1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận diện rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa doanh nghiệp nhà nước và cộng động trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác thải điện tử

22 420 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 461,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ ra được các hình thức tồn tại của xung đột môi trường XĐMT do e-waste gây ra tại Việt Nam VN: XĐMT do e-e-waste được nhìn nhận dựa trên việc nhận diện kiến tạo xã hội của xung đột,

Trang 1

Nhận diện rào cản thực hiê ̣n cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiê ̣p và

cô ̣ng đồng trong hoa ̣t đô ̣ng quản lý xung đô ̣t môi trường do tác đô ̣ng của rác thải điện tử

Abstract Chỉ ra được các hình thức tồn tại của xung đột môi trường (XĐMT) do

e-waste gây ra tại Việt Nam (VN): XĐMT do e-e-waste được nhìn nhận dựa trên việc nhận diện kiến tạo xã hội của xung đột, trong đó, nội dung quan trọng nhất là nhận diện những tác động của XĐMT dẫn đến những biến đổi về chất lượng sống, lối sống, cách

tổ chức hoạt động xã hội và bản thân cấu trúc xã hội Từ đó chỉ ra các dạng XĐMT do e-waste Nhận diện được vai trò, trách nhiệm xử lý XĐMT do e-waste gây ra của các đương sự Thực trạng cơ chế liên kết trách nhiệm trong xử lý XĐMT do e-waste tại VN Nhận diện được các rào cản cho cơ chế liên kết trách nhiệm trong xử lý XĐMT do e-waste tại VN

Keywords Xung đột môi trường; Rác thải điện tử; Chính sách quản lý

Content

1 Lý do nghiên cứu

Công nghiệp điện tử đã tạo nên một cuộc cách mạng trên khắp thế giới, ở đó các thiết bị điện tử đã đi vào cuộc sống thường nhật và đóng vai trò không thể thiếu trên khắp địa cầu Người ta cũng không thể nghĩ đến một cuộc sống hiện đại với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm thay đổi diện mạo của các quốc gia nếu không có các sáng chế điện tử xuất hiện Song nền công nghiệp này cũng đưa tới một loại hình rác thải mới: e-waste, một trong những nguồn chất thải đáng lo ngại cho sự phát triển của nhân loại trong hiện và tương lai

Theo báo cáo về thực trạng xử lý rác điện tử "Recycling from E-Waste to Resources" của Chương trình môi trường - Liên Hợp Quốc vừa công bố ngày 22/2/2010, ngay trước cuộc họp của Hội đồng điều hành Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã ước

tính: Tại Liên minh Châu Âu các thiết bị điện tử được đưa vào thị trường năm 2005 đã

lên tới hơn 9.3 triệu tấn với tốc độ đáng lưu tâm, đặc biệt ở khu vực Đông Âu bao gồm:

44 triệu thiết bị gia dụng cỡ lớn, 48 triệu máy tính bàn và laptop, 32 triệu chiếc Tivi,

776 triệu bóng đèn Tại Mỹ theo ước tính trong năm 2006 có hơn 34 triệu chiếc Tivi được đưa vào thị trường, 24 triệu máy tính cá nhân và gần 139 triệu các thiết bị nghe

Trang 2

nhìn xách tay gồm điện thoại di động, máy nhắn tin, điện thoại thông minh đã được chế tạo Điều đáng lưu ý ở đây là chỉ cách đó hơn 2 năm, các thiết bị nghe nhìn xách tay với

tốc độ tăng trưởng cao nhất chỉ mới đạt mức 90 triệu sản phẩm trong năm 2003, các chuyên gia lúc đó dự tính đến năm 2008 sẽ sản xuất được 152 triệu sản phẩm Báo cáo

cũng công bố những dự tính “khổng lồ” về e-waste: năm 2020 lượng máy tính bị vứt bỏ

tại Nam Phi và Trung Quốc sẽ tăng 200-400% so với mức của năm 2007 Tại Ấn Độ mức tăng trong khoảng thời gian tương tự là 500% 1 Theo ước tính của Hiệp hội Hệ

thống thông tin di động toàn cầu (GSM) có tới 896 triệu điện thoại di động đã được bán

ra trong năm 2006 trên toàn thế giới Theo ước tính của Hiệp hội Viễn thông quốc tế

(ITU) hiện có khoảng 5 tỉ điện thoại di động lưu hành trên khắp thế giới, 1/3 dân số sử

dụng internet và mỗi năm có 310 triệu máy tính được đưa ra bán

Theo ước tính của UNEP, có trên 50 triệu tấn rác thải từ các sản phẩm điện tử hư hỏng được thải ra hàng năm Rác điện tử đang phát triển nhanh nhất dưới dạng chất thải rắn của đô thị, chiếm từ 3 - 5% nguồn nguyên vật liệu, đồng thời tăng trung bình 3 – 5% mỗi năm Ước tính có trên 60 triệu tấn rác điện tử cần phải được tái sử dụng, tái chế hoặc tiêu hủy vào năm 2013 ITU đã thống kê năm 2010 thế giới đã thải ra hơn 40 triệu tấn rác thải, riêng Châu Âu chiếm 10 triệu tấn, Mỹ chiếm 3,2 triệu tấn, và Trung Quốc chiếm 2,5 triệu tấn Theo tính toán của nhóm nghiên cứu tại Đại học Liên hiệp

quốc tốc mức tăng của rác thải điện tử tại 27 quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu lên tới

8.3 – 9.1 triệu tấn/năm Chỉ tính riêng tại Mỹ có hơn 400 triệu thiết bị điện tử xếp loại

"rác điện tử" có nhu cầu được thải bỏ hằng năm, theo thống kê của Tổ chức hoàn trả

đồ điện tử của San Francisco, nhưng chỉ 12% số đó được tái chế

E-waste xuất sang các quốc gia châu Á được gắn mác "để tái chế", trong khi đó khả năng kiểm soát dạng rác thải này ở VN còn nhiều hạn chế, do vậy một lượng không nhỏ rác thải đã được đưa vào nội địa Đến nay lượng e-waste về các quốc gia đang phát triển tại châu Á vẫn không ngừng gia tăng bởi giá nhân công rẻ, các qui định về nghề nghiệp và môi trường còn lỏng lẻo, và cuối cùng chính do tính hợp pháp trong việc xuất khẩu rác thải điện tử của một số quốc gia phát triển Là một quốc gia đang phát triển trong giai đoạn toàn cầu hóa, bên cạnh những cơ hội, lợi thế trong việc đón đầu công nghệ tiên tiến và hiện đại của các nước phát triển, VN cũng đồng thời đối diện với nguy cơ là điểm đến của rác thải công nghệ từ các quốc gia khác dưới nhiều hình

thức khác nhau Như vậy lượng rác thải mà VN phải hứng chịu không chỉ là kết quả

của việc tiêu thụ thiết bị điện tử trong nước mà còn xuất phát từ nguồn nhập khẩu không được kiểm soát một cách chặt chẽ

Theo UNEP, các nước phát triển là những nước thải rác điện tử nhiều nhất Riêng tại Mỹ hàng năm có đến 14-20 triệu máy tính cá nhân bị loại bỏ Theo tổ chức BVMT

Mỹ, trong năm 2005, người tiêu dùng Mỹ đã thải ra gần 2 triệu tấn rác điện tử Tại nước Anh mỗi năm có khoảng 1,5 triệu chiếc máy tính bị thải ra bãi rác tương đương 125.000 tấn thiết bị tin học Canada năm 2005 thải ra 67.000 tấn máy tính, máy in, điện thoại di động là những thứ rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc Tại các nước đang phát triển lượng rác điện tử sẽ tăng gấp 3 lần vào năm 2011 Còn số điện thoại di động

1http://www.khoahoc.com.vn/doisong/moi-truong/27102_Rac-dien-tu-hiem-hoa-voi-con-nguoi.aspx

Trang 3

thì sẽ vượt ngưỡng 2 tỷ chiếc vào năm 2012 trên thế giới, trong khi tuổi đời sử dụng của

chúng chỉ khoảng 2 năm Bất chấp các quy định ngặt nghèo của các quốc gia phát

triển, các công ước quốc tế về xử lý rác thải điện tử, hiện nay các bãi rác tập trung

đồ phế thải điện tử tại các nước đang phát triển vẫn trở thành một trong những nhân tố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Sự gia tăng của e-waste trên toàn thế giới nói chung, và mức độ nguy hại của chúng với xã hội ngày càng được khẳng định đã làm nảy sinh các XĐMT liên quan đến loại rác này ở các cấp độ từ địa phương, quốc gia đến vùng và liên vùng… Thực tế cho thấy, các biểu hiện của xung đột này là vô cùng đa dạng, dù rằng chưa có nhiều chứng cứ rõ ràng chỉ ra mức độ cao điểm nhất của xung đột có thể xảy đến (như chiến tranh) nhưng tầm quan trọng của việc nhận diện và xử lý các xung đột này đối với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý doanh nghiệp hay các chính khách theo đuổi chiến lược phát triển bền vững là thực tế không thể phủ nhận Thông qua quá trình nhận diện được XĐMT do e-waste gây ra, đánh giá được cấp độ xung đột, phạm vi của xung đột, từ

đó lý giải được nguyên nhân của việc xử lý xung đột, đặt nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp xử lý xung đột một cách thỏa đáng, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển bền vững

Việc thiết lập một hệ thống quản lý chất thải điện tử hiệu quả ở quy mô quốc gia và quốc tế là yêu cầu tất yếu đối với các xã hội công nghiệp hiện đại nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi của sự phát triển đến môi trường sống Trên thế giới, nhiều quốc gia đã bày tỏ sự quan tâm sâu sắc và nhất quán đến vấn nạn e-waste, đồng thời đã có những hành động cấp thiết nhằm giảm thiểu, và quản lý loại hình rác thải này một cách có hệ thống trên toàn quốc Các tổ chức quốc tế cũng nỗ lực thúc đẩy các quốc gia đang phát triển mau chóng có những phản ứng và biện pháp quản lý rác thải công nghệ nhằm thay đổi thực trạng đáng lo ngại mang tính chất toàn cầu như hiện nay Trên thực tế, để đối phó với cuộc khủng hoảng rác điện tử trên thế giới, các tổ chức quốc tế và từng quốc gia

đă đề ra những quy định bắt buộc về quản lý và xử lý rác thải công nghệ độc hại

Tuy nhiên theo UNEP, hiện có khoảng 75 - 85% rác điện tử được chôn trực tiếp

xuống đất hoặc thiêu cháy ra tro Việc xử lý lượng rác thải này không đúng cách có thể giải phóng nhiều hóa chất và kim loại nặng nguy hiểm vào môi trường Tỷ lệ tái chế có thể tăng tới 50% hoặc cao hơn trong năm 2013 hay không còn tùy thuộc vào sự can thiệp của Chính phủ hoặc những hỗ trợ về kinh tế cho người dùng Theo Greenpeace, trong 8,7 triệu tấn e-waste thải ra hằng năm tại EU, có đến 6,6 triệu tấn không được tái

chế theo đúng quy trình Đối chứng giữa biểu hiện và mức độ XĐMT do e-waste gây

ra cùng với kết quả can thiệp của các ba thiết chế xã hội: nhà nước, doanh nghiệp

và cộng đồng thực tế cho thấy bài toán môi trường chưa thực có lời giải đáp Theo

tổ chức Greenpeace, chỉ có khoảng 10% lượng máy tính cũ hỏng được tái chế; tỷ lệ điện thoại di động cũ hỏng được tái chế còn thấp hơn, chỉ khoảng từ 2%-3% Nói cách khác, tỷ lệ rác thải điện tử không được tái chế lên tới 91%… Khi những loại rác này bị đốt cháy - phương pháp xử lý thường thấy nhất - chúng có thể giải phóng khói độc, còn các hóa chất như bari và thủy ngân sẽ ngấm vào đất.Vừa qua, tại Bờ Biển Ngà, đă có ít

Trang 4

nhất 10 người chết và hơn 70.000 người phải điều trị vì hơi độc phát ra từ bãi rác chôn quanh vùng Abidjan

Không là một ngoại lệ, VN cũng cho thấy nhiều nỗ lực dù chưa thực sự hiệu quả từ phía các thiết chế nhà nước, thiết chế doanh nghiệp và thiết chế cộng đồng trong việc giải quyết các XĐMT do rác thải công nghệ gây ra Các nhà hoạch định chính sách vẫn

nỗ lực đưa ra các chính sách nhằm quản lý hoạt động BVMT nói chung, quản lý e-waste nói riêng một cách có hiệu quả hơn, các doanh nghiệp vẫn mong muốn thu được lợi nhuận tốt nhất từ các sản phẩm của mình mà vẫn đảm bảo được các tiêu chuẩn của nhà nước, cộng đồng mong muốn muốn được hưởng thụ các sản phẩm công nghệ cao song lại không hài lòng về chất lượng môi trường sống … Rõ ràng các thiết chế này vẫn chưa tìm thấy một cách thức liên kết trách nhiệm nhằm phát huy sức mạnh của tổng thể hệ thống xã hội cho quá trình phát triển bền vững Vì vậy, thực tế XĐMT do rác thải điện

tử vẫn chưa được nhìn nhận dưới dạng các cơ hội cho phát triển theo quan điểm của nhà

kinh tế học Steiner (Đức) “Bằng cách hành động ngay từ bây giờ và lập kế hoạch cho

tương lai, nhiều quốc gia có thể biển những thách thức từ rác điện tử thành cơ hội kinh tế”

Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Rào cản thực hiê ̣n cơ chế liên kết trách nhiê ̣m giữa

nhà nước , doanh nghiê ̣p và cô ̣ng đồng trong hoa ̣t đô ̣ng quản lý xung đô ̣t môi trường do tác đô ̣ng của rác thải công nghê ̣” là để nhìn nhận được các rào cản trong

quá trình liên kết trách nhiệm giữa các thiết chế xã hội thông qua việc mô tả các kiến tạo xã hội đặc thù từ XĐMT do rác thải công nghệ tại VN Qua đó góp phần đem lại một tiếp cận dung hòa cho việc hình thành các cầu nối chính sách từ hoạch định đến thực thi trong đời sống xã hội một cách hiệu quả hơn

2 Lịch sử nghiên cứu

Các nghiên cứu về rào cản tập trung tìm hiểu những khó khăn, trở ngại, vướng mắc của các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống Tiếp cận nghiên cứu ở lĩnh vực nông lâm nghiệp, Hiệp hội quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources) tiến hành module “Đánh giá các rào cản ảnh hưởng tới quản lý rừng bền

vững và công bằng” trong khuôn khổ của Dự án “Tăng cường tiếng nói để có sự lựa

chọn tốt hơn” do Ủy ban châu Âu tài trợ, 2008 Nghiên cứu mô tả thực trạng ngành lâm nghiệp VN, thực tiễn luật pháp và quản trị rừng, luật tục và quản trị rừng, từ đó đưa ra

so sánh về quản trị rừng theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo luật tục, đồng thời chỉ ra những tác động kinh tế xã hội ở mức độ rộng hơn đối với rừng và sinh kế

Trong lĩnh vực BVMT và phát triển bền vững, chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ chính phủ VN thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cho Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) SP-RCC được xây dựng để đưa ra các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở VN sau khi đánh giá tình hình thực hiện các hành động chính sách đặc thù của chính phủ VN trong 15 ngành dễ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Trong khuôn khổ Dự án “Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại VN” của

chuỗi hành động nhằm ứng phó với biến đổi khía hậu tài trợ bởi JICA, “Báo cáo nghiên

Trang 5

cứu về giải pháp tháo gỡ cho các dự án theo cơ chế phát triển sạch” được công bố vào

3/2011đề cập tới rào cản như các nút thắt cổ chai của việc triển khai dự án theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Nghiên cứu cho hay, việc triển khai CDM ở VN không chỉ thực hiện các hành động thân thiện môi trường, mà còn ảnh hưởng đến cả các hoạt động phát triển bền vững thông qua việc phát trển và sử dụng các năng lượng tái tạo, tạo điều kiện bảo tồn năng lượng, kiểm soát thiệt hại về diện tích rừng …CDM hiện vẫn là một cơ chế mới được xây dựng và còn tồn tại nhiều rào cản khiến cho việc tiến hành CDM trên thực tế không thuận lợi Các rào cản được đề cập và phân tích trong nghiên cứu bao gồm: Rào cản về hành chính và pháp lý; Rào cản về kinh doanh; Rào cản về nguồn nhân lực; Rào cản công nghệ; Rào cản thực tế về các thông lệ

Cho đến nay nghiên cứu về rào cản trong các lĩnh vực BVMT, an ninh môi trường hiện còn khá ít ỏi Những nghiên cứu về rào cản trong quản lý XĐMT còn hiếm hoi hơn Nghiên cứu về XĐMT ở VN từ một thập niên trở lại đây trở thành một chủ đề thu

hút được sự quan tâm của nhiều học giả Theo Vũ Cao Đàm “XĐMT đáng được xem là

một chủ đề quan trọng hàng đầu trong xã hội học mội trường và thực tiễn hoạch định chính sách và quản lý môi trường Cũng chính vì vậy, XĐMT ngày càng trở nên một phạm trù khoa học có ý nghĩa then chốt trong các nghiên cứu lý thuyết của bộ môn khoa học về xã hội học môi trường [18, tr.37]

Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: “Giải quyết XĐMT trong các làng

nghề - nội dung tất yếu của quản lý môi trường”, Vũ Cao Đàm, 2000; “Vai trò của cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội trong việc thực hiện chính sách môi trường tại VN”,

Bạch Tân Sinh; “XĐMT nguyên nhân và giải pháp”, Nguyễn Quang Tuấn, 2000 Bài viết đặc biệt nhấn mạnh “Cơ chế chính sách yếu kém cũng là nguyên nhân làm gia tăng

các XĐMT Trong đó quyền sử dụng các tài sản môi trường không được xác định rõ là một nguyên nhân trọng yếu Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng như sự gia tăng dân số đã làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên dẫn đến gia tăng tính khan hiếm của tài nguyên Kết quả là sự gia tăng khả năng XĐMT, đặc biệt đối với những tài nguyên mà ở đó quyền sử dụng không được xác định rõ”; “Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải quyết XĐMT”, Lê Thanh Bình, 2000 Bài nghiên cứu nhằm tìm

kiếm cơ sở thực tiễn và lý luận cho việc giải quyết XĐMT dựa trên các đề xuất trong chính sách quản lý môi trường tại VN

Trong nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn tại VN”, Nguyễn Thảo, Đại học Colombia

phân tích: Trong thập kỉ trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cùng với quá trình

đô thi hóa không được kiểm soát chặt chẽ đã đưa đến một loạt các vấn đề cho hệ thống quản lý chất thải rắn của VN, quản lý chất thải đang đứng trước những thách thức về môi trường nghiêm trọng Không chỉ là sự tăng lên của lượng chất thải, mà các thành phần chất thải cũng đã có những biến đổi rất khác so với trước đây Hệ thống quản lý hiện tại đã bị quá tải do thiếu năng lực thể chế, nhân lực, nguồn lực tài chính thể hiện ở

tỉ lệ thu gom chất thải còn ở mức thấp, các thiết bị xử lý đã không còn phù hợp Nghiên cứu này phần nào mô tả được cách tiếp cận trong quản lý XĐMT do chất thải rắn nói chung tại VN, làm rõ được vai trò của các bên liên quan trong quản lý chất thải rắn

Trang 6

Nghiên cứu trọng tâm vào việc mô tả hiện trạng nhiều hơn là nỗ lực làm rõ lý do của thất bại trong bài toán quản lý CTR

Ủy ban điều phối giải quyết tranh chấp môi trường (The Environmental dispute coordination commission) là cơ quan hành chính được thành lập 1/7/1972 là bộ phận

mở rộng của văn phòng Thủ tướng (theo quy định tại Điều 3 của Luật Tổ chức chính phủ) từ việc sát nhập Hiệp hội liên kết về đất đai và Hiệp hội đánh giá ô nhiễm môi trường Chức năng của cơ quan này bao gồm: Giải quyết nhanh chóng và kịp thời các tranh chấp môi trường: Cung cấp các dịch vụ hòa giải, dàn xếp, phân xử, điều đình nhằm giải quyết các tranh chấp môi trường, Phối hợp việc sử dụng đất với công nghiệp khai khoáng : cân bằng giữa việc sử dụng đất đai cho công nghiệp khai khoáng, khai thác đã, thu nhặt sỏi với lợi ích công cộng và việc sử dụng đất đai hiệu quả và phù hợp Thực hiện điều 14 Công ước Basel của Liên hiệp Quốc (Basel convention) về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995) các trung tâm khu vực được thành lập phục vụ hoạt động đào tạo và chuyển giao công nghệ Tại Châu Á Thái Bình Dương Indonesia được lựa chọn là địa điểm đặt cơ quan đầu não của Trung tâm cấp vùng theo Nghị quyết III/19 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ III năm 1995 Đến nay các quốc gia ký thỏa thuận khung tham gia Trung tâm cấp vùng công ước Basel gồm: Brunei Darussalam, Cambodia, Lao PDR, Malaysia, Myanmar, Indonesia, Singapore, Philippines, Thailand and Vietnam Trung tâm cấp vùng thực hiện mục tiêu xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, hội thảo, seminar và các dự án hợp tác trong lĩnh vực quản lý về môi trường đối với chất thải độc hại, chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường và tối thiểu hóa chất thải độc hại thông qua hình thức “training the trainer” và thúc đẩy việc phê chuẩn công ước Basel trên toàn thế giới Sự ra đời của các trung tâm này góp phần đưa mục tiêu của công ước Basel sớm được thực hiện, đồng thời góp phần thiết lập một cơ chế tòan cầu trong giải quyết XĐMT do việc vận chuyển rác thải nguy hại nói chung gây ra

Diễn đàn Thiết bị điện và điện tử (The WEEE Forum) là hiệp hội lớn nhất tại Châu

Âu với hệ thống thu gom và tái chế e-waste thông qua nguyên tắc tối ưu về quy định trách nhiệm của người sản xuất Diễn đàn được thành lập vào tháng 4 năm 2002 đúng vào thời điểm Hướng dẫn số 2002/96/EC về thiết bị điện và điện tử đầu tiên được đưa ra thảo luận trước Nghị viện Châu Âu và Hội đồng liên minh Châu Âu Với 40 thành viên,

tổ chức này đã thu gom được 1,5 tấn hệ mét e-waste trong năm 2008 chiếm một nửa số lượng e-waste thu gom được thống kê báo cáo một cách chính thức trên toàn Châu Âu Mục tiêu hoạt động của tổ chức này là tiếp tục hoàn thiện các hoạt động có yếu tố môi trường trong các quy định và khung pháp lý hiện có nhằm giảm thiểu chi phí cho người sản xuất, chia sẻ các kinh nghiệm đạt được cho toàn bộ thành viên trong hệ thống, nâng cao hơn nữa năng lực thu gom và tái chế cho các thành viên Sự ra đời của một hệ thống quốc tế chuyên biệt về e-waste cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay, cũng như việc thúc đẩy những nỗ lực của các bêen trong việc giảm thiểu những sức ép môi trường do ngành công nghiệp điện tử gây ra Các thành viên của diễn đàn về e-waste đã đóng góp tích cực vào quá trình giảm thiểu các XĐMT do e-waste tạo

Trang 7

ra giữa các đương sự: nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng thông qua việc hoàn bị các nguyên tắc định hướng chính sách có liên quan

Nghiên cứu về xung đột môi tường do e-waste được đặc biệt quan tâm trong thế kỉ XXI với sự tiến bộ vượt bậc của các thành tựu về KH&CN Các nghiên cứu gần đây cho thấy phần lớn mối nguy hại do rác thải điện tử gây ra đối với đời sống con người đều được nhận thức ít nhiều ở đại bộ phận xã hội Nghiên cứu cũng cho hay đến nay e-waste không chỉ là một mối đe dọa của tương lai như những ước đoán trước đây của nhiều chuyên gia.2

Nó đã trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, hoạt động xã hội của các tổ chức dân sự

Trong bài báo “E-waste: Các vấn đề môi trường và Phương thức quản lý hiện tại” của nhóm tác giả đến từ Trường ĐH Thrace, Hy Lạp các vấn đề môi trường do e-waste gây ra được xem xét một cách khá toàn diện Từ việc thống nhất cách hiểu về e-waste, tác động gây ô nhiễm môi trường do việc chôn và xử lý e-waste, sự gia tăng e-waste trên toàn cầu cho đến các cách thức quản lý e-waste ở một số quốc gia tiêu biểu được đề cập một cách chi tiết và khúc triết Các kết quả được công bố trong bài báo cho thấy để ứng phó với vấn đề e-waste hiện nay nhóm tác giả tìm kiếm thông qua một số mô hình kiểu mẫu về thúc đẩy vai trò của người sử dụng sản phẩm điện tử, các tổ chức NGO, và

cơ quan quản lý nhà nước3

Phần lớn các nghiên cứu về e-waste được thực hiện độc lập ở các quốc gia với những đặc trưng riêng biệt về lao động, về công nghiệp điện tử, về mức sống của người dân Nghiên cứu của Hiệp hội Viễn thông quốc tế về điện thoại di động và máy tính cá nhân tại Philipine cho thấy từ 1991 đến năm 2007 các sản phẩm này đã tăng từ 34.000 đơn vị lên 52 triệu đơn vị, trung bình cứ 2 trong 3 người dân Philipine sẽ sở hữu 1chiếc điện thoại di động; từ năm 1991 đến năm 2006 số lượng máy tính cá nhân tăng từ 6300 đơn vị lên đến 6.3 triệu đơn vị; từ năm 1995-2005 khối lượng rác thải này đã xấp xỉ 25 triệu đơn vị cho năm loại thiết bị điện tử chính: tivi, điều hòa, máy giặt, tủ lạnh và radio, trong 5 năm tiếp theo sẽ tiếp tục tăng thêm 14 triệu đơn vị Số lượng e-waste tại quốc gia này vẫn đang tăng lên với một tốc độ khó đoán định, do vậy tác động môi trường do

sự tích lũy rác thải này ở Philipines được đánh giá là một vấn đề vô cùng phức tạp của

xã hội hiện đại Trước thực trạng trên, nghiên cứu của Brian Crisma “Thuận lợi và

Thách thức trong quản lý e-waste ở Philipine”4

dựa trên việc phân tích sự khác biệt giữa các nhóm lợi ích liên quan trong xã hội để chỉ ra các tác nhân tích cực và tiêu cực đối

2Electronics waste: a threat in the future: Sharon M Mañalac

3

“E-waste: Environmental Problems and Current Management “G Gaidajis*, K Angelakoglou and D Aktsoglou Department

of Production Engineering and Management, School of Engineering, Democritus University of Thrace, 67100, Xanthi, Greece (Journal of Engineering Science and Technology Review 3 (1) (2010) 193-199)

4

Brian Crisma công tác tại Khoa Kĩ thuật môi trường tại Đại học Philippine Trong nghiên cứu này, các tác nhân ảnh hưởng

đến hoạt động quản lý e-waste được nhìn nhận ở hai chiều cạnh Tác nhân tích cực đối với các biện pháp quản lý e-waste bao gồm: quy định của các nước nhập khẩu, sức ép bên trong và bên ngoài đối với công nghiệp điện tử, sáng kiến e-waste tại địa phương, và các điều kiện thị trường, các điều kiện địa lý, công nghiệp khai khoáng đô thị, mức giá của kim loại, nguồn cung nhân công dư thừa, giá rẻ và nhu cầu về công nghiệp điện tử nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Tác nhân tiêu cực đến các biện pháp quản lý e-waste gồm: thiếu vắng các quy định của pháp luật, sự không đồng thuận đối với các quy định bổ sung của công ước Basel, sự tồn tại các quan ddierm song phương và đa phương giữa các nước có giao dịch thương mại, nhận thức về các vấn đề môi trường còn yếu, thiếu nhận thức đầy đủ trong thi hành pháp luật, chuỗi cung cấp e- waste nội địa không đầy đủ, sự cạnh tranh giữa khu vực chính thức và phi chính thức trong thị trường thiết bị điện

tử

Trang 8

với quản lý e-waste, qua đó đưa ra những gợi ý chính sách nhiều triển vọng cho Philipine

Hơn 20 năm phát triển kinh tế không kiểm soát đã đặt áp lực lớn tới nguồn tài nguyên giới hạn của đất nước Nhật Bản và sức khỏe của người dân ở nhiều vùng bị đe dọa nghiêm trọng Đối phó với tình hình này chính phủ Nhật đặt ra những tiêu chuẩn môi trường rất nghiêm ngặt liên quan đến sự phát thải công nghiệp Chính phủ đã ban hành những biện pháp hợp tác nhiều hơn là đối đầu với công nghiệp, mức độ tuân thủ môi trường ở Nhật nằm trong mức cao nhất thể giới Chính phủ Nhật được đánh giá là một trong những quốc gia tiên phogn trong hoạt động xử lý e-waste Minh chứng rõ ràng nhất là việc ban hành các điều luật quy chuẩn khắt khe về hoạt động này Điều luật Tái chế một số thiết bị gia dụng đặc thù được ban hành ngày 1/4/2001 một là ví dụ về

nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và năng lượng giá trị, cũng như giảm thiểu lượng rác thải nguy hại thông qua hoạt động tái chế5 Ước tính 80% e-waste là thiết bị gia dụng đã được tái chế tại Nhật, rất nhiều các kim loại quý đã được tháo gỡ và đưa vào quy trình tái sử dụng

Nghiên cứu của Clara Lingren đến từ Học viện Môi trường toàn cầu, Đại học Nagoya, Nhật Bản cung cấp một bối cảnh cụ thể về thể chế quản lý e-waste qua nghiên cứu trường hợp máy tính đã qua sử dụng tại Nhật Bản và Thụy Điển Tác giả mô tả một cách chi tiết các điều luật liên quan đến hoạt động tái sử dụng máy tính cũ nói riêng, đồ điện tử nói chung ở cấp độ quốc gia và quốc tế, song song với quá trình chỉ ra thái độ và hành động của người dân với vấn đề này Qua việc phân tích các điều luật trong hoàn cảnh cụ thể về kinh tế - xã hội, sự phát triển của KH&CN, tác giả đi đến nhận định về giải pháp hợp tác giữa người tiêu dùng, nhà sản xuất và các chính trị gia Tuy nhiên giải pháp hợp tác như thế nào vẫn còn là một nội dung còn để mở trong nghiên cứu này Trong các nghiên cứu về giải quyết XĐMT do e-waste gây ra có thể nhắc đến

Nghiên cứu so sánh về hệ thống tái chế e-waste tại Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan

từ tiếp cận trách nhiệm mở rộng của người sản xuất: Ngụ ý cho các nước phát triển

6của nhóm tác giả Sung-Woo Chung và Rie Murakami-Suzuki Nghiên cứu đã chỉ ra lý

do cốt yếu dẫn đến việc các quốc gia này hình thành thành hệ thống luật pháp về tái chế e-waste như là những quốc gia tiên phong của Châu Á, phân tích hệ thống tái chế e-waste của từng quốc gia, và cung cấp những phân tích về mức độ trách nhiệm của nhà sản xuất được quy định Những thành công trong hệ thống tái chế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan được đưa ra không phải để cung cấp những mô hình hiệu quả trong

xử lý e-waste, mà hơn cả là hướng đến những gợi ý chính sách cho các quốc gia Châu Á trong việc kiểm soát và quản lý hiệu quả e-waste trong giai đoạn toàn cầu hóa thông qua xác định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất

Nghiên cứu về e –waste tại VN được bắt đầu quan tâm trong hơn một thập kỉ trở lại đây như một trong những điểm đến tiềm năng của e-waste trên thế giới TS Sunil Herat

đến từ Trường Kĩ thuật, Đại học Griffith, Australia công bố kết quả nghiên cứu về Quản

lý Chất thải nguy hại và e-waste ở các nước phát triển¸ trong đó tác giả có đề cập đến

5 The Law for Recycling of Specified Kinds of Home Appliance was put into effect on April 1, 2001

6 http://www.ide.go.jp/English/Publish/Download/Spot/pdf/30/007.pdf

Trang 9

tốc độ tăng nhanh chóng của e-waste tại VN, cũng như thách thức của quản lý e-waste tại VN nói riêng và các quốc gia ở khu vực Mekong Vấn đề về e-waste tại VN cũng được đề cập đến trong Báo cáo của Dự án về Quản lý xuất nhập khẩu rác thải điện tử và thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng” của Trung tâm phối hợp thực hiện công ước Basel tại Châu Á Thái Bình Dương Nghiên cứu này đưa ra những tiêu chí phân biệt giữa e-waste với các thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng, từ đó đề xuất việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu loại hình rác thải

đặc biệt này Năm 2005 đề tài cấp “Phân loại chất thải rắn ngành công nghiệp điện tử

trên địa bàn Hà Nội, đề xuất giải pháp quản lý và công nghiệp nhằm tận thu, tái sử dụng” của Huỳnh Trung Hải đã đặt thêm một dấu mốc cho thấy sự e-waste đã và đang

trở thành một đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Nghiên cứu này đi đến những nỗ lực về giải pháp công nghệ nhằm giải quyết việc tận thu và tái sử dụng e-waste hơn là tìm ra phương thức xử lý e-waste một cách toàn diện Năm 2009 đề tài “Phát triển công nghệ tái chế chất thải điện tử và thiết bị điện tử” tài trợ bởi Dự án hợp tác với Viện Tài nguyên và Khoáng sản Hàn Quốc (KIGAM) cũng cho thấy cách tiếp cận tương tự trong quản lý e-waste tại VN

Trong bài báo “Vấn đề rác thải điện tử (Ewaste) – XĐMT giữa các nước công

nghiệp và các nước đang phát triển” của Trương Việt Trường đăng tải trên Tạp chí Môi

trường Số 8/2011, Hà Nội nêu bật vấn đề về XĐMT do rác thải điện tử gây ra giữa hai bên đối kháng: các nước phát triển và các nước đang phát triển Qua các phân tích về thực trạng e-waste ngày càng gia tăng và có xu hướng nhập khẩu vào các nước đang phát triển như VN, tác giả nhận diện các tác động về kinh tế, về xã hội, môi trường và sức khỏe do e-waste đưa lại, đồng thời nhấn mạnh giải pháp gắn trách nhiệm xử lý e-waste cho nhà sản xuất như cách thức tối ưu nhằm giải quyêt xung đột Tuy nhiên, bài báo mới chỉ dừng ở mức đề xuất vấn đề XĐMT do rác thải điện tử gây ra tại VN, nêu một vài khuyến nghị về chính sách quản lý xung đột mà chưa xác định được giới hạn trách nhiệm của các bên liên quan trong việc xử lý xung đột

Kết quả tổng hợp các nghiên cứu về XĐMT nói chung, XĐMT do e-waste gây ra nói riêng cho thấy chưa có nghiên cứu nào xác định rõ ràng trách nhiệm của các bên trong xử lý loại hình xung đột này, qua đó nhận diện được rào cản trong liên kết trách nhiệm giữa doanh nghiệp, cộng đồng và nhà nước nhằm đi đến một phương thức quản

lý môi trường hướng đến phát triển bền vững Do vậy nghiên cứu này sẽ tập trung vào

việc làm sáng tỏ: Nhận diện rào cản thực hiê ̣n cơ chế liên kết trác h nhiê ̣m giữa nhà

nước, doanh nghiê ̣p và cộng đồng trong hoạt động quản lý xung đột môi trường do tác động của rác thải điện tử

3 Mục tiêu nghiên cứu

Chỉ ra được yếu tố, tác nhân ngăn cản sự liên kết trách nhiệm của các thiết chế nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại

VN

- Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

o Chỉ ra được các hình thức tồn tại của XĐMT do e-waste gây ra tại VN: XĐMT do e-waste được nhìn nhận dựa trên việc nhận diện kiến tạo xã hội

Trang 10

của xung đột, trong đó, nội dung quan trọng nhất là nhận diện những tác động của XĐMT dẫn đến những biến đổi về chất lượng sống, lối sống, cách tổ chức hoạt động xã hội và bản thân cấu trúc xã hội Từ đó chỉ ra các dạng

XĐMT do e-waste

o Nhận diện được vai trò, trách nhiệm xử lý XĐMT do e-waste gây ra của các

đương sự

o Thực trạng cơ chế liên kết trách nhiệm trong xử lý XĐMT do e-waste tại VN

o Nhận diện được các rào cản cho cơ chế liên kết trách nhiệm trong xử lý

XĐMT do e-waste tại VN

4 Phạm vi nghiên cứu và mẫu khảo sát

- Phạm vi về thời gian: Chuỗi sự kiện được đề cập trong nghiên cứu nằm trong khoảng thời gian từ năm 2000 – 2011

- Phạm vi không gian: Các sự kiện về XĐMT do e-waste gây ra tại VN

- Mẫu khảo sát: Các số liệu và biểu đồ được phân tích và tổng hợp từ số liệu cung cấp bởi Tổng cục Thống kê VN, các nghiên cứu về thực trạng e-waste tại các nước Châu

Á, các báo cáo của các tổ chức quốc tế về quản lý và tái chế chất thải điện tử tại VN và trên thế giới Mẫu khảo sát gồm các cơ quan quản lý môi trường tại VN, các doanh nghiệp sản xuất, thu gom và tái chế e-waste và những người dân chịu tác động của việc xử lý e-waste không đúng cách tại VN

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ các dạng XĐMT do tác động của e-waste, đây là một bộ phận của rác thải công nghệ nói chung Nghiên cứu cũng giới hạn phạm vi về rào cản liên kết trách nhiệm trong hoạt động xử lý XĐMT bởi tác động của e-waste

5 Câu hỏi nghiên cứu

Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN là gì?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Vấn đề cốt lõi của sự bất hợp tác trong xử lý XĐMT do e-waste gây ra tại VN giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cốt yếu được nhìn nhận trong nghiên cứu này

là các lệch chuẩn đạo đức bền vững của các bên liên quan trong quá trình giải quyết xung đột

Sự bất hợp tác trong xử lý xung đột hay rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong xử lý XĐMT do e-waste tại VN gồm:

- Hạn chế về nguồn lực xã hội trong nỗ lực giải quyết XĐMT do e-waste

- Xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội trong giải quyết vấn đề rác thải và điện tử

- Các dạng lệch chuẩn đạo đức bền vững

- Sự thiếu thống nhất, đồng bộ trong các chế tài pháp luật về quản lý chất thải điện tử

- Hạn chế về năng lực quản lý và thực thi pháp luật về e-waste

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành thu thập và phân tích các tài liệu, số liệu trong lĩnh vực e-waste tại VN và trên thế giới Các bảng số liệu thứ cấp được tổng

Trang 11

hợp từ số liệu sơ cấp cung cấp bởi Tổng cục thống kê VN, và các nghiên cứu điều tra về sản lượng sản phẩm điện tử tại VN, công nghiệp phụ trợ thúc đẩy sự phát triển của ngành điện tử tại VN

- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát động thái của một số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử, các cơ sở thu gom phế liệu điện tử, các cửa hàng thu gom đồ điện tử, các bãi rác xử lý có chôn lấp CTR tại VN trước vấn nạn e-waste, quan sát cách thức sử dụng sản phẩm điện tử của người dân VN

- Phương pháp phỏng vấn sâu đối với đại diện cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, đại diện doanh nghiệp và tổ chức dân sự trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học về khoa học, công nghệ và môi trường

18 chuyên gia trong lĩnh vực liên ngành về xã hội học Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 25 cán bộ quản lý trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường, doanh nghiệp và đại diện tổ chức dân sự trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

- Phương pháp tiếp cận của đề tài: Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận logic và hệ thống trong quá trình thu thập luận cứ và chứng minh giả thuyết nghiên cứu về vấn

đề liên kết trách nhiệm trong xử lý XĐMT do e-waste Cách tiếp cận này đảm bảo việc xem xét các sự kiện nghiên cứu trong hệ thống các mối liên hệ tương tác thực tiễn với vai trò của các bên liên quan, trong hệ thống luật pháp về quản lý môi trường nói chung, quản lý chất thải điện và điện

8 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về XĐMT, e-waste và các thiết chế nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng

Trong phần cơ sở lý luận của đề tài, tác giả đã tập trung làm rõ nội hàm của các khái niệm và lý thuyết khoa học của đề tài dựa trên việc phân tích các quan điểm, định nghĩa của nhiều học giả, đồng thời chỉ ra cách tiếp cận phù hợp cho đề tài này gồm:

- Thứ nhất, đề tài đề cập đến các khái niệm tương đối phổ biến trong cộng đồng nghiên cứu về môi trường như khái niệm rào cản, khái niệm XĐMT, khái niệm e-waste, vai trò của nhà nước, doanh nghiệp, xã hội trong xử lý XĐMT

- Thứ hai, đề tài đi tìm hiểu một khái niệm khá mới mẻ trong giới học thuật, xuất hiện vào giai đoạn thịnh trị của các nghiên cứu phát triển bền vững trong thế kỉ XXI: đạo đức bền vững Khái niệm này sẽ đặt nền tảng cho các phát hiện về lệch chuẩn đạo đức trong xử lý XĐMT do tác động của e-waste của các bên liên quan Các hành vi lệch chuẩn, tư duy lệch chuẩn, thái độ lệch chuẩn, tầm nhìn lệch chuẩn do cố ý hay

vô ý của nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng sẽ được soi chiếu từ góc độ của nội hàm khái niệm đạo đức bền vững

- Thứ ba, hệ thống lý thuyết dùng để phân tích vai trò trách nhiệm của các bên liên quan trong đề tài được xem xét từ hệ thống lý thuyết của Elinor Otrom về các nguyên tắc quản lý tài sản chung của xã hội, mà ở đây sự thiếu vắng những nguyên tắc này trong quản lý e-waste tại Việt Nam phản ánh qua hoạt động quản lý của nhà nước, trách nhiệm của doanh nghiệp và cộng đồng dẫn đến các XĐMT do tác động của e-waste có xu hướng gia tăng Nếu các nguyên tắc của Elinor đặc biệt nhấn

Ngày đăng: 28/11/2014, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w