MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Diện tích trồng rau của Việt Nam tăng lên hàng năm, theo số liệu thống kê của cục Trồng trọt bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007 8 cho biết năm 1995 diện tích rau cả nước là 328,2 nghìn ha, năm 2000 tăng lên 340 nghìn ha, sản lượng đạt 3,84 triệu tấn và đến năm 2007 diện tích rau đạt 910 nghìn ha, sản lượng đạt 10,969 tấn (đứng thứ 5 châu Á). Tuy nhiên, cũng giống như các loại cây trồng khác việc sản xuất rau cũng gặp nhiều khó khăn, một trong những nguyên nhân quan trọng kìm hãm sự phát triển của ngành trồng rau, đặc biệt việc chuyên canh rau là sự phá hại của các loài sâu bệnh hại rau. Vì vậy, việc phòng trừ sâu bệnh hại rau luôn là mối quan tâm hàng đầu của nghề trồng rau (Nguyễn Văn Thắng và ctv, 2000)29. Việc phòng trừ sâu hại rau bằng thuốc hoá học một cách thiếu thận trọng đã làm phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên, làm tăng tính chống thuốc của nhiều loài dịch hại như sâu tơ, ruồi đục lá, bọ nhảy….; Một số loài sâu hại thứ yếu trở thành chủ yếu khó phòng trừ như ruồi đục lá thuộc họ ruồi Agromizydae, bộ 2 cánh Diptera (Hà Quang Hùng, 2002) 17. Ba đại diện trong tổng số 300 loài của giống Liriomyza họ Agromyzidae (Liriomyza sativae, Liriomyza huidobrensis, Liriomyza trifolii) là những loài dịch hại nguy hiểm đối với sản xuất rau trên thế giới với đặc tính dễ thích nghi với môi trường sống mới, tốc độ phát triển nhanh và chóng quen với các loại thuốc hoá học (Nguyễn Văn Đĩnh, Lương Thị Kiểm, 2001)11. Nước ta nằm trong vùng phân bố của các loài ruồi đục lá này, chúng là nhóm dịch hại rất phổ biến ở Việt Nam, hầu như trên các loại rau màu trồng quanh năm ở các địa phương đều bắt gặp triệu chứng gây hại của nhóm ruồi đục lá (Trần Thị Thiên An, 2000)1. Song, đây là nhóm dịch hại còn khá mới mẻ ở nước ta nên việc xác định thành phần cũng như sự phân bố, gây hại
Trang 1HÀ NỘI, 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án làtrung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận án
Hoàng Thị Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ tận tình của GS TS NGƯT Nguyễn ViếtTùng, PGS TS Hồ Thị Thu Giang Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ quý báu của haithầy cô hướng dẫn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô cùng tập thể cán
bộ công nhân viên Viện Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nônghọc, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiệnthuận lợi cho tôi hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, các đồng nghiệpKhoa Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây đã tạo điềukiện và có những đóng góp bổ ích quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện
đề tài
Nhân dịp này, cho phép tôi gửi tới các nhà khoa học, các tập thể, cơquan chuyên ngành Bảo vệ thực vật ở Trung ương và địa phương cùng các hộnông dân ở Hà Nội, Hưng Yên lời cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ, cộng tác
và tạo điều kiện bố trí ruộng thí nghiệm để tôi hoàn thành tốt đề tài
Cuối cùng, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè vàngười thân đã động viên, giúp sức rất nhiều để bản thân hoàn thành luận án này
Tác giả luận án
Hoàng Thị Hằng
Trang 4CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.2.2 Kết quả nghiên cứu về ong ký sinh ruồi đục lá 25CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.4.1 Điều tra thành phần, diễn biến số lượng của loài ruồi đục lá và
thiên địch của chúng trong phổ thức ăn và trên cây dưa chuột 34
Trang 52.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh
2.4.3 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
loài ong Phaedrotoma phaseoli Fischer ký sinh ruồi đục lá 442.4.4 Nghiên cứu các biện pháp phòng chống ruồi đục lá hại dưa
3.1 Thành phần, sự chu chuyển và phân bố của ruồi đục lá họ
3.1.1 Thành phần ruồi đục lá tại Hà Nội và phụ cận 523.1.2 Sự chu chuyển trong phổ ký chủ của 2 loài ruồi đục lá chủ
3.1.3 Sự phân bố của giòi loài ruồi đục lá lớn C horticola và loài
ruồi đục lá phổ biến L sativae ở các tầng lá khác nhau trên
3.2 Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của hai loài ruồi đục
lá lớn Chromatomyia horticola và Liriomyza sativae trên cây
3.2.1 Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của loài ruồi đục lá
3.2.2 Đặc điểm sinh học của loài ruồi đục lá phổ biến Liriomyza
3.3 Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá rau và một số đặc điểm
sinh học, sinh thái học của ong Phaedrotoma phaseoli
(Fischer) ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae 913.3.1 Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae vùng
Trang 63.3.2 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của loài ong
Phaedrotoma phaseoli Fischer (Hymenoptera: Braconidae) 953.3.3 Đặc điểm sinh học của loài ong Phaedrotoma phaseoli Fischer 1003.3.4 Đặc điểm sinh thái học của loài ong Phaedrotoma phaseoli 1053.4 Biện pháp phòng chống loài ruồi đục lá lớn Chromatomyia
3.4.4 Bước đầu xây dựng biện pháp quản lý tổng hợp (IPM) ruồi đục
lá lớn C horticola trên dưa chuột ở vùng Hà Nội và phụ cận 128
Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 133
Trang 7DANH MỤC CÁC KỸ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt Diễn giải
Et al Và những người khác trong tài liệu tiếng Anh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Thành phần ruồi đục lá họ Agromyzidae trên rau, hoa và cỏ dại
3.2 Thành phần cây ký chủ của ruồi đục lá họ Agromyzidae (Hà Nội,
3.3 Sự chu chuyển của loài ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola trên
một số cây rau, hoa và cỏ dại (Hà Nội, Hưng Yên, năm 2009 - 2010) 573.4 Sự chu chuyển của loài ruồi đục lá phổ biến L sativae trên rau,
hoa và cỏ dại (Hà Nội, Hưng Yên, năm 2009 - 2010) 603.5 Kích thước các pha phát dục của loài ruồi đục lá lớn C horticola
3.6 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến thời gian sống của trưởng thành
loài ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola (Hà Nội, năm 2010) 703.7 Mật độ và tỷ lệ hại của giòi ruồi đục lá lớn Chromatomyia
horticola trên các cây ký chủ trong phòng thí nghiệm (Hà Nội,
3.8 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của loài ruồi đục lá lớn
Chromatomyia horticola trên dưa chuột (Hà Nội, năm 2009, 2010) 733.9 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái loài ruồi đục lá lớn
Chromatomyia horticola (Hà Nội, năm 2009, 2010) 753.10 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá lớn C horticola (Hà Nội,
3.11 Bảng sống của loài ruồi đục lá lớn C horticola trên cây dưa chuột
3.12 Diễn biến mật độ giòi của ruồi đục lá lớn và tỷ lệ lá bị hại trên
Trang 93.13 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến thời gian sống của trưởng
thành loài ruồi đục lá phổ biến L sativae (Hà Nội, năm 2010) 863.14 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của Liriomyza sativae
3.15 Sức đẻ trứng của trưởng thành cái ruồi đục lá phổ biến
Liriomyza satiave trên cây dưa chuột (Hà Nội, năm 2009) 893.16 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá phổ biến L sativae trên
3.17 Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá họ Agromyzidae hại rau (Hà
3.18 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến thời gian sống và khả năng ký
sinh của trưởng thành ong P phaseoli ( Hà Nội, năm 2010) 1013.19 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của ong P phaseoli ký
sinh trên giòi của ruồi đục lá (Hà Nội, năm 2010) 1033.20 Sức đẻ trứng của ong ký sinh P phaseoli (Hà Nội, năm 2010) 1043.21 Ảnh hưởng của tuổi ký chủ đến khả năng ký sinh của ong P.
phaseoli (thí nghiệm không có sự lựa chọn tuổi ký chủ) (Hà Nội,
3.22 Ảnh hưởng của tuổi ký chủ tới tỷ lệ ký sinh và hệ số lựa chọn tuổi
ký chủ của ong P phaseoli (Hà Nội, năm 2010) (thí nghiệm có
3.23 Ảnh hưởng của số lượng ký chủ đến tỷ lệ ký sinh của P phaseoli
3.24 Ảnh hưởng của số lượng ký chủ đến khả năng đẻ trứng ký sinh
vào mỗi cá thể ký chủ của ong P phaseoli (Gia Lâm - Hà Nội,
Trang 103.25 Ảnh hưởng của cây trồng vụ trước đến mật độ giòi của ruồi đục lá
lớn C horticola trên ruộng dưa chuột vụ Xuân (Hà Nội, năm 2010) 1113.26 Ảnh hưởng của xen canh cây trồng đến mật độ giòi của ruồi đục
lá lớn C horticola và tỷ lệ giòi bị ký sinh trên dưa chuột vụ Hè
3.27 Mật độ giòi của giòi đục lá lớn C horticola và tỷ lệ lá bị hại trên
ruộng dưa chuột vụ Xuân có quây nilon và ruộng đối chứng (Hà
3.28 Mối tương quan giữa số lượng trưởng thành ruồi đục lá lớn vào
bẫy dính màu vàng với mật độ giòi của ruồi đục lá lớn hại dưa
3.29 Hiệu lực của thuốc trừ sâu với ruồi đục lá lớn C horticola trên
dưa chuột (Hà Nội, năm 2010) (thí nghiệm trong phòng) 1213.30 Hiệu lực của thuốc đối với giòi của ruồi đục lá lớn C horticola
trên cây dưa chuột vụ Xuân (Hà Nội, năm 2010) (Thí nghiệm
3.31 Ảnh hưởng số lần phun thuốc đến diễn biến mật độ giòi của ruồi
đục lá lớn C horticola và tỷ lệ giòi bị ký sinh trên dưa chuột vụ
3.32 Hiệu lực trừ giòi ruồi đục lá lớn C horticola trên dưa chuột của thuốc
Nimbecidine 0,03EC trong phòng thí nghiệm (Hà Nội, năm 2010) 1253.33 Hiệu lực trừ giòi của ruồi đục lá lớn C horticola trên dưa chuột của
thuốc Nimbecidine 0,03EC ở ngoài đồng ruộng (Hà Nội, năm 2010) 1263.34 Diễn biến mật độ giòi ruồi đục lá lớn C horticola và tỷ lệ bị ong
ký sinh trên dưa chuột thí nghiệm vụ Đông (Hà Nội, năm 2011) 1293.35 Các chỉ tiêu theo dõi trên các công thức thí nghiệm 130
Trang 11DANH MỤC HÌNH
1.2 Cánh ruồi đục lá lớn C horticola, (Spencer, 1973) [109] 173.1 Một số loài ruồi đục lá họ Agromyzidae tại Hà Nội và phụ cận 533.2 Triệu chứng gây hại của ruồi đục lá trên dưa chuột 613.3 Diễn biến mật độ giòi loài C horticola và L sativae ở các tầng lá
khác nhau trên cây dưa chuột vụ Đông (Hà Nội, năm 2010) 62
3.12 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá lớn C horticola (Hà Nội,
3.13 Tỷ lệ sống (lx) và số con cái đẻ ra (mx) của loài ruồi đục lá lớn
3.14 Ảnh hưởng của các trà dưa chuột đến diễn biến mật độ giòi của ruồi
đục lá lớn và tỷ lệ lá dưa chuột bị hại vụ Đông (Hà Nội, năm 2009) 823.15 Diễn biến mật độ giòi của ruồi đục lá lớn và tỷ lệ lá dưa chuột bị
hại trên các giống dưa chuột vụ Xuân (Hà Nội, năm 2010) 843.16 Nhịp điệu đẻ trứng của loài ruồi đục lá phổ biến L sativae trên
Trang 123.17 Một số loài ong ký sinh trên giòi, giòi - nhộng ruồi đục lá họ
3.24 Nhộng ong sắp vũ hoá trong vỏ nhộng ruồi L sativae 993.25 Nhịp điệu đẻ trứng của ong ký sinh P phaseoli (Hà Nội, năm 2010) 105
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Diện tích trồng rau của Việt Nam tăng lên hàng năm, theo số liệu thống
kê của cục Trồng trọt bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007 [8] chobiết năm 1995 diện tích rau cả nước là 328,2 nghìn ha, năm 2000 tăng lên 340nghìn ha, sản lượng đạt 3,84 triệu tấn và đến năm 2007 diện tích rau đạt 910nghìn ha, sản lượng đạt 10,969 tấn (đứng thứ 5 châu Á)
Tuy nhiên, cũng giống như các loại cây trồng khác việc sản xuất rau cũnggặp nhiều khó khăn, một trong những nguyên nhân quan trọng kìm hãm sự pháttriển của ngành trồng rau, đặc biệt việc chuyên canh rau là sự phá hại của cácloài sâu bệnh hại rau Vì vậy, việc phòng trừ sâu bệnh hại rau luôn là mối quantâm hàng đầu của nghề trồng rau (Nguyễn Văn Thắng và ctv, 2000) [29]
Việc phòng trừ sâu hại rau bằng thuốc hoá học một cách thiếu thận trọng
đã làm phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên, làm tăng tính chống thuốc của nhiềuloài dịch hại như sâu tơ, ruồi đục lá, bọ nhảy….; Một số loài sâu hại thứ yếu trởthành chủ yếu khó phòng trừ như ruồi đục lá thuộc họ ruồi Agromizydae, bộ 2cánh Diptera (Hà Quang Hùng, 2002) [17] Ba đại diện trong tổng số 300 loàicủa giống Liriomyza họ Agromyzidae (Liriomyza sativae, Liriomyza huidobrensis, Liriomyza trifolii) là những loài dịch hại nguy hiểm đối với sản
xuất rau trên thế giới với đặc tính dễ thích nghi với môi trường sống mới, tốc độphát triển nhanh và chóng quen với các loại thuốc hoá học (Nguyễn Văn Đĩnh,Lương Thị Kiểm, 2001) [11]
Nước ta nằm trong vùng phân bố của các loài ruồi đục lá này, chúng lànhóm dịch hại rất phổ biến ở Việt Nam, hầu như trên các loại rau màu trồngquanh năm ở các địa phương đều bắt gặp triệu chứng gây hại của nhóm ruồiđục lá (Trần Thị Thiên An, 2000) [1] Song, đây là nhóm dịch hại còn khámới mẻ ở nước ta nên việc xác định thành phần cũng như sự phân bố, gây hại
Trang 14trong phổ ký chủ của chúng để từ đó nắm vững đối tượng gây hại cho mùamàng là một yêu cầu cấp thiết.
Hơn nữa, ruồi đục lá là những loài đa thực nên các loài ruồi đục lá dễ cóchung ổ sinh thái khiến chúng có thể cùng có mặt trên một loại cây trồng Điềunày gây không ít trở ngại trong việc nhận diện đúng đối tượng gây hại Tuynhiên, giữa chúng sẽ nảy sinh mối quan hệ cạnh tranh về thức ăn và nơi ở Vì thếloài có ưu thế hơn sẽ trở thành loài gây hại chính (Phạm Bình Quyền, 1994)[28] Xuất phát từ đặc điểm này, việc nghiên cứu hiện tượng tập trung loài và độ
ưu thế của từng loài ruồi đục lá là rất cần thiết để đánh giá đúng đối tượng gâyhại chính trên đồng ruộng
Mặt khác, cũng do phần lớn nhóm ruồi đục lá có tính đa thực nênchúng có khả năng phân bố rộng rãi trong tự nhiên và chu chuyển dễ dàngtrong phổ thức ăn của chúng qua các mùa trong năm Vì vậy, việc tìm hiểuđặc điểm phân bố và chu chuyển của chúng là cơ sở quan trọng để xác địnhnguồn ruồi cũng như quy luật phát sinh phát triển của nhóm côn trùng nàytrên một số cây trồng trên đồng ruộng
Đặc biệt, ruồi đục lá lại là nhóm côn trùng phân bố rộng, có khả năngxuất hiện quanh năm nên tập đoàn thiên địch của chúng sẽ rất đa dạng vàphong phú Việc tìm hiểu thành phần, mức độ chuyên tính và diễn biến sốlượng của các sinh vật có ích này sẽ rất có ý nghĩa trong việc đề xuất biện phápquản lý tổng hợp đối với các loài ruồi đục lá, góp phần làm giảm việc lạm dụngthuốc hóa học trong công tác phòng trừ ruồi đục lá, từ đó làm giảm tác độngxấu của thuốc hóa học đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người
Để góp phần nghiên cứu một cách hệ thống về nhóm ruồi đục lá, trọngtâm là loài gây hại chính trên cây dưa chuột, đặt cơ sở cho việc đề xuất biệnpháp quản lý tổng hợp đối với đối tượng dịch hại này chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “ Thành phần ruồi đục lá họ Agromyzidae, đặc điểm sinh học,
sinh thái học của loài ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola (Goureau) trên cây dưa chuột ở Hà Nội và biện pháp phòng chống”.
Trang 152 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu về thành phần và sự phân bố của nhóm ruồi đục lá họAgromyzidae trên đồng ruộng, thấy được quy luật phát sinh gây hại của nhómcôn trùng này trên một số ký chủ chính Cùng với việc đi sâu tìm hiểu đặcđiểm sinh học và sinh thái học của loài ruồi và ong ký sinh chính làm cơ sởkhoa học cho việc xây dựng biện pháp phòng chống có hiệu quả loài gây hạichính trên cây dưa chuột ở vùng nghiên cứu
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần, sự phân bố và chu chuyển của nhóm ruồi đục lánghiên cứu trong phổ thức ăn của chúng qua các mùa trong năm
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của loài
ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola.
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của loài
ong ký sinh có triển vọng Phaedrotoma phaseoli.
- Đề xuất biện pháp phòng chống loài ruồi đục lá gây hại chính trên câydưa chuột một cách hợp lý
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu đầu tiên chuyên sâu về loài ruồi đục lá
lớn Chromatomyia horticola hại trên cây dưa chuột và loài ong ký sinh chính
Phaedrotoma phaseoli trên ruồi đục lá rau Cung cấp các dẫn liệu khoa học
mới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
sinh, phát triển của loài ruồi đục lá lớn C horticola và ong ký sinh chúng
Phaedrotoma phaseoli trên dưa chuột tại Hà Nội và phụ cận.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của
Trang 16loài ruồi đục lá lớn C horticola gây hại cây dưa chuột, đã đề xuất các biện
pháp phòng chống loài ruồi đục lá này trên cây dưa chuột vừa đạt hiệu quả kinh
tế và môi trường, vừa phù hợp với trình độ canh tác của nông dân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola; loài ruồi đục lá phổ biến Liriomyza sativae (Diptera: Agromyzidae) và loài ong ký sinh của chúng Phaedrotoma phaseoli (Hymenoptera: Braconidae) trên cây dưa chuột tại Hà Nội và vùng phụ cận.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và các yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của loài ruồi đục lá chủ yếu và ong
ký sinh chúng trên cây dưa chuột
Xây dựng và thực hiện một số biện pháp phòng chống loài ruồi đục láchủ yếu gây hại cây dưa chuột theo hướng tổng hợp ở vùng nghiên cứu
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống về loài
ruồi đục lá lớn Chromatomyia horticola (Goureau) gây hại trên dưa chuột
vùng Hà Nội và phụ cận
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm hình thái, sinh học,
sinh thái của loài ruồi đục lá lớn C horticola và ong ký sinh Phaedrotoma
phaseoli.
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết và không thể thay thế trong đời sốnghàng ngày của con người Rau có giá trị dinh dưỡng cao chứa nhiều vitamin
và các loại khoáng chất cần thiết cho cơ thể con người như Protein, vitamin,muối khoáng Về mặt kinh tế, rau là loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao
vì giá trị sản xuất 1 ha rau cao gấp 2 lần so với 1 ha lúa, rau là loại hàng hóaxuất khẩu có giá trị cao của nhiều nước trên thế giới, đồng thơi là nguyên liệuchế biến phong phú và quan trọng Khi ngành sản xuất rau phát triển nhanhchóng, bền vững sẽ góp phần tăng thu nhập cho người lao động, thỏa mãn nhucầu ngày càng cao của người tiêu dùng đồng thời đáp ứng được yêu cầu củacông cuộc xây dựng đất nước (Tạ Thu Cúc, 2007) [7] Chính vì vậy sản xuấtrau, đặc biệt là rau an toàn đang được xã hội ngày càng quan tâm
Điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm thuận lợi cho nhiều loại rau quảphát triển, đây cũng là điều kiện tốt để nhiều loại sâu hại phát triển, đặc biệt làtrong điều kiện thâm canh phát triển sản xuất rau quả Điều này cũng gây ranhững khó khăn trong việc tìm ra các biện pháp phòng chống sâu hại có hiệuquả nhưng phải đảm bảo được sự an toàn của các loại thực phẩm rau quả nóichung và dưa chuột nói riêng
Ruồi đục lá ngoằn ngoèo (serpentine leafminer) là những loài côn trùngngoại lai co sức tàn phá rất mạnh Ở Việt Nam, trước những năm cuối thế kỷ
XX, các loài côn trùng này hầu như chưa xuất hiện đáng kể Nhưng sau đókhông lâu, ruồi đục lá đã trở thành đối tượng đáng chú ý lan tỏa khắp 3 miềncủa nước ta Việc phòng chống các loài ruồi đục lá gặp phải không ít khó
Trang 18khăn do chúng dễ thích nghi với môi trường sống mới, nhanh quen các loạithuốc hóa học trừ sâu (Anderson et al., 2002) [35].
Ở nước ta, đã có một số nghiên cứu về ruồi đục lá thuộc họAgromyzidae Những nghiên cứu này được tiến hành ở khu vực Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, miền Trung Các nghiên cứu đã công bố đề cập tới
thành phần loài ruồi của giống Liriomyza, tác hại, đặc điểm sinh học của loài
quan trọng, ký sinh phổ biến trên ruồi đục lá, biện pháp phòng trừ chúng trêncác cây như đậu ăn quả, khoai tây, cà chua ở các địa danh trên Tuy nhiên,chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chi tiết về ruồi đục láthuộc họ Agromyzidae trên cây dưa chuột – một loại rau có giá trị cao ở khuvực Hà Nội Để có cơ sở khoa học cho việc xây dựng hệ thống quản lý tổnghợp nhóm ruồi đục lá hại dưa chuột thì cần có những nghiên cứu chuyên sâu
về đặc tính sinh vật học, sinh thái học, quy luật phát sinh gây hại và thửnghiệm các biện pháp phòng trừ chúng mà trong đó có những nghiên cứu sâuhơn về biện pháp canh tác và sinh học là rất cần thiết
1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau
1.2.1.1 Lịch sử phát hiện
Ruồi đục lá Liriomyza thuộc họ Agromyzidae bộ 2 cánh Diptera Tên
gọi chung là giòi đục lá rau, đậu .(tiếng Anh gọi là Leafminer) Trưởngthành cái đẻ trứng vào trong nhu mô lá, sâu non (giòi) đục ăn nhu mô lá tạo
thành đường hầm ngoằn ngoèo hay "vẽ bùa" Trên thế giới, Liriomyza được phát hiện từ năm 1894 với trên 300 loài ruồi đục lá thuộc giống Liriomyza,
nhưng chỉ có 23 loài gây hại trong nông nghiệp, trong đó có nhiều loài cótính ăn đa thực, gây hại đáng kể trên rau, đậu (Spencer K.A., 1990) [111]
Ruồi đục lá phổ biến Liriomyza sativae lần đầu tiên được phát hiện gây hại
trên lá cỏ Linh lăng (Medictalic sativa) ở Argentina, sau đó nó được tìm thấy
Trang 19ở bắc, trung và nam Mỹ, quần đảo Caribe, Châu Phi và một số quốc gia
Châu Á L sativae xâm nhập vào Châu Âu qua con đường nhập nội cây trồng (Spencer, 1986) [110] Trước những năm 1970, L sativae chưa từng
xuất hiện ở Châu Á (Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2002) [24], đến năm 1992 nóxuất hiện ở Thái Lan và được tìm thấy ở Hải Nam - Trung Quốc năm 1993,
năm 1994 L sativae được tìm thấy ở Ấn Độ, Camerun, Sudang và năm 1997
L sativae thấy xuất hiện ở Nigenia Năm 2000, L sativae là dịch hại phổ
biến ở Malaysia, Indonesia, Philippin và Việt Nam
Lần đầu tiên phát hiện ra ruồi đục lá gây hại ở Việt Nam vào năm 1994.Các loài ruồi đục lá có thể gây hại cho 40 loại rau và các cây trồng khác,nhưng nặng nhất là trên các loại rau thuộc họ cà, họ bầu bí, họ hoa thập tự vàchúng có thể xuất hiện quanh năm nhưng thường vào những tháng nóng, ẩm,
ít mưa (Nguyễn Thị Nhung và Phạm Văn Lầm, 2000) [25]
1.2.1.2 Thành phần, sự phân bố, ký chủ và mức độ gây hại của một số loài
ruồi đục lá rau phổ biến
Trên thế giới, hiện nay đã ghi nhận có hơn 300 loài ruồi đục lá thuộc
giống Liriomyza (Agromyzidae - Diptera) gây hại trên một số loại cây trồng, trong đó có 5 loài rất phổ biến là L strigata, L bryoniae, L trifolii,
L huidobrensis và L sativae (Spencer K.A., 1973) [109] Riêng ở các nước
vùng Đông Nam Á có 3 loài L trifolii, L sativae, L huidobrensis đã phát triển
thành dịch hại quan trọng trên nhiều vùng trồng rau và hoa (Shepard et al.,
1998) [103] Trong 3 loài ruồi đục lá trên thì loài L sativae thường phân bố gây hại chủ yếu ở các vùng đồng bằng, loài L huidobrensis phân bố gây hại ở vùng đất cao nguyên, còn loài L trifolii thường phân bố gây hại hẹp hơn cả vùng địa
lý và ký chủ (Sasakawa M., 1993a) [100], (Tran Dang Hoa et al., 2005d) [120]
Trong đó, tác giả cũng khẳng định loài L sativae có phạm vi ký chủ rất rộng
với khả năng thích nghi cao và là loài gây hại nguy hiểm trên nhiều loại cây
Trang 20trồng khác nhau Chúng gây hại và làm giảm giá trị thẩm mỹ của cây cảnh, làmgiảm phẩm chất của cây trồng (Sasaki M and Nakamura A., 2005) [101]….Đồng thời một số loài ruồi đục lá còn là môi giới truyền các bệnh virus, vi
khuẩn cho cây (Zhao et al., 2000) [133] Ngoài ra, 3 loài ruồi đục lá L trifolii,
L sativae, L huidobrensis đều được xác định là có tính kháng cao với nhiều
loại thuốc trừ sâu và là đối tượng khó phòng trừ [51], [104], [112]
Rauf et al (2000) [95] cho biết tại Indonesia đã xác định được 3 loài ruồi
đục lá là Chromotomyia horticola, L huidobrensis và L sativae Trong đó phổ biến nhất là loài L huidobrensis, được ghi nhận trên 45 loài cây trồng.
Ở Việt Nam, theo công bố của các tác giả Hà Quang Hùng (2001) [16],Nguyễn Thị Nhung và Phạm Văn Lầm (2002) [25], Anderson et al (2002)[35], Anderson et al (2006) [36], Hosfvang et al (2005) [58], Thang (1999)
[113], Tran et al (2004) [116] có 5 loài ruồi đục lá trong giống Liriomyza là
L sativae, L huidobrensis, L chinensis, L bryoniae, L trifolii Trong đó loài
ruồi đục lá phổ biến L sativae là loài có phạm vi phân bố rất rộng, chúng xuất
hiện và gây hại ở tất cả các vùng trồng rau trong cả nước Từ năm 1990, ruồi
đục lá Liriomyza chỉ mới bắt đầu phát triển tấn công trên một số cây trồng,
nhưng đến năm 1995 đã trở thành dịch hại quan trọng, gây hại trên 40 loại raumàu và cỏ dại, mức độ gây hại của chúng nặng hay nhẹ tùy thuộc vào từng
loại ký chủ Các cây ký chủ nhiễm ruồi đục lá phổ biến L sativae là cà chua,
đậu đỗ, đậu cove, dưa hấu, mướp, dưa chuột… một số cây cỏ dại như cải dại,dền dại, cỏ vòi voi và một số cỏ lá rộng khác trên ruộng rau
Theo công bố của Tran Dang Hoa et al (2005a) [107] ở 5 vùng thuộckhu vực miền Trung và miền Nam Việt Nam từ năm 2002 - 2004 đã xác định
được 6 loài ruồi đục lá: L sativae, L chinensis, L bryoniae, L huidobrensis,
L trifolii và Chromatomyia horticola, L chinensis chỉ gây hại trên hành.
Trong đó L sativae là loài gây hại phổ biến nhất, chúng gây hại 17 loại rau
Trang 21trong tổng số 22 loài rau điều tra.
Tại khu vực trồng rau ở Hà Nội và phụ cận Lê Ngọc Anh và ĐặngThị Dung (2006) [4] đã ghi nhận có 7 loài ruồi đục lá thuộc họ
Agromyzidae bộ Diptera, bao gồm L sativae, Liriomyza sp., L bryonidae,
C horticola Goureau, Phytomyza sp và 2 loài ruồi vàng và ruồi đen 2 vằn
bụng Các loài ruồi đục lá này gây hại trên 34 loài cây ký chủ khác nhau
thuộc 11 họ thực vật Ở 6 tỉnh phía bắc Việt Nam có loài ruồi L sasakawa
Katoi lần đầu tiên được công bố có mặt ở Việt Nam
Dang Thi Dung, Ho Thi Thu Giang (2007) [47], điều tra thu được bảy loài
ruồi đục lá ở phía bắc Việt Nam: L sativae, L chinensis, L bryoniae, Liriomyza sp., L katoi, C horticola và Phytomyza sp Trong đó C horticola lần đầu tiên
được phát hiện ở Việt Nam
Trần Đăng Hòa (2008b) [14] đã tiến hành xác định thành phần ruồi đục
lá hại rau trên 6 vùng trồng rau ở tỉnh Thừa Thiên Huế Kết quả thu được 5
loài ruồi đục lá hại rau: L sativae, L chinensis, L bryoniae, L huidobrensis
và C horticola L sativae là loài phổ biến nhất, L bryoniae và
L huidobrensis mới xâm nhập vào Thừa Thiên Huế Trong những năm gần
đây, L chinensis đã trở thành một loài dịch hại quan trọng của nhiều loài
trong họ hành tỏi tại Đông Nam Á (Tran et al 2007) [123] bao gồm ViệtNam Giòi ăn chất diệp lục làm suy yếu, phá hủy bộ máy quang hợp của lágây thiệt hại nghiêm trọng và đang được coi là loài gây hại nghiêm trọng(Dang Thi Dung and Ho Thi Thu Giang, 2007) [47] Khi mật độ cao, giòi ănhết thịt lá từ trên chóp lá xuống phía dưới Diện tích thiệt hại của mỗi giòi gâynên đã được tính là 72,1 mm2(Hidrayani O et al., 2005) [57]
Spencer (1973) [109] cho rằng L sativae là một trong những loài dịch hại
rất quan trọng trên cây cà chua ở California và Hawai Đến năm 1987,
Waterhouse and Norris [129] ghi nhận ruồi đục lá L sativae đã làm thiệt hại
Trang 2270% sản lượng thu hoạch của cây cà chua ở vùng Vanuatu của Pháp Ở
Indonesia, L sativae đã gây hại nặng trên cây dưa chuột và dưa hấu ở vùng đồng
bằng phía Tây Java (Rauf et al., 1999) [93] Tuy nhiên, mức độ gây hại của ruồiđục lá lại tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ Ruồi đục lá được khẳng định là dịchhại nghiêm trọng trên rau ở phía Nam của Trung Quốc, còn ở các vùng phía Bắcnơi có nhiệt độ 3-40C thì không thấy chúng xuất hiện trên đồng ruộng (Chen etal., 2001) [41]
Theo ghi nhận của Sivapragasam et al (1992) [107] ở Malaysia ruồi
đục lá L huidobrensis đã gia tăng sự gây hại của chúng một cách nhanh
chóng làm giảm 30% năng suất của cây đậu Hà Lan nếu không có biện phápphòng chống kịp thời lúc chúng mới xuất hiện với mật độ thấp
Rauf (1995) [94] cho biết loài L huidobrensis là loài gây hại nặng trên
cây cà chua và nhiều cây trồng khác ở một số vùng của Indonesia, chúng làmgiảm từ 30 - 70% sản lượng rau và rút ngắn thời gian thu hoạch từ 2 đến 3 tuần
Không những thế L huidobrensis còn được xác định là đã gây hại nặng đối với
một số cây hoa hồng trong nhà kính ở Puncak và làm thiệt hại tới 30% giá trịkinh tế cho ngành sản xuất hoa ở vùng này Cũng ở Indonesia, Rauf et al
(2000) [95] cho biết tại vùng Tây Sumatra, loài L huidobrensis khi phá hoại
trên cây cà chua đang sinh trưởng phát triển sẽ làm khoảng 40% diện tích càchua không cho năng suất Ở vùng Ciwidey, cây dưa chuột đang ở giai đoạnsinh trưởng nếu bị loài ruồi này tấn công gây hại nặng sẽ làm giảm 70% sảnlượng quả và nếu gặp phải một vài yếu tố bất lợi khác cây sẽ bị chết sau trồng
30 - 40 ngày Nông dân Srilanka cho rằng loài L huidobrensis làm giảm trên
50% năng suất khoai tây hạt và ở những ổ dịch nó có thể phá hại tới 70% năngsuất củ cải và 100% năng suất khoai tây (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh và LươngThị Kiểm (2001)) [11]
Các tác giả Parrella et al (1992) [87] sau 2 năm nghiên cứu tìm hiểu về
Trang 23sự gây hại của L trifolii trên chồi non của hoa cúc vạn thọ trồng trong nhà
kính cho thấy chúng không chỉ làm giảm khả năng quang hợp của cây mà cònlàm chậm quá trình phát triển của hạt, kéo dài thời gian xử lý noãn của hoa
Ho Thi Thu Giang and Takatoshi UENO (2002) [52] cho rằng: ruồi đục
lá thuộc giống Liriomyza, họ Agromyzidae được công nhận là loài dịch hại
nghiêm trọng và phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước châu Á trong đó
có Việt Nam và Nhật Bản Chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng như cây
họ đậu, dưa chuột, khoai tây và một số cây cảnh
Theo Arpaia et al (2003) [34], trong số các loài côn trùng gây hại trêncây trồng tại khu vực rau bình thường và khu vực rau chuyển gen loài
C horticola gây hại ở gần cuối vụ trồng.
Hà Quang Hùng (2001) [16] cũng đã khẳng định: ở mức gây hại trungbình ruồi đục lá làm giảm năng suất từ 5 đến 10%, gây hại nặng sẽ làm giảmnăng suất từ 20 đến 30% Kết quả nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng, các vụđông xuân và xuân hè từ tháng 10/2000 đến tháng 06/2001 mức độ gây hạicủa ruồi đục lá trên một số cây trồng rất cao: trên cà chua giai đoạn cuối vụ tỷ
lệ lá bị hại lên tới 94%, chỉ số hại là 65,31%, trên đậu Pháp giai đoạn ra hoa
tỷ lệ lá bị hại là 93,33%, chỉ số hại là 48,28%, trên dưa chuột giai đoạn ra hoa,quả tỷ lệ bị hại là 65,5%, chỉ số hại là 35,3%
Khi nghiên cứu về phạm vi ký chủ của ruồi đục lá Liriomyza, các công
trình nghiên cứu đều cho thấy chúng có tính đa thực và có thể phát sinh gâyhại trong phạm vi ký chủ rộng nên có thể sinh sống ở bất cứ nơi đâu và bất cứthời điểm nào khi điều kiện thời tiết thích hợp (Nguyễn Văn Viên, NguyễnVăn Đĩnh, 2001) [31]
Spencer (1973) [109] cho rằng ruồi đục lá họ Agromizidae gây hại trên
130 loại cây trồng, có 107 loài hại trên lá, 29 loài hại trên thân và 1 số loài hại
các bộ phận khác Tác giả này cũng ghi nhận các loài L sativae, L trifolii và
Trang 24L huidobrensis đều là các loài đa thực và có phổ ký chủ rộng hẹp tùy theo
loài Trong đó, L sativae là gây hại trên 20 giống thuộc 10 họ thực vật.
Johnson et al (1987) [64] cho biết tại Nam Mỹ và Hawai, Liriomyza spp gây hại trên 12 loại rau và cây cảnh, trong đó L sativae gây hại trên 8 loại, L trifolii gây hại trên 3 loại, L huidobrensis hại trên 2 loại và L brassicae
hại trên 1 loại
Nhận xét về phổ ký chủ của ruồi đục lá, Spencer (1990) [112] đã ghi
nhận có hơn 40 loại cây là ký chủ của L trifolii, trong đó các cây họ cúc, cây
cà chua và cây cần tây bị hại rất nặng Saito (1992) [98] cũng khẳng định loài
L trifolii là loài ruồi đục lá gây hại rất phổ biến trên các vùng chuyên canh
hoa cúc, cà chua và cần tây Năm 2001, Trần Quý Hùng [18] cho biết ở Nhật
Bản ruồi đục lá L trifolii gây hại trên 40 loại cây trồng thuộc 11 họ thực vật,
gây hại nặng trên hoa cúc, cà chua, cần tây nhưng không hại cây họ hòa thảo,cây họ hoa hồng, khoai lang, khoai sọ
Chen et al (2003) [42] công bố L sativae đã trở thành loài ruồi gây hại
nghiêm trọng trên rau màu ở Sanya - Hải Nam - Trung Quốc, chúng xuất hiện
và gây gại quanh năm nhưng nặng nhất là mùa xuân và mùa đông, tỷ lệ bị hại
là 30 - 40% Phạm vi ký chủ của loài này là 69 loại cây trồng thuộc 14 họ thực vật
Trần Thị Thiên An (2000) [1] đã phát hiện được ký chủ của ruồi đục lá
L trifolii bao gồm 30 loài rau trong 11 họ cây trồng, 3 loài hoa và một số cỏ
dại là ký chủ phụ
Theo Nguyễn Thị Nhung và Phạm Văn Lầm (2000) [25], ở vùng Hà
Nội ruồi đục lá L sativae đã gây hại trên đậu trạch, đậu bở, đậu đũa, cà chua,
dưa chuột, bí xanh
Ruồi đục lá L sativae là loài đa thực, có phổ ký chủ rộng, gây hại trên
41 loại cây thuộc 15 họ thực vật, trong đó có 30 cây được sử dụng làm rauchiếm 73,17%, 2 cây công nghiệp chiếm 4,87%, 1 cây hoa chiếm 2,43% và 8cây cỏ dại chiếm 19,51% (Trần Thị Thiên An, 2003) [2]
Trang 25Đang Thi Dung, Ho Thi Thu Giang (2007) [47] đã ghi nhận ở miền BắcViệt Nam có 31 loài cây ký của ruồi đục lá.
Arid Andersen et al (2008) [37], đã thu thập các loài ruồi đục lá trên 50loài rau ở 62 tỉnh thành của cả nước Kết quả có hơn 16800 mẫu được xác địnhtới loài Giòi ăn mô lá làm diện tích quang hợp giảm, lá vàng, cây còi cọc, làmgiảm giá trị thương phẩm Ngoài ra, vết thương giòi để lại là điều kiện để các visinh vật khác xâm nhập gây hại cho cây (Tran Dang Hoa et al., 2007) [123]
1.2.1.3 Đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái chính của một số loài ruồi
đục lá phổ biến
Một số đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục lá
Kết quả nghiên cứu của Molitas - Colting (2001) [77] và nhiều tác giả
khác đều cho biết sự phát triển của ruồi đục lá thuộc giống Liriomyza trải qua 4
giai đoạn là trứng, giòi, nhộng và trưởng thành Thời gian phát triển vòng đờicủa ruồi phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và cây ký chủ nơi chúng sinh sống Ởnhiệt độ 250C - 300C, thời gian cần thiết để hoàn thành pha trứng và pha giòikhoảng 7 - 9 ngày, pha nhộng khoảng 7 - 9 ngày, nhưng ở nhiệt độ thấp hơn(150C) thời gian phát triển từ trứng tới nhộng kéo dài khoảng 25 ngày
Pha trứng
Trứng của ruồi đục lá được đẻ riêng lẻ từng quả trong mô lá, khi mới
đẻ có màu trắng và khi sắp nở trứng chuyển sang màu đục mờ, thời gian phátdục của trứng biến động từ 2 - 8 ngày tùy theo nhiệt độ và tùy theo loài(Parrella et al., 1987) [88]
Pha giòi (sâu non)
Giòi của ruồi đục lá có cơ thể dạng giòi, hơi giống hình trụ với phầntrước của cơ thể nhọn và phần cuối của cơ thể tù (Parrella et al., 1987) [88].Theo Liebee (1985) [73] giòi của ruồi đục lá sống trong mô diệp lục, khi mới
nở đục ăn mô lá tạo thành những đường hầm ngoằn ngoèo cho đến khi đẫy
Trang 26sức chui ra bên ngoài biểu bì lá để hóa nhộng Thời gian phát triển pha giòi
của nhiều loài Liriomyza có thể từ 4- 6 ngày.
Pha tiền nhộng và nhộng
Saito (1993) [97] và một số tác giả khác khi nghiên cứu về pha tiềnnhộng và nhộng của ruồi đục lá đã nhận xét: thời gian trong ngày để giòi đẫysức chui ra khỏi đường đục chuyển sang giai đoạn tiền nhộng khoảng từ sángsớm đến trước 8 giờ Thời gian cho giai đoạn tiền nhộng kéo dài từ 2 - 4 tiếngtùy theo điều kiện nhiệt độ Nhộng của ruồi đục lá là dạng nhộng bọc, lúc mớihóa nhộng có màu vàng tươi, khi sắp vũ hóa có màu nâu vàng
Pha trưởng thành
Nhận xét về pha trưởng thành ruồi đục lá, Parrella et al (1987) [88] đãcho biết ruồi cái thường ăn và đẻ trứng vào buổi sáng trong ngày, chúngthường để lại hai dạng vết châm trên lá, vết châm dạng tròn là vết ăn, vếtchâm có dạng bầu dục là vết đẻ trứng Ruồi đực sau khi vũ hóa chỉ sống vàingày làm nhiệm vụ giao phối rồi chết Tỷ lệ phân hóa giới tình ở ruồi trưởng
thành của các loài trong giống Liriomyza thường khác nhau (Charlton et al.,
1981) [40] Khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái của ruồi đục lá, các tác giảAndersen et al (2002) [35], Molitas - Cloting (2001) [77], Shiao (2004)[105], Spencer (1990) [112] và Tran (2002) [124] đều nhận định trưởng
thành của L sativae, L trifolii và L huidobrensis là rất giống nhau, cơ thể
chỉ dài khoảng 1 mm, mặt lưng màu đen bóng, có một hình tam giác vàngđậm giữa 2 gốc cánh Do vậy, khi áp dụng biện pháp phòng chống, đặc biệt
là biện pháp sinh học đối với các loài ruồi này gặp rất nhiều khó khăn bởi rấtkhó nhận biết chính xác được từng loài
Tuy nhiên, để góp phần vào công tác định loại được nhanh chóng và
chuẩn xác ở tất cả các pha phát dục của ruồi đục lá giống Liriomyza, gần đây
trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về phương pháp mới ứng dụng
Trang 27kỹ thuật sinh học phân tử để phân loại các loài ruồi đục lá có quan hệ gần về
di truyền trong giống Liriomyza [44], [46], [68], [71], [78], [82], [107] Hiện
nay, để đáp ứng cho yêu cầu kiểm dịch trên thế giới, phương pháp sử dụng kỹthuật PCR với mồi đặc hiệu của loài đã được Einar G.M Nordhus (2005) [49]nghiên cứu để định danh đến loài dù ở bất kỳ pha phát dục nào của ruồi thaybằng chỉ định loại được ruồi ở pha trưởng thành như trước đây
Nghiên cứu về ruồi đục lá phổ biến Liriomyza sativae Blanchard
Hà Quang Hùng (2001) [16] cho biết ruồi đục lá phổ biến L sativae là
loài gây hại đa thực trên 24 loài cây trồng và 1 loài cây dại ở vùng Hà Nội vàphụ cận Lê Thị Kim Oanh từ năm 2001 - 2002 (2003) [27] tại Hà Nội và phụ
cận cũng đã phát hiện 21 loại rau là ký chủ của L sativae Trần Thị Thiên An
(2007) [3] cho biết tại Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1/2003 đến tháng4/ 2005 có 43 loài cây trồng thuộc 15 họ thực vật khác nhau với mức độgây hại trên rau 70,8%, cỏ dại 18,6%, hoa họ cúc 7,0%, cây trồng khác4,6%, những thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn
Một số đặc điểm về hình thái và sinh học
Nguyễn Văn Đĩnh và Lương Thị Kiểm (2001) [11] đã miêu tả ruồitrưởng thành có cơ thể nhỏ bé (con cái 1,785mm, con đực 1,438mm) màu vàngvới các vệt đen xen lẫn Râu đầu dạng lông cứng, đốt thứ 3 nhỏ màu vàng sáng,
bề mặt râu có lông mịn Đặc điểm phân loại cơ bản là mảnh lưng đốt ngực giữamàu đen bóng, đốt ngực sau có u lồi màu vàng sáng, xung quanh có màu đen
Trang 28Đốt đùi của chân có màu vàng sáng, đốt chày sẫm hơn, bàn chân có 5 đốt.Cánh có mạch dọc Costa đậm Mạch phụ Sc không phát triển, mạch dọc giữaM3 + 4 có chiều dài bằng 3 - 4 lần chiều dài phần thứ 4 Chùy thăng bằng màutrắng sữa Bụng có 6 đốt, phía cuối đốt bụng con cái có máng đẻ trứng dài, conđực có cơ quan giao phối tù và ngắn Trứng hình bầu dục Sâu non dạng giòi có9-10 đốt, màu vàng nhạt, khi đẫy sức có màu vàng tươi Giòi có móc miệnghình chữ Y màu đen, chuyển động linh hoạt Nhộng hình e lip, có 9 - 10 đốt,màu vàng, khi sắp vũ hóa có màu nâu đen Nhộng bọc có 2 gai đầu và 2 gaiđuôi rõ rệt, hóa nhộng trong đất.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu đầu tiên về đặc điểm sinh học loài ruồi
đục lá L sativae tại Hà Nội của Nguyễn Văn Đĩnh và Lương Thị Kiểm (2001)
[11] cho biết: Ở nhiệt độ 280C các pha trứng, giòi và nhộng của chúng có thờigian phát dục lần lượt là 2,4; 4,0 và 5,7 ngày Ở nhiệt độ từ 25 - 300C thời
gian phát dục các pha trứng, giòi, nhộng của L sativae lần lượt là: 1,9 - 2,4;
Phạm vi ký chủ và mức độ hại
Theo Arpaia et al (2003) [34], trong số các loài côn trùng gây hại trêncây trồng tại khu vực rau bình thường và khu vực rau chuyển gen loài
C.horticola gây hại ở gần cuối vụ trồng Tỷ lệ ký sinh trên giòi C horticola
đạt 33,87 và 28,57% trên cây trồng bình thường và cây trồng chuyển gen
Theo Sivapragasam et al (1992) [107] ruồi đục lá lớn C horticola gây hại
Trang 29trên một số cây trồng: Họ Cúc (Compositae), Họ Lamiaceae (Labiatae), Họ
Cucurbitaceae, Họ Liliaceae, Họ Lanh: Linum usitatissimum L.; Họ Cải
(Brassiceae): Brassica campestris L., Brassica juncea, Brassica napus L., Cải bắp
dại L., Brassica Rapa L., Brassica tournefortii; Họ Anh túc: Papaver somniferum,
Họ Cà: Lycopersicon esculentum Mill., Solanum melongena I., S tuberosum L
Cũng theo tác giả này, các loại cây trồng bị thiệt hại nhiều nhất là trên
họ đậu: Họ Đậu (Leguminosae): C arietinum L., C tetragonoloba,
L esculenta Moench, P arvense L., V mungo, V radiata, M sativa,
P sativum L., T alexandrinum L., V faba L., V unguiculata ssp Sự gây hại
của Chromatomyia horticola trên các cây trồng gây những thiệt hại đáng kể
về sản lượng, giảm sút mạnh về chất lượng
Một số đặc điểm hình thái và sinh học
Hình 1.1: Giòi ruồi đục lá lớn
Chromatomyia horticola : được mô tả bằngDempewolf (2001: 202), màu trắng (Spencer,1973: 433) [109] Các anterior spiracles xâmnhập vào lớp biểu bì thực vật như là một cặpnhỏ móc (Nederlandse bladmineerders)
Hình 1.2: Cánh ruồi đục lá lớn C horticola, (Spencer, 1973) [109]
Trang 30Theo Spencer (1973: 433) [109] trưởng thành của C horticola có cánh dài: 2,2-2,7 mm Vòng đời của ruồi đục lá lớn C horticola đã được nghiên cứu
bởi Melis, 1935 (Italy); Ahmad and Gupta, 1941 (Ấn Độ); Molitas and Gabriel,
1975 (Philippines); Vuong and Yan, 1986 (Trung Quốc); Sharma et al., 1997(Ấn Độ): Số trứng một trưởng thành cái đẻ dao động từ 100 - 500 trứng Trongmột ngày một trưởng thành cái có thể đẻ đến 50 quả Sau 1 - 4 ngày giòi bắtđầu nở Trong điều kiện ấm áp thời kỳ giòi có thể kéo chỉ 5 - 6 ngày nhưng cóthể tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ Ở vùng ôn đới thời gianphát dục dài hơn, nếu không có đình dục thì giai đoạn nhộng là 9 - 15 ngày.Thời gian phát dục ngắn hơn khi nhiệt độ tăng Mặt khác, tỷ lệ nở của trứng và
vũ hóa của nhộng thường thấp hơn ở nhiệt độ vừa phải (Sasakawa et al, 1970;Mizukoshi and Togawa, 1999) (dẫn theo Spencer (1973: 433) [109])
Gustavo et al (2007) [53], đã nghiên cứu thời gian phát dục giai đoạngiòi ở nhiệt độ khác nhau và thời gian chiếu sáng 14L: 10D cho biết ngưỡngnhiệt độ khởi điểm phát dục của ruồi đực và ruồi cái tương ứng là 7,4 và7,2°C, tương tự tổng tích ôn hữu hiệu đạt là 297,4 và 307,5 độ/ngày
Nhộng của ruồi đục lá lớn C horticola không có hiện tượng đình dụcthậm chí dưới nhiệt độ thấp và nhiệt độ ngày ngắn Khi ở nhiệt độ thấp dưới15°C và thời gian chiếu sáng 12L-12D tỷ lệ sống của nhộng vẫn cao Khi giữnhộng ở 0°C trong các thời kỳ khác nhau, tỷ lệ sống của nhộng giảm theo thờigian lưu giữ Tỷ lệ sống của nhộng giảm xuống 10,5%, ở 00C trong 75 ngày.Những phát hiện này chỉ ra rằng nhộng không thể tồn tại hơn 75 ngày trongtuyết (Tsutomu Saito, 2004) [126]
Takayuki Mitsunaga et al (2006) [114] đã nghiên cúu ảnh hưởng của
các nguồn thức ăn thêm đối với ruồi đục lá lớn C horticola trong phòng thí
nghiệm Kết quả nghiên cứu cho biết thời gian sống của trưởng thành
Trang 31C horticola đực kéo dài nhất là 7-8 ngày khi cung cấp nước đường và mật ong,
ngắn nhất là 3-4 ngày khi cung cấp cây ký chủ còn trưởng thành cái khi đượccung cấp cây ký chủ thời gian sống lại kéo dài nhất 8-9 ngày, trong khi cung cấpnước đường hoặc mật ong chúng chỉ sống được 3-4 ngày Thức ăn thêm cũngảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng của ruồi cái trưởng thành, với thức ăn là mậtong và nước đường thời gian đẻ trứng của ruồi cái kéo dài hơn so với yếu tố thức
ăn khác như nước lã
Nghiên cứu chi tiết về ruồi đục lá loại lớn C horticolaở Việt Nam đếnnay vẫn chưa có công trình khoa học nào công bố
Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát sinh gây hại của ruồi đục lá
Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ và cây ký chủ
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của ruồi
đục lá Liriomyza, McClanahan R.J (1980) [77] cho rằng vòng đời ruồi đục lá giống Liriomyza dài hay ngắn là phụ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ thích hợp nhất
là 24 - 280C Ở nhiệt độ 12,30C vòng đời là 22,8 ± 2,3 ngày Thời gian sống củatrưởng thành ruồi đục lá giảm từ 22- 280C Phương trình tương quan giữa nhiệt
độ và thời gian sống của trưởng thành: y = 0,0046x - 0,0576, nhiệt độ khởi điểmphát dục là 12,50C Nhộng ruồi đục lá L chinensis có thể qua đông ở độ sâu
10cm và bùng phát từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 6 năm sau tại Hàn Quốc (In - Hu
- Choi, 2003) [60]
Theo Shepard et al (1998) [103] ở Indonesia, ruồi đục lá thường xuấthiện gây hại với mật độ cao từ cuối mùa khô đến đầu mùa mưa Trong mùamưa ruồi đục lá thường hiện diện gây hại ở mật độ thấp Tác giả cũng đã ghinhận quần thể ruồi đục lá trên cây cà chua thường gia tăng mật độ chậm tronggiai đoạn cây sinh trưởng dinh dưỡng, nhưng lại có sức gia tăng mật độ quầnthể rất nhanh ở giai đoạn cây bắt đầu sinh trưởng sinh thực đến lúc cây tàn
Trang 32Khi nghiên cứu vai trò của cây ký chủ đối với ruồi đục lá, Chen et al.
(2001) [41] đã nhận xét là cả 3 loài C horticola, L sativae, L chinensis, khi nuôi với các cây ký chủ đã được lựa chọn thì riêng L chinensis chỉ gây hại
trên cây hành, còn cả 2 loài kia có thể gây hại trên tất cả các loại cây ký chủ đãkhảo sát
Sự kháng thuốc hóa học của ruồi đục lá
Khi nghiên cứu về biện pháp hóa học phòng chống ruồi đục lá rau họAgromyzidae trên đồng ruộng, nhiều tác giả cho biết việc sử dụng liên tục cácloại thuốc hóa học có phổ tác động rộng, không chọn lọc đã làm tăng tínhkháng thuốc của quần thể ruồi đục lá với các loại thuốc này vì ruồi đục lá cóđặc tính dễ thích nghi với môi trường mới, tốc độ phát triển nhanh và nhanhquen với các loại thuốc hóa học [11], [67], [82], [87], [97]
Ở Florida và California, L trifolii có khả năng phát triển tính kháng
thuốc hóa học rất nhanh và mức độ kháng thuốc rất cao, sự kháng thuốcPermethrin của chúng đã tăng gấp 20 lần chỉ sau 2 năm sử dụng loại thuốc
này Ngoài ra, tác giả cũng cho biết L trifolii đã hình thành tính kháng chéo
thuốc hóa học đối với nhóm lân hữu cơ và nhóm Pyrethroid Hiện nay, loàiruồi này đang là một trong những loài sâu hại chính trên rau có tính kháng thuốchóa học rất cao tại Nhật Bản (Saito et al., 1992) [98]
Ở nước ta, thực tế cho thấy nông dân sử dụng thuốc hóa học một cáchbừa bãi với liều lượng cao gấp 6 - 8 lần so với khuyến cáo Theo Nguyễn ThịNhung (2001) [26] trong một vụ đậu trạch người nông dân phải phun thuốc từ4- 12 lần gấp đôi so với lượng thuốc dùng trên rau họ hoa thập tự Dư lượngthuốc trên rau ăn quả thường cao hơn rau ăn lá từ 4 - 6 lần, số lần phun tănglên 20 lần, thậm chí 50 lần so với khuyến cáo Johansen et al (2003) [62] cho
biết ruồi đục lá phổ biến L sativae đã kháng thuốc thuộc nhóm Cypermethrin
và Profenophos
Trang 331.2.1.4 Biện pháp phòng trừ ruồi đục lá rau
Trong những năm qua ruồi đục lá đã gia tăng mức độ gây hại một cáchnhanh chóng, có nơi chúng đã phát sinh thành dịch gây ảnh hưởng lớn đến năngsuất, chất lượng và mẫu mã các loại rau quả Vấn đề đặt ra là phòng trừ ruồi đục
lá như thế nào cho hiệu quả trên các vùng sinh thái khác nhau đã và đang đượcnhiều nhà khoa học nghiên cứu và thảo luận (Murphy et al., 1999) [81], trong đócác tác giả đưa ra một số biện pháp phòng trừ ruồi đục lá như sau:
Biện pháp hóa học
Đây là biện pháp đầu tiên người ta tiến hành ngay sau khi có sự phátsinh gây hại mạnh của ruồi đục lá Đã có nhiều kết quả nghiên cứu xác nhậnviệc sử dụng những loại thuốc hóa học không chọn lọc là nguyên nhân chủyếu dẫn đến sự gây hại ngày càng tăng của ruồi đục lá và sự phát triển rấtnhanh tính kháng thuốc của chúng (McClanahan R.J., (1980) [75] Ở Ấn độ
và Mỹ hiện nay việc phòng trừ ruồi đục lá Liriomyza chủ yếu vẫn là sử dụng
thuốc trừ sâu (Heinz K M et al., 1993) [56], Yu D S et al., 2005) [132].Theo nghiên cứu của Parrella et al (1984) [89] trong nhóm thuốc Pyrethroid
có một vài loại có hiệu quả phòng trừ tốt nhưng cũng có vài loại thể hiện tính
kháng rất nhanh đối với Liriomyza Đây cũng chính là một trong những khó
khăn của người trồng rau trong việc lựa chọn các loại thuốc trừ sâu phù hợp
để phòng trừ loài dịch hại này Đặc biệt, các tác giả này cũng chỉ ra rằng sửdụng các hợp chất Permethrin 0,03% (Ambush 25EC 0,02% và Cypermethrin
40EC) sẽ có hiệu quả trừ L trifolii trưởng thành trên cà chua và hoa đồng tiền
trong nhà kính, nhưng với giòi tốt nhất dùng Cryromazine 0,03%,Diflubenzuron 0,1% Tuy nhiên, Weintraub et al (1998) [131] khẳng định cóvài loại thuốc trừ sâu chọn lọc khi sử dụng để trừ nhóm ruồi đục lá đã có ảnhhưởng rất tốt, làm tăng lượng ký sinh và bắt mồi sau khi xử lý thuốc nhưngchưa cho biết tên loại thuốc nào Năm 1999, Rauf et al [93] đã chỉ rõ ở
Trang 34Indonesia muốn phòng trừ ruồi đục lá có hiệu quả bằng thuốc hóa học thì cầnphải chọn lọc và thường xuyên thay đổi về chủng loại thuốc và nhóm thuốc sửdụng trên đồng ruộng, đây cũng là nguyên tắc chung của việc phòng trừ dịchhại cây trồng bằng thuốc hóa học.
Tsutomu Saito (2004) [126], cho rằng sự bùng phát mạnh mẽ gần đây
của ruồi đục lá lớn C horticola (Goureau) trên cây đậu xanh tại Nhật Bản là do
việc lạm dụng các loại thuốc hóa học Một số loại thuốc trừ sâu như Cartap
hiệu quả phòng trừ C horticola đạt trung bình, các thuốc hóa học như
Phenthoate, Malathion, Permethrin và Tralomethrine đạt hiệu quả phòng trừ
thấp trên giòi của ruồi đục lá lớn C horticola Các kết quả cũng cho rằng sự xuất hiện các ổ dịch lớn gần đây của C horticola có thể do sự tiêu diệt các loài
ký sinh bởi việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu thường xuyên
Theo Tokumaru Usumu, Okadome Kazunobu (2004) [115], trong số 21thuốc trừ sâu thử nghiệm trên giòi tuổi 2, Thiocyclam có hiệu lực phòng trừ98,0%, Cyromazine có hiệu lực 80,9% và hiệu lực của Nitenpyram là 81,8%
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Viên và Nguyễn VănĐĩnh (2001) [31] về phòng chống ruồi đục lá trên cà chua, khoai tây cho thấy
có 5 loại thuốc trừ ruồi đục lá có hiệu quả cao đó là: Vertimec 1,8EC, Padan95SP, Ofatox 400EC, Polytrin P 440EC, Dipterex 90SP Tác giả cũng chobiết trên đồng ruộng, khi hỗn hợp thuốc Polytrin P 440EC với Dipterex 90%nồng độ 0,05% cho hiệu lực trừ ruồi đạt 82,1%, trừ giòi đạt 82%, trong thời
kỳ cao điểm giòi xuất hiện phun thuốc Polytrin P 440EC nồng độ 0,1% 2 - 3lần cho hiệu lực trừ giòi cao từ 76,1 - 91,6% Nguyễn Thị Nhung, Phạm VănLầm (2000) [25] cho biết có thể sử dụng thuốc Sherpa 25EC (1,0l/ha) và
Baythroid 50EC (0,8l/ha) để trừ ruồi đục lá Lê Thị Kim Oanh (2003) [27]cho rằng có 2 loại thuốc cho hiệu quả phòng trừ cao là Abamectin và Trigad
Trang 35Các loại thuốc Pegasus 500SC, Sherpa 25EC, Trebon 10EC và Decis 2,5EC
có hiệu lực cao đối với ruồi đục lá, cao nhất là đối với giòi tuổi 2, sau 5 ngày
xử lý, thấp nhất là giòi ở tuổi 3 và sau 7 ngày xử lý (Lương Thị Kiểm, 2003)[19] Việc sử dụng thuốc trừ sâu cũng ảnh hưởng đến ong ký sinh, Tran DangHoa (2005b) [118] đã đưa ra kết luận: 3 loại thuốc Admire, Match và Cheu
đều rất độc đối với ong ký sinh ruồi đục lá Neochrysocharis formosa.
Theo Tran Dang Hoa, Takagi Masami (2005d) [120], Trong số 10thuốc trừ sâu có sẵn tại Việt Nam, Dimethoate, Phenthoate, Permethrim và
Cartap được đánh giá cao hoặc vừa phải, có hiệu quả trên cả giòi và trưởng
thành L chinensis, nhưng Ethofenprox không có hiệu quả.
Biện pháp sinh học
Khi biện pháp hóa học trở lên kém hiệu quả thì biện pháp sinh học sẽđược các nhà nghiên cứu quan tâm Trên thế giới đã có một số công trìnhcông bố kết quả nghiên về thiên địch của ruồi đục lá nhưng mới chỉ tập trungchủ yếu ở nhóm ký sinh (Murphy S.T., 1999) [80]
Johnson et al (1980) [66], Murphy et al (1999) [81] đã chỉ ra tầm quan
trọng của nhóm ký sinh trong việc quản lý nhóm Liriomyza spp Việc sử dụng
ong ký sinh trong phòng chống ruồi đục lá đã thành công ở nhiều nước như
Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển và Mỹ từ những năm 1985 trên khuvực khoảng 460ha (Minkenberg et al., 1986) [76] Một số loài ong bản địađược xác định là có khả năng ký sinh giòi của các loài ruồi đục lá rất caonhưng khả năng này lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố như cây ký chủ, ong kýsinh nhập nội, ký sinh bậc 2 và đặc biệt là thuốc trừ sâu [63], [99], [106]
Waterhouse and Norris (1987) [129] đã liệt kê được một số loài ong ký
sinh của ruồi đục lá phổ biến L sativae là C caribea, C parksi, C punctivuntris,
C purpurea, H varicornis, N formosa, O dissitus, O dimidiatds.
Trang 36Khi so sánh tính phù hợp của L chinensis và L trifolii (Diptera: Agromyzidae) là ký chủ cho N okazakii, các tác giả cũng chỉ ra rằng vòng đời
và khả năng sinh sản cũng như tỷ lệ con cái của N okazakii là tương tự nhau
trên 2 loài ký chủ Tuy nhiên, hệ số sinh sản (Ro) cao hơn khi L trifolii là ký
chủ Do vậy đề xuất L trifoli trên cây đậu trắng là một hệ thống lí tưởng cho việc nhân nuôi N okazakii (Tran Dang Hoa et al., 2007) [123].
Tại thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam), Trần Thị Thiên An (2007) [3]cho biết trong điều kiện phòng thí nghiệm, tác giả sử dụng ong ký sinh
Asecodes delucchii và thuốc thảo mộc đã quản lý được quần thể giòi của ruồi
đục lá - bảo vệ, duy trì được sự phát triển của quần thể ong ký sinh, giảmđược số lần phun thuốc và cho năng suất đậu côve ổn định như phòng trừbằng thuốc hoá học của nông dân
Biện pháp canh tác
Từ những năm 1986 Minkenberg et al [76] đã kết luận việc cải thiệnđiều kiện sống như vệ sinh đồng ruộng, làm cỏ, ngắt bỏ lá bị hại, dùng giá thểđặc biệt hoặc trồng xen thường không kiểm soát được ruồi đục lá một cách cóhiệu quả Ngược lại, Rauf et al (2000) [95] lại khuyến cáo biện pháp vệ sinhđồng ruộng sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng trừ ruồi đục lá Tuynhiên, cả 2 đều cho rằng việc dọn sạch các tàn dư của cây ký chủ sau thuhoạch kết hợp với cày ải, phơi đất, tưới tràn để giết nhộng trước khi trồng sẽlàm giảm được sự gây hại của ruồi đục lá trên đồng ruộng
Ở Việt Nam, phòng trừ ruồi đục lá có thể áp dụng các biện pháp sau:theo dõi đồng ruộng thường xuyên, đặc biệt lưu ý tới thiên địch của ruồi đụclá; ngắt bỏ các lá già, lá gốc, những lá đã bị giòi đục để hạn chế lây lan; đảmbảo độ ẩm, không để ruộng bị khô hạn, thiếu nước; không dùng thuốc hoá học
để bảo vệ thiên địch, dùng chế phẩm BT khi tỷ lệ lá bị hại cao (Phạm ThịNhất, 2000) [23]
Trang 37Biện pháp dùng bẫy
Chandler L D (1985) [39] và Molitas - Colting T (2001) [77] đã ghinhận việc sử dụng bẫy dính màu vàng đặt trong nhà kính cũng như ở ngoàiđồng đã thu được một số lượng lớn các loài ruồi họ Agromyzidae vào bẫy nên
có tác dụng giảm bớt sự gây hại của ruồi đục lá Tuy nhiên, theo Arakaki(1998) [33] thì biện pháp này không đủ tin cậy và chưa mang lại hiệu quảkinh tế vì có khoảng 80% số ruồi dẫn dụ vào bẫy là con đực
1.2.2 Kết quả nghiên cứu về ong ký sinh ruồi đục lá
1.2.2.1 Thành phần ong ký sinh ruồi đục lá
Khi nghiên cứu về ký sinh của ruồi đục lá Liriomyza spp các tác giả cho biết
nhóm này có thành phần loài rất phong phú Shepard (1998) [103], Waterhouse et
al (1987) [129] đã ghi nhận có hơn 40 loài (phần lớn là họ Eulophidae) là ong ký
sinh giòi và nhộng của nhóm ruồi đục lá Liriomyza spp
Johnson et al (1987) [64] đã giám định được 40 loài ký sinh trên 4 loài
ruồi đục lá L sativae, L trifolii, L huidobrensis, L brassicae ở Bắc Mỹ và
Hawaii Trong đó họ Eulophidae gồm 28 loài, họ Braconidae gồm 8 loài, họ
Cynipidae có 3 loài và 1 loài thuộc họ Pteromalidae Ở California và Florida, Johnson et al (1980) [66] đã ghi nhận loài Diglyphus begini là ong ký sinh ruồi đục lá L sativae gây hại trên cà chua và loài Opius dissitus (họ Braconidae) là ong ký sinh phổ biến trên cả hai loài L sativae và L trifolii.
Đến năm 1992, Parella et al [87] cũng xác định được 40 loài ký sinh trên ruồiđục lá và cũng chỉ ở giai đoạn giòi và nhộng mới bị ký sinh
Tại châu Á, có 41 loài ong ký sinh trên các loài ruồi đục lá thuộc 4 họkhác nhau đã được phát hiện (Ching- Chin Chien and Shiu - Chih Ku, 2001),[43] Ở Nhật Bản, Arakaki and Kinjo (1998) [33] đã xác định được N.
fomosa, H variconis, N okazakii và C pentheus là những loài ong nội ký
sinh chiếm ưu thế trong quần thể ong ký sinh ruồi đục lá L trifolii.
Trang 38Tại tỉnh Chiết Giang, Tây Nam Trung Quốc đã có 11.000 cá thể trưởngthành của ong ký sinh đã vũ hóa từ trên 20.000 cá thể ruồi đục lá Các loài ong
ký sinh tìm thấy thuộc họ: Braconidae, Eulophidae, Pteromalidae Trong đó 11
loài được nuôi từ ký chủ là C horticola, 9 loài được nuôi từ ký chủ là
L sativae và 7 loài được nuôi từ ký chủ là L chinensis (Chen et al., 2003) [42].
Tsutomu et al (2008) [127] đã ghi nhận có 21 loài ong ký sinh của ruồi
đục lá C horticola, các loài ong ký sinh thu được là D isaea,
D chrysochares và C pentheus D isaea và D minoeus là loài phổ biến trong
mùa lạnh (tháng 12 - tháng 5), trong khi C pentheus phổ biến trong mùa nóng
(tháng 5 - tháng 6)
Nhóm tác giả Sivapragasam et al (1999) [106], Vu Thi Thang (1999)[113], Tran et al (2005c) [119] đã ghi nhận ở Đông Nam Á như Thái Lan,Việt Nam, Indonesia và Malaysia một số loài ong thuộc họ Eulophidae ký
sinh giòi và nhộng của Liriomyza spp đều là những loài bản địa chiếm ưu thế
tự nhiên trên đồng ruộng Ở Malaysia, có 8 loài ong ký sinh trên L sativae là
N fomosa, Neochrysocharis sp., C ambiguss, H variconis, Opius sp., Asecodes sp A, Asecodes sp B và Grotonoma sp [106] Ở Philippine, các tác
giả Joshi et al (2001) [69] cho biết D isaea, H variconis, N formosa, N.
okazakii, P katonis, Q liriomyzae, Opius sp và Zagrammosoma sp là những
loài ong ký sinh trên 5 loài ruồi đục lá L huidobreisis, L trifolii, L sativae,
L chinensis và C horticola đang gây hại trên 29 loại rau, 19 loại hoa và cỏ
dại ở địa phương Raut A (1995) [94] khi nghiên cứu về thành phần ký sinhruồi đục lá ở Indonesia đã thu thập và xác định được 8 loài ong kí sinh trên
ruồi đục lá, trong đó phổ biến nhất là loài H variconis.
Trần Đăng Hoà (2008a) [13] cho biết có trên 40 loài ong ký sinh ruồi
đục lá Liriomyza spp đã được phát hiện, bao gồm 27 loài ở Nhật Bản, 14 loài
Trang 39ở Trung Quốc, 11 loài ở Indonesia, 8 loài ở Malaysia.
Tại Việt Nam, có 13 loài ong ký sinh giòi của ruồi đục lá trong đó có
10 loài thuộc họ Eulophidae, 1 loài thuộc họ Encyrtidae, 1 loài thuộc họEucoinidae và 1 loài thuộc họ Scelionidae (Trần Thị Thiên An, 2007) [3]
Theo Tran Thi Thien An et al (2005) [121] tại thành phố Hồ Chí Minh
có 7 loài ong ký sinh ruồi đục lá thuộc 3 họ Braconidae, Eucoilidae,
Eulophidae Trong đó, Neochrysocharis sp là loài chiếm ưu thế nhất trong cả hai
mùa: mùa mưa và mùa khô
Theo Tran Dang Hoa et al (2005b) [118] ở miền Nam Việt Nam đã xácđịnh được 18 loài ong ký sinh ruồi đục lá, thuộc 3 họ Braconidae, Eucoilidae,Eulophidae
1.2.2.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến ong ký sinh ruồi đục lá Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ, ký chủ và cây ký chủ
Đối với loài ong ký sinh O dissitus, Bordat et al (1995) [48] cho biết ở
nhiệt độ 100C và 150C thì 100% trưởng thành ong chết sau 15 ngày và 20ngày Ở nhiệt độ từ 20 - 30oC trưởng thành ong sống được trên 30 ngày Nhìnchung, nhiệt độ 200C là tốt nhất cho trưởng thành ong hoạt động Giống nhưong trưởng thành, 99,6% nhộng ong ký sinh không phát triển ở 100C, ở 150C
tỷ lệ chết là 48,8%, tỷ lệ chết thấp hơn rõ rệt ở các ngưỡng nhiệt độ cao hơn.Tuy nhiên, nhiệt độ không ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái Nhiệt độ cũng ảnh
hưởng đến quá trình sinh sản của ong O dissitus Ở 200C, 250C và 300C thờigian đẻ trứng kéo dài lần lượt là 15, 25 và 16 ngày
Kae Amano et al (2007) [70] đã xác định các loài ong ký sinh của giòi
L trifolii, L sativae và C horticola Trong đó, các loài ong ký sinh C pentheus,
D isaea và D minoeus xuất hiện nhiều vào mùa xuân hoặc mùa thu còn các loài
ong F neochrysocharis, D albiscapus và D pusztensis trong mùa hè.
Hà Quang Hùng (2002) [17] đã ghi nhận ở nhiệt độ 28,40C, ẩm độ
Trang 4087,7% vòng đời của Dacnusa sibirica kéo dài từ 11 đến 12 ngày và tỷ lệ ký
sinh từ 60 đến 80% Ở điều kiện nhiệt độ 250C và 350C thì tỷ lệ ký sinh củaong thấp hơn
Tuổi ký chủ đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả ký sinh của loài ong
Q liriomyzae Hansson Khi cho một cặp ong ký sinh tiếp xúc với giòi ở các tuổi
khác nhau, giòi ký chủ tuổi 2 bị ký sinh nhiều nhất (8,5 giòi/1 cặp ký sinh) [30]
Murphy et al (1999) [81] khi nghiên cứu về ký chủ và cây ký chủ củaong ký sinh ruồi đục lá đã cho rằng có một số loài ong đã được xác định là cókhả năng ký sinh trên nhiều loài ruồi nhưng khả năng này lại bị ảnh hưởngbởi mùi của cây ký chủ Trong điều kiện được lựa chọn cây ký chủ thì ong ký
sinh trên ruồi đục lá L huidobrensis ưa thích đẻ trứng ký sinh trên đậu cove
hơn trên hành
Trần Thị Thiên An (2007) [3] ghi nhận tuổi giòi của ruồi đục lá cũng có
ảnh hưởng đến sức sống của ong N beasleyi phát triển bên trong ký chủ Tỷ
lệ ký sinh, tỷ lệ vũ hoá của N beasleyi trên giòi ruồi đục lá L sativae tuổi 2
là cao nhất (28,6% và 95,5%) và thấp nhất là trên giòi ruồi đục lá tuổi 1(1,87% và 33,3%) Cũng theo tác giả này, nếu được lựa chọn cây ký chủ thì
A delucchii ưa hoạt động ký sinh trên cây đậu cove hơn trên dưa chuột, trong
khi N beasleyi lại ưa hoạt động ký sinh trên dưa chuột hơn trên đậu cove.
Khi nghiên cứu về ong ký sinh ruồi đục lá H varicornis, Ho Thi Thu
Giang (2006) [59] cho rằng, thức ăn của ong trưởng thành là một yếu tố quyếtđịnh tới khả năng sinh sản của con cái Nuôi bằng dịch ký chủ, ong cái có thểsinh sản toàn bộ số trứng của nó Ngoài ra, nhiều loài ký sinh còn có thể nuôibằng mật hoa, mật ong vẫn đảm bảo được sự thành thục của trứng
Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu
Trên thế giới, ngày nay biện pháp phổ biến được sử dụng để phòng trừruồi đục lá là biện pháp hóa học nhưng việc sử dụng các loại thuốc hóa học có