Chính phủ cũng đang lên kế hoạch thuê thêm 250.000 người trông trẻ trong vài năm tới
Trong bối cảnh Nhật Bản đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt lực lượng lao động, tăng số lao động nữ
đã trở thành một trong những chiến lược chính của kế hoạch cải tổ kinh tế mà Thủ tướng Shinzo Abe đang thực hiện nhằm đưa Nhật Bản thoát khỏi nhiều thập kỷ trì trệ
Chính phủ cũng đang lên kế hoạch thuê thêm 250.000 người trông trẻ trong vài năm tới
Trang 22Theo bà Kathy Matsui, chuyên gia tại ngân hàng Goldman Sachs Nhật Bản cho rằng “ Nam giới đang chiếm 80% lực lượng lao động tại Nhật Bản là tỷ lệ cao nhất trong các nước phát triển Nếu giảm khoảng chênh lệch lao động giữa nam và nữ xuống còn 60% thì Nhật Bản có thêm 8,2 triệu lao động lành nghề Và điều này có thể làm GDP của người Nhật tăng thêm ít nhất là 14%.
Theo bà Kathy Matsui, chuyên gia tại ngân hàng Goldman Sachs Nhật Bản cho rằng “ Nam giới đang chiếm 80% lực lượng lao động tại Nhật Bản là tỷ lệ cao nhất trong các nước phát triển Nếu giảm khoảng chênh lệch lao động giữa nam và nữ xuống còn 60% thì Nhật Bản có thêm 8,2 triệu lao động lành nghề Và điều này có thể làm GDP của người Nhật tăng thêm ít nhất là 14%
Trang 242.Sự chênh lệch về tiền lương giữa nam và nữ
• Tiền lương: tiền lương cơ bản + tiền phụ cấp +tiền
thưởng
• Tiền phụ cấp : tiền phụ cấp làm thêm+ tiền phụ cấp
công tác +tiền phụ cấp gia đình +tiền phụ cấp chỗ
ở…
• Tiền thưởng: Bình thường thì một năm 2 lần vào
mùa hè và mùa đông Cũng có trường hợp là nếu
như tình hình kinh tế khó khăn thì sẽ không có tiền
thưởng này.
• Tiền lương:Tiền lương cơ bản + tiền phụ cấp
• Tiền lương: tiền lương cơ bản + tiền phụ cấp +tiền
thưởng
• Tiền phụ cấp : tiền phụ cấp làm thêm+ tiền phụ cấp
công tác +tiền phụ cấp gia đình +tiền phụ cấp chỗ
ở…
• Tiền thưởng: Bình thường thì một năm 2 lần vào
mùa hè và mùa đông Cũng có trường hợp là nếu
như tình hình kinh tế khó khăn thì sẽ không có tiền
thưởng này.
• Tiền lương:Tiền lương cơ bản + tiền phụ cấp
Trang 25• Số lượng lao động nữ không chính quy nhiều nên nảy sinh ra chênh lệch
về tiền công.
• Tuy nhiên,nếu thế thì đối với lao động chính quy thì như thế nào?có giống với lao động không chính quy
không???
Trang 26Biểu đồ so sánh thu nhập hằng năm của nam và nữ (lao động chính quy)
Trang 28Biểu đồ sự chênh lệch về tiền lương nam và nữ của các nước thuộc OECD (năm 2005-bình quân 10 năm)
Trang 29Việt Nam
• Theo các chuyên gia của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam lại là một trong số ít nước có mức độ chênh lệch về lương theo giới ngày càng gia tăng
• Chênh lệch trong trả lương giữa nam và nữ tại Việt Nam vào khoảng 15%.
• Phụ nữ chiếm trên 46% lực lượng lao động và mức thu nhập của họ chỉ bằng 87% thu nhập bình quân của nam giới.
Trang 31Vậy tại sao tiền lương trung bình của phụ nữ tại Nhật Bản lại thấp? Sự bất bình đẳng
giới trong thu nhập
Trang 32 Độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ
Ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc: -Bằng cấp
-Ngành nghề
-Kinh nghiệm làm việc
Yếu tố địa lý: Vùng: Thành thị/Nông thôn
Trang 33• Người ta cho rằng nguyên nhân chủ yếu chính là do số năm làm việc ít,chức
vụ thấp.
Vậy, tại sao số năm làm việc của phụ nữ ngắn? Tại sao chức vụ của phụ nữ lại không cao???
Trang 34và dồn hết thời gian cho con cái.
- Nữ giới sau khi sinh con (từ 25 và
44 tuổi) ở Nhật Bản kiếm được việc làm và thu nhập ít hơn nam giới ở độ tuổi tương tự khoảng 61%.
Trang 35 Nhìn chung trình độ chuyên môn cũng như bằng cấp phụ nữ thấp hơn nam giới.
Tốc độ tăng năng suất lao động của lao động nữ chưa cao, còn thấp hơn nhiều so với nam giới.
Khả năng đàm phán
Trang 363 Phụ nữ làm quản lý.
Trang 38Đặt mục tiêu tỷ lệ nữ giới làm lãnh đao phải tăng lên 30% trong năm 2020
Bổ nhiệm phụ nữ vào các chức vụ cao cấp
trong Chính Phủ.
Trang 39Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản Yuko Obuchi
Bộ trưởng Tư pháp Midori
Bộ trưởng phụ trách các biện pháp giảm tỷ
lệ sinh Haruko Arimura.
Trang 40Vậy phụ nữ Nhật Bản sẽ nghĩ gì
nếu họ làm quản lý?
Trang 41PHẢN HỒI TỪ PHÍA PHỤ NỮ Không biết nữa
52%
31%
18%
Không muốn
Trang 42Lý do tôi không muốn làm quản lý
Trang 43Nếu tổ chức các cuộc tập huấn để thay đổi nhận thức của những phụ nữ này,nếu thì sẽ cải thiện được
tình trạng trên.
-Vì tôi nghĩ mình không hợp với nó.
-Tôi không tự tin khi làm lãnh đạo
Do ảnh hưởng của cách suy nghĩ truyền thống là “Phụ nữ thì ở nhà làm việc nhà nên việc đi
ra ngoài làm là điều họ không hướng tới”
Trang 44Tôi không thích đảm đương nhiệm vụ nặng nề
Làm việc trong thời gian dài thì không có thời gian
để chăm sóc chồng con.
Tôi không thích đảm đương nhiệm vụ nặng nề
Làm việc trong thời gian dài thì không có thời gian
để chăm sóc chồng con.
Cần thiết phải nhìn lại môi trường làm việc của Nhật Bản: Với môi trường làm việc hiện tại lấy nam giới làm trung tâm thì khi 1 người phụ nữ bắt đầu có địa vị, trách nhiệm của họ sẽ tăng lên.
Cần thiết phải nhìn lại môi trường làm việc của Nhật Bản: Với môi trường làm việc hiện tại lấy nam giới làm trung tâm thì khi 1 người phụ nữ bắt đầu có địa vị, trách nhiệm của họ sẽ tăng lên.
Trang 46• Người chồng thì hầu như không
• Khi con ốm, phải nghỉ việc để
chăm sóc con • Đòi hỏi phải có sự đồng thuận giữa chính
phủ, doanh nghiệp và gia đình để cải thiện môi trường làm việc hiện tại.
• Các công ty cần phải có các chính sách hỗ trợ nhân viên của mình trong việc nuôi dạy con.
Trang 48“Trận động đất lớn” trên chính trường Nhật Bản
Bà Matsushima, 58 tuổi, đệ đơn từ chức vì cáo buộc vi phạm luật
bầu cử vì hành vi cung cấp quạt giấy in hình ảnh của bà
Matsushima trong một lễ hội tại khu vực bầu cử của bà.
Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản Obuchi, đang chịu cáo buộc lạm dụng quỹ chính trị, tuyên bố từ chức vì “không thể để các chính sách kinh tế và chính sách năng lượng bị đình trệ… vì lỗi lầm của tôi”.
Trang 49Đảng Dân chủ đã công kích ông Abe và yêu cầu xem lại “tư cách Nội các”, phê phán việc sử
dụng quá nhiều Bộ trưởng nữ và coi đây là bài học, yêu cầu xem xét lại chính sách bổ nhiệm
Bộ trưởng là nữ
Việc từ chức của hai nữ Bộ trưởng thể hiện việc ông Abe đã thất bại trong việc cố gắng cải thiện tỷ lệ nữ trong nội các khi ông vừa bổ nhiệm các nữ Bộ
trưởng chỉ trong thời gian ngắn.
Làm cho dư luận và các nhà phân tích cho rằng chính quyền ông Abe đang đối mặt với vấn nạn tham nhũng chính trị mà từ trước đến nay trong chính trường Nhật Bản coi là điều tối kỵ.
Trang 50• Báo Asahi nhận định rằng, chính việc từ chức của hai nữ
Bộ trưởng khiến Nội các của ông Abe bị “tước đoạt” mất
kỷ lục Nội các bền nhất kể từ sau chiến tranh
Báo Mainichi cho rằng “việc bổ nhiệm nhân sự nữ là kết quả tồi tệ nhất chưa từng có
Trang 51Đồng loạt các báo lớn của Nhật như Yomiuri, Asahi, Mainichi… đều có những bài phân tích phê phán việc hai nữ Bộ trưởng đồng loạt từ chức.
Trang 52Chính sách “thực hiện xã hội có
vai trò của phụ nữ”
Chính sách “thực hiện xã hội có
vai trò của phụ nữ”
Trang 53Vậy trước tình hình đó,liệu rằng chính sách của thủ tướng Shinzo Abe có đem lại
hiệu quả như mong muốn
hay không?
Vậy trước tình hình đó,liệu rằng chính sách của thủ tướng Shinzo Abe có đem lại
hiệu quả như mong muốn
hay không?
Trang 54CẢM TƯỞNG
Trang 554 Sau khi kết hôn
Sau khi kết hôn, phụ nữ có nghĩ việc?
Trang 56• Đối với phụ nữ độc thân : trong 3 người thì có 1 người muốn chăm lo công việc nhà
• Đối với nam giới độc thân: trong 5 người thì có 1 người muốn chăm lo công việc nhà
Trang 571 Khảo sát đối với nam giới : Bạn có muốn sau này vợ mình sẽ bạn đảm nhận công việc nội trợ hay
không ?
2 Đối với nữ giới: Sau khi kết hôn, bạn có muốn đảm nhận công việc nội trợ hay không?
Trang 58Đối tượng Đồng ý ??? Không đồng ý
Tôi nghĩ như vậy Có phần đồng ý Không có ý kiến gì cả Có phần không
đồng ý
Không nghĩ như vậy
Trang 59• (61,4%) Là phụ nữ, thì phải chăm lo cho gia đình và nuôi nấng con cái
• (29,3%) Trách nhiệm của người vợ là hỗ trợ giúp chồng chuyên tâm vào công việc
• (20,7%) Ghét đi làm
• (17,9%) sống nhờ vào nguồn thu nhập của chồng
• (9,3%) Phụ nữ đã kết hôn thì nên nghỉ làm
• (1,3%) bố mẹ, đồng nghiệp khuyên nên nghĩ làm
Những người trả lời đồng ý giải thích như sau:
Trang 60Vấn đề tiền lương:
Nữ giới sẽ tiếp tục công việc
40.8% : đối tượng kết hôn mức lương trên 20 man 30 man/ tháng24.8 % : đối tượng kết hôn mức lương từ 30 man 40 man / tháng2% : không liên quan đến thu nhập
Trang 61 Gần 35% phụ nữ muốn nghĩ việc sau khi kết hôn nếu chồng có thu nhập khá
30 % nam giới là những người muốn vợ của mình tiếp tục sự nghiệp sau khi kết hôn
Trang 625 Sau khi sinh con
Sau khi sinh con thì sẽ như thế nào?
Trang 63Ở Nhật Bản, phần lớn phụ nữ đang làm việc không sinh con, còn nếu họ sinh con thì
sẽ phải nghỉ việc.
có tới 70% phụ nữ thôi việc ngay khi họ sinh đứa con đầu tiên Họ chỉ có thể chọn một trong hai thứ: công việc hoặc con cái Theo đuổi cả hai là việc cực khó.
Trang 64Bản đồ so sánh quốc tế lao động nữ theo lứa tuổi
Trang 66Nhiều xí nghiệp áp dụng các chính sách chế độ dành cho phụ nữ khi sinh.
• Thời gian được nghĩ sinh và nuôi con
• làm việc với thời gian ngắn
• Miễn làm thêm giờ, tăng ca…
• sau khi sinh con thì cũng thiết lập chế độ phục chức.
Trang 67• Họ nghĩ làm phiền đồng nghiệp
• Sau thời gian họ nghỉ thì công ty đã có những thay đổi.Với nhiều chế độ ưu đãi vậy nhưng họ vẫn chon nghỉ việc hẳn sau khi sinh là vì:
Trang 68Nghỉ sinh con giống như cái huyệt chôn thân
Ở các công ty vừa và nhỏ sau khi những người này nghỉ thì họ đã ngay lập tức tìm người mới
Trang 69Môi trường làm việc căng thẳng
Trang 73Không nhận được sự giúp đỡ từ các ông chồng.Trên phương diện chia sẻ việc nhà, nam giới
Nhật Bản vẫn thua xa nam giới ở châu Âu hay
Mỹ Tại Thụy Điển, Đức và Mỹ, các ông chồng
dành trung bình ba giờ mỗi ngày để trông nom
con và làm việc nhà Ngược lại, mỗi ngày các
ông bố Nhật Bản chỉ dành một giờ để làm việc
nhà và 15 phút để trông con
Trang 74“ Abenomics” (Kế hoạch kinh tế của ông Abe)
• chiến lược tăng trưởng kinh tế quốc
gia" "mũi tên thứ ba" của học thuyết
kinh tế thời Abe
• Trong đó, yếu tố then chốt là tăng số nữ
giới tham gia lực lượng lao động
• Kế hoạch này bao gồm việc thúc đẩy
phụ nữ tham gia vào lực lượng lao
động, gọi là “womenomics” Mục tiêu
của Thủ tướng Nhật là nâng tỷ lệ các bà
mẹ trở lại làm việc sau khi sinh lên 55%
vào năm 2020 (hiện nay là 38%).
Trang 75• Nhật Bản rất cần thêm lao động mới để bù đắp cho hiện tượng dân số già đi, tăng năng suất lao động và đóng thêm thuế.
• Tính cạnh tranh trong lực lượng lao động sẽ cải thiện hơn
• Nếu tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới ngang bằng với nam giới (62% so với 80%), nước Nhật sẽ có thêm 8,2 triệu lao động nữa và giúp GDP tăng thêm
15%.
Trang 76Nếu phụ nữ Nhật cũng đi làm y như đàn ông, GDP Nhật Bản sẽ tăng thêm 1.000 tỷ USD.
Trang 77Chính sách
dành nhiều thời gian cho gia đình
• Gia tăng thời gian nghĩ việc để chăm sóc con của người cha
• Tăng số lượng nhà trẻ
• Khuyến khích tăng lương giảm giờ làm cho nữ giới
Trang 79Quá nữa phụ nữ phải lao động và làm việc nhà, bình đẳng nam nữ trong công việc quá xa.Cho dù việc nam giới nghĩ nuôi con tăng lên đi nữa thì vẫn còn quá xa so với nữ giới