1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Nâng cao tính tích cực học sinh thông qua dạy môn Toán Đại 8

19 421 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 296,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đưa ra giải pháp mới: Tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh qua việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức bài học bằng cách tiếp cận, phát hiện và lĩnh hội kiến thức

Trang 1

Tên đề tài :“Nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn khai thác thông tin trong

dạy học môn Toán Đại số lớp 8”.

Giáo viên thực hiện : Tích Thị Kim Châu

Trường Trung Học Cơ Sở Bàu Năng

I Lý do chọn đề tài:

-Do mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của trường phổ thông trong giai đoạn mới là phải phát huy tính chủ động sáng tạo, thích tìm hiểu vấn đề … trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới

- Thực trạng nhiều học sinh vẫn còn thụ động trong giờ học, mà chất lượng tư duy của học sinh tích cực là nhờ vào cách giáo viên hướng dẫn khai thác kiến thức bài học

II Đối tượng- Phương pháp nghiên cứu:

* Đối tượng : Nghiên cứu việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập dẫn trong hướng dẫn học sinh lớp 8A6 tiếp cận, phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức bài học môn Đại số

* Phương pháp :

- Tham khảo tài liệu ở các sách, báo, trên mạng Internet

- Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên và học sinh

- Kiểm tra quá trình thực hiện : Đối chiếu kết quả, so sánh

III Đề tài đưa ra giải pháp mới:

Tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh qua việc hướng dẫn học sinh khai

thác kiến thức bài học bằng cách tiếp cận, phát hiện và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động trong hình thành kiến thức mới

Học sinh được học tập nội dung bài học một cách chủ động và con đường cách thức dẫn đến kiến thức đó

IV Hiệu quả áp dụng:

* Giáo viên:

-Thực hiện đúng tinh thần đổi mới phương pháp

- Vận dụng tốt phương pháp dạy học tích cực đạt hiệu quả

-Đáp ứng được một trong những mục tiêu giáo dục

* Học sinh :

- Học sinh lĩnh hội kiến thức bài học một cách chủ động, sáng tạo

- Phát triển các hoạt động tư duy học sinh: phân tích, quan sát, dự đoán, tổng hợp,…

V Phạm vi áp dụng:

- Áp dụng giải pháp đối với bộ môn Toán trường THCS Bàu Năng

- Áp dụng giải pháp đối với bộ môn Toán các đơn vị bạn

Bàu Năng, ngày tháng năm 2011

Giáo viên thực hiện

Tích Thị Kim Châu

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ :

1 Lý do chọn đề tài :

Trước những yêu cầu mới của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo với những tiến bộ của khoa học – công nghệ đòi hỏi phải đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp dạy học một cách thích ứng Để góp phần thực hiện nhiệm vụ đó, nội dung và phương pháp dạy học của môn học phải được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội và đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của học sinh

Theo việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá theo Chuẩn kiến thức kỹ năng của Bộ Giáo dục- Đào tạo đã được Sở Giáo dục – Đào tạo, Phòng Giáo dục- Đào tạo và nhà trường rất quan tâm Sở – Phòng Giáo dục thống nhất và chỉ đạo định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo Chuẩn kiến thức kỹ năng với tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên, giúp học sinh tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học

Ở trường trung học cơ sở, việc thực hiện nhiệm vụ dạy học với nội dung và chương trình theo Chuẩn kiến thức kỹ năng là vấn đề trọng tâm khiến cho yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực trở nên cấp bách hơn Là giáo viên giảng dạy bộ môn Toán, nhằm phát huy tính chủ động, tìm tòi, sáng tạo, thích tìm hiểu kiến thức mới và hiểu được kiến thức cơ sở khoa học, thì ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với bộ môn, cần phải hướng dẫn học sinh biết cách khai thác hết các thông tin trong bài học nhằm phát huy cao tính tích cực của học sinh trong hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức, đây là việc làm thường xuyên của mỗi giáo viên trong giờ lên lớp nhằm kích thích sự suy nghĩ của học sinh

Chất lượng tư duy của học sinh phụ thuộc vào chất lượng hệ thống câu hỏi, bài tập mà giáo viên sử dụng khi hướng dẫn học sinh khai thác thông tin kiến thức bài học Vì thế tôi thiết nghĩ trong quá trình dạy học môn Toán Đại số nói chung, Đại số lớp 8 nói riêng làm thế nào

để học sinh động não, tích cực tham gia vào quá trình học tập để chất lượng bộ môn ngày càng cao hơn, học sinh hứng thú học tập hơn là điều mọi người giáo viên mong muốn

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài : “Nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn khai thác thông tin trong dạy học môn Toán Đại số lớp 8.” cho đối tượng học sinh lớp 8A6 ở Trường trung học cơ sở Bàu Năng góp phần nâng cao

chất lượng giảng dạy đáp ứng mục tiêu giáo dục của ngành đề ra

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu cách hướng dẫn khai thác thông tin kiến thức bài học nhằm giúp học sinh

tích cực chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức mới ở bộ môn Toán lớp 8 nói chung môn Đại

số 8 nói riêng, qua đó các em tiếp thu kiến thức nhanh hơn, nhớ lâu hơn kiến thức đã học

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Giải pháp nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh lớp 8A6 qua hướng dẫn học sinh khai thác thông tin để lĩnh hội kiến thức mới ở môn Đại số lớp 8

- Lớp nghiên cứu: Lớp 8A6

- Lớp đối chứng: Lớp 8A4

* Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện, và thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu đề tài trong môn Đại số 8 ở chương I: Nhân và chia đa thức, chương II: Phân thức đại số, chương

Trang 3

III: Phương trình bậc nhất một ẩn, chương IV: Bất phương trình bậc nhất một ẩn Tiến hành nghiên cứu vận dụng một số phương pháp tích cực khi hướng dẫn khai thác thông tin kiến thức bài học trong quá trình truyền thụ kiến thức mới cho học sinh lớp 8A6 Trường Trung học cơ sở Bàu Năng năm học 2010- 2011

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: giúp tôi có cơ sở lí

luận để phân tích các tài liệu, các dữ kiện có liên quan

- Dự giờ , học hỏi trao đổi các đồng nghiệp: tìm hiểu giáo viên khác cách hướng dẫn học sinh khai thác thông tin có hiệu quả ra sao, qua đó rút kinh nghiệm cho bản thân Trao đổi ý kiến với đồng nghiệp trong tổ chuyên môn

- Điều tra, đàm thoại, tìm hiểu thực trạng học sinh: thông qua khảo sát chất lượng đầu năm, qua các tiết dạy trên lớp tìm hiểu tính hình học sinh

- Kiểm tra đối chiếu, so sánh, điều chỉnh bổ sung:

- Thiết kế thang đo thái độ lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, so sánh kết quả giữa lớp áp dụng giải pháp với lớp không áp dụng giải pháp

5 Giả thuyết khoa học:

Các giờ học môn Toán nói chung, Đại số nói riêng sẽ khô khan, trừu tượng khó hiểu khi

mà giáo viên chưa hướng dẫn học sinh biết cách tìm tòi khai thác, khám phá những kiến thức mới của bài học, còn áp đặt trong cách truyền thụ kiến thức dẫn đến học sinh tiếp thu một cách thụ động những gì giáo viên giảng dạy, dể gây tâm lý ngại học môn toán vì thấy khó, không hấp dẫn, không đọc thông tin trong sách giáo khoa

Nhưng nếu giáo viên hướng dẫn tốt cho học sinh biết cách khai thác, khám phá và tự biết tìm tòi phát hiện kiến thức, học sinh được chủ động trong các hoạt động toán học đa dạng phong phú thì tiết sẽ trở nên sinh động, tạo được niềm say mê hứng thú tích cực học tập cho học sinh, giúp các em chủ động phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức một cách nhanh chóng, hiệu quả, sáng tạo

Từ những giả thuyết nêu trên, tôi tìm hiểu và nghiên cứu việc nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn khai thác thông tin trong dạy học môn Toán Đại số lớp 8, thiết nghĩ

đó là việc làm đang được sư quan tâm hàng đầu đối với mỗi giáo viên môn Toán trong giai đoạn hiện nay

Trang 4

II NỘI DUNG :

1 Cơ sở lý luận :

1.1Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:

- Nghị quyết số 40/2000/QH X ngày 9/12/2000 của Quốc Hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là: “ Xây dựng nội dung chương trình , phương pháp giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đại hóa đật nước, phù hợp thực tiễn và truyền thống Việt nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.”

- Nghị quyết TW2- khoá VIII khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy, sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”

- Luật Giáo dục sửa đổi 2010, nêu rõ: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú

học tập cho học sinh”

1.2 Các quan niệm khác về giáo dục :

2.1 Quan điểm về dạy học môn Toán:

Theo Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Toán: “Dạy học toán thực chất là dạy hoạt động toán học Đối với học sinh có thể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động Toán học Trong dạy học toán, mỗi bài tập toán học được sử dụng với những dụng ý khác nhau, có thể dùng tạo tiền đề xuất phát, để gợi động cơ, để làm việc với nội dung mới,…đều hướng tới việc thực hiện các mục đích dạy học.”

2.2 Đặc điểm của dạy học môn Toán:

- Trong giảng dạy môn Toán Đại số, chủ yếu giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về định nghĩa, quy tắc, quy trình giải một loại bài toán qua đó nhằm giúp học sinh có thể giải quyết một số vấn đề toán học và giải quyết vấn đề thực tế cuộc sống

- Nội dung dạy học môn Toán Đại số thường liên quan đến các hoạt động sau :

Nhận dạng và thể hiện một khái niệm, một quy tắc, phương pháp, thuật toán, …

Những hoạt động mang tính toán học : Chứng minh, định nghĩa, giải toán bằng cách lập phương trình,

Những hoạt động trí tuệ : Phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự, trừu tượng hoá, khái quát hoá, đặc biết hoá,…

Những hoạt động ngôn ngữ : Giải thích, trình bày một lời giải, phát biểu một định nghĩa, quy tắc, một thuật toán,…

Trang 5

- Mục tiêu của dạy học môn toán nói chung, phân môn đại số nói riêng hướng tới hình thành cho học sinh năng lực tư duy độc lập, tư duy sáng tạo và hình thành phát triển năng lực

tự học một cách sáng tạo, chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội

2 Cơ sở thực tiễn :

2.1 Thực tiễn vấn đề nghiên cứu :

Trong thực tế giảng dạy hiện nay, dù giáo viên luôn cố gắng đổi mới phương pháp dạy

và học để học sinh luôn tích cực chủ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng và vận dụng kiến thức vào thực tiễn giải toán Song nhiều giờ học toán còn mang cảm giác nặng nề, chưa thật sự hấp dẫn được học sinh, các đối tượng học sinh hoạt động chưa đều, các em còn cho rằng đây là môn học khó, ngại học

Qua quá trình trực tiếp giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp, thực trạng của việc hướng dẫn học sinh khai thác thông tin kiến thức ở các trường trung học cơ sở nói chung trường THCS Bàu Năng nói riêng, bản thân nhận thấy những vấn đề sau:

+ Đối với học sinh :

+ Tình trạng chung hiện nay là học sinh thụ động

+ Một bộ phận học sinh trung bình, yếu chưa mạnh dạn phát biểu, chưa chủ động trong quá trình giải toán cũng như vận dụng kiến thức vào gải toán

+ Không biết cách khai thác thông tin trong sách giáo khoa

+ Lười nghiên cứu các thông tin của bài nên chưa thật sự mang lại hiệu quả cao về chất lượng giáo dục và đào tạo

+ Đối với giáo viên :

+ Phân loại chưa rõ các câu hỏi kết hợp bài tập hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức trong các bài học

+ Cách đặt và sử dụng hệ thống câu hỏi kích thích tư duy học sinh chưa phù hợp + Chưa nghiên cứu sâu vấn đề khai thác kiến thức như thế nào để học sinh tích cực hơn trong quá trình học tập nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Toán

2.2 Sự cần thiết của đề tài:

- Nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học theo Chuẩn kiến thức kỹ năng trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi giáo viên có biện pháp thích ứng trong việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động qua cách khai thác thông tin ở sách giáo khoa

- Để tính tích cực của học sinh được ngày càng nâng cao, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết tiếp cận, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng thông qua các hoạt động giải toán, hình thành thói quen vận dụng kiến thức toán học vào học tập các môn học khác và vào thực tiễn

- Để giúp học sinh vừa nắm được tri thức mới một cách chủ động, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo Giáo viên là người có vai trò quan trọng nhất là phải hướng dẫn học sinh biết khai thác thông tin trong sách giáo khoa ở tiết học sao cho có hiệu quả tối ưu về chất lượng đào tạo và đang là vấn đề quan tâm trong mỗi tiết dạy môn toán nói chung, môn đại số 8 nói riêng ở Trường THCS Bàu Năng

- Khi hướng dẫn học sinh khai thác thông tin một cách hợp lý, linh hoạt, dể hiểu sẽ thu hút được các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém tham gia hoạt động học tập

Trang 6

tích cực hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng môn Toán nói riêng, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh

3 Nội dung vấn đề:

3.1 Vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn khai thác kiến thức môn Đại số 8 :

Trong dạy học toán, mỗi bài tập toán học được sử dụng với những dụng ý khác nhau, có thể dùng tạo tiền đề xuất phát, để gợi động cơ, để làm việc với nội dung mới,…nhưng tất cả đều hướng tới việc thực hiện các mục tiêu dạy học toán

Do đó, để việc nâng cao tính tích cực học tập của học sinh qua hướng dẫn khai thác kiến thức mới của bài học trong dạy học môn toán nói chung, phân môn đại số nói riêng đạt hiệu quả cao, giáo viên cần có biện pháp thích ứng, cụ thể như:

- Tích cực hoá các hoạt động của học sinh, khơi dậy và phát triển năng lực tự học, hình thành tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo

- Đối với từng hoạt động sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi kết hợp bài tập dẫn để hướng dẫn học sinh tiếp cận, phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức

- Kết hợp linh hoạt một số kỹ thuật dạy học tích cực phù hợp với đặc trưng bộ môn Việc thực hiện được tiến hành:

a) Đối với của giáo viên:

-Thiết kế những hoạt động học tập giúp học sinh có thể tự thu thập thông tin và xử lý thông tin để tìm ra kiến thức thông qua hoạt động cá nhân hoặc nhóm Điều quan trọng của việc thiết kế này là tính logic của nội dung sao cho nổi bật và xoáy sâu trọng tâm

-Hệ thống câu hỏi có tác động làm kích thích tư duy độc lập chủ động và tích cực, kích thích lòng ham học hỏi, tạo sự say mê chiếm lĩnh tri thức, tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập một cách tự giác, chủ động v à bộc lộ khả năng tự nhận thức của mình

-Hoạt động của giáo viên bao gồm:

+ Nêu các câu hỏi, bài tập nhằm tạo tình huống có vấn đề, đây cũng là hoạt động cho học sinh tiếp cận thông tin kiến thức

+Tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động tư duy: phân tích, thực hành, so sánh, dự đoán,…để học sinh tích cực động não biết tự tìm được cách giải quyết câu hỏi, bài tập đã nêu + Nêu yêu cầu nhận xét, kết luận và giải thích

b) Đối với của học sinh :

-Học sinh được tham gia vào các hoạt động học tập hướng vào sự tìm kiếm và phát hiện ra thông tin kiến thức bài học thông qua các câu hỏi hay bài tập

-Học sinh được thực hành, phân tích lý luận theo cách suy nghĩ của mình, hình thành dần năng lực tự học thông qua hoạt động cá nhân hay nhóm, giúp học sinh có tính kiên định, mạnh dạn xử lý tình huống Từ đó học sinh có tính tự chủ, tự mình giải quyết và kết thúc vấn

đề và hình thành tính tập thể, biết chọn lọc lấy ý kiến hay của tập thể thành ý kiến riêng của mình

-Hoạt động tương ứng của học sinh gồm:

Trang 7

+Tiếp cận vấn đề: câu hỏi hay bài tập cần giải quyết.

+Động não giải quyết vấn đề, qua đó tìm ra những kiến thức cần tiếp thu

+Rút ra nhận xét, kết luận về những kiến thức cần lĩnh hội qua kiến thức đã biết

3.2 Giải quyết vấn đề đặt ra:

Trong các giờ dạy tiết lý thuyết trên lớp, giáo viên vận dụng các biện pháp tương thích để hướng dẫn các hoạt động trong khai thác thông tin kiến thức môn đại số 8 nhằm kích thích tính tích cực chủ động trong quá trình giải toán của học sinh:

3.2.1 Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh khi tiếp cận thông tin kiến thức:

Trong phần này thể hiện cấp độ nhận biết của học sinh, có sự kết hợp giữa bài tập và hệ thống câu hỏi gợi mở nhằm tái hiện kiến thức về quy tắc, định nghĩa, thuất toán,….đã biết để chuẩn bị cho việc tìm tòi và phát hiện kiến thức mới

Học sinh tiếp cận, thâm nhập và phát hiện vấn đề (kiến thức mới): giải bài tập vào lúc

mở đầu, có thể từ bài tập ? sgk hay chọn bài tập liên quan giữa kiến thức đã biết và kiến thức mới, để học sinh chủ động tìm ra kiến thức

 Hoạt động của học sinh chủ yếu là đọc thông tin, tái hiện kiến thức chuẩn bị tiến hành các hoạt động học tập tiếp theo

Phần này có thể chọn các bài tập ? ở sách giáo khoa để làm bài tập dẫn

Ví dụ minh hoạ:

Ví dụ 1: Khi hình thành khái niệm nghiệm của phương trình

Tiếp cận thông tin

Cho học sinh tiếp cận với kiến thức mới bằng cách thực hiện giải bài tập ?2 sgk/5: Khi x= 6 , x=5 tính giá trị mỗi vế của phương trình: 2x+5 = 3(x-1)+2 *Tái hiện kiến thức: HS nhớ lại cách tính giá trị biểu thức đã biết, có thể cho HS nhắc lại cách tính giá trị số của biểu thức Học sinh phải tiến hành thực hiện các phép toán đã biết ở lớp dưới giúp các em tái hiện kiến thức đã biết chuẩn bị cho việc tìm kiến thức mới

Câu hỏi thường sử dụng:

Hãy nhắc lại cách tính giá trị biểu thức…

Muốn tính giá trị biểu thức ta làm như thế nào? Hãy nêu các bước thực hiện

*Tổ chức đồng thời hai nhóm học sinh thực hiện để đối chiếu kết quả, mục đích gây sự chú ý cho học sinh ở bước 2 khi nhận xét về kết quả

(Hướng dẫn giải bài toán sẽ thực hiện ở hoạt động sau)

Ví dụ 2: Hình thành các bước giải phương trình đưa được về dạng ax+b=0

Tiếp cận thông tin

HS tiếp cận kiến thức bằng cách thực hành các bước giải toán (hoặc nghiên cứu lời giải bài toán):

Cho phương trình: 2x+5 = 3(x-1)+2 Hãy thực hiện

+ Thực hiện các phép tính

+ Chuyển các hạng tử chứa x, các hằng số sang một vế

+ Thu gọn từng vế, rồi tìm x

Trang 8

*Tái hiện kiến thức: Học sinh nhắc lại các kiến thức đã biết: bỏ ngoặc, thực hiện phép nhân đơn thức với đa thức, quy tắc chuyển vế

Câu hỏi thường sử dụng:

Hãy nhắc lại quy tắc…

Nêu các bước thực hiện…

*Tổ chức học sinh thực hiện theo nhóm so sánh, đối chiếu kết quả

Ví dụ 3: Hình thành cách giải phương trình tích

Tiếp cận thông tin

HS tiếp cận kiến thức bằng cách giải bài tập ?2 sgk/15 :

Hãy nhớ lại một tính chất của phép nhân các số, phát biểu tiếp các khẳng định sau: Trong một tích, nếu có một thừa số bằng 0 thì….; ngược lại, nếu tích bằng 0 thì ít nhất một trong các thừa số của tích …

*Tái hiện kiến thức: Học sinh nhắc lại các kiến thức đã biết về phép nhân các số ở lớp 7 Câu hỏi thường sử dụng:

Hãy nhắc lại tính chất của phép nhân…

Phát biểu tính chất của… Hay nếu: a.b.0 = ? và ngược lại a.b = 0 thì ….?

*Tổ chức học sinh cá nhân nhớ lại và trả lời

Với yêu câu của bài tập, kết hợp hệ thống câu hỏi và cách tổ chức giúp học sinh tích cực hơn hơn trong hoạt động tiếp cận, tìm ra hướng giải quyết nhanh chóng, hiệu quả

3.2.2 Tích cực hoá hoạt động nhận thức khi phát hiện và giải quyết vấn đề:

Thể hiện mức độ thông hiểu: kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ liệu, các định

nghĩa, thuật toán của học sinh thông qua tìm kiếm lời giải, cách giải quyết , biết hướng đi ở cách suy nghĩ Cho thấy học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày yếu tố cơ bản, so sánh các yếu tố cơ bản, khái quát, tương tự, dự đoán trong nội dung đang học

Một số phương pháp thích ứng đối với phân môn đại số trong hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề đặt ra, kèm ví dụ minh hoạ:

Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, thực hành, hoạt động thực tiễn:

Ví dụ 1: Khi hình thành khái niệm nghiệm của phương trình

Thực hiện giải bài tập ?2 sgk/5:

Khi x= 6 , x=5 , tính giá trị mỗi vế của phương trình: 2x+5 = 3(x-1)+2 Giải quyết vấn đề

Qua phần hướng dẫn (trong mục tiếp cận kiến thức), giáo viên cho hai học sinh trình bày đồng thời:

Khi x=6 ta có VT = 2.6+5 =17 và VP = 3(6-1)+2 =17

Khi x=5 ta có VT = 2.5+5 =15 và VP = 3(5-1)+2 =14

Sau khi nhận xét tính chính xác của lời giải, yêu cầu học sinh so sánh kết quả khi x=6 giá trị 2 vế của phương trình? Khi x=5 giá trị 2 vế của phương trình có gì khác biệt? Nêu

ý kiến nhận xét?

* Mâu thuẩn nhận thức đã xuất hiện kích thích tư duy học sinh khi thấy sự khác biệt giữa hai trường hợp:

Trang 9

Khi x= 6 giá trị hai vế bằng nhau

Khi x=5 giá trị hai vế không bằng nhau

Học sinh sẽ nêu ý kiến của mình Có thể cho HS dự đoán giá trị nào được gọi là nghiệm của phương trình?

Qua bước thực hành giải bài tập này, HS thấy hoặc dự đoán được giá trị nào là nghiệm của phương trình, làm cho học sinh phải có suy nghĩ trong so sánh, và đưa ra ý kiến của mình Nếu chỉ tính giá trị x=6 chưa làm nổi bậc khái niệm về nghiệm của phương trình

Ví dụ 2: Hình thành các bước giải phương trình đưa được về dạng ax+b=0

HS thực hành các bước giải toán:

Cho phương trình: 2x+5 = 3(x-1)+2 Hãy thực hiện

+ Thực hiện các phép tính

+ Chuyển các hạng tử chứa x, các hằng số sang một vế

+ Thu gọn từng vế, rồi tìm x

Giải quyết vấn đề

Cho học sinh từng bước thực hiện các yêu cầu đã nêu (hoặc cho học sinh nghiên cứu lời giải bài toán)

2x+5 = 3(x-1)+2

⇔ 2x +5 = 3x-3+2 (Thực hiện các phép tính, bỏ ngoặc)

⇔ 2x-3x = -3 +2-5 (Chuyển các hạng tử chứa x, các hằng số sang một vế)

⇔ -x = -6

⇔ x = 6 (Thu gọn từng vế, rồi tìm x)

Sau khi thực hiện song các bước theo yêu câu trên, rèn luyện học học sinh biết nhận xét đánh giá bài làm Yêu cầu tiếp theo là suy nghĩ nêu các bước giải hoặc dự đoán cách giải Qua đó các em cũng học được cách biết quy lạ về quen để giải quyết bài toán, là phương pháp đặc trưng của môn đại số

→ Học sinh diễn đạt tích cực chủ động theo ý hiểu.

Khi tiến hành giải bài toán, HS đã chủ động trong việc thực hiện giải phương trình, và tìm ra các bước giải nhanh chóng hơn Về mặt tổ chức có thể cho học sinh hoạt động cá nhân hay theo nhóm tuỳ mức độ của lớp

Lật ngược vấn đề:

Ví dụ : Hình thành phép chia đa thức: Cho học sinh giải bài tập:

1/ Hãy tính 3x2 4xy

2/ Hãy tìm Q sao cho :

a) 3x2 Q = 12x3y b) Q 4xy = 12x3y

Giải quyết vấn đề Học sinh dể dàng tính được :

1) 3x2 4xy = 12x3y

2a) Q = 4xy b) Q = 3x2

Qua bài toán, cho B và Q là hai đa thức, ta luôn tính được tích B.Q =A Ngược lại,

nếu biết A và B thì ta tìm được đa thức Q?

Giáo viên hướng dẫn tiếp: Nếu tìm được thì ta nói ta có một phép tính gọi là phép chia

Trang 10

→ hình thành khái niệm về phép chia đa thức

Xem xét tương tự hoá, khái quát hoá:

Ví dụ : Hình thành hằng đẳng thức bình phương một hiệu hai biểu thức

Từ hằng đẳng thức “Bình phương một tổng hai biểu thức” có thể suy ra hằng đẳng thức “Bình phương một hiệu hai biểu thức ”

Biết bình phương của một tồng: (a+b)2 = (a+b)(a+b) = a2 +2ab + b2 Ta tính bình phương một hiệu tương tự được không?

Đồng thời cho giải bài tập ?3 sách giáo khoa : Tính [a+(-b)]2 =?

Giải quyết vấn đề Hai học sinh tiến hành giải đồng thời theo hai cách

Học sinh 1: (a-b)2 = (a-b)(a-b) = …= a2 -2ab + b2

Học sinh 2: [a+(-b)]2 = a2 -2ab + b2

Cho học sinh quan sát nhận xét cách làm, rút ra kiến thức mới : Bình phương một hiệu  Khai thác kiến thức cũ đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới:

Ví dụ 1: Xét lại Ví dụ 3 mục a phần trên : Hình thành cách giải phương trình tích

Bằng cách giải bài tập ?2 sgk/15 :

Hãy nhớ lại một tính chất của phép nhân các số, phát biểu tiếp các khẳng định sau: Trong một tích, nếu có một thừa số bằng 0 thì….; ngược lại, nếu tích bằng 0 thì ít nhất một trong các thừa số của tích …

Giải quyết vấn đề

Trong một tích, nếu có một thừa số bằng 0 thì tích bằng 0; ngược lại, nếu tích bằng 0 thì ít nhất một trong các thừa số của tích bằng 0

Giáo viên đưa phương trình: (2x-3)(x+1) =0 Nêu cách giải phương trình

⇔2x-3 =0 hoặc x+1 =0

⇔x = 3/2 hoặc x =-1

Qua giải bài tập cho thấy từ việc khai thác kiến thức cũ, có thể đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới, giúp HS dể dàng tiếp thu bài hơn

* Hoạt động này kết hợp nhuần nhuyễn: tái hiện và tìm kiếm kiến thức, trong đó cơ hội

và điều kiện để việc tìm kiến thức chiếm ưu thế hơn

Ví dụ 2: Hình thành khái niệm hai phân thức bằng nhau:

Cho học giải bài tập: Hãy giải thích vì sao 1 5

2 10= ? (Nhắc lại kiến thức về hia phân số

bằng nhau ở lớp 6)

Hay bài tập: Khi nào a

b bằng c

d ? ( Có thể gợi ý học sinh nhớ lại khái niệm về tỉ lệ thức) Giải quyết vấn đề Học sinh tại chổ coóthể trả lời nhanh:

1 5

2 10= vì 2.5 =1.10, Các em có thể trả lời: 5 : 5 1

10 : 5= 2 giaáoviên cần hướng các em nêu được cách trước

a

b=c

d khi a.d =b.c →Giới thiệu kiến thức mới: hai phân thức bằng nhau

Ngày đăng: 27/11/2014, 11:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w