1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên

159 567 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ---*--- NGUYỄN THỊ NGỌC LAN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐIỀU KHIỂN SỰ RA HOA ĐỒNG LOẠT CỦA CÁC GIỐNG LAN HOÀNG THẢO NHẬP NỘI DENDROBIUM

Trang 1

1

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-* -

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐIỀU KHIỂN SỰ RA HOA ĐỒNG LOẠT CỦA CÁC

GIỐNG LAN HOÀNG THẢO NHẬP NỘI

(DENDROBIUM) TẠI VĂN GIANG, HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-* -

Bìa phụ

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT

ĐIỀU KHIỂN SỰ RA HOA ĐỒNG LOẠT

CỦA CÁC GIỐNG LAN HOÀNG THẢO

NHẬP NỘI (DENDROBIUM) TẠI

VĂN GIANG, HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

Người hướng dẫn chính: TS Phạm Thị Liên Người hướng dẫn phụ: GS.TSKH Trần Duy Quý

Trang 3

Luận văn được thực hiện tại Trạm Thực nghiệm Văn Giang - Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp Công nghệ Cao, Viện Di truyền Nông nghiệp Tại đây, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo và các cán bộ trạm, trung tâm, viện Di truyền trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban Đào tạo sau Đại học, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về kiến thức và chuyên môn trong suốt hai năm học tập và làm luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, người thân và toàn thể bạn bè đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chân thành

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Thị Liên, GS.TSKH Trần Duy Quý

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng công bố ở bất cứ công trình khoa học nào

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này

đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Lan

Trang 5

MỤC LỤC

Bìa phụ i

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Giới thiệu chung về cây hoa lan 5

1.1.1 Nguồn gốc lịch sử của cây hoa lan 5

1.1.2 Vị trí phân bố của hoa lan 6

1.1.3 Phân loại cây hoa lan 7

1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới 8

1.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan ở Việt Nam 14

1.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa lan ở Việt Nam 14

1.3.2 Tình hình sản xuất hoa lan ở Việt Nam 20

1.4 Một vài nét về chi Lan Hoàng Thảo 23

1.4.1 Nguồn gốc và phân loại của chi Lan Hoàng Thảo 23

Trang 6

1.4.2 Đặc điểm thực vật học của chi Lan Hoàng Thảo 25

1.4.3 Yêu cầu ngoại cảnh của chi Lan Hoàng Thảo 28

1.4.3.1 Giá thể 28

1.4.3.2 Nước tưới 30

1.4.3.3 Nhiệt độ 30

1.4.3.4 Ẩm độ 32

1.4.3.5 Ánh sáng 33

1.4.3.6 Sự thông gió 34

1.4.3.7 Dinh dưỡng 34

CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Vật liệu nghiên cứu 37

2.1.1 Giống nghiên cứu 37

2.1.2 Giá thể sử dụng trong nghiên cứu 39

2.1.3 Các loại phân bón sử dụng 39

2.1.4 Các dụng cụ chính sử dụng trong nghiên cứu 40

2.2 Nội dung nghiên cứu 40

SƠ ĐỒ MINH HỌA NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 41

2.3 Phương pháp nghiên cứu 41

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 41

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cho từng nội dung 42

2.3.3 Phương pháp áp dụng chung cho tất cả các thí nghiệm 44

2.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 44

2.3.5 Điều kiện thời tiết trong quá trình thí nghiệm 45

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 47

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

Trang 7

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc ngừng tưới nước tới khả năng ra hoa

đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo 48

3.1.1 Ảnh hưởng của việc ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo 48

3.1.2 Ảnh hưởng của việc ngừng tưới nước tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 54

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới khả năng ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo 61

3.2.1 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới khả năng ra hoa tỷ lệ ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 61

3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới năng suất và chất lượng của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 67

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới khả năng ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo 73

3.3.1 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới khả năng ra hoa tỷ lệ ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 73

3.3.2 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới năng suất và chất lượng của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 78

3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới khả năng ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo 83

3.4.1 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng bổ sung tới khả năng ra hoa tỷ lệ ra hoa đồng loạt của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 84

3.4.2 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 88

QUY TRÌNH HƯỚNG DẪN 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

1 Kết luận 97

Trang 8

2 Kiến nghị 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 106

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Giá trị xuất khẩu cây Phong Lan giống tại Thái Lan (năm 2005 -

2009) 12

Bảng 1.2 Kim ngạch xuất khẩu hoa của một số nước năm 2007 13

Bảng 1.3 Một số loại giá thể thường dùng cho cây lan 29

Bảng 2.1 Đặc điểm chính của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu 38

Bảng 2.2 Ẩm độ, nhiệt độ không khí và cường độ ánh sáng tại Văn Giang (tháng 6/2010 - 3/2011) 45

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 49

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 56

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới kích cỡ hoa và độ bền tự nhiên của 3 giống Lan Hoàng Thảo 58

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ ra hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 62

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 68

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới kích cỡ cánh và độ bền hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 70

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới tỷ lệ ra hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 74

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 78

Trang 11

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới kích cỡ và độ bền hoa tự nhiên của 3 giống Lan Hoàng Thảo 81

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới tỷ lệ ra hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 85

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 90

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới kích cỡ và độ bền hoa tự nhiên của 3 giống Lan Hoàng Thảo 92

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Giống Lan Hoàng Thảo HT1 37

Hình 2.2 Giống Lan Hoàng Thảo HT2 37

Hình 2.3 Giống Lan Hoàng Thảo HT3 37

Hình 2.4 Cây ở giai đoạn 18 tháng tuổi 37

Hình 2.5 Than củi 39

Hình 2.6 Xơ dừa 39

Hình 2.7 Phân bón Growmore với các tỷ lệ N: P: K khác nhau 40

Hình 2.8 Phân bón nhả chậm tỷ lệ 1 : 1 : 1 40

Hình 2.9 Vitamin B1 và các amino acid 40

Hình 2.10 Máy đo cường độ ánh sáng 40

Hình 2.11 Máy đo nhiệt độ và ẩm độ 40

Hình 2.12 Nhiệt kế đo nhiệt độ 40

Hình 2.13 Bóng compax 40

Hình 2.14 Bình tưới có định mức 40

Biểu đồ 2.1 Diễn biến ẩm độ và nhiệt độ trung bình của các tháng trong thời gian tiến hành thí nghiệm 46

Biểu đồ 2.2 Diễn biến cường độ ánh sáng trung bình của các tháng trong thời gian tiến hành thí nghiệm 46

Đồ thị 3.1 Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Hè Thu 51

Đồ thị 3.2 Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Đông Xuân 53

Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 55

Trang 13

Hình 3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của việc ngừng tưới nước 60

Đồ thị 3.3 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Hè Thu 64

Đồ thị 3.4 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Đông Xuân 66

Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 69

Hình 3.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao 72

Đồ thị 3.5 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Hè Thu 73

Đồ thị 3.6 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Đông Xuân 76

Hình 3.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao 77

Biểu đồ 3.3 Ảnh hưởng của phân bón có lượng kali cao tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo 79

Đồ thị 3.7 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng bổ sung tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Hè Thu 84

Đồ thị 3.8 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng bổ sung tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo trong vụ Đông Xuân 87

Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng tới năng suất và chất lượng 3 giống Lan Hoàng Thảo 89

Hình 3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của cường độ ánh sáng 91

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thiên nhiên đã ban tặng cho loài người một bức tranh vĩnh cửu mà trong đó vẻ đẹp của các loài hoa là nền tảng và niềm cảm hứng không một bút pháp nào có thể diễn tả hết được Hoa luôn là nguồn cảm xúc, là món ăn tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Mỗi loài hoa ẩn chứa một vẻ quyến rũ riêng

mà qua đó con người có thể gửi gắm tâm hồn mình Hoa là một sản phẩm đặc biệt vừa mang giá trị tinh thần, vừa mang giá trị kinh tế Chính vì vậy, diện tích trồng hoa trên thế giới trong những năm gần đây đã tăng nhanh rõ rệt, năng suất và chất lượng ngày càng được nâng cao Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hoa hàng năm trên thế giới tăng trung bình khoảng 10% Năm

2007, diện tích trồng hoa trên toàn thế giới khoảng 628.972 hecta, kim ngạch xuất khẩu hoa khoảng 17 tỷ đô la, trong đó, hoa cắt cành chiếm khoảng 49,1% (8,31 tỷ đô la), dự tính sẽ tăng đến 25 tỷ đô la vào năm 2011 Một số nước như Hà Lan, Mỹ kinh doanh hoa được coi là một ngành quan trọng góp

phần vào nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia [82]

Trong thế giới các loài hoa, hoa Lan (Orchidaceae) là một trong những

đỉnh cao của sự tiến hoá các loài cây có hoa, là loài hoa được ưa chuộng hơn bởi vẻ đẹp không những của hoa mà còn của cả lá và rễ Hoa Lan được nhiều người yêu thích bởi hoa có cấu trúc rất diệu kỳ và đa dạng, nhất là vẻ đẹp của cánh môi đã làm nhiều nhà điêu khắc phải thán phục Người ta còn mệnh danh Lan là loài “kỳ hoa dị thảo” nghĩa là loài hoa có cấu hình lạ, màu sắc đẹp và độ bền cao Có thể nói, Lan đã được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả hương lẫn sắc Vì có giá trị tinh thần, thẩm mỹ cho nên hoa Lan có ý nghĩa lớn trong giao lưu và trao đổi thương mại trên toàn thế giới Ngành trồng Lan đã phát triển một cách mạnh mẽ và đã mang

Trang 15

lại hiệu quả kinh tế lớn tại một số quốc gia Thái Lan là nước dẫn đầu thế giới

về sản xuất và xuất khẩu hoa Lan Hàng năm, Thái Lan sản xuất tới 31,6 triệu

cây con trong đó Dendrobium chiếm 80%, Mokara và Oncidium chiếm 5%

trong số các giống hoa Lan cắt cành Trong năm 2009, lợi nhuận từ việc xuất khẩu hoa Lan của nước này đã đạt tới 104 triệu đô [64]

Việt Nam là một nước á nhiệt đới, có điều kiện tự nhiên phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển các loài hoa nói chung và hoa Lan nói riêng Không kể các loài Lan hoang dại chưa được biết đến thì chúng ta có hàng trăm loài Lan

đã được thuần hoá và trồng rộng rãi trên khắp đất nước từ Bắc vào Nam Hiện nay, Việt Nam đang sở hữu một nguồn tài nguyên hoa Lan rất đa dạng và

phong phú, từ các loài hoa Lan nhiệt đới như Dendrobrium, Maxillaria,

Vanda được trồng ở các vùng đồng bằng, đến các loại hoa được trồng trên

các cao nguyên như ở Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Sa Pa (tỉnh Lào Cai) như

Cymbidium (Lan Kiếm), Cattleya, Epidendrum (bulbous), Sophronitis, Laelia, Miltonia (Pansy orchid), Paphiopedilum (Lan Hài), Brassia, Bulbophyllium (Lan Lọng)

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2010, Việt Nam có trên 8.000 ha trồng hoa, lượng cung ứng ra thị trường khoảng 4,5 tỷ cành (85% là hoa hồng, cúc và lan), trong đó xuất khẩu 1 tỷ cành, đạt kim ngạch 60 triệu đô la [79] Sản xuất hoa tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt Tuy nhiên, thị trường trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng nên hàng năm vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn hoa Lan

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu hoa cây cảnh của cả nước trong tháng 06/07 đạt gần 65 nghìn đô la; tăng 2,5 lần so với tháng 05/07 Trong đó, nhập khẩu hoa Lan cắt cành đạt 18,9 nghìn đô la Đáng chú ý, nếu như thời gian trước 100% lượng Lan cắt cành đều được

Trang 16

nhập khẩu từ thị trường Thái Lan thì trong tháng 06/07 có thêm 6.000 cành Lan nhập từ thị trường Nhật Bản [87]

Trong số các loại hoa Lan được thương mại trên thị trường nội địa, Lan

Hoàng Thảo (Dendrobium) luôn chiếm một tỷ trọng lớn vì Lan Hoàng Thảo

hấp dẫn người tiêu dùng bởi màu sắc, độ bền và giá cả hợp lý Tuy nhiên, trong điều kiện miền Bắc nói chung và đặc biệt là trong điều kiện mùa đông, Lan Hoàng Thảo thường ra hoa rải rác, không tập trung Chính vì vậy, để phát triển loại hoa này, ngoài việc sưu tập, nhập nội và nhân nhanh thì việc nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất nhằm điều khiển giống Lan này ra hoa đồng loạt, thuận lợi cho việc thu hoạch phục vụ thị trường vào những dịp lễ, tết là

thực sự cần thiết Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, đề tài: "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống Lan Hoàng Thảo nhập nội (Dendrobium) tại Văn Giang, Hưng Yên" đã

được thực hiện, nhằm góp phần phát triển ngành trồng lan nói chung và Lan Hoàng Thảo nói riêng có hiệu quả nhất

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

* Mục tiêu

Xác định được một số yếu tố chính ảnh hưởng đến sự ra hoa của ba giống Lan Hoàng Thảo nhập nội Trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp kỹ thuật góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất một số giống Lan Hoàng Thảo đạt giá trị kinh tế cao hơn

* Yêu cầu của đề tài

Lượng hóa một số yếu tố chính ảnh hưởng đến sự ra hoa, nhằm điều

khiển sự ra hoa đồng loạt của một số giống Lan Hoàng Thảo nhập nội

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Trang 17

Kết quả của đề tài là dẫn liệu bổ sung thêm và hoàn thiện tài liệu tham khảo cho nghiên cứu chuyên sâu về điều khiển ra hoa tập trung đối với một số giống Lan Hoàng Thảo ở nước ta

* Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được áp dụng cụ thể vào các trang trại trồng Lan Hoàng Thảo ở Văn Giang nói riêng và một số tỉnh miền Bắc Việt Nam nói chung để điều khiển ra hoa đồng loạt, nhằm tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Ba giống Lan Hoàng Thảo nhập nội từ Thái Lan đã được công nhận tại Việt Nam:

- Trắng tím (HT1): Dendrobium sonia #18

- Trắng tuyền (HT2): Dendrobium mee white

- Trắng môi tím (HT3): Dendrobium woon leng

* Điạ điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu trong hai vụ (vụ Hè Thu năm

2010 và vụ Đông Xuân năm 2010 - 2011)

Tổng diện tích thí nghiệm là 288m2 tại Trạm Thực nghiệm Văn Giang, Huyện Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên

Trang 18

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Giới thiệu chung về cây hoa lan

1.1.1 Nguồn gốc lịch sử của cây hoa lan

Theo các tác giả Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Nguyễn Tiến Bân (1990), Phạm Hoàng Hộ (2000), Trần Hợp (2002) trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa lan được xếp vào lớp đơn tử diệp - một lá mầm

(Monocotyledoneae), thuộc ngành Ngọc Lan - thực vật hạt kín (Mangoliophyta), phân lớp Hành (Lilidae), bộ Lan (Orchidales), họ Phong Lan (Orchidaceae) [1], [3], [5] ,[6], [10]

Trên thế giới, cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông Theo Bretchacider, từ đời vua Thần Nông (năm 2800 trước công nguyên), loài lan rừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh Sau đó cùng với vẻ đẹp, hương thơm và tác dụng chữa bệnh, hoa lan đã có mặt ở châu Âu Ở đây người ta đã tiến hành nghiên cứu rất công phu, tỉ mỉ về họ Lan Có thể nói Theoparatus là cha đẻ ngành học về lan (372 - 287 trước Công nguyên) và ông cũng là người

đầu tiên dùng từ Orchid trong tác phẩm “Nghiên cứu về thực vật” để chỉ một

loài lan có củ tròn Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã phân biệt

rõ ràng giữa họ lan và các họ khác Người đặt nền tảng cho môn học hoa lan chính là Joan Lindle (1799 - 1865) Năm 1836 ông đã công bố tài liệu (A Tabuler View of the Tribes of Orchidar) để sắp xếp cây và chi họ Lan Tên của những họ Lan do ông đặt được dùng cho tới ngày nay [10]

Ở Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về cây hoa lan buổi đầu không

rõ rệt lắm, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan Việt Nam là Joannis de Loureiro - nhà truyền giáo Bồ Đào Nha Ông đã mô tả cây lan lần đầu ở cuốn

"Flora Cochinchinensis" (1790) gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến

Trang 19

Nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium mà đã được

Bentham và Hooker ghi lại tại "Genera Plantarum" (1862 - 1883) (dẫn theo Nguyễn Hữu Huy, Phan Ngọc Cấp, 1995) [14] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 giống, 750 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ "Thực vật chí Đông Dương" (Flore Général de l’Indochine) do H Lecomte chủ biên, xuất bản từ những năm 1932 - 1934

Trong đó chi Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) là chi lan lớn phân bố rất rộng

Về sau, Phạm Hoàng Hộ (1993) đã nghiên cứu được 653 loài [13] Gần đây, Leonid Averyanov (người Nga) và các tác giả Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương Đức Huyền đã lần lượt công bố các tài liệu về hoa lan trên tờ nguyệt san Orchids của hội hoa lan Hoa Kỳ Theo đó 4 loài lan ở Việt Nam

chưa được biết đến là Paphiopladilum helenae (Lan Hài Helen), Renanthera

citrina (Lan Phượng vĩ), Paphiopedilum hiepii (Lan Hài Hiệp) và Vanda bidupensis (Lan Vanda ở vườn Quốc gia Bi Đúp - Núi Bà) đã được khám phá

[12]

1.1.2 Vị trí phân bố của hoa lan

Cây hoa lan có mặt ở hầu hết các đới khí hậu trên trái đất, từ miền gió tuyết đến sa mạc nóng bỏng khô cằn, từ miền núi cao, rừng thẳm đến đồng cỏ miền Bình Nguyên và ngay cả những vùng sình lầy cũng có lan Lan là một

họ có số lượng loài lớn đứng thứ hai sau họ Cúc, khoảng 25.000 - 35.000 loài phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thuỵ Điển, Alaska xuống tận các đảo cuối cùng cực Nam ở Australia (Dressler, 1999; Cribb et al., 2009; Xiaoyan Cai, Zhenyu Feng et al., 2011) [78] Mặc

dù, đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2.000m so với mặt biển, song có

ít loài sống được cả độ cao 5.000m so với mặt biển (Nguyễn Hữu Huy, Phan Ngọc Cấp, 1995) [14]

Trang 20

Theo F.G Broger (1971) vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, Bắc Mỹ có 170 loài Vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài Toàn châu Âu có 120 loài, Bắc Mỹ có 170 loài

Vùng nhiệt đới châu Á có 250 chi và 6.800 loài, trong đó chi

Dendrobium có 1.400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi Phalaenopsis có 35

loài, chi Vanda có 60 loài Vùng nhiệt đới châu Mỹ có 306 chi và 8.266 loài

Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài lan như Colombia có 1.300 loài, Tân Ghinê có 1.450 loài [15]

Theo kết quả khảo sát sơ bộ ở Việt Nam chi Dendrobium (Lan Hoàng Thảo) có khoảng 107 loài [41], Paphiopedilum (Lan Hài) có 25 loài, Aerides (Lan Giáng Hương hay Quế Lan Hương) có 5 loài, chi Cymbidium (Lan Kiếm) có 20 loài và chi Phalaenopsis (Lan Hồ Điệp) có 7 - 8 loài [29]

1.1.3 Phân loại cây hoa lan

Cây hoa lan thuộc họ Lan (Orchidaceae) trong lớp đơn tử diệp - một lá mầm (Monocotyledonea) thuộc ngành Ngọc Lan - thực vật hạt kín

Magnoliophyta, phân lớp Hành Lilidae, bộ Lan Orchidales, họ Phong Lan Orchidaceae [1], [3], [5] ,[6], [10] Họ Orchidaceae là một trong những họ

lớn nhất của thực vật và có các thành viên phân bố trên khắp thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực

Theo truyền thống cổ điển, nhà khoa học A.L Taktajan (1980) [15] đã chia Lan thành 3 họ phụ khá minh bạch:

Họ phụ Apostasicideae, với đặc trưng hoa đều, 2 - 3 nhị hữu phụ, không có nhị lép, phấn hoa rời (dạng bột) và chỉ có 1 tông: Apostasieae

Họ phụ Cypripediciceae, với đặc trưng hoa có cánh môi dạng hài, 2 nhị, 1 nhị lép, khối phấn mềm Họ phụ này cũng chỉ có 1 tông: Cypripedieae

Trang 21

Họ phụ Orchidadceae, với đặc trưng hoa không đều, 1 nhị, khối phấn

cứng, đa dạng Đây là họ phức tạp nhất, có nhiều chi và nhiều loài nhất [15]

Họ phụ này gồm 4 tông: Orchideae, Neattieae, Epidendreae và Vandeae

Gần đây, do phân tích hoa một cách đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính

di truyền, các nhà khoa học đã phân chia họ Lan thành 6 họ: Apostasicideae,

Cypripedicideae, Neottioideae, Orchidaceae, Vandoideae và Epidendroideae

Chi Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) là chi Lan lớn nhất trong họ Lan

Chi Lan này đa dạng, phong phú và có hơn 1.600 loài Chúng phân bố trải dài

từ Triều Tiên, Nhật Bản, Inđônexia đến Australia, các đảo Poolynêsi nhưng nhiều nhất vẫn là khu vực Đông Nam Á Chỉ riêng Tân Ghinê đã có trên 300 loài, mọc dài từ vùng ven biển ẩm ướt đến vùng núi cao tuyết phủ

Ở Việt Nam, số lượng các loài Lan Hoàng Thảo được ghi nhận có trên

100 loài Gần đây nhiều loài Hoàng Thảo mới được phát hiện và mô tả Các loài Hoàng Thảo có mặt ở tất cả các vùng sinh thái trong cả nước Nhiều loài Hoàng Thảo dễ trồng chủ yếu là từ các vùng núi thấp hay núi cao trung bình

1.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan trên thế giới

Loddiges (1812) là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương mại Trong những thập kỷ gần đây cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển về công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi, việc xuất nhập khẩu hoa lan đã ngày càng tăng với quy mô rất lớn Nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa lan như Thái Lan, Đài Loan Hoa lan đã và đang là nguồn lợi lớn của

Trang 22

các nước Đông Nam Á và thế giới (Phan Thúc Huân, 1989) [8], rất nhiều quốc gia như Hà Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan đã và đang đưa ngành sản xuất hoa thành ngành công nghiệp trong nông nghiệp đem lại lợi nhuận đáng kể Kết quả trong nghiên cứu và sản xuất hoa lan thế giới đã làm được:

- Về chọn tạo giống:

+ Tạo được hàng ngàn giống hoa lan mới các loại đưa vào sản xuất, kinh doanh

+ Làm chủ công nghệ nhân nhanh các giống mới

+ Làm chủ công nghệ vườn ươm cây giống sau nuôi cấy mô

- Về sản xuất:

+ Làm chủ công nghệ nuôi trồng lan

+ Làm chủ công nghệ điều khiển ra hoa theo ý muốn

+ Làm chủ công nghệ bảo quản đóng gói sau thu hoạch

Cụ thể:

* Hà Lan: là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa, chiếm 49,6%

(8,56 tỷ đô la năm 2007), diện tích hoa Phong Lan trồng trong nhà kính (năm 2007) đạt 3.081,75 ha [79] Hà Lan đã đầu tư 20 triệu đô la vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy móc cho sản xuất hoa lan xuất khẩu Họ tập trung nghiên cứu chọn tạo giống mới và làm chủ quy trình công nghệ sản xuất các giống

trong chi Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis), Nữ Hoàng (Cattlyea)

* Nhật Bản: Cũng giống như Hà Lan, công nghệ nuôi trồng Lan Hồ

Điệp đã đạt ở mức độ tiến tiến, đặc biệt công nghệ nhân giống bằng nuôi cấy

mô tế bào cho nên giá thành cây giống rất thấp Nhật Bản đã đầu tư 6,6 triệu

đô la vào Thái Lan để mở rộng cơ sở sản xuất với công suất 10 triệu cây lan mỗi năm [30] Năm 2007, thị trường hoa cắt của Nhật Bản đạt 9,3 tỷ đô la, chiếm gần 27% thị trường tiêu thụ hoa cắt của thế giới [79]

Trang 23

* Singapore: Nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn bắt đầu từ

năm 1987 Chính phủ Singapore đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu của loại hoa này trên thị trường thế giới cho nên đã mở rộng trang trại trồng hoa Phong Lan Năm 2005, xuất khẩu hơn 58 triệu đô la phong lan ra nước ngoài Hiện nay, Singapore chiếm 12% thị phần kinh doanh Phong Lan thế giới

* Ấn Độ: Để phục vụ việc xuất khẩu hoa, Ấn Độ đã đưa tiến bộ kỹ

thuật cấy mô vào nghề trồng hoa để sản xuất mỗi năm khoảng 10 triệu cây Phong Lan Đây là nước có nhiều giống lan nguyên thuỷ với 140 chi và hơn 1.300 loài Hiện nay, diện tích trồng hoa của Ấn Độ là 161.000 ha [82] Nước này đã hình thành các khu bảo tồn bảo vệ các loài lan quý để phục vụ cho ngành trồng lan thương mại rất tốt

* Trung Quốc: là nước có diện tích trồng hoa lớn nhất thế giới Năm

2007, diện tích trồng hoa tại nước này đạt 286.068 ha [82] Năm 2010, doanh thu từ việc trồng hoa tại Trung Quốc khoảng 86,2 tỷ nhân dân tệ, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,6 tỷ đô la Trung Quốc đã trở thành quốc gia có ngành công nghiệp hoa lớn nhất thế giới [84]

Bên cạnh những quốc gia kể trên, nơi có công nghệ nuôi trồng hoa lan phát triển và điều kiện thời tiết khí hậu gần với Việt Nam nhất phải kể đến Đài Loan và Thái Lan

* Đài Loan: là vùng lãnh thổ với diện tích khoảng 36.000km2 và dân

số 23 triệu người

Sản xuất hoa ở Đài Loan bắt đầu những năm 1970 Việc đa dạng hoá thị trường hoa ở Châu Âu, nhất là Hà Lan đã thúc đẩy sản xuất hoa Đài Loan phát triển Năm 2005 diện tích đạt 12.481 ha tăng 7,4 lần so với năm 1981

(1.672 ha) Trong các loại hoa, Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) chiếm 90% giá

trị xuất khẩu với diện tích 460 ha Đến năm 2010, diện tích trồng hoa tại Đài

Trang 24

Loan đạt hơn 13.000 ha, doanh thu 11,83 tỷ đài tệ (trong đó Lan Hồ Điệp

Phalaenopsis chiếm 70% giá trị xuất khẩu) [81]

Đài Loan đã nghiên cứu thành công và làm chủ quy trình công nghệ sản xuất cây giống, đã có hàng triệu cây giống Hồ Điệp được nhân nhanh và xuất khẩu Quy trình công nghệ điều khiển ra hoa hàng loạt cho Lan Hồ Điệp

đã phát triển ở mức cao, họ có thể điều khiển hàng triệu cây Lan Hồ Điệp ra hoa cùng thời điểm Chính vì những thành công trong nghiên cứu đã đưa ngành sản xuất hoa Lan Hồ Điệp thành ngành sản xuất lan công nghiệp trong nông nghiệp Giá trị sản xuất và xuất khẩu hoa Lan Hồ Điệp của Đài Loan chiếm 1/4 giá trị sản lượng hoa Lan Hồ Điệp của thế giới Kim ngạch xuất khẩu hoa Lan Hồ Điệp tăng nhanh trong những năm gần đây Thị trường chính là các nước châu Âu, Nhật và Mỹ [88] Nếu năm 2005, Đài Loan xuất khẩu 58 triệu đô la cây giống và hoa, trong đó giá trị xuất khẩu hoa lan là 30 triệu đô la thì đến năm 2010, giá trị xuất khẩu cây giống và hoa đạt 117 triệu

đô la, trong đó hoa lan chiếm hơn 90 triệu đô la (gấp 3 lần 5 năm trước) [79] Tính riêng thị trường Mỹ, giá trị xuất khẩu Lan Hồ Điệp của Đài Loan năm 2002 đạt 8 triệu USD, chiếm 11%, năm 2005 đạt 9 triệu USD chiếm 22%, năm 2006 đạt hơn 13 triệu USD, chiếm 30% và năm 2010 đạt tổng giá

trị khoảng 61,9 triệu USD (nguồn: USDA foreign Agricultural Service)

Như vậy, nhờ có các thành tựu trong nghiên cứu hoa Lan Hồ Điệp mà Đài Loan đã đưa giá trị xuất khẩu hoa lan ngày càng tăng trong những năm gần đây [92]

*Thái Lan: Đây là nước có lịch sử nghiên cứu và lai tạo Phong Lan

cách đây khoảng 130 năm (Parinda, Sriyaphai, 2002) [64] Từ năm 1957, Thái Lan đã bắt đầu phát triển nuôi trồng lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu Các loài lan rừng, lan lai, lan cắt cành của Thái Lan được xuất khẩu qua nhiều nước trên thế giới Hiện nay, Thái Lan đã có 18 phòng nuôi

Trang 25

cấy mô hoa lan thương mại hoạt động ở Băng Kốc và các vùng phụ cận Nhờ thực hiện công nghệ mới trong nuôi cấy mô và lai tạo, năm 1993, Thái Lan xuất đi 70,7% cho thị trường Anh; 81,4% cho Hà Lan về lan cắt cành, 64 triệu cành cho Ý và 5 triệu cành cho Nhật Bản [44]

Ở Thái Lan có nhiều công ty lớn sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu lan như Bang Kok Flower hàng năm xuất khẩu một lượng hoa lan trị giá 50 triệu Babt Hoa lan của công ty được chuyển đến Thuỵ Sỹ, Đức, Hà Lan, Ý, Anh

và các nước ở bán đảo Scandinave Tiếp đến các công ty Siam Flower Centre cũng hoạt động khá hiệu quả, kim ngạch xuất khẩu hàng năm của công ty là

10 triệu Babt Hoa của công ty này xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ, Nhật Bản, Ý

và một số nước ở châu Âu khác

Hiện nay, Thái Lan đã nghiên cứu và làm chủ công nghệ sản xuất cây giống bằng nuôi cấy mô tế bào nhất với các giống Lan Hoàng Thảo

(Dendrobium), chiếm 80% Đây là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa

lan, đạt tới 104 triệu đô la trong năm 2009 Riêng hoa lan cắt cành

Dendrobium của Thái Lan chiếm tới 85 - 90% thị phần hoa lan Dendrobium

trên thế giới (kể cả cây giống và hoa lan cắt cành) [64]

Bảng 1.1 Giá trị xuất khẩu cây Phong Lan giống

tại Thái Lan (năm 2005 - 2009)

(Nguồn: Floriculture and Nursery Crops Outlook, Economics Research

Service, ThaiLand năm 2009) [88], [90]

Trang 26

Công nghệ sản xuất lan trong vườn ươm của Thái Lan cũng được chú ý cải tiến Họ có thể chăm sóc cây con sau ống nghiệm thời gian 18 - 20 tháng,

cây có thể ra hoa lần đầu (nguồn: info@orchidexports.com) [86]

Bảng 1.2 Kim ngạch xuất khẩu hoa của một số nước năm 2007

TT Nước xuất khẩu Giá trị (triệu USD) Tỷ lệ (%)

Trang 27

Ngoài ra có một số nước như Israel, Colombia, Kenya, Nam Phi, Italia, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Bỉ, Đan Mạch, Costa Rica, Guatemala, Hondurat, Bungari là những nước có kinh doanh, xuất khẩu hoa đáng kể (Bảng 1.2) Đặc biệt phải kể đến Colombia, trong những năm gần đây đã phát triển ngành hoa lan, cây cảnh xuất khẩu một cách nhảy vọt và đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hà Lan

Như vậy, thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng Kim ngạch xuất khẩu hoa lan trên thế giới hàng năm đã đạt 1,8 tỷ đô la [15] Kim ngạch thương mại hoa lan cắt cành thế giới năm 2000 đạt 150 triệu đô la [41] Hoa lan cắt cành là loại hoa được nhập chủ yếu vào Châu Âu, chiếm 24% tổng giá trị nhập khẩu vào các nước này Từ năm 2003 đến 2007, việc nhập khẩu lan cắt cành vào đây hàng năm tăng trung bình 3,4% Nước nhập khẩu hoa lan cắt cành thế giới nhiều nhất là Nhật Bản, sau đó là Italia, Pháp

và Đức tiếp theo là Mỹ và các nước khác (nguồn: UN Comtrade 2009), [82]

Sản xuất hoa lan trên thế giới cũng sẽ tiếp tục phát triển mạnh ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh để phục vụ cho nhu cầu thưởng thức hoa lan ngày càng tăng của con người

1.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất hoa lan ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa lan ở Việt Nam

Hoa lan được biết đến ở nước ta từ lâu Trong các thư tích cổ còn lưu lại từ đời Trần, vua Trần Nhân Tông đã thu thập và lưu giữ được vườn lan hơn 500 chậu chủ yếu là Lan Kiếm [30] Mặt khác Việt Nam lại được thiên nhiên ưu đãi vì khắp vùng rừng núi Nam chí Bắc, đồng bằng đến cao nguyên

đã có nhiều giống Phong Lan quí hiếm được thế giới công nhận Vì vậy, có thể nói những nghiên cứu về lan ở Việt Nam xuất hiện tương đối sớm Tuy nhiên, những dấu vết nghiên cứu về cây lan ở buổi đầu không rõ rệt

Nhiều tác giả cho rằng người đầu tiên thực hiện việc khảo sát về lan ở

Trang 28

Việt Nam là Joannis de Loureiro, nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Ông đã

mô tả cây lan ở Việt Nam ở cuốn: “Flora Cochinchinensis” (1790) và sau này

đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn: “Genera Plantarum” (1862 - 1883) [14] Sau khi người Pháp đến Việt Nam đã cho công bố những công trình nghiên cứu đáng kể là F Gagnepain và A Gnillaumin, đã mô tả 70 chi gồm 101 loài lan cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ: “Thực vật chí Đông Dương” do H Lecomte chủ biên xuất bản năm 1932 - 1934 [10] Có một số tác giả khác cũng đã đề cập đến lan Việt Nam như Schumid, Tixer và Gunna Seidenfaden (1975) Sau đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu nghiên cứu về cây lan như: Hoàng Hộ với 289 loài được mô tả và vẽ hình trong cuốn: “Cây cỏ Việt Nam” năm 1991 Phân viện sinh học Đà Lạt đã tổ chức thu thập các loại lan rừng của Lâm Đồng Đến nay, đã xác định được tên khoa học của 217 loài, thuộc 64 chi Trong số 239 loài lan của bộ sưu tập và danh mục 217 loài đã xác định tên khoa học, có 2 loài mới của Việt Nam đã

được ghi nhận là Liparis compressa Lindl và Thrixspermum leucarachne Ridl

Có tới 7 loài cho đến nay chưa được ghi nhận có ở Lâm Đồng trong các

tài liệu đã được công bố là: Anoectochilus setaceus Blume, Bulbophyllum

spadiciflrum Tixier, Coelogyne cristata Lindl, Eria thao gagnep, Pholidota ventricosa Blume Reichenb.f., Thrixspermum calecolus Lindl, Reichenb.f., Vandopsis gigtantea Lindl Pfitz và 22 loài đặc hữu ở Việt Nam [15]

Nguồn gen hoa Phong Lan của Việt Nam rất phong phú trong đó Lan Hoàng Thảo chiếm khoảng 30 - 40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam (Võ Văn Chi, Lê Khả Kế, 1969) [5] Như vậy, họ Phong Lan chẳng những là một trong những họ thực vật lớn nhất mà còn đóng góp nhiều về mặt giá trị sử dụng cho nền kinh tế nước nhà trong tương lai

Hiện nay, nước ta cũng có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về hoa lan nhưng tập trung chủ yếu vào một số nội dung như: thu thập đánh giá

Trang 29

một số loài Địa Lan thơm của miền Bắc Việt Nam; điều tra khảo sát nguồn gen hoa lan của Việt Nam; nhập giống, đánh giá và tuyển chọn một số giống hoa lan có nguồn gốc ở nước ngoài

Năm 1996 - 1997, tác giả Nguyễn Xuân Linh và tập thể cán bộ Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền Nông nghiệp đã thu thập được 88 loài lan

thuộc 34 chi, trong đó nhiều nhất là chi Cymbidium Sw, sau đó là chi

Dendrobium Trong 88 loài lan sưu tầm được thì có đến 30 loài có khả năng

nở hoa tại Hà Nội Đây là những nguồn gen quí cho công tác lai tạo giống sau này [19]

Năm 2001, các tác giả Phạm Thị Liên, Nguyễn Xuân Linh, Lê Đức Thảo [21] khi đánh giá khả năng sinh trưởng của một số giống Phong Lan Hồ Điệp nhập nội từ Hà Lan đã kết luận rằng: Các giống Lan Hồ Điệp đều có khả năng sinh trưởng và ra hoa tốt tại Hà Nội Các giống có nguồn gốc từ mô phân sinh cho kết quả sinh trưởng, phát triển và ra hoa tốt hơn so với các giống có nguồn gốc từ hạt

Năm 2000 - 2005, nhóm tác giả trên đã tuyển chọn được một số giống hoa có nguồn gốc nhập nội và xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống một số

giống trong đó có giống hoa Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) HL3 đã được công

nhận giống tạm thời năm 2004 và công nhận giống chính thức năm 2009

Năm 2000 - 2003, từ đề tài hợp tác Quốc tế theo Nghị định thư giữa Việt Nam và Thái Lan “Thu thập đánh giá nguồn gen hoa Phong Lan để góp phần cải tiến một số giống hoa Phong Lan ở Việt Nam”, đã thu thập được 39 loài hoa lan từ Thái Lan và 5 loài hoa lan ở trong nước, đánh giá được một số giống hoa phong lan có giá trị ở Việt Nam và Thái Lan tập trung vào một số

loài Ngọc Điểm Đai Châu (Rhychostylis gigantea), Lan Nữ Hoàng (Cattleya), Van Đa (Vanda), Hoàng Yến (Ascocenda) và Hồ Điệp (Phalaenopsis)

Trang 30

Năm 2001 - 2005, từ dự án “Phát triển giống hoa chất lượng cao”, đã nhập một số giống hoa tốt từ Hà Lan trong đó có 5 giống hoa Phong Lan Hồ

Điệp (Phalaenopsis)

Năm 2005 - 2008, Dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các giống hoa lan”, Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh đã sưu tập được hơn 285 giống hoa lan thuộc 12 nhóm giống khác nhau

(Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium…).Trong đó, đặc biệt có hơn

80 giống lan rừng quý, có thể phục vụ công tác lai tạo giống lan sau này Bên

cạnh đó, Trung tâm đã tiến hành nhập nội 14 giống lan Mokara, 13 giống

Dendrobium, 5 giống Catlleya để khảo nghiệm và nhân nhanh giống phục vụ

sản xuất Hiện tại, Trung tâm này đã lai tạo 50 cặp lai, đang tiến hành gieo hạt trong ống nghiệm

Năm 2007 - 2010, tác giả Phạm Thị Liên và cộng sự đã tuyển chọn được 3 giống Lan Hoàng Thảo nhập nội từ Thái Lan và xây dựng quy trình

công nghệ phát triển một số giống Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) tại miền Bắc Việt Nam

* Nghiên cứu về nhân giống cây hoa lan ở Việt Nam

+ Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt

Phương pháp này không được áp dụng phổ biến tại Việt Nam mà chỉ được sử dụng chủ yếu trong lai tạo nhằm tạo ra những giống mới với những đặc tính ưu việt mong muốn của con người

+ Nhân giống bằng phương pháp tách chiết

Là phương pháp đơn giản, dễ làm, không tốn kém, tuy nhiên hệ số nhân giống không cao

+ Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

Công nghệ nuôi cấy mô tế bào Invitro, trong một thời gian ngắn có thể sản xuất một số lượng các giống khỏe và sạch bệnh

Trang 31

Tổ hợp chất điều hòa sinh trưởng: BA (1 mg/l) + IBA (0,1 mg/l) bổ

sung thích hợp nhân giống hoa lan nhóm Dendrobium trong Invitro

Hàm lượng nước dừa 15% là chất hữu cơ bổ sung hữu hiệu nâng cao

hiệu suất phát sinh chồi trong quá trình nhân giống hoa lan nhóm Dendrobium

invitro

Môi trường nuôi cấy cơ bản MS vẫn là môi trường thích hợp cho tái

sinh và vươn thân hoa lan nhóm Dendrobium trong Invitro

Tổ hợp các chất sinh trưởng và chất hữu cơ bổ sung: BA (0,1 mg/l) +

CW (20%) đạt hiệu suất cao trong tái sinh và vươn thân chồi hoa lan nhóm

Dendrobium trong Invitro

* Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng hoa lan

Tác giả Nguyễn Xuân Linh cho rằng: nên tưới phân cho lan vào buổi sáng sớm hay chiều mát, không nên tưới vào buổi trưa Bình thường nên tưới

1 lần trong 1 tuần, nếu vườn lan râm mát thì nên tưới 10 - 15 ngày/lần, nếu vườn lan nhiều ánh sáng thì tưới 2 lần/tuần Sau khi tưới phân thì nên dùng nhiều nước để tưới cho lan, tăng lượng nước tưới trong ngày để rửa bớt muối còn đọng lại trên cây [12]

Tác giả Nguyễn Công Nghiệp cho rằng: Mùa tăng trưởng của lan không nên dùng phân tổng hợp NPK loại 30 : 10 : 10, khi chớm nở hoa phải dùng loại phân có nồng độ lân hoặc kali cao 10 : 10 : 20 hoặc loại 6 : 30 : 30 Trước khi cây vào thời kỳ ngủ nghỉ thì nên dùng loại phân có nồng độ kali cao để tăng sức đề kháng cho cây như 10 : 20 : 30 [28]

Theo tác giả Việt Chương và Nguyễn Việt Thái bón phân hỗn hợp: [8] NPK 30 : 10 : 10 thúc đẩy tăng trưởng và ra lá

NPK 10 : 20 : 10 bón thúc cho lan ra hoa hiệu quả

NPK 10 : 10 : 20 thúc đẩy ra rễ tốt

NPK 10 : 20 : 30 tăng sức chịu đựng và đề kháng

Trang 32

Việc nuôi trồng hoa lan được phát triển theo quy mô công nghiệp nên nhiều cơ sở sản xuất đã pha chế sẵn các dung dịch dinh dưỡng để bón cho cây Trong đó có 3 nguyên tố chủ đạo là N, P, K và một số nguyên tố vi lượng

bổ sung, cây lan sau khi ra khỏi chai mô sẽ phát triển qua 4 giai đoạn và có 4 chế độ dinh dưỡng khác nhau

Dưới 3 tháng tuổi: 3g đạm và 10 lít nước, tưới 1 lần trong 1 tuần

Ở 3 tháng tuổi: Dùng 5g đạm và 10 lít nước, 10 ngày tưới 1 lần

Từ 4 - 16 tháng tuổi: Dùng phân NPK 3 : 1 : 1 tưới 15 ngày 1 lần

Từ 10 - 16 tháng tuổi: Dùng NPK 2 : 2 : 2, pha 6g N + 6g P2O5 + 6g K2O trong 10 lít nước, 15 ngày tưới một lần

Ở 16 tháng tuổi trở đi cho đến khi ra hoa thì dùng phân NPK (1 : 2 : 3)

cụ thể pha 5g N + 10g P2O5 và 15g K2O trong 10 lít nước, 15 ngày phun 1 lần cho hiệu quả cao

Các nhà khoa học ở Việt Nam còn nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật khác như chọn giá thể, tưới nước, làm giàn che, lắp đặt hệ thống thông gió cho lan

Theo tác giả Nguyễn Xuân Linh, tưới nước cho lan ở giai đoạn cây con rất quan trọng, tưới phải nhẹ nhàng, phun sương và tưới thường xuyên 3 - 4 lần/ngày nếu quá khô [12]

Tác giả Việt Chương, Nguyễn Việt Thái (2001) [8] và Nguyễn Công Nghiệp (2000) [28] cùng cho rằng: dùng than hoa, gạch, xơ dừa, rễ lục bình,

vỏ thông để trồng hoa lan Những vật liệu này dễ kiếm và rẻ tiền ở Việt Nam,

có thể phối trộn các loại giá thể với nhau để trồng lan tùy theo từng giống, độ tuổi của cây và điều kiện cụ thể từng nơi

Hoàng Thị Loan (2006) [22] nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của Lan Đai Châu đã kết luận: Giá thể than hoa kết hợp với rong biển thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của Lan Đai Châu nhập nội từ Thái

Trang 33

Lan

* Nghiên cứu về sâu bệnh hại

Cây lan có trên 100 loài nấm và vi khuẩn gây hại các bệnh từ rễ đến hoa Trong thực tế cho thấy các loại côn trùng chỉ làm cho cây chậm phát triển chứ ít khi lây lan thành dịch Tuy nhiên các loại bệnh lại có thể gây ra cái chết hàng loạt và dễ thành dịch, do đó việc phòng ngừa là rất quan trọng

và cần thiết

Theo Việt Chương (2002) [8], sâu hại lan có các loại như: rệp bông, rệp sáp, rệp son, rệp bọc, bọ trĩ, bọ nhảy, sâu bướm, ong vẽ bùa, gián, ốc sên gây hại Bệnh hại lan có hàng trăm thứ bệnh chủ yếu do nấm và vi khuẩn gây

ra Trong đó phải kể đến bệnh đốm lá, thán thư, đốm vòng cánh hoa, đen thân, thối đen ngọn, thối mềm lá và bệnh thối rễ gây hại

Tác giả Nguyễn Công Nghiệp (2000) cho rằng: bệnh của lan chủ yếu là bệnh thối đọt, khô căn hành, bệnh ở đỉnh lá, bệnh đốm lá gây hại [28] Có thể dùng một số loại thuốc sát khuẩn có Đồng để trị bệnh: Oxiclorua Đồng (có nồng độ 0,5 - 1% và nồng độ 0,25 - 0,35), Boocdo và các dẫn xuất có gốc Etylen, hỗn hợp Zineb và Clorua Đồng

Bên cạnh một số loại côn trùng gây hại như: kiến, gián, ruồi đục lá, hoa, rệp son, bọ trĩ (có thể dùng Bassa, Malathion để phun phòng trừ), cây lan còn bị một số sinh vật khác gây hại như: ốc sên, chuột, cóc, thằn lằn…

1.3.2 Tình hình sản xuất hoa lan ở Việt Nam

Hoa lan đến với người Việt Nam từ những bông hoa đẹp, từ những vị thuốc chữa bệnh được lưu truyền trong dân gian qua bao nhiêu đời khác nhau

và cho đến tận ngày nay

Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng lớn trong sản xuất Phong Lan nhờ có khí hậu nhiệt đới ẩm, hoàn toàn phù hợp với nhu cầu sinh thái của các loại hoa lan Chủng loại lan rừng tương đối phong phú có khoảng 1.000

Trang 34

loài và các loài lan lai du nhập vào

Theo các chuyên gia về lan, nghề trồng lan sẽ đem lại một số lợi nhuận

không nhỏ cho người dân Nếu trồng phong lan cắt cành loài Dendrobium và

Mokara, mỗi hecta đất trồng có thể cho thu nhập 500 triệu - 1 tỷ đồng/năm,

cao hơn nhiều lần so với trồng lúa và một số loài hoa màu khác Tính riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003, doanh thu từ kinh doanh hoa lan đạt 200 -

300 tỷ đồng Nhưng chỉ trong quý 1/2006, con số này đã tăng lên 400 tỷ đồng (nguồn: TTXVN) [85]

Tháng 8 năm 2004, tại Lâm Đồng đã thành lập hiệp hội hoa lan (tên giao dịch là Dalat Orchid Association) với mục đích tập hợp những người yêu mến, có kinh nghiệm trồng lan để tiến tới phát triển nhân rộng sản xuất theo hướng hàng hoá

Năm 2005, Đà Lạt mới chỉ sản xuất khoảng 200.000 cành lan mỗi năm với khoảng 500 gia đình nuôi trồng hoa lan, trong đó có hơn 150 gia đình tham gia vào hội hoa lan của thành phố [9] Phòng Sinh học của viện Hạt nhân Đà Lạt cũng tham gia tích cực vào lập các cơ sở cấy mô phong lan và sưu tầm các loại lan Đà Lạt đã thu thập được khoảng 200 loài có khả năng nuôi trồng xuất khẩu [16] Đến nay, Đà Lạt là thành phố trồng và xuất khẩu hoa lớn nhất nước ta với diện tích trên 3.500 ha, chiếm 40% diện tích và 50% sản lượng Mỗi năm, thành phố cung ứng khoảng 10 triệu cây giống

Vào năm 1983 - 1984 tại thành phố Hồ Chí Minh đã có hàng loạt các

cơ quan tổ chức thử nghiệm nuôi trồng lan trên quy mô lớn để xuất khẩu Các vườn lan đáng kể là vườn lan T78, vườn lan của cục Quản lý Giáo dục Bộ tham mưu, vườn lan của ngành hàng không dân dụng

Năm 1986, lần đầu tiên một quy trình nhân giống, nuôi trồng lan

Dendrobium cấy mô từ lan con đến nở hoa đã được Cảng Hàng Không Tân

Sơn Nhất kết hợp với vườn lan T78 thử nghiệm thành công [33] Cho đến

Trang 35

nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có hàng nghìn người nuôi trồng hoa lan với gần 20 vườn lan lớn Trong số đó, có một số vườn lan tư nhân đã trở thành xí nghiệp nuôi trồng xuất khẩu thường xuyên giao dịch với các công ty của Thái Lan và Singapore Năm 2005 - 2006 thành phố đã dự kiến đầu tư 20 ha nuôi trồng hoa lan và 20 ha cây cảnh [7]

Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, diện tích trồng hoa lan đã được mở rộng từ gần 20 ha năm 2003 lên

đến 176 ha năm 2010 Hai nhóm lan cắt cành là Mokara, Dendrobium chiếm

gần 90% diện tích trồng hoa lan của thành phố với nhiều mô hình đạt doanh

số trên dưới 1,0 tỷ đồng/ha [86]

Tại huyện Củ Chi, diện tích trồng hoa cũng lên tới 500 ha, trong đó lan

cắt cành (Mokara, Dendrobium, Vanda…) chiếm hơn 100 ha Với tốc độ này,

năm 2015, diện tích hoa tại đây ước tính sẽ tăng lên 2.150 ha, với 400 ha lan cắt cành [79]

Ở Hà Nội những năm gần đây do đời sống người dân được nâng cao nên nhu cầu thưởng thức hoa lan tăng lên Phong trào nuôi trồng lan tự phát lan rộng đến cả những vùng phụ cận làm cho các nhà khoa học phải đi sâu nghiên cứu sản xuất kinh doanh hoa lan

Tại Viện Công nghệ Sinh học thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã cho ra đời hàng vạn cây giống hoa lan có giá trị kinh tế như Hồ Điệp

(Phalaenopsis amabilis), Cát Lan (Catlleya), Lan Hoàng Thảo (Dendrobium)

Viện còn thực hiện chuyển giao công nghệ nuôi trồng các giống lan có hiệu quả kinh tế cao cho các địa phương như Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn…

Tại Trung tâm kỹ thuật Rau Hoa Quả Hà Nội đã cho ra đời mỗi năm hàng vạn cây giống Lan Hồ Điệp và hàng vạn cây giống lan khác Đặc biệt đã thành công trong việc nhân giống Lan Hài và Lan Kiếm

Tại công ty liên doanh hoa lan Lan Việt - Nhật JAVECO hàng năm

Trang 36

cũng sản xuất hàng vạn cây giống hoa Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis amabilis), Lan Hài (Paphiopedilum) nhằm cung cấp cho thị trường trong nước và xuất

khẩu [40]

Viện Di truyền Nông nghiệp đã và đang tiến hành nghiên cứu, nhân giống các giống lan nhập nội, đặc biệt là các giống lan của Thái Lan như Lan

Hoàng Thảo (Dendrobium) phục vụ cho sản xuất, tạo điều kiện cho việc phát

triển các giống lan tại miền Bắc Việt Nam

Để phát huy tối đa tiềm năng của ngành phong lan trong nước, đáp ứng nhu cầu nội địa và hướng ra xuất khẩu ngành công nghiệp hoa lan của Việt Nam cần phải quan tâm nhiều đến vấn đề tạo giống, công nghệ sản xuất, canh tác, công nghệ sau thu hoạch, đóng gói, kiểm dịch và đầu tư mở rộng cơ sở hạ tầng Đó cũng chính là những vấn đề đặt ra cho ngành phong lan nước ta được

đề cập trong Đề án phát huy tiềm năng xuất khẩu hoa của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2015 (dẫn theo Hồng Nga - Tạp chí Nông thôn mới, số 197, tr19)

1.4 Một vài nét về chi Lan Hoàng Thảo

1.4.1 Nguồn gốc và phân loại của chi Lan Hoàng Thảo

Chi : Dendrobium

Chi Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) được đặt tên vào năm 1799 Chữ

Dendrobium có nguồn gốc của chữ hy lạp “dendro” nghĩa là cây, còn chữ

“bium” nghĩa là sự sống Do đó Dendrobium được hiểu là lan sống ở trên cây, tiếng Việt Nam gọi là chi Lan Hoàng Thảo Lan Hoàng Thảo (Dendrobium)

có nhiều màu sắc và hình thái khác nhau (dẫn theo Huỳnh Văn Thới, 1996) [33]

Trang 37

Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) là chi Lan (genus) phong phú nhất

trong họ Lan, với 1.600 loài (species) nguyên thủy được chia thành 40 nhóm

Phân bố ở các vùng nhiệt đới Châu Á, tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á và

Châu Úc Dendrobium không có kiểu hoa chung, mà rất đa dạng Chúng phân

bố ở cả 3 vùng khí hậu như nóng, lạnh và vùng trung gian

Dendrobium là chi Lan được dùng khá phổ biến trong ngành công

nghiệp hoa cắt cành, vì một giả hành có thể cho rất nhiều hoa Hầu như toàn

bộ các loài thuộc chi Dendrobium là những loài có hoa lâu tàn, trung bình từ 1

- 2 tháng, cá biệt có loài đến 3 tháng, hoặc có thể nở hoa quanh năm bởi các

chồi hoa mới luôn luôn thay thế các chồi hoa cũ như các giống Dendrobium

caesar alba, Dendrobium caesar latin…Tuy nhiên cũng có loài hoa nhanh tàn

như Lan Thạch Hộc, chỉ nở trong vòng 24 giờ

Dendrobium được chia thành hai nhóm theo dạng thân của chúng là

dạng thòng hay dạng đứng

+ Dạng thòng hay Nobile là dạng thân mềm thường ở vùng lạnh

Dendrobium nobile được chia thành ba dạng như sau:

Dendrobiunm nobile var “elegans” hoa thẫm hơn

Dendrobiunm nobile var “luxurians” thân dài tới 2m

Dendrobiunm nobile var “nobile” thông thường

+ Dạng đứng giống chi Lan Hồ Điệp Phalaenopsis gọi là Dendrobium

phalaenopsis là dạng thân cứng thường sống ở các vùng có khí hậu nóng hơn

Cả hai loại Lan Dendrobium nobile và Dendrobium phalaenopsis đều

có chung đặc điểm trong việc tạo lập các giả hành mới và trong sự biệt hóa

chồi sơ khởi ở nách lá dọc theo giả hành nhưng chúng lại rất khác biệt trong

việc tạo lập chồi hoa Ở Dendrobium nobile ra hoa từ chồi sơ khởi của giả

hành đã trưởng thành Dendrobium phalaenopsis hoa mọc ở cả giả hành cũ

Trang 38

lẫn giả hành mới Ở giả hành mới chồi non nhất ở gần ngọn là chồi đầu tiên phát triển thành vòi hoa

Hình dạng của Dendrobium cũng tùy loài

+ Nhóm có giả hành rất dài và mang lá dọc theo chiều dài của giả hành, thường rụng hết lá khi ra hoa như Long Tu, Ý Thảo

+ Nhóm giả hành to ngắn, tận cùng thường có 2 - 3 lá dài, bền, không rụng Các hoa tập trung ở phần này tạo thành chùm đứng hay thòng

+ Nhóm có giả hành rất mảnh mai, dài hoặc ngắn, có lá dọc theo chiều dài của chúng, dai, bền không rụng (Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 2004) [34]

1.4.2 Đặc điểm thực vật học của chi Lan Hoàng Thảo

Hoàng Thảo là những loài lan sống bám trên cây hay đá, mọc thành bụi nhiều giả hành Nhiều loài có rãnh dọc theo giả hành, có thể phân thành các đốt như cây tre [23] Đặc điểm thực vật học của Lan Hoàng Thảo như sau có đặc điểm như sau:

- Rễ: thuộc loại rễ chùm, lớn được hình thành từ các đốt thân chính

(thân ngầm), rễ có khả năng tái sinh mạnh, khả năng hút nước và dinh dưỡng tốt, ngoài ra chúng còn có khả năng quang hợp Rễ lan có sự đa dạng về hình

thái và cấu trúc làm cho Dendrobium phù hợp với điều kiện sống như:

+ Khi sống ở đất thì rễ mập, thân rễ bò dài hay ngắn

+ Ở một số loài có lối sống bám lơ lửng trên vỏ thân cây gỗ khác thì thân rễ có thể dài, ngắn, mập hay mảnh mai để giúp cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày Hệ rễ vừa làm nhiệm vụ lấy nước, muối khoáng trên vỏ cây gỗ, vừa hấp thu chất dinh dưỡng Chúng được bao bởi một lớp mô hút ẩm dày, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc Ngoài ra, rễ còn có nhiệm vụ bám chặt vào giá thể để giữ cây khỏi bị gió cuốn đi Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng

Trang 39

chung của cả cơ thể (Trần Hợp, 2000; Nguyễn Công Nghiệp, 2000) [10], [28]

+ Ở loài sống hoại thì rễ có dạng búi nhỏ dày đặc các vòi hút ngắn, hút chất dinh dưỡng từ xác thực vật (sau khi được nấm phân huỷ) Nhiều loài lại

có hệ rễ đan thành một búi chằng chịt, đây là nơi thu gom mùn của vỏ cây để làm nguồn dự trữ chất dinh dưỡng

- Thân: Hoàng Thảo là lan đa thân (sympodial), thân dài được tạo bởi

nhiều đốt, trên các đốt có bẹ lá bao bọc, mỗi đốt có một mầm ngủ Mầm ngủ này có khả năng tái sinh tạo thành một cá thể mới Các chồi hoa không những mọc trên các đốt mới mà còn có thể mọc trên các đốt của thân cũ Thân Lan Hoàng Thảo có những đốt như gậy tre, rất phong phú về hình dạng, hình trụ,

hình trám, có múi hay dẹt, cong Dendrobium vừa có thân thật, vừa có giả

hành Giả hành tuy là thân nhưng lại chứa diệp lục, dự trữ nước và nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới Cấu tạo của giả hành gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngoài có lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để tránh sự mất nước Đa số củ giả hành có màu xanh bóng nên nó có thể quang hợp Thường các loài thuộc giống

Dendrobium dùng cho mục đích kinh doanh là lan đa thân với nhiều giả hành

(Trần Hợp, 1990) [10]

- Lá: Hầu hết các loài phong lan đều là cây tự dưỡng nhờ sự phát triển

rất đầy đủ của hệ thống lá Lá có nhiều kiểu khác nhau: mỏng mềm, dai cứng, mọng nước , có loại lá dẹt, lá dài và lá hình trụ Về màu sắc, phiến lá thường

có màu xanh bóng, nhưng đôi khi hai mặt lá có màu khác nhau (thường mặt dưới lá có màu xanh đậm hay tía), mặt trên lại khảm thêm nhiều màu sặc sỡ (Trần Hợp, 1990) [10] Tuổi thọ của lá tuỳ thuộc vào loại cây, có thể kéo dài

từ 1 - 2 năm hoặc có một số loài rụng hết lá trước khi ra hoa và sau khi hoa tàn, chồi và lá mới sẽ được hình thành và phát triển

- Hoa: mang đặc trưng chung của các loài lan Hoa có thể mọc từ thân

Trang 40

thành từng chùm hay từng hoa đơn Các chồi hoa không những mọc trên các giả hành mới mà có thể mọc trên các giả hành cũ Bên trong hoa có cột nhị, nhuỵ nằm chính giữa hoa, mang phần đực ở phía bên trên và phần cái (đầu nhuỵ) ở mặt trước Còn hốc phấn thì lõm lại, mang khối phấn và thường song song với bao phấn Khối phấn gồm toàn bộ hạt phấn dính lại với nhau, rất

cứng do tinh bột, sáp và chất sừng cấu thành Vì thế Dendrobium khi ra hoa

sẽ cho một số lượng cành hoa nhiều hơn bất kỳ một loại lan nào khác

Vị trí của hoa trên thân cũng biến đổi, có thể giữa các đọt lá hay từ các mắt ngủ trên thân gần ngọn, cũng có thể trên ngọn cây Hoa có thể rủ xuống

hay thẳng đứng Hoa Hoàng Thảo có dạng chùm, bông hay chuỳ mang nhiều

hoa dày đặc Hoa có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh ngoài còn gọi là 3 cánh đài, thường có cùng màu sắc và kích thước với nhau, một cánh đài nằm ở phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, hai cánh đài còn lại nằm ở hai bên hoa gọi là cánh đài cạnh hay cánh đài bên Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa, trong đó có 2 cánh thường giống nhau về hình dạng, kích thước và màu sắc nên được gọi là hai cánh bên Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới của hoa, thường có màu sắc và hình dạng đặc biệt khác hẳn hai cánh kia được gọi là cánh môi hay lưỡi Một thân có thể có từ 1 - 4 cành hoa, mỗi cành hoa mang từ 5 - 16 hoa tùy theo giống, độ tuổi của cây và điều kiện chăm sóc Hoa có khả năng đậu quả rất cao Màu sắc của hoa rất phong phú

và độ bền dài, trung bình từ 1 - 2 tháng (Nguyễn Công Nghiệp, 2000) [28]

- Quả: thuộc loại quả nang, khi chín nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc,

quả dài có dạng hình trụ phình to ở giữa, trong quả có chứa rất nhiều hạt Khi chín quả mở ra và mảnh vỡ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc Ở một số loài, quả chỉ mở theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra và hạt chỉ

ra khỏi vỏ quả khi vỏ này mục nát

- Hạt: rất nhiều, nhỏ li ti, từ lúc còn non có màu trắng, khi chín có màu

Ngày đăng: 27/11/2014, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1990), "Các cây họ hạt kín (Magnoliophyta) ở Việt Nam" Tuyển tập các công trình nghiên cứu sinh thái và tài nguyên sinh vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr.34-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cây họ hạt kín (Magnoliophyta) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1990
2. Nguyễn Tiến Bân (1990), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magno liophyta angios permae), Tuyển tập các công trình nghiên cứu sinh thái và tài nguyên sinh vật, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magno liophyta angios permae
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1990
3. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliophyta, angios permae) ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr.67-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliophyta, angios permae) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
4. Lê Văn Chi (1992), Cách sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và vi lượng đạt hiệu quả cao, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và vi lượng đạt hiệu quả cao
Tác giả: Lê Văn Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1992
5. Võ Văn Chi, Lê Khả Kế (1969), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học, tr.57-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi, Lê Khả Kế
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học
Năm: 1969
6. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại thực vật - thực vật bậc cao, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tr.38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật - thực vật bậc cao
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
7. Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991), Từ điển bách khoa Nông Nghiệp, Trung tâm Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Nông Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh
Năm: 1991
8. Việt Chương, Nguyễn Việt Thái (2002), Kỹ thuật trồng và kinh doanh phong lan, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, tr.11-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và kinh doanh phong lan
Tác giả: Việt Chương, Nguyễn Việt Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
9. Dự án phát triển hoa cây và cây kiểng tại thành phố Hồ Chí Minh (14/7/2005), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phát triển hoa cây và cây kiểng tại thành phố Hồ Chí Minh
10. Trần Hợp (1990), Phong lan Việt Nam, Tập 1, 2, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr.68-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong lan Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Giá trị xuất khẩu cây Phong Lan giống - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 1.1. Giá trị xuất khẩu cây Phong Lan giống (Trang 25)
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu hoa của một số nước năm 2007 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu hoa của một số nước năm 2007 (Trang 26)
Bảng 1.3. Một số loại giá thể thường dùng cho cây lan - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 1.3. Một số loại giá thể thường dùng cho cây lan (Trang 42)
Hình 2.1. Giống Lan  Hoàng Thảo HT1 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Hình 2.1. Giống Lan Hoàng Thảo HT1 (Trang 50)
Bảng 2.1. Đặc điểm chính của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 2.1. Đặc điểm chính của 3 giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 2.2. Ẩm độ, nhiệt độ không khí và   cường độ ánh sáng tại Văn Giang (tháng 6/2010 - 3/2011) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 2.2. Ẩm độ, nhiệt độ không khí và cường độ ánh sáng tại Văn Giang (tháng 6/2010 - 3/2011) (Trang 58)
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo (Trang 62)
Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
th ị 3.1. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới (Trang 64)
Đồ thị 3.2. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa   của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Đông Xuân - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
th ị 3.2. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Đông Xuân (Trang 66)
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới   năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của ngừng tưới nước tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo (Trang 69)
Hình 3.1. Thí nghiệm ảnh hưởng của việc ngừng tưới nước   (CT1: tưới nước ngày 2 lần - đ/c, CT2: ngừng tưới 3 ngày, - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Hình 3.1. Thí nghiệm ảnh hưởng của việc ngừng tưới nước (CT1: tưới nước ngày 2 lần - đ/c, CT2: ngừng tưới 3 ngày, (Trang 73)
Đồ thị 3.3. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ   ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Hè Thu - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
th ị 3.3. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ ra hoa của các giống Lan Hoàng Thảo nghiên cứu trong vụ Hè Thu (Trang 77)
Đồ thị 3.4. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
th ị 3.4. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới tỷ lệ (Trang 79)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao   tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới năng suất và chất lượng hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo (Trang 81)
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao   tới kích cỡ cánh và độ bền hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật điều khiển sự ra hoa đồng loạt của các giống lan hoàng thảo nhập nội (dendrobium) tại văn giang, hưng yên
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của phân bón có lượng lân cao tới kích cỡ cánh và độ bền hoa của 3 giống Lan Hoàng Thảo (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm