Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kếthợp hài hoà lợi ích giữa các bên: • Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao
Trang 1Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
và quỹ Bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Trang 2Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm xã hội
và quỹ Bảo hiểm xã hội
Trang 3MỤC LỤC
1 Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động
2 Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo hiểm xã hội
3 Tính chất của Bảo hiểm xã hội
4 Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
5 Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội
6 Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
7 Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
8 Tạo nguồn
9 Sử dụng nguồn
10 Cơ quan tổ chức thực hiện
Tham gia đóng góp
Trang 4Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao
động
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động.
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế nhưng chínhquá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc, mặt khác lại là cănnguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong quá trình lao động và sảnxuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi:
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, ở, mặc và đi lại để thoả mãnnhững nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để sản xuất ra những sản phẩm cầnthiết Khi sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càngđầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy việc thoả mãn nhữngnhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng của họ Thếnhưng, trong thực tế không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thunhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khănbất lợi, ít nhiều phát sinh ngẫu nhiên làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặccác điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn lao động, mấtviệc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suy giảm khi rơivào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất
đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới như: cần đượckhám chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôidưỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài ngườiphải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ, đùm bọclẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay dựa vào sự cứu trợ của nhà nước song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Lúcđầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảođảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầuthiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn Trong thực tế, nhiều khi các trường hợptrên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào Nhưng cũng có khi sảy
ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn
Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiệncam kết Cuộc đấu tranh ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh
tế xã hội Do vậy Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự canthiệp này một mặt làm tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ vàgiới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên
cơ sở xác suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
Trang 5hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ xung
từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họgặp phải những biến cố bất lợi
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động đượcdàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được bảo đảm ổn định.Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường,tránh được những xáo trộn không cần thiết
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kếthợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
• Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi
họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất
và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao động
và lợi ích của nhà nước
• Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránhđược những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không mayngười lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thôngqua bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao độngđược giải quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết
• Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm antoàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn gópphần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cảcác bên tham gia
Trang 6Khái niệm, đối tượng và chức năng của Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội trong đời sống người lao động
Xã hội loài người phát triển thông qua quá trình lao động và sản xuất, thế nhưng chínhquá trình ấy một mặt đã đưa con người tới bước phát triển vượt bậc, mặt khác lại là cănnguyên của những nỗi lo thường trực của con người vì trong quá trình lao động và sảnxuất con người luôn đứng trước nguy cơ gặp phải rủi ro bất ngờ sảy ra ngoài mong đợi:
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, ở, mặc và đi lại để thoả mãnnhững nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để sản xuất ra những sản phẩm cầnthiết Khi sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càngđầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy việc thoả mãn nhữngnhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng của họ Thếnhưng, trong thực tế không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thunhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khănbất lợi, ít nhiều phát sinh ngẫu nhiên làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặccác điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau hay bị tai nạn lao động, mấtviệc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suy giảm khi rơivào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất
đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện một số nhu cầu mới như: cần đượckhám chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôidưỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài ngườiphải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: San sẻ, đùm bọclẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; Đi vay, đi xin hay dựa vào sự cứu trợ của nhà nước song đó là những cách làm thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Lúcđầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảođảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầuthiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn Trong thực tế, nhiều khi các trường hợptrên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào Nhưng cũng có khi sảy
ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn
Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiệncam kết Cuộc đấu tranh ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh
tế xã hội Do vậy Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự canthiệp này một mặt làm tăng được vai trò của nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ vàgiới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên
cơ sở xác suất rủi ro sảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
Trang 7hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ xung
từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họgặp phải những biến cố bất lợi
Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động đượcdàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được bảo đảm ổn định.Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường,tránh được những xáo trộn không cần thiết
Bảo hiểm xã hội ra đời đã giải quyết được mâu thuẫn trong mối quan hệ chủ- thợ và kếthợp hài hoà lợi ích giữa các bên:
• Đối với người lao động: Góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động khi
họ kông may bị mất hoặc giảm thu nhập, tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất
và công tác, gắn bó lợi ích của mình và gắn bó lợi ích của chủ sử dụng lao động
và lợi ích của nhà nước
• Đối với người sử dụng lao động: Giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh tránhđược những thiệt hại lớn khi phải chi ra những khoản tiền lớn khi không mayngười lao động mà mình thuê mướn gặp rủi ro trong lao động, đặc biệt thôngqua bảo hiểm xã hội lợi ích của người sử dụng lao động với người lao độngđược giải quyết hài hoà tránh những căng thẳng không cần thiết
• Đối với xã hội: Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách bảo đảm antoàn cho xã hội, đặc biệt quỹ Bảo hiểm xã hội là một nguồn đầu tư rất lớn gópphần phát triển và tăng trưởng kinh tế, thông qua đó gắn bó lợi ích của tất cảcác bên tham gia
Trang 8Tính chất của Bảo hiểm xã hội
Tính chất của Bảo hiểm xã hội
• Tính tất yếu, khách quan trong đời sống xã hội:
Chúng ta biết rằng bảo hiểm xã hội ra đời do xuất hiện những mâu thuẫn trong hệ thợ Người lao động trong quá trình lao động khó có thể tránh được những biến cố, rủi
chủ-ro, có những trường hợp rủi ro xảy ra như là một tất yếu Khi đó người sử dụng lao độngcũng rơi vào tình trạng khó khăn bởi sự gián đoạn trong sản xuất kinh doanh Khi nềnsản xuất càng phát triển thì những rủi ro trong lao động càng nhiều và trở lên phức tạpdẫn đến mối quan hệ chủ-thợ ngày càng căng thẳng và nhà nước phải đứng ra can thiệpthông qua bảo hiểm xã hội Do đó, Bảo hiểm xã hội hoàn toàn mang tính khách quantrong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước
• Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian: Xuấtphát từ những rủi ro mang tính ngẫu nhiên không lường trước được, khó có thểxác định được khi nào thì người lao động gặp rủi ro trong lao động và cũngkhông phải tất cả những người lao động đều gặp rủi ro vào cùng một thời điểm.Tính chất này thể hiện bản chất của bảo hiểm là lấy số đông bù số ít
• Bảo hiểm xã hội vừa có tính kinh tế, vừa có tính dịch vụ:
Xét dưới góc độ kinh tế, cả người lao động và người sử dụng lao động đều được lợi khikhông phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động khi họ bịmất hoặc gảm thu nhập Với nhà nước, bảo hiểm xã hội góp phần làm giảm gánh nặngcho ngân sách, đồng thời quỹ bảo hiểm xã hội còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh
tế quốc dân Ngoài ra bảo hiểm xã hội còn mang tính dịch vụ trong lĩnh vực tài chínhbằng các hình thức phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảohiểm xã hội
• Tính nhân đạo nhân văn cao cả:
Thể hiện ở sự tương trợ, san xẻ lẫn nhau những rủi ro không mong đợi Một người cóthể đóng góp rất nhiều vào quỹ bảo hiểm xã hội mà không được hưởng trợ cấp hoặchưởng rất ít mà thôi, nhưng không hề gì, bởi số tiền đó sẽ được chia sẻ cho những ngườikhác
Chẳng hạn: Khi một người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưutrí nhưng không may họ bị chết và chỉ được hưởng một khoản trợ cấp tử tuất ít ỏi so vớicông lao đóng góp của họ Hay một minh chứng cụ thể hơn đó là việc quy định một tỷ
Trang 9lệ đóng góp như nhau song những người đàn ông chẳng hy vọng gì ở khoản trợ cấp thaisản.
Trang 10Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
Mục đích của bảo hiểm xã hội thường gắn liền với việc “đền bù” hậu quả của những sựkiện khác nhau xảy ra trong và ngoài quá trình lao động của những người lao động Tậphợp những cố gắng tổ chức “ đền bù” cho những sự kiện đó là cơ sở chủ yếu của cácchính sách bảo hiểm xã hội Vì thế, năm 1952 Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã racông ước 102 quy định tối thiểu về bảo hiểm xã hội và đã được 158 nước thành viên phêchuẩn Theo công ước này, hệ thống bảo hiểm xã hội gồm các nhánh sau:
9 Trợ cấp mất người nuôi dưỡng
Ở từng nước, tuỳ theo điều kiện có thể thực hiện có thể thực hiện một số chế độ cơ bảnhoặc mở rộng Tuy nhiên, ILO quy định rằng các thành viên phê chuẩn công ước phảithực hiện ít nhất 3 trong 9 chế độ nêu trên, trong đó phải có ít nhất một trong các chế độ
3, 4, 5, 8 hoặc 9 Các chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay ở Việt nam bao gồm:
Trang 11Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã
hội
Những quan điểm cơ bản về bảo hiểm xã hội
Mọi người lao động đứng trước nguy cơ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm đều có quyền tham gia bảo hiểm xã hội
Bởi vì bảo hiểm xã hội ra đời là để phục vụ quyền lợi của người lao động và mọi ngườilao động ở mọi ngành nghề thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau đều đứng trướcnguy cơ mất an toàn về thu nhập và đều có nhu cầu đước tham gia bảo hiểm xã hội
Hầu hết các nước khi mới thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, do các điều kiện kinh tế
xã hội mà đối tượng thực hiện bảo hiểm xã hội chỉ là công nhân viên chức nhà nước vànhững người làm công hưởng lương Việt nam cũng không vượt ra khỏi thực tế này mặc
dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những người lao động Tuy nhiênviệc tham gia bảo hiểm xã hội đã và sẽ được mở rộng đến tất cả người lao động bằng cảhình thức tự nguyện và bắt buộc
Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm xã hội đối với người lao động, người lao động phải có trách nhiệm tự bảo hiểm xã hội cho mình
Bảo hiểm xã hội đem lại lợi ích cho cả người lao động, người sử dụng lao động và cảnhà nước: Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội và
có đủ phương tiện, công cụ thực hiện chức năng đó, tuy nhiên không phải lúc nào chứcnăng đó cũng được phát huy tác dụng như mong muốn mà đôi khi đem lại những kếtquả bất lợi làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động Khi đó dù không có bảo hiểm
xã hội thì nhà nước vẫn phải chi ngân sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạngkhác Đối với người sử dụng lao động cũng tương tự nhưng trên phạm vi xí nghiệp, đơn
vị tổ chức sản xuất kinh doanh Chỉ khi người sử dụng lao động chăm lo đến đời sốngngười lao động và có những ưu đãi xứng đáng thì người lao động mới yên tâm, tích cựclao động góp phần tăng năng suất lao động Còn đối với người lao động, những rủi rophát sinh suy cho cùng đều có một phần lỗi của người lao động (do ý thức, tay nghề )
và vì thế họ cũng phải gánh vác một phần trách nhiệm tự bảo hiểm xã hội cho mình
Trang 12Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội độc lập, tập trung
Nhờ sự đóng góp của các bên tham gia mà phương thức riêng có của bảo hiểm xã hội
là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu nhập theo cả chiềudọc và chiều ngang mới được thực hiện Hơn nữa, nó còn tạo ra mối liên hệ ràng buộcchặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên tham gia, góp phần tránh nhữnghiện tượng tiêu cực như lợi dụng chế độ bảo hiểm xã hội
Phải lấy số đông bù số ít
Bảo hiểm nói chung hoạt động trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số lớn, tức là lấy
sự đóng góp của số đông người tham gia san xẻ cho số ít người không may gặp rủi ro
Trong số đông người tham gia đóng góp bảo hiểm xã hội, chỉ những người lao động mới
là đối tượng hưởng trợ cấp và trong số những người lao động lại chỉ có những người bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay tuổi già có đủ các điều kiện cần thiết mới đượchưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội
Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xã hội
Việc xác định lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội thì đã được làm rõ và quyềnlợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đối giữa trách nhiệm
và quyền lợi của mỗi bên tham gia, nghĩa là xác định mức đóng góp của mỗi bên thamgia phù hợp với lợi ích mà họ nhận được từ việc tham gia đó Việc thực hiện bảo hiểm
xã hội cho người lao động sẽ không được thực hiện nếu như gánh nặng thuộc về bất cứbên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ đáng được hưởng
Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm,
nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu
Trong điều kiện bình thường, người lao động làm việc và nhận được mức tiền công thoảđáng Khi gặp các biến cố rủi ro họ được hưởng trợ cấp và nếu như mức trợ cấp này lớnhơn hoặc bằng mức tiền công của họ thì không lý gì mà họ phải cố gắng làm việc vàtích cực làm việc Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của bảo hiểm xã hội thìmức trợ cấp bảo hiểm xã hội thấp nhất cũng phải đủ để trang trải các chi phí cần thiếtcho người lao động trong cuộc sống hàng ngày
Trang 13Chính sách bảo hiểm xã hội là bộ phận cấu thành và là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã hội đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước
Ở nước ta, bảo hiểm xã hội nằm trong hệ thống các chính sách xã hội của Đảng và nhànước Thực chất đây là một trong những chính sách nhằm đáp ứng một trong nhữngquyền và nhu cầu tối thiểu của con người: Nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn laođộng, an toàn xã hội chính sách bảo hiểm xã hội còn thể hiện trình độ xã hội hoá củamỗi quốc gia ( trình độ văn minh, tiềm lực kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý xã hội )
và, trong một chừng mực nào đó, nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội
Hơn nữa, nhà nước có chức năng quản lý vĩ mô mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội do
đó bảo hiểm xã hội phải được đặt dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước
Bảo hiểm xã hội phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể
Sự phát triển của bảo hiểm xã hội còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: Các điều kiện về kinh
tế xã hội, trình độ quản lý của nhà nước hay sự hoàn chỉnh của nền pháp chế mỗi quốcgia Việc thực hiện toàn bộ 9 chế độ trong công ước 102 của ILO là mong muốn và mụctiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, song không phải quốc gia nào cũng thực hiện được do
sự hạn chế về nhiều mặt Khi xã hội đã đạt tới một bước phát triển mới làm nảy sinhnhững vấn đề mà hệ thống bảo hiểm xã hội hiện thời không còn phù hợp thì yêu cầu đặt
ra là sự đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội ( Cơ cấu các bộ phận của hệ thống, số lượng
và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức đóng phí ) cho phù hợp với sự phát triển chung củatoàn xã hội
Trang 14Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
Khái niệm, đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước
Điều kiện tiên quyết để một hệ thống BHXH hoạt động được là phải hình thành đượcnguồn quỹ tiền tệ tập trung để rồi nguồn quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho cácchế độ BHXH
Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của một quỹ, ngoài ra
do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưng riêng có sau:
• Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính
Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ BHXH Chứcnăng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động và để thựchiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn
về tài chính Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng số tiền hình thành nên quỹ phảibằng tổng số tiền chi ra từ quỹ Tuy nhiên, không phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là đượcdùng để chi trả ngay ( nếu vậy đã không tồn tại cái gọi là quỹ BHXH ) mà phải sau mộtkhoảng thời gian nhất định, đôi khi tương đối dài ( như đối với chế độ hưu trí ) số tiền ấymới được chi ra, cùng thời gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị dolạm phát, điều này đặt ra yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng
mà còn phải bảo toàn về mặt giá trị Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXHnước ta quy định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị
và tăng trưởng theo quy định của chính phủ ”
• Tính tích luỹ
Quỹ BHXH là “ của để dành ” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già và đó
là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động Trong quỹ BHXHluôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm hiện tại để chi trả trongtương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết để được hưởng trợ cấp (chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH ) Số lượng tiền trong quỹ cóthể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên tham gia và bởi thực hiện cácbiện pháp tăng trưởng quỹ
Trang 15• Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi trả trợ cấpcho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay giảm thhu nhập
Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp.Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụthuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như mức độ đóng góp và thời gian thamgia BHXH
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có đóng- có hưởng,đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là nhữngngười có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn đưọc hưởng một khoản trợ cấp như nhau.Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, có ngườiđược hưởng ít lần ( với chế độ ốm đau), thậm trí không được hưởng (chế độ thai sản)
Trang 16Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
Phân loại quỹ bảo hiểm xã hội
Nhiệm vụ của các nhà làm công tác BHXH là phải thành lập nên quỹ BHXH theo cáchthức phù hợp với trình độ tổ chức và thực hiện Thế nhưng, đó lại là một vấn đề hết sứckhó khăn và đôi khi không thống nhất quan điểm Bởi vì theo nhiều cách tiếp cận khácnhau có các loại quỹ bảo hiểm xã hội khác nhau
Theo các trường hợp được BHXH
Có thể thành lập ra các quỹ theo từng chế độ và mỗi quỹ sẽ dùng để chi trả cho từng chế
Theo đối tượng quản lý, có:
• Quỹ BHXH cho công chức nhà nước
• Quỹ BHXH lực lượng vũ trang
• Quỹ BHXH cho nông đân
•
Ở mỗi nước, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà có thể thành lập quỹ bảo hiểm xã hội phùhợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ quản lý nhà nước Thông thường, khi mớithực hiện BHXH các nước thành lập một quỹ chung nhất cho mọi người lao động do:Trình độ tổ chức và quản lý còn hạn chế, đối tượng BHXH còn hạn hẹp và các chế độbảo hiểm xã hội còn ít ( một vài chế độ ) Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức