1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên

114 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 839 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên 1.1. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển nhân loại, là vấn đề được mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Bên cạnh những giá trị chung của nhân loại, đạo đức bao gồm những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, lý tưởng... có tính chất nhất thời về lịch sử và có tính giai cấp. Ở thời đại nào, dưới chế độ nào thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng tới cái thiện, hướng tới quan hệ đẹp đẽ của con người. Từ xưa ông cha ta đã dạy “Tiên học lễ, hậu học văn”, phải chăng “lễ” là đạo đức, là nền tảng cho sự phát triển nhân cách của con người. Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, từ rất sớm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đặc biệt đối với việc dạy học và giáo dục Người còn chỉ rõ: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức trong trường học là một bộ phận có tính chất nền tảng của nhà trường XHCN”. 1.2. Tại đại hội IX Đảng ta đã chỉ rõ phải: “Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm”. Đúng vậy, với nghề dạy học, đạo đức của người thầy luôn được coi trọng, là nhân tố quyết định đến sự thành công. Bởi lẽ, không chỉ mang đến tri thức, người giáo viên còn phải đảm đương cả trách nhiệm giáo dục, uốn nắn về đạo đức, tình cảm cho học sinh theo những chuẩn mực xã hội quy định. Và bởi “sản phẩm” mà thầy cô giáo làm ra chính là nhân cách học sinh. Làm hư một viên ngọc có thể bỏ đi, làm hư một đồ vàng có thể nấu lại nhưng làm hỏng một con người đó là tội lớn. Khi đã lựa chọn nghề giáo, đòi hỏi người giáo viên phải có tình yêu thương học sinh, sự nỗ lực hết mình, tình cảm thiết tha, gắn bó với nghề và cả sự hy sinh thầm lặng. Để có được trang giáo án hoàn chỉnh, bài giảng sinh động, lôi cuốn thì cần phải có biết bao giọt mồ hôi rơi xuống bằng chính lương tâm, trách nhiệm của người thầy. Muốn làm một giáo viên trước hết phải có đạo đức – đó là nhân tố nền tảng, là gốc của con người. Với ý nghĩa đó, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường sư phạm là vô cùng quan trọng và cần thiết. Văn kiện Đại hội IX của Đảng còn vạch rõ: “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, khẳng định mục tiêu tổng quát: “Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, trở thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao và phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Chiến lược đưa ra 6 mục tiêu cụ thể hóa mục tiêu tổng quát, trong đó mục tiêu đầu tiên, liên quan đến vấn đề giáo dục tư tưởng, chính trị và đạo đức: “Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên”. 1.3. Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành TƯ tại đại hội IX còn nhận định về vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên như một lời cảnh báo về những thay đổi sau 5 năm đổi mới: “Chất lượng giáo dục, nhất là chất lượng giáo dục tư tưởng, đạo đức còn kém, một bộ phận học sinh, sinh viên mờ nhạt về lý tưởng xã hội chủ nghĩa”. Đúng vậy, trong xu thế hội nhập, xu thế toàn cầu hóa diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội đã ảnh hưởng nhiều đến tầng lớp sinh viên. Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì mặt trái của nó cũng len lỏi, xâm nhập vào mọi tầng lớp, trong đó có HSSV, khiến cho một bộ phận sinh viên sa sút về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, hoài bão, ước mơ,... Thực tế, sinh viên vào học trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau. Phần đông các em chọn học ngành sư phạm vì cho rằng để có việc làm ổn định mà chưa đặt lòng yêu nghề nghiệp, thích làm công việc dạy học lên hàng đầu. Số sinh viên có hiểu biết và có lí tưởng về nghề dạy học khi vào học sư phạm còn ít. Nhận thức của sinh viên về đạo đức nghề dạy học còn hạn hẹp. Đa phần sinh viên chưa có ý thức cao trong việc tự bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho mình. Còn có hiện tượng thi hộ, thi thay trong kỳ thi kết thúc học phần. Trong các đợt thực tập sư phạm ở trường phổ thông còn mang tính đối phó với yêu cầu, điểm số, chưa thực sự tận tuỵ, tâm huyết với nghề, lòng yêu trẻ ở một số sinh viên còn mờ nhạt. Hơn nữa, quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm nói chung, trường CĐSP Kiên Giang nói riêng còn nặng về trang bị tri thức khoa học, chưa chú ý đúng mức về rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức của người giáo viên tương lai. Các hình thức giáo dục đạo đức nghề dạy học cho sinh viên của trường còn đơn điệu, chưa chưa đồng bộ, nghèo về nội dung, chủ yếu là thông qua các môn học. Là giáo viên của trường, tôi luôn ý thức rõ việc đào tạo ra những người thầy giáo tương lai vừa có tài vừa có đức, trong đó đức là nền tảng có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, việc tìm ra biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm là vô cùng cần thiết. Những lí do trên là động lực thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang” để nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục đạo đức nghệ nghiệp cho sinh viên, đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Kiên Giang nhằm giáo dục phẩm chất đạo đức nhà giáo cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các trường sư phạm nói chung, trường cao đẳng sư phạm Kiên Giang nói riêng. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng 3.2. Đối tượng nghiên cứu Đạo đức nghề nghiệp và các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 4. Giả thuyết khoa học Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm. Trường sư phạm là môi trường giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành năng lực và phẩm chất của giáo viên khi ra trường. Hiện nay, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Kiên Giang chưa được quan tâm đúng mức, nghèo về nội dung, đơn điệu về hình thức và chưa có sự đồng bộ. Nếu xác đinh được các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp với nhiều hình thức thiết thực, tác động từ nhận thức đến thái độ hành vi, thói quen cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Kiên Giang thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm. Khảo sát, đánh giá thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên cao đẳng sư phạm và việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Kiên Giang. Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang và tiến hành thực nghiệm sư phạm. 6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Khảo sát đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp của sinh viên năm thứ nhất K31, sinh viên năm thứ hai K30 thuộc khoa Tự nhiên, khoa Xã hội và khoa Tiểu học của trường CĐSP Kiên Giang. Các biện pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên hệ chính qui của nhà trường 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, các tài liệu liên quan đến đề tài. 7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.1. Phương pháp quan sát Thu thập những tư liệu thực tiễn phản ánh đạo đức nói chung và việc rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp nói riêng của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang. 7.2.2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục Nhằm tổng kết kinh nghiệm giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm từ các thông tin khoa học giáo dục trong nước, kinh nghiệm của đồng nghiệp, bản thân từ đó rút ra những kết luận khoa học cần thiết. 7.2.3. Phương pháp điều tra Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến khảo sát thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên, biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường CĐSP Kiên Giang. 7.2.4. Phương pháp thực nghiệm khoa học Nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp, hình thức đã đề xuất. 7.2.5. Phương pháp chuyên gia Lấy ý kiến chuyên gia về việc biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên. 7.3. Phương pháp thống kê Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu đã được điều tra và làm căn cứ khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM 1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Hàng ngàn năm nay dù trong chế độ xã hội nào, ở phương Đông hay phương Tây, thì vai trò và vị trí của người thầy giáo cũng luôn được đề cao, máy móc dù thông minh đến đâu cũng không thể thay thế được. Điển hình ở phương Tây, J.A.Komenxki (15921670) ông tổ của nền sư phạm cận đại đã đánh giá rất cao về vai trò của các phẩm chất đạo đức trong nhân cách sư phạm. Ông so sánh người giáo viên khi thì như một người điêu khắc tích cực, khi thì như một người công bộc trung thành và trong sạch của thế giới đang nung nấu ý muốn xua tan bóng tối của trí tuệ, đem lại ánh sáng cho mọi tư tưởng và hành động. Người giáo viên phải là người có học thức và yêu lao động, yêu một cách không bờ bến công việc của mình. Theo ông, nghề thầy giáo là nghề rất vinh dự “dưới ánh mặt trời không có nghề nghiệp nào cao quý hơn” 9; 88. Do đó họ phải gương mẫu về mọi mặt, đặc biệt là phải có tình yêu thương thành thực đối với học sinh, bởi “anh không thể như một người cha thì cũng không thể là một người thầy” 9; 88. Ông nhấn mạnh đến phẩm chất của người thầy giáo đó là sự niềm nở và nhiệt tình, không cho phép bất cứ một cử chỉ nặng nề nào khiến học sinh xa lánh mình. Thầy giáo cần lôi kéo học sinh bằng suy nghĩ, bằng cách đối xử và những lời lẽ của một người cha. Theo ông, một khi thầy cô giáo biết đối xử với học sinh bằng tình thương mến, chẳng mấy chốc sẽ thu hút được trái tim chúng và thậm chí học sinh sẽ mong đến trường hơn là ngồi ở nhà. Ở phương Đông, người thầy được nhắc nhiều đến là Khổng Tử (551479) là người sáng lập ra thuyết đạo đức của Nho giáo. Theo ông, nhânnghĩa là giường cột của đạo đức, nhân nghĩa được đánh giá theo hành vi. Quan điểm đạo đức của Khổng Tử hướng đến việc khuyên bảo dạy dỗ con người yêu thương đồng loại, có quan hệ tốt với nhau, biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lành thiết tha mong muốn làm cho con người tránh được, bớt được đau khổ. Ở Việt Nam, khi nhắc đến thầy cô giáo, chúng ta nghĩ đến hình ảnh “người lái đò chở chữ” và in đậm trong tâm trí của biết bao người. Hình ảnh đó gợi lên sự tận tụy, hy sinh thầm lặng, gieo vào lòng thế hệ trẻ niềm tin yêu cuộc sống, yêu quê hương, yêu dân tộc và tiến đến kho tàng tri thức của nhân loại. Với vai trò to lớn đó của người thầy giáo mà vấn đề ĐĐNN, GDĐĐNN cho SVSP luôn được sự chú ý, quan tâm, của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học, các thầy cô giáo, phụ huynh học sinh và các lực lượng khác trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sáng nền giáo dục mới Việt Nam và hết sức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có rất nhiều bài nói chuyện, bài viết về giáo dục chứa đựng những quan điểm, tư tưởng giáo dục hết sức vĩ đại mà lại cụ thể và sâu sắc. Trong đó phải kể đến những lời giáo huấn của Bác dành cho những người làm công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ. Trong buổi nói chuyện với GV và sinh viên Trường ĐHSP Hà Nội, ngày 21101964, Bác nói: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ trẻ sau này tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS. Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những Anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang”. Lời nói của Bác thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo”của dân tộc, sự đánh giá đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về sứ mệnh trọng đại của người thầy giáo, đồng thời cũng là những đòi hỏi rất cao về phẩm chất người thầy. Qua đó, chúng ta cũng thấy quan điểm của Bác Hồ về “người thầy giáo tốt” là vô cùng sáng tỏ, vừa cụ thể, thiết thực, vừa có ý nghĩa lâu dài. Phẩm chất của “những Anh hùng vô danh” ấy gồm cả đức và tài. Về đức của người thầy, cũng như đức của cán bộ, đảng viên. Bác luôn nhắc nhở: “Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”. Bác chỉ rõ: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta phải góp phần vào công cuộc xây dựng CNXH. Phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc, nghĩa là khó khăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đấy là đạo đức cách mạng”. cái đức của người thầy giáo còn được biểu hiện ở tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Bác nói: “Đoàn kết thực sự, giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò,… giữa cán bộ và công nhân. Toàn thể nhà trường phải đoàn kết thành một khối, đoàn kết phải thực sự trăm phần trăm, chứ không phải chỉ đoàn kết ngoài miệng”. Bác nhắc nhở thêm cái đức của người thầy là “Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chống lề mề, luộm thuộm” và “phải thật thà yêu nghề mình, thật thà yêu trường mình MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 4 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4 4. Giả thuyết khoa học 4 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5 7. Phương pháp nghiên cứu 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM 7 1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7 1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 13 1.2.1. Khái niệm đạo đức nghề nghiệp 13 1.2.2. Đạo đức nghề nghiệp của nghề dạy học 16 1.2.3. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp 20 1.2.4. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên CĐSP 23 1.3. Yêu cầu về ĐĐNN cần giáo dục cho SV CĐSP 24 1.3.1. Mục tiêu đào tạo của trường cao đẳng sư phạm 24 1.3.2. Chuẩn giáo viên THCS và Quy định đạo đức nhà giáo 25 1.4. Các con đường giáo dục ĐĐNN cho SV CĐSP 29 1.4.1. Đặc điểm sinh viên CĐSP 29 1.4.2. Các con đường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SVCĐSP 31 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35 Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KIÊN GIANG 37 2.1. Khái quát về trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 37 2.2. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 39 2.2.1. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 39 2.2.2. Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 52 2.3. Đánh giá thực trạng 64 2.3.1. Những kết quả đạt được của công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang. 64 2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân 65 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68 Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KIÊN GIANG VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70 3.1. Các nguyên tắc xác định xác định biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 70 3.1.1. Đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm của sinh viên CĐSP 70 3.1.2. Đảm bảo tính thường xuyên, liên tục 70 3.1.3. Đảm bảo tính đa dạng và đồng bộ 71 1.3.4. Đảm bảo đáp ứng mục tiêu đào tạo của trường CĐSP 71 3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72 3.2. Biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 72 3.2.1. Khai thác nội dung khoa học của môn Giáo dục học để giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên. 74 3.2.2. Tổ chức hoạt động ngoại khóa gắn với nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp 76 3.2.3. Xác định nội dung hoạt động của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội sinh viên hướng vào việc rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 78 3.2.4. Thành lập tổ tư vấn cho sinh viên về học tập và nghề nghiệp tương lai 80 3.2.5. Tổ chức cho sinh viên nghiên cứu và thực hiện các cuộc vận động hai không với bốn nội dung của Bộ GDĐT 82 3.2.6. Thông qua tổ chức các đợt thực tập sư phạm để hình thành, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức nghề dạy học cho sinh viên 83 3.2.7. Tổ chức các hoạt động chính trịxã hội gắn với truyền thống giáo dục của địa phương Kiên Giang 85 3.3. Tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang 86 3.3.1. Tính khả thi của các biện pháp 86 3.3.2. Khảo nghiệm về sự cần thiết của các biện pháp 88 3.4. Thực nghiệm sư phạm 91 3.4.1. Mục đích thực nghiệm 91 3.4.2. Đối tượng thực nghiệm 91 3.4.3. Nội dung thực nghiệm 91 3.4.4. Tiến hành thực nghiệm 92 3.4.5. Phân tích kết quả thực nghiệm 97 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102 1. Kết luận 100 2. Kiến nghị 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớmtrong lịch sử phát triển nhân loại, là vấn đề được mọi giai cấp, mọi thời đạiquan tâm Bên cạnh những giá trị chung của nhân loại, đạo đức bao gồmnhững tiêu chuẩn, những nguyên tắc, lý tưởng có tính chất nhất thời về lịch

sử và có tính giai cấp Ở thời đại nào, dưới chế độ nào thì nét chung của đạođức vẫn là hướng tới cái thiện, hướng tới quan hệ đẹp đẽ của con người Từxưa ông cha ta đã dạy “Tiên học lễ, hậu học văn”, phải chăng “lễ” là đạo đức,

là nền tảng cho sự phát triển nhân cách của con người Khi đánh giá vai tròcủa đạo đức trong đời sống, từ rất sớm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng địnhđạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọnnguồn của sông suối Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũngkhông lãnh đạo được nhân dân” Đặc biệt đối với việc dạy học và giáo dụcNgười còn chỉ rõ: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả đức lẫn tài Đức làđạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng Công tác giáo dục đạo đứctrong trường học là một bộ phận có tính chất nền tảng của nhà trườngXHCN”

1.2 Tại đại hội IX Đảng ta đã chỉ rõ phải: “Phát triển đội ngũ giáoviên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm” Đúng vậy, với nghề dạyhọc, đạo đức của người thầy luôn được coi trọng, là nhân tố quyết địnhđến sự thành công Bởi lẽ, không chỉ mang đến tri thức, người giáo viêncòn phải đảm đương cả trách nhiệm giáo dục, uốn nắn về đạo đức, tìnhcảm cho học sinh theo những chuẩn mực xã hội quy định Và bởi “sảnphẩm” mà thầy cô giáo làm ra chính là nhân cách học sinh Làm hư một

Trang 2

viên ngọc có thể bỏ đi, làm hư một đồ vàng có thể nấu lại nhưng làm hỏngmột con người đó là tội lớn Khi đã lựa chọn nghề giáo, đòi hỏi ngườigiáo viên phải có tình yêu thương học sinh, sự nỗ lực hết mình, tình cảmthiết tha, gắn bó với nghề và cả sự hy sinh thầm lặng Để có được tranggiáo án hoàn chỉnh, bài giảng sinh động, lôi cuốn thì cần phải có biết baogiọt mồ hôi rơi xuống bằng chính lương tâm, trách nhiệm của người thầy.Muốn làm một giáo viên trước hết phải có đạo đức – đó là nhân tố nềntảng, là gốc của con người Với ý nghĩa đó, việc giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên trường sư phạm là vô cùng quan trọng và cần thiết.

Văn kiện Đại hội IX của Đảng còn vạch rõ: “Đối với thế hệ trẻ, chăm

lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng,đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, pháttriển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 của Thủtướng Chính phủ, khẳng định mục tiêu tổng quát: “Tăng cường giáo dục, bồidưỡng, đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, trở thànhnguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao và phát huy tốt vai trò xung kích, sángtạo của thanh niên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước” Chiến lược đưa ra 6 mục tiêu cụ thể hóa mục tiêu tổng quát, trong

đó mục tiêu đầu tiên, liên quan đến vấn đề giáo dục tư tưởng, chính trị vàđạo đức: “Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa

xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáodục đạo đức cách mạng cho thanh niên”

1.3 Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành TƯ tại đại hội IX còn nhậnđịnh về vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên như một lời cảnh báo vềnhững thay đổi sau 5 năm đổi mới: “Chất lượng giáo dục, nhất là chất lượng

Trang 3

giáo dục tư tưởng, đạo đức còn kém, một bộ phận học sinh, sinh viên mờnhạt về lý tưởng xã hội chủ nghĩa” Đúng vậy, trong xu thế hội nhập, xu thếtoàn cầu hóa diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội đã ảnh hưởng nhiềuđến tầng lớp sinh viên Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực thì mặt trái của

nó cũng len lỏi, xâm nhập vào mọi tầng lớp, trong đó có HSSV, khiến chomột bộ phận sinh viên sa sút về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, hoài bão, ướcmơ,

Thực tế, sinh viên vào học trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang xuấtphát từ nhiều động cơ khác nhau Phần đông các em chọn học ngành sư phạm

vì cho rằng để có việc làm ổn định mà chưa đặt lòng yêu nghề nghiệp, thíchlàm công việc dạy học lên hàng đầu Số sinh viên có hiểu biết và có lí tưởng

về nghề dạy học khi vào học sư phạm còn ít Nhận thức của sinh viên về đạođức nghề dạy học còn hạn hẹp Đa phần sinh viên chưa có ý thức cao trongviệc tự bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho mình Còn có hiệntượng thi hộ, thi thay trong kỳ thi kết thúc học phần Trong các đợt thực tập

sư phạm ở trường phổ thông còn mang tính đối phó với yêu cầu, điểm số,chưa thực sự tận tuỵ, tâm huyết với nghề, lòng yêu trẻ ở một số sinh viên còn

mờ nhạt Hơn nữa, quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm nóichung, trường CĐSP Kiên Giang nói riêng còn nặng về trang bị tri thức khoahọc, chưa chú ý đúng mức về rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp và phẩm chấtđạo đức của người giáo viên tương lai Các hình thức giáo dục đạo đức nghềdạy học cho sinh viên của trường còn đơn điệu, chưa chưa đồng bộ, nghèo vềnội dung, chủ yếu là thông qua các môn học Là giáo viên của trường, tôiluôn ý thức rõ việc đào tạo ra những người thầy giáo tương lai vừa có tài vừa

có đức, trong đó đức là nền tảng có vai trò đặc biệt quan trọng Vì vậy, việctìm ra biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm là vôcùng cần thiết

Trang 4

Những lí do trên là động lực thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài

“Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng giáo dục đạo đức nghệnghiệp cho sinh viên, đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Kiên Giang nhằm giáo dụcphẩm chất đạo đức nhà giáo cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục và đào tạo ở các trường sư phạm nói chung, trường cao đẳng sưphạm Kiên Giang nói riêng

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đạo đức nghề nghiệp và các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang

4 Giả thuyết khoa học

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sưphạm Trường sư phạm là môi trường giáo dục có ý nghĩa quan trọng trongviệc hình thành năng lực và phẩm chất của giáo viên khi ra trường Hiệnnay, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng sưphạm Kiên Giang chưa được quan tâm đúng mức, nghèo về nội dung, đơnđiệu về hình thức và chưa có sự đồng bộ Nếu xác đinh được các biện phápgiáo dục đạo đức nghề nghiệp với nhiều hình thức thiết thực, tác động từnhận thức đến thái độ hành vi, thói quen cho sinh viên trường cao đẳng sưphạm Kiên Giang thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà

Trang 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên cao đẳng sư phạm

- Khảo sát, đánh giá thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên caođẳng sư phạm và việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trườngCao đẳng sư phạm Kiên Giang

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang và tiến hành thực nghiệm sưphạm

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Khảo sát đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức nghề nghiệp củasinh viên năm thứ nhất K31, sinh viên năm thứ hai K30 thuộc khoa Tựnhiên, khoa Xã hội và khoa Tiểu học của trường CĐSP Kiên Giang

Các biện pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên hệ chính qui của nhàtrường

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá, các tài liệu liên quanđến đề tài

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Thu thập những tư liệu thực tiễn phản ánh đạo đức nói chung và việcrèn luyện, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp nói riêng của sinh viên trườngCao đẳng Sư phạm Kiên Giang

7.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Nhằm tổng kết kinh nghiệm giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp

Trang 6

cho sinh viên sư phạm từ các thông tin khoa học giáo dục trong nước, kinhnghiệm của đồng nghiệp, bản thân từ đó rút ra những kết luận khoa học cầnthiết

7.2.3 Phương pháp điều tra

Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến khảo sát thực trạng đạo đức nghềnghiệp của sinh viên, biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường CĐSPKiên Giang

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm khoa học

Nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp, hình thức đã đề xuất

7.2.5 Phương pháp chuyên gia

Lấy ý kiến chuyên gia về việc biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên

7.3 Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu đã được điều tra

và làm căn cứ khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP

CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hàng ngàn năm nay dù trong chế độ xã hội nào, ở phương Đông hayphương Tây, thì vai trò và vị trí của người thầy giáo cũng luôn được đề cao,máy móc dù thông minh đến đâu cũng không thể thay thế được

Điển hình ở phương Tây, J.A.Komenxki (1592-1670) - ông tổ của nền

sư phạm cận đại đã đánh giá rất cao về vai trò của các phẩm chất đạo đứctrong nhân cách sư phạm Ông so sánh người giáo viên khi thì như mộtngười điêu khắc tích cực, khi thì như một người công bộc trung thành vàtrong sạch của thế giới đang nung nấu ý muốn xua tan bóng tối của trí tuệ,đem lại ánh sáng cho mọi tư tưởng và hành động Người giáo viên phải làngười có học thức và yêu lao động, yêu một cách không bờ bến công việccủa mình Theo ông, nghề thầy giáo là nghề rất vinh dự “dưới ánh mặt trờikhông có nghề nghiệp nào cao quý hơn” [9; 88] Do đó họ phải gương mẫu

về mọi mặt, đặc biệt là phải có tình yêu thương thành thực đối với học sinh,bởi “anh không thể như một người cha thì cũng không thể là một ngườithầy!” [9; 88] Ông nhấn mạnh đến phẩm chất của người thầy giáo đó là sựniềm nở và nhiệt tình, không cho phép bất cứ một cử chỉ nặng nề nào khiếnhọc sinh xa lánh mình Thầy giáo cần lôi kéo học sinh bằng suy nghĩ, bằngcách đối xử và những lời lẽ của một người cha Theo ông, một khi thầy côgiáo biết đối xử với học sinh bằng tình thương mến, chẳng mấy chốc sẽ thuhút được trái tim chúng và thậm chí học sinh sẽ mong đến trường hơn làngồi ở nhà

Ở phương Đông, người thầy được nhắc nhiều đến là Khổng Tử

Trang 9

(551-479) là người sáng lập ra thuyết đạo đức của Nho giáo Theo ông, nghĩa là giường cột của đạo đức, nhân nghĩa được đánh giá theo hành vi.Quan điểm đạo đức của Khổng Tử hướng đến việc khuyên bảo dạy dỗ conngười yêu thương đồng loại, có quan hệ tốt với nhau, biểu thị rõ tinh thần và

nhân-ý chí tốt lành thiết tha mong muốn làm cho con người tránh được, bớt đượcđau khổ

Ở Việt Nam, khi nhắc đến thầy cô giáo, chúng ta nghĩ đến hình ảnh

“người lái đò chở chữ” và in đậm trong tâm trí của biết bao người Hình ảnh

đó gợi lên sự tận tụy, hy sinh thầm lặng, gieo vào lòng thế hệ trẻ niềm tin yêucuộc sống, yêu quê hương, yêu dân tộc và tiến đến kho tàng tri thức của nhânloại

Với vai trò to lớn đó của người thầy giáo mà vấn đề ĐĐNN,GDĐĐNN cho SVSP luôn được sự chú ý, quan tâm, của các cấp lãnh đạoĐảng và Nhà nước, các nhà khoa học, các thầy cô giáo, phụ huynh học sinh

và các lực lượng khác trong xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sáng nền giáo dục mới Việt Nam vàhết sức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có rất nhiều bài nóichuyện, bài viết về giáo dục chứa đựng những quan điểm, tư tưởng giáo dụchết sức vĩ đại mà lại cụ thể và sâu sắc Trong đó phải kể đến những lời giáohuấn của Bác dành cho những người làm công tác giáo dục và đào tạo thế hệtrẻ

Trong buổi nói chuyện với GV và sinh viên Trường ĐHSP Hà Nội,ngày 21/10/1964, Bác nói: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ trẻsau này tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS Người thầy giáo tốt –thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi khôngđăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầygiáo tốt là những Anh hùng vô danh Đây là một điều rất vẻ vang” Lời nói

Trang 10

của Bác thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo”của dân tộc, sự đánh giáđúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về sứ mệnh trọng đại củangười thầy giáo, đồng thời cũng là những đòi hỏi rất cao về phẩm chất ngườithầy.

Qua đó, chúng ta cũng thấy quan điểm của Bác Hồ về “người thầygiáo tốt” là vô cùng sáng tỏ, vừa cụ thể, thiết thực, vừa có ý nghĩa lâu dài.Phẩm chất của “những Anh hùng vô danh” ấy gồm cả đức và tài

Về đức của người thầy, cũng như đức của cán bộ, đảng viên Bác luônnhắc nhở: “Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc rất quan trọng Nếukhông có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng Đạo đức cách mạng làtriệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân” Bácchỉ rõ: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta phải góp phần vào công cuộc xâydựng CNXH Phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu, hậu lạc, nghĩa là khókhăn thì chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ Đấy là đạođức cách mạng” cái đức của người thầy giáo còn được biểu hiện ở tinh thầnđoàn kết, tương thân tương ái Bác nói: “Đoàn kết thực sự, giữa thầy và thầy,giữa thầy và trò,… giữa cán bộ và công nhân Toàn thể nhà trường phảiđoàn kết thành một khối, đoàn kết phải thực sự trăm phần trăm, chứ khôngphải chỉ đoàn kết ngoài miệng” Bác nhắc nhở thêm cái đức của người thầy

là “Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chống lề mề, luộmthuộm” và “phải thật thà yêu nghề mình, thật thà yêu trường mình”

Việc nhận thức và học tập những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽgiúp người thầy giáo có đủ uy tín khi đứng trước học sinh và có thể làm tốtnhiệm vụ “trồng người” của mình, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay một

bộ phận giáo viên, sinh viên có sự xuống cấp về đạo đức nghề nghiệp

Ngày 29/06/1962, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có bài phát biểu tạitrường Đại học Sư phạm Hà Nội Đồng chí đã nhấn mạnh “những thầy giáo

Trang 11

không yêu nghề cũng có nghĩa là đồng chí đó không yêu người Càng yêunghề bao nhiêu thì càng yêu người bấy nhiêu” Lời căn dặn của đồng chí cốTổng Bí thư đã trở thành phương châm hành động của rất nhiều thế hệ giáoviên dưới mái trường XHCN Các phẩm chất: yêu người và yêu nghề đóchính là những phẩm chất trụ cột, nền tảng trong ĐĐNN của người giáoviên.

Thêm vào đó ĐĐNN, GDĐĐNN còn là vấn đề được quan tâm bởi rấtnhiều các nhà khoa học giáo dục, các thầy cô giáo… Cụ thể là:

- GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng “Tri thức có thể có được bằng cáchluyện cấp tốc trong một thời gian ngắn nhưng phẩm chất nghề nghiệp thìkhông thể có được trong ngày một, ngày hai Những phẩm chất đó muốn cóđược phải tổ chức giáo dục chặt chẽ ngay từ khi sinh viên mới bước vàotrường” Trong bài viết của mình tác giả nhấn mạnh việc giáo dục để sinhviên sư phạm có được những phẩm chất nghề nghiệp là một công việc lâudài, khó khăn và phức tạp Quá trình GDĐĐNN được chia thành nhiều giaiđoạn, nhưng giai đoạn học tập và nghiên cứu ở trường sư phạm là quantrọng nhất và phải tiến hành chặt chẽ

- Tác giả PGS Lê Văn Hồng, trong công trình nghiên cứu “Tâm lý họclứa tuổi và Tâm lý học sư phạm”, ông dành hẳn một chương để nói về nhâncách người thầy giáo Tác giả đã đi sâu phân tích những đặc điểm của laođộng sư phạm trên cơ sở đó chỉ ra các phẩm chất của người thầy giáo, đó là:

+ Thế giới quan khoa học

+ Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ

+ Lòng yêu nghề

+ Những phẩm chất đạo đức và ý chí của người thầy giáo

Theo tác giả, phẩm chất đạo đức là một trong hai yếu tố tạo nên uy tínchân chính của người thầy giáo Có thể nói, việc chỉ ra các phẩm chất của

Trang 12

người thầy giáo của tác giả Lê Văn Hồng là hết sức khoa học và hợp lý Vìcác phẩm chất đó là kết quả tất yếu của quá trình tư duy lô gíc và phân tíchcác vấn đề liên quan: sự cần thiết phải trau dồi nhân cách và đặc điểm laođộng sư phạm.

Tác giả còn cho rằng trường sư phạm có ý nghĩa cực kỳ quan trọngtrong việc xây dựng nên những cơ sở trọng yếu để hình thành nhân cáchngười thầy giáo tương lai Thời gian học tập và tu dưỡng của SV ở trường

sư phạm là vô cùng quan trọng để tạo nên những tiền đề cần thiết tạo nênnhân cách đó

- Hai tác giả PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào và GS.TS Nguyễn QuangUẩn cũng trong công trình “Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học

sư phạm” về cơ bản có nhiều điểm tương đồng và trùng khớp với PGS LêVăn Hồng khi nói về phẩm chất người thầy giáo Song, hai tác giả này lạicho rằng: Trong những phẩm chất nhân cách của người thầy giáo có thêmmột thành tố nữa là “đạo đức-lối sống” Hai tác giả đã đưa ra khái niệm

“Đạo đức nghề”: “Trong xã hội hiện đại với nền KTTT, đối với các ngànhnghề khác nhau, ở những quốc gia khác nhau người ta đều coi trọng đạo đứcnghề, như nghề y có y đức, nghề giáo có đạo đức nhà giáo, các nghề kinhdoanh có chữ tín,…” [20; 109] Theo hai tác giả, trong nhân cách nhà giáothời hiện đại, có một số phẩm chất nổi lên, được kết tinh lại như sợi chỉ đỏxuyên suốt cuộc sống và hoạt động nghề nghiệp của người thầy giáo, đó làcác phẩm chất:

+ Lí tưởng nghề nghiệp

+ Tính trung thực trong cuộc sống và trong hoạt động nghề

+ Lòng tin, trước hết là tin vào đạo học và tin vào chính mình

Nếu thiếu những phẩm chất này thì nhân cách người thầy giáo sẽkhông được hoàn thiện, họ sẽ không có được bản lĩnh nhà giáo và do vậy sẽ

Trang 13

khó thực hiện tốt nhiệm vụ “trồng người” của mình

- Khác với những tác giả đã được trình bày ở trên, tác giả TS PhạmTrung Thanh lại có cách tiếp cận các phẩm chất của người thầy thầy giáotheo một hướng khác Tác giả này đưa ra khái niệm “văn hóa-sư phạm” [36;67] mà mỗi người cần có, đặc biệt là những người làm nghề dạy học Theotác giả, “văn hóa-sư phạm” được biểu hiện dưới các nét sau:

+ Là người sống có mục tiêu, lí tưởng cao cả

+ Là người có phẩm chất đạo đức: cần, kiệm, liêm chính

+ Là người sống có đạo lý

+ Là người có sự nhất quán giữa lời nói và việc làm

+ Là người sống trung thực và tôn trọng chữ tín

+ Là người có thái độ khiêm tốn học hỏi mọi người

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy “văn hóa-sư phạm” mà tác giảđưa ra được dựa trên hai nền tảng hết sức quan trọng là những giá trị đạođức truyền thống của dân tộc Việt Nam kết hợp hài hòa với đạo đức mới làđạo đức cộng sản Đây là một cách tiếp cận mang những nét đặc trưng riêng

Theo tác giả Phạm Trung Thanh, không chỉ người thầy giáo mà ngaychính giáo sinh sư phạm cũng phải tự rèn luyện để có được “văn hóa-sưphạm” như “Là những người sẽ bước tiếp trên con đường của các bậc thầythuộc thế hệ ông, cha đã đi, thế hệ giáo sinh hiện nay có trách nhiệm gìn giữ

và không ngừng phát huy vẻ đẹp thanh cao của người thầy trong sự pháttriển của xã hội hiện đại Có được vị trí như hôm nay, mọi giáo sinh phảibằng mọi hành động thực tiễn của mình để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đốivới những người trực tiếp và gián tiếp giáo dục, đào tạo mình nên người, đặcbiệt là những người thầy” [36; 71]

- Theo tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, lý tưởng nghề nghiệp có vai trò rấtquan trọng, là hạt nhân trong nhân cách sư phạm Đó là hứng thú và sự say

Trang 14

mê, gắn bó với công việc đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện được điều đó đòi hỏingười giáo viên phải chuyển tấm lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, lòngyêu nghề từ dạng tiềm tàng sang hiện thực”

Tác giả đề cập rất nhiều tới vai trò của công tác TTSP trong việc hìnhthành các phẩm chất nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm Tác giả đã chỉ ra vàđánh giá rất cao biện pháp GDĐĐNN tổ chức công tác sư phạm khoa học vàhợp lý rằng: “Riêng về mặt phương pháp đào tạo, phải không ngừng cải tiếnphong cách và phương pháp làm việc, làm thế nào để tạo ra được nhữngngười thầy giáo có một tình cảm mới-tình cảm gắn bó với cuộc sống của nhàtrường phổ thông hiện nay, luôn luôn tìm tòi sáng tạo, có kỹ năng sử dụngđược những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công việc, xứng đáng là tâm hồn

và trí tuệ của nhà trường, là người nắm trong tay số phận của sự nghiệp cảicách giáo dục của chúng ta” Tuy nhiên, tác giả cũng có những đánh giá vềcông tác TTSP hiện nay “Mô hình công tác TTSP của giáo viên tương lai ởtrường phổ thông chưa rõ ràng, chưa chỉ ra được cấu trúc và nội dung tối ưucủa hoạt động dạy học và giáo dục” Hoặc “Mô hình công tác TTSP đã tạo ra

ở sinh viên một sự định hướng lệch lạc trong quan niệm của họ về nghề dạyhọc dẫn đến coi thường nghề dạy học nên không tạo ra được động cơ và nhucầu tập luyện, trau dồi tay nghề ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sưphạm”

Có thể nói tác giả Nguyễn Đình Chỉnh đánh giá cao vai trò GDĐĐNNcủa công tác TTSP Sự đánh giá của tác giả hoàn toàn phù hợp và trùngkhớp với lý luận cũng như thực tiễn giáo dục hiện nay tại các trường sưphạm đào tạo giáo viên

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp

1.2.1.1- Đạo đức

Trang 15

Mỗi lĩnh vực khoa học, nhà khoa học lại đề cập đến đạo đức ở nhữngkhía cạnh với những phạm vi nội dung khác nhau:

“Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xãhội Theo quan niệm mác-xít, đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mựchành vi của con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của người nàyvới người khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội” [29;11]

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc,chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mìnhsao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trongquan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.” [8; 4]

“Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh vàđánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan

hệ với tự nhiên” [8; 4]

“Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giáctrong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng

xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình” [8; 4]

Theo từ điển xã hội học NXB thế giới Hà Nội 1993 – Nguyễn KhắcViện (chủ biên):

“Đạo đức bao gồm những chuẩn mực hành vi đạo đức của con ngườitheo hướng thiện, tránh hướng ác Mỗi một xã hội, mỗi một nhóm xã hội vàmỗi cá nhân có thể lí giải cái thiện (đạo đức) và cái ác (vô đạo đức) theonhững cách khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm sống và lợi ích của mình”

Như vậy, chúng ta có thể nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau về đạođức Nhưng tựu chung lại dù theo cách định nghĩa nào thì đạo đức đều đềcập đến các vấn đề sau:

- Là hệ thống giá trị, quy tắc, chuẩn mực xã hội

Trang 16

- Phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, với người khác vàvới chính mình.

- Đạo đức thực hiện các chức năng: định hướng giáo dục, điều chỉnhhành vi và kiểm tra đánh giá

Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thốngnguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực Nhờ đó mà cá nhân lựa chọn và điều chỉnhcách ứng xử của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, cộng đồng Đồngthời, dựa vào hệ thống quy tắc, chuẩn mực đó để đánh giá hành vi cá nhân làđạo đức hay phi đạo đức

1.2.1.2 Nghề nghiệp

Có nhiều cách hiểu khác nhau về nghề nghiệp:

Theo tác giả Hồ Hồng Lam “Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt độnglao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức,

kĩ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứngđược những nhu cầu của con người và xã hội”

Theo từ điển Tiếng Việt “Nghề nghiệp là một công việc mà người tathực hiện trong suốt cả cuộc đời” Ví dụ: nghề dạy học, nghề y, nghề kinhdoanh… Nghề nghiệp không chỉ đảm bảo cuộc sống mà còn tôn vinh conngười trong lĩnh vực nghề nghiệp đó

Bất cứ một loại hình nghề nghiệp nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếpcủa nó Dựa vào tiêu chuẩn này các nhà khoa học đã chia thành bốn loại sau:

- Nghề quan hệ với kỹ thuật: thợ lắp máy, sửa chữa máy, gia công…

- Nghề quan hệ với tín hiệu: thợ sắp chữ, sửa bản in, đánh máy, mật mã…

- Nghề quan hệ với động vật và thiên nhiên: chăn nuôi, thú y, địa chất,…

- Nghề quan hệ trực tiếp với con người: tuyên huấn, bán hàng, hướngdẫn viên du lịch, thầy thuốc, dạy học…

Vì đối tượng quan hệ trực tiếp với con người, nên đòi hỏi người hoạt

Trang 17

động trong nghề đó phải có những yêu cầu nhất định trong quan hệ giữa conngười và con người như: sự tôn trọng, lòng tin, tình thương, sự đối xử côngbằng, thái độ ân cần, lịch sự, tế nhị… và đó là những nét tính cách không thểthiếu được của loại hình nghề nghiệp này.

1.2.1.3 Đạo đức nghề nghiệp

Khái niệm đạo đức nghề nghiệp là sự thu hẹp phạm vi của khái niệmđạo đức nói chung, nó được cụ thể hóa và đặc trưng hóa cho từng nghềnghiệp nhất định

Mỗi loại hình nghề nghiệp luôn đặt ra cho người hoạt động trong lĩnhvực đó những yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực… mà họ phải tự giác thực hiện,khi những nguyên tắc, chuẩn mực đó không được thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động

Như vậy, có thể nói có bao nhiêu loại nghề nghiệp thì cũng có bấynhiêu loại đạo đức nghề nghiệp Ví dụ khi nói đến đạo đức của ngành y thìvấn đề “lương y như từ mẫu” được coi là một chuẩn mực đạo đức của ngànhnày Với lực lượng công an nhân dân thì phẩm chất đạo đức của họ phải đạtchuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:

“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính.

Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.

Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành.

Với nhân dân phải kính trọng lễ phép.

Với công việc phải tận tụy.

Đối với địch phải cương quyết khôn khéo.”

Với ngành giáo dục, một khẩu hiệu chung cho các cấp học là “Tất cả

vì học sinh thân yêu” Đó chính là đạo đức của người thầy giáo Hay vớinhững người làm công tác dịch vụ xã hội thì “Vui lòng khách đến, vừa lòngkhách đi” là biểu hiện đạo đức nghề nghiệp của họ

Trang 18

Tóm lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và qua một sốđặc trưng về đạo đức của một vài nghề nghiệp, ta có thể hiểu:

Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các chuẩn mực đạo đức phản ánhnhững yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp đó đối vớingười làm việc trong lĩnh vực nghề nghiệp đó, giúp họ hoàn thành nhiệm vụcủa mình với kết quả cao nhất

1.2.2 Đạo đức nghề nghiệp của nghề dạy học

Dạy học là một nghề rất đặc biệt mà “Không ai trong xã hội, ngay cảcha mẹ là bậc vĩ nhân đi nữa cũng không thể thay thế được chức năng củangười thầy giáo” [23; 194] Các nhà khoa học cũng đã chỉ rõ đặc thù laođộng sư phạm của người thầy giáo là:

Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình Nghề tái sản xuất, mở rộng sức lao động xã hội

Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao

Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp

Hơn thế nữa, những người làm công việc dạy học không chỉ học sinh

mà cha mẹ học sinh và cả nhân dân cũng gọi bằng một từ thể hiện lòng kínhtrọng và biết ơn sâu sắc là “Thầy” Chính vì thế mà nghề dạy học và bảnthân người thầy giáo tự đòi hỏi mình phải rèn luyện, tu dưỡng cho mìnhnhững phẩm chất đạo đức hết sức cao đẹp Cụ thể ở các phẩm chất cơ bảnsau:

- Thế giới quan khoa học

Thế giới quan khoa học là hệ thống các quan điểm đúng đắn và tiến

bộ của người thầy giáo về thế giới Đó không phải là bản tính tự nhiên củanhà giáo, mà nó được hình thành thông qua nhiều hoạt động khác nhau, đặc

Trang 19

biệt quan trọng là việc học tập hệ thống các môn khoa học Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh

Điều 19 Luật giáo dục quy định: “Không truyền bá tôn giáo, khôngtiến hành các nghi thức tôn giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác của

hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chứcchính trị xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân” Điều này đòi hỏi nhà giáophải có thế giới quan khoa học, có quan điểm duy vật biện chứng về các quyluật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

Thế giới quan khoa học là thành tố nền tảng, định hướng thái độ, hành

vi của người giáo viên trước các vấn đề của thế giới tự nhiên, thực tiễn xãhội và thực tiễn nghề nghiệp Nó quyết định đến sự hình thành niềm tinchính trị và bảo đảm cho người giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

- Lý tưởng nghề dạy học

Lí tưởng nghề dạy học là hạt nhân trong nhân cách của người thầygiáo Lí tưởng này được biểu hiện ở niềm say mê nghề nghiệp, sẵn sàngcống hiến, hi sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệtrẻ, có lương tâm nghề nghiệp, lòng yêu trẻ, tận tụy hy sinh với công việc,lối sống giản dị, chân tình… Những điều đó tạo nên sức mạnh, động lựcquan trọng giúp người thầy vượt qua khó khăn về vật chất và tinh thần, hoànthành nhiệm vụ giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội Nhữngđiều đó sẽ để lại những dấu ấn đậm nét trong tâm trí người học sinh, có tácdụng hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách củatrẻ

Lí tưởng nghề dạy học không có sẵn, sự hình thành và phát triển của

nó là một quá trình hoạt động tích cực trong công tác giáo dục Chính trongquá trình đó nhận thức về nghề càng được nâng cao, tình cảm nghề nghiệpngày càng sâu sắc, hành động trong nghề ngày càng tỏ rõ quyết tâm cao Vì

Trang 20

lí tưởng nghề dạy học có tác dụng to lớn như vậy nên mọi việc làm trongtrường sư phạm phải nhằm xây dựng lí tưởng nghề nghiệp cho giáo viêntương lai Nếu trường sư phạm không giáo dục được lý tưởng nghề dạy họcthì như A.X.Macarenco đánh giá là “không giáo dục gì hết”

Lòng yêu trẻ không phải là sự ủy mỵ, yếu mềm hay thả lỏng, chiềuchuộng thỏa mãn mọi nhu cầu của trẻ và làm thay trẻ Mà ngược lại đó là sựnghiêm túc, yêu cầu cao đối với học sinh, bao dung và độ lượng, khách quan

và công bằng đối với các em Lòng yêu trẻ giúp người thầy giáo có thể đisâu vào thế giới nội tâm của trẻ, hiểu trẻ và là người mà trẻ sẵn sàng tâm sự,nói ra những điều thầm kín nhất Lòng yêu trẻ sẽ càng trở nên sâu sắc khingười thầy giáo tham gia hết mình vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệtrẻ Người thầy giáo có lòng yêu trẻ thực sự vừa là người thầy, người cha,người mẹ, chuyên gia tâm lý, người bạn lớn, bạn cùng chơi, cùng học … củatrẻ

Như vậy, có thể khẳng định lòng yêu trẻ là một phẩm chất trụ cột củangười thầy giáo Nó được hình thành, nảy nở qua tiếp xúc với trẻ, do đó sinh

Trang 21

viên sư phạm phải hình thành lòng yêu trẻ trong thậm chí trước khi vào học

ở trường sư phạm

- Lòng yêu nghề

Có lẽ không có người thầy nào trong cuộc đời lao động sư phạmcủa mình lại không một lần được nghe lời hát “yêu người bao nhiêu tacàng yêu nghề bấy nhiêu” Lời hát đó như một sự ngợi ca về người thầyđồng thời là một lời nhắc nhủ chúng ta luôn rèn luyện, tu dưỡng chomình những phẩm chất đó

Lòng yêu nghề của người thầy giáo thể hiện ở sự tận tâm với côngviệc, sẵn sàng hi sinh, chấp nhận thiệt thòi khó khăn để thực hiện nhiệm vụdạy học và giáo dục với tinh thần, trách nhiệm cao nhất Lòng yêu nghềcũng là một động lực quan trọng giúp người thầy giáo vượt qua những khókhăn, gian khổ và thử thách trong công việc Vì thế việc giáo dục cho SVSPlòng yêu nghề ngay khi họ học tập ở trường sư phạm là một vấn đề nghiêmtúc, khoa học và rất quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên Lòng yêunghề đó sẽ càng trở nên sâu sắc khi sinh viên ra trường tham gia vào côngtác dạy học và giáo dục, lúc đó lòng yêu nghề của họ sẽ được thử thách vàkhẳng định

- Các phẩm chất đạo đức khác của người thầy giáo

Khác với các hoạt động khác, công cụ chủ yếu và quan trọng nhấttrong hoạt động của người thầy giáo là chính nhân cách người thầy Thầygiáo giáo dục học sinh không chỉ bằng những hành động trực tiếp của mình

mà còn bằng cả tấm gương của cá nhân mình, bằng thái độ và hành vi củachính mình đối với hiện thực Điều đó đòi hỏi ngoài những phẩm chất kểtrên, người thầy giáo còn phải có các phẩm chất đạo đức khác như: tinh thầnnghĩa vụ, tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, thái độ nhânđạo, lòng tôn trọng, thái độ công bằng, lòng chính trực, ngay thẳng, giản dị,

Trang 22

khiêm tốn, kiên nhẫn, biết tự chiến thắng với những thói hư tật xấu… Đây

là những phẩm chất thiết thực giúp người thầy giáo có ý chí, nghị lực vượtqua khó khăn và góp phần tạo nên uy tín sư phạm chân chính của người thầygiáo

Tóm lại, việc hình thành những phẩm chất nêu trên của người thầy giáo

là cả một quá trình lâu dài và phức tạp Quá trình đó được diễn ra trên nhiềumôi trường khác nhau, theo nhiều con đường khác nhau, chịu sự tác động củanhiều lực lượng giáo dục khác nhau song nhà trường sư phạm được xem làmôi trường quyết định đến những tố chất nền tảng ban đầu của người thầygiáo

1.2.3 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp

- Theo PGS.TS Phạm Viết Vượng: “Giáo dục là quá trình tác động cómục đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến các đối tượng giáo dục, thôngqua việc tổ chức các hoạt động đa dạng, với những nội dung, những hìnhthức và các phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đểhình thành cho họ những phẩm chất của người công dân theo yêu cầu của xãhội và thời đại.” [42; 11]

- Theo từ điển Giáo dục học, “Giáo dục là hoạt động hướng tới conngười thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụnhững tri thức và kinh nghiệm, rèn kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng

Trang 23

và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực,phẩm chất nhân cách phù hợp với mục đích chuẩn bị cho đối tượng tham gialao động sản xuất và đời sống xã hội.” [19; 105]

Dù theo cách diễn đạt nào thì giáo dục đều đề cập đến các vấn đề sau:

- Thực chất của giáo dục là sự chuyển giao kinh nghiệm giữa các thế

hệ, sự gắn kết giữa các thế hệ

- Chức năng cơ bản của giáo dục là chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo thế

hệ trẻ, hình thành, phát triển ở họ những năng lực, phẩm chất nhân cách

- Mục đích giáo dục là phát triển cá nhân, duy trì và phát triển xã hội

- Hình thức là thông qua quá trình tổ chức các loại hình hoạt độngphong phú, đa dạng với những nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp

1.2.3.2 Giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một vấn đề lớn trong chiến lượccon người của Đảng, được xã hội quan tâm và có vị trí đặc biệt quan trọngtrong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, văn minh

Trong nhà trường, giáo dục đạo đức cho học sinh là phát triển mặt đạođức của nhân cách, là xây dựng các phẩm chất đạo đức XHCN trong mỗi cánhân, là hình thành ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quenđạo đức của học sinh theo những nguyên tắc đạo đức cách mạng mà tấmgương sáng ngời là đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo PGS.TS Phạm Viết Vượng: giáo dục đạo đức là quá trình tácđộng hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin và thói quen hành viđạo đức, thể hiện trong cuộc sống hàng ngày đối với gia đình, cộng đồng,làng xóm, với bạn bè và tập thể [42]

Theo hai tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt: “Giáo dục đạo đức là quátrình biến đổi hệ thống các chuẩn mực từ những đòi hỏi bên ngoài, bên trong của

Trang 24

cá nhân thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [22]

Như vậy, giáo dục đạo đức chính là giúp thế hệ trẻ hình thành lí tưởng, ýthức và tình cảm đạo đức, tạo nên những thói quen và hành vi đạo đức của conngười mới XHCN Thể hiện ở các phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, yêu tổquốc, yêu đồng bào, yêu lao động, đức hy sinh, dũng cảm, tính liêm khiết,trung thực, vô tư, khiêm tốn, tự tin, tự trọng, nhân ái, bao dung, độ lượng…

Phẩm chất đạo đức là một trong các mặt quan trọng nhất của ý thức xãhội Vì thế giáo dục được coi là nhiệm vụ hàng đầu, luôn gắn chặt và thấmsâu vào các mặt giáo dục nền tảng khác là trí dục, thể dục, mĩ dục và giáodục lao động

1.2.3.3 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp

Mục tiêu các trường đào tạo nghề là tạo ra đội ngũ nguồn nhân lựcvừa “hồng” vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu của xã hội Để thực hiện đượcmục tiêu đó thì các trường phải tiến hành ba nhiệm vụ cơ bản trong quá trìnhđào tạo, đó là:

- Trang bị hệ thống kiến thức nghề nghiệp cần thiết

- Hình thành những kỹ năng, kỹ xảo mà từng loại nghề nghiệp đòi hỏi

- Giáo dục để người học nghề có đủ những phẩm chất cơ bản vànhững phẩm chất đạo đức đặc thù của lĩnh vực nghề nghiệp

Ba nhiệm vụ trên phải được tiến hành đồng thời, trong mối quan hệchặt chẽ với nhau, bởi nhiệm vụ này là tiền đề, cơ sở cho nhiệm vụ kia vàđược diễn ra bằng nhiều hoạt động Nếu bỏ hoặc thực hiện không tốt bất cứmột nhiệm vụ nào cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả của quá trình đàotạo nghề

Như vậy, có thể xem GDĐĐNN là sự tác động qua lại giữa các hoạtđộng GDĐĐNN với người học nghề nhằm hình thành ở họ những phẩm chấtnghề nghiệp cần thiết

Trang 25

1.2.4 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên CĐSP

Công tác GDĐĐNN cho sinh viên trong các nhà trường sư phạm làhết sức quan trọng, được các nhà trường chú ý và đặt song song với nhiệm

vụ bồi dưỡng tri thức khoa học Về bản chất GDĐĐNN là việc tổ chức cáchoạt động để tác động vào nhân cách SVSP nhằm hình thành ở họ nhữngphẩm chất đạo đức mà xã hội và nghề dạy học yêu cầu, tạo nên sự phát triểntoàn diện về nhân cách cho SVSP Đây là khâu quan trọng của quá trìnhhình thành nhân cách người giáo viên theo mục tiêu đào tạo và theo tiêuchuẩn đạo đức của người giáo viên Do đó, quá trình GDĐĐNN cần phảichú ý đến các khâu: giáo dục ý thức ĐĐNN, giáo dục thái độ và tình cảmĐĐNN, giáo dục hành vi, thói quen nghề nghiệp

- Giáo dục ý thức ĐĐNN trước hết là giúp SVSP hiểu được sự cầnthiết phải có các phẩm chất và chuẩn mực ĐĐNN Đồng thời giúp họ nắmđược nội dung cụ thể của các phẩm chất và chuẩn mực đạo đức đó Trên cơ

sở đó hình thành cho họ niềm tin vào các phẩm chất ĐĐNN

- Giáo dục thái độ và tình cảm ĐĐNN là nhiệm vụ rất quan trọngnhưng cũng rất khó khăn và tinh tế vì phải tác động đến thế giới nội tâm,cảm xúc bên trong của sinh viên Vì thế phải làm sao khơi dậy ở SVSPnhững rung động, xúc cảm về nghề dạy học như yêu nghề, mến trẻ, lòng tựhào về nghề dạy học, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng diễn ratrong nghề dạy học…Ví dụ: biết lên án những hành vi vi phạm ĐĐNN nhưvòi vĩnh phụ huynh học sinh, xúc phạm nhân phẩm học sinh, chạy theo lốisống thực dụng… Bên cạnh đó giáo dục cho SVSP những phẩm chất có tínhchất nghề nghiệp như lương tâm, vinh dự, trách nhiệm, phẩm giá…

Tình cảm và thái độ ĐĐNN được hình thành trên cơ sở SVSP ý thứcđúng đắn về ĐĐNN và được biểu hiện, khẳng định qua các hành vi, thóiquen nghề nghiệp

Trang 26

- Giáo dục hành vi, thói quen nghề nghiệp-đây cũng kết quả của GDĐĐNN cho SVCĐSP Bởi xét đến cùng việc GDĐĐNN cho SVCĐSP làhình thành và củng cố những hành vi, thói quen nghề nghiệp, làm cho chúngtrở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và được duy trì bền vững để cóthể ứng xử đúng đắn trong mọi hoàn cảnh

Ví dụ: giáo dục cho SVSP một số thói quen có tính chất nghề nghiệpnhư thận trọng trong việc giải quyết các tình huống sư phạm, luôn thể hiện

sự tôn trọng học sinh, luôn cởi mở, vui vẻ và sẵn sàng lắng nghe học sinh,khách quan, công tâm với học sinh…

Giáo dục hành vi, thói quen nghề nghiệp chính là việc giúp sinh viênlặp lại nhiều lần các hành động nghề nghiệp, các tình huống sư phạm và đặcbiệt thông qua quá trình rèn luyện trong những lần TTSP và tiếp xúc với họcsinh phổ thông

1.3 Yêu cầu về ĐĐNN cần giáo dục cho SV CĐSP

1.3.1 Mục tiêu đào tạo của trường cao đẳng sư phạm

Trường sư phạm nói chung, CĐSP nói riêng có vị trí rất quan trọngtrong sự nghiệp giáo dục, được coi là “bộ phận công nghiệp nặng”, là “chiếcmáy cái” của ngành giáo dục, là nơi đào tạo ra một lực lượng trí thức đôngđảo làm nhiệm vụ giáo dục và dạy học Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh

đã dạy: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầygiáo thì không có giáo dục… Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũngkhông nói gì đến kinh tế, văn hoá” Để thực hiện trách nhiệm to lớn, vẻ vangnhưng cũng rất nặng nề của mình, trong quá trình hoạt động, trường CĐSPphải luôn luôn quán triệt mục tiêu đào tạo của bậc giáo dục Đại học là: “Đàotạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân,

có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đàotạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Và được cụ

Trang 27

thể ở mục tiêu về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong như:

- Nắm được những điểm cơ bản của chủ nghĩ Mác – Lênin, hiểu biết

và chấp hành đầy đủ đường lối, chính sách, chủ trương đổi mới của Đảng vàNhà nước Có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu trẻ, yêu nghề,

có ý thức trách nhiệm xã hội, đạo đức, tác phong người thầy giáo

- Có ý thức tổ chức kỉ luật, có tinh thần quyết tâm khắc phục khó khănhoàn thành nhiệm vụ Có nếp sống giản dị, khiêm tốn nêu gương tốt cho họcsinh Có ý chí phấn đấu tự bồi dưỡng, tự rèn luyện vươn lên đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bên cạnh đó còn xác định các mục tiêu về năng lực chuyên môn vànăng lực nghiệp vụ sư phạm, song, việc hình thành phẩm chất chính trị, tưtưởng, đạo đức, tác phong cho sinh viên đóng vai trò nền tảng, là sợi chỉ đỏxuyên suốt quá trình hoạt động của nhà trường

1.3.2 Chuẩn giáo viên THCS và Quy định đạo đức nhà giáo

1.3.2.1 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơbản đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học đã được Bộ giáo dục và Đàotạo ban hành kèm theo thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10năm 2009 Quy định giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chínhtrị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch rènluyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Tiêu chuẩn được đặt lên hàng đầu trong quy định chuẩn nghề nghiệpgiáo viên trung học là phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Người giáoviên phải đạt được các yêu cầu như:

- Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; chấp hành đường lối, chủ trương

Trang 28

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chínhtrị - xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân

- Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học; chấp hành Luật Giáo dục, điều

lệ, quy chế, quy định của ngành; có ý thức tổ chức kỉ luật và tinh thần tráchnhiệm; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; sống trung thực,lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh

- Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinhkhắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt

- Đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp; có ý thức xây dựng tậpthể tốt để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục

- Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc vàmôi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học

Ngoài ra còn quy định các tiêu chuẩn về năng lực tìm hiểu đối tượng

và mục tiêu giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạtđộng chính trị, xã hội và năng lực phát triển nghề nghiệp

Để đội ngũ giáo viên trung học đạt được chuẩn nghề nghiệp này trongthực tiễn lao động sư phạm thì quá trình đào tạo ở trường sư phạm đóng vaitrò rất quan trọng, là nơi đặt nền móng cho sự phát triển, hoàn thiện về cácyêu cầu cơ bản đã đề cập trên của người giáo viên

1.3.2.2 Quy định đạo đức nhà giáo

Quy định về đạo đức nhà giáo được ban hành kèm theo Quyết định số16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo, đây là cơ sở để các nhà giáo nỗ lực tự rèn luyện phù hợp vớinghề dạy học được xã hội tôn vinh Đồng thời là một trong những cơ sở đểđánh giá, xếp loại và giám sát nhà giáo nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo cóbản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và lương tâm nghề nghiệp trongsáng, có tính tích cực học tập, không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ

Trang 29

và phương pháp sư phạm, có lối sống và cách ứng xử chuẩn mực, thực sự làtấm gương cho người học noi theo Quy định cụ thể:

Điều 4 Đạo đức nghề nghiệp

1 Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâmnhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộcsống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hoà nhãvới người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng

2 Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy củađơn vị, nhà trường, của ngành

3 Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chấtnăng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chốngtham nhũng, lãng phí

3 Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc;thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ,tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của sự nghiệp giáo dục

Điều 6 Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo

1 Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái phápluật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học vànhân dân

2 Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoahọc và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục

3 Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử,thành kiến người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cựctrong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp

4 Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của

Trang 30

người học, đồng nghiệp, người khác Không làm ảnh hưởng đến công việc,sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác

5 Không tổ chức dạy thêm, học thêm trái với quy định

6 Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học

và nơi không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham giacác hoạt động giáo dục của nhà trường

7 Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộchọp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi

8 Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tậpthể và trong sinh hoạt tại cộng đồng

9 Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biếnnhững nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước

10 Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc;không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, viphạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhàtrường

11 Không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hộinhư: cờ bạc, mại dâm, ma tuý, mê tín, dị đoan; không sử dụng, lưu giữ,truyền bá văn hoá phẩm đồi trụy, độc hại

Quy định này vừa là cơ sở định hướng cho quá trình rèn luyện của ngườigiáo viên vừa là mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra cho quá trình đào tạo giáo viên củatrường cao đẳng sư phạm Việc giáo dục các phẩm chất đạo đức nhà giáo cho

SV CĐSP đóng vai trò là “bệ phóng” vững chắc của nhân cách sư phạm

1.4 Các con đường giáo dục ĐĐNN cho SV CĐSP

1.4.1 Đặc điểm sinh viên CĐSP

Lý luận và thực tiễn cho thấy những đặc điểm tâm lý của sinh viênchịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thể chất, môi trường mà sinh viên sinh

Trang 31

sống và học tập, giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và các hoạt động củabản thân họ Vì thế, sự phát triển tâm lý của sinh viên nói chung và sinh viêntrường CĐSP Kiên Giang nói riêng là rất phong phú và đa dạng, thể hiện ởnhững điểm cơ bản sau:

- Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ và động cơ học tập của

Hoạt động nhận thức của sinh viên nói chung sinh viên CĐSP nóiriêng có tính độc lập, tự chủ, sáng tạo cao; có sự kết hợp của nghiên cứukhoa học với hoạt động mang tính nghề nghiệp Hoạt động nhận thức củaSVCĐSP mang tính định hướng sư phạm ngay từ đầu giúp họ lĩnh hội trithức, kỹ năng và phẩm chất nghề dạy học

Động cơ học tập của sinh viên bị chi phối bởi nhiều yếu tố nên cũngrất đa dạng như: khát khao có tri thức, kỹ năng; yêu lao động sư phạm;muốn trở thành chuyên gia giỏi; muốn tự khẳng định mình; lòng yêu trẻ; cóhoài bão trong việc xây dựng đất nước….Những nghiên cứu về động cơ họctập của sinh viên cho thấy có các loại động cơ: nhận thức, nghề nghiệp, động

cơ có tính xã hội, tự khẳng định mình, có tính cá nhân Thứ bậc các động cơnày luôn biến đổi trong quá trình học tập, rèn luyện, vai trò của giảng viên

sư phạm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc tác động đến hệ thốngđộng cơ đó trở nên đúng đắn hơn

- Tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục

Tự đánh giá là một phẩm chất quan trọng của nhân cách Tự đánh giácủa sinh viên mang tính toàn diện và sâu sắc, họ không chỉ đánh giá bảnthân mình ở hình thức bề ngoài mà còn đi sâu vào các phẩm chất giá trị nhâncách Nhờ có tự đánh giá phát triển mà SVCĐSP có thái độ, hành vi phù hợpvới tính chất của lao động sư phạm

Tự ý thức là một trình độ phát triển cao của ý thức, nó giúp sinh viên

có hiểu biết về thái độ, hành vi và cử chỉ của mình để chủ động hướng hoạt

Trang 32

động của mình đi theo những yêu cầu, đòi hỏi của tập thể, cộng đồng xã hội.

Tự ý thức, tự đánh giá ở sinh viên có ý nghĩa tự giáo dục Vì thế, sinhviên sớm hình thành cho mình một số phẩm chất nhân cách như lòng tựtrọng, tự tin vào bản thân, lòng yêu trẻ, lòng nhân ái, yêu thích lao động sưphạm ở SVCĐSP, đó là những tiền đề quan trọng để hình thành ĐĐNN

- Sự phát triển về định hướng giá trị của

Định hướng giá trị là một trong những yếu tố quan trọng nhất của cấutrúc nhân cách, là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị vật chất và tinh thần, làmột hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích của con người đối với một giá trịnào đó Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, đa số SVCĐSP đã đánh giá caocác giá trị của nghề nghiệp như là: được học sinh yêu quý tôn trọng; đượcđồng nghiệp đánh giá cao; được cống hiến trí tuệ cho giáo dục; được xã hộitôn vinh… và tỏ lòng mong muốn tự rèn luyện để đạt tới các giá trị đó.Song một bộ phận SVCĐSP lại đánh giá cao những giá trị kinh tế, vật chất

và xem nhẹ các giá trị tinh thần, đạo đức, chính trị…Đây là một vấn đề vôcùng phức tạp cho những người làm công tác giáo dục Thực tế này đòi hỏimột quá trình giáo dục định hướng giá trị có tính chất từ vi mô đến vĩ môcủa toàn xã hội

- Đời sống tình cảm của tuổi sinh viên

Do nhận thức, địa vị xã hội, học lực và tuổi đời đã khác với lứa tuổitrước mà tình cảm của tuổi sinh viên đã có hệ thống, sâu sắc và bền vữnghơn Tuổi sinh viên là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của các loại tình cảmcấp cao như: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ và thểhiện chiều sâu rõ rệt Đa số các em biểu thị sự chăm chỉ, say mê say mê củamình đối với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn

Tóm lại, sinh viên là những tri thức rất trẻ, họ đang ở giai đoạn chuẩn

bị tích cực nhất cho tương lai nghề nghiệp bản thân Sự nhiệt tình, năng

Trang 33

động và sáng tạo chính là sức mạnh to lớn giúp họ làm chủ kiến thức, hìnhthành kỹ năng cơ bản và thái độ tích cực đối với nghề nghiệp Tuy vậy, docòn trẻ về tuổi đời, kinh nghiệm sống còn ít các em rất dễ bị ảnh hưởng tiêucực bởi những mặt trái của xã hội Sự gần gũi, giáo dục, định hướng củathầy cô, cha mẹ, các đoàn thể xã hội đối với các em là vô cùng cần thiết.

1.4.2 Các con đường giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SVCĐSP

1.4.2.1 Thông qua hoạt động DH các môn trong chương trình đào tạo

Chức năng trội của dạy học là giáo dưỡng, đồng thời phải thực hiệnchức năng giáo dục (theo nghĩa hẹp) Qua dạy học các môn trong chươngtrình đào tạo nhằm giúp sinh viên có những hiểu biết nhất định về đạo đức,

về thái độ phải có, về nghĩa vụ và bổn phận phải làm Từ đó, sinh viên có cơ

sở để các em tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nhân cách sư phạm cho mình

Bên cạnh việc trang bị tri thức đạo đức, việc dạy học trên lớp còn làcon đường cơ bản ngắn nhất, hiệu quả nhất để hình thành niềm tin và giáodục đạo đức cho sinh viên Đặc biệt qua một số môn học như: giáo dục học,giáo dục đạo đức, giáo dục công dân giáo dục dân số, giáo dục môi trường,

vệ sinh chăm sóc… trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hệ thống

về những khái niệm, phạm trù, quy tắc, chuẩn mực đạo đức, nghĩa vụ, tráchnhiệm của công dân theo yêu cầu của xã hội và của địa phương trong giaiđoạn hiện nay

Mỗi một môn học không ngừng khai sáng tri thức mà còn hướng dẫnhành vi, cách ứng xử trong nhiều mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cánhân với tập thể, cộng đồng, môi trường, phù hợp với quy tắc, chuẩn mựcchung, định hướng cho con người phát triển và hoàn thiện nhân cách Cụ thểnhư:

- Thông qua giảng dạy, học tập các môn Lý luận chính trị nhằm hìnhthành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, cung cấp phương

Trang 34

pháp luận, hình thành niềm tin… cho người học, đây là yếu tố then chốt, nềntảng đạo đức nghề dạy học

- Qua các môn Tâm lý – Giáo dục nhằm trang bị cho sinh viên nhữngkiến thức cơ bản, hiện đại về công việc dạy học và giáo dục, hình thành cácgiá trị nghề nghiệp, thái độ, cách cư xử, hành vi đạo đức trong các mối quan

hệ của các em, đặc biệt là biết ứng xử phù hợp với các mối quan hệ trong laođộng sư phạm

- Qua dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn có tiềm năng tolớn trong việc giáo dục chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, làm cho nội dung nàytrở thành tình cảm, niềm tin, lẽ sống thường trực trong sinh viên, giúp họ có

cơ sở khoa học để phân tích những hiện tượng tiêu cực trong xã hội và tintưởng một cách khoa học vào sự tất thắng của cái chân, thiện, mĩ trong hiệntại và tương lai

- Qua dạy học các môn khoa học tự nhiên có đóng góp không nhỏnhư: người học biết tư duy hợp lý, sáng tạo, thái độ coi trọng nhân quả, hìnhthành các phẩm chất kiên trì, bền bỉ, với quyết tâm cao để vượt qua mọi khókhăn trở ngại trên con đường đi tới

- Qua dạy học các môn nghệ thuật, thể dục thể thao tạo cơ hội để sinhviên phát triển óc sáng tạo, thể hiện được xúc cảm và sự trải nghiệm của mình

1.4.2.2 Thông qua các hoạt động ngoại khóa

Ngoài những hoạt động học tập các môn học, sinh viên còn có nhữnghoạt động khác nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của cá nhân sinh viên, hoặc đểđáp ứng nhu cầu của xã hội, của tập thể sinh viên, của nhà trường và giađình Đó chính là những hoạt động thực tiễn có tác dụng hình thành cảm xúc

và hành vi đạo đức cho các em Nếu con đường giáo dục đạo đức nghềnghiệp thông qua giảng dạy các môn học có tác dụng chủ yếu là giúp cho

Trang 35

sinh viên nhận thức các yêu cầu của chuẩn mực đạo đức thì con đường hoạtdộng thực tiễn có tác dụng chủ yếu hình thành kĩ năng, thói quen, rèn luyện

ý chí và củng cố niềm tin đạo đức cho sinh viên, giúp các em biết vận dụngnhững biểu tượng và kiến thức mà các em đã được học trong các môn họcvào cuộc sống Hoạt động ngoại khóa rất đa dạng và phong phú gồm cáchoạt động như: hoạt động lao động, công tác xã hội, sinh hoạt tập thể, vuichơi giải trí, văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt chuyên đề, câu lạc bộ,giao tiếp… Các hoạt động này nhằm rèn luyện những hành vi ứng xử, giaotiếp lịch sự, có văn hóa nhằm góp phần cải tạo những tập tục, thói quen lạchậu trong đời sống của thế hệ trẻ Các phong trào phòng chống tệ nạn xã hội,xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa có ý nghĩa to lớn trong giáo dục đạođức, rèn luyện tư tưởng chính trị cho sinh viên trong nhà trường sư phạm

- Hoạt động thực tế ở trường phổ thông, thực tập sư phạm là con đườngđặc thù, cơ bản dạy nghề có hiệu quả nhất cho sinh viên sư phạm Đó khôngchỉ là một hoạt động rèn luyện nghiệp vụ đơn thuần chuẩn bị cho nội dung bàidạy trên lớp mà qua đó sẽ hình thành cho sinh viên tình cảm yêu nghề, yêutrẻ

- Thông qua hoạt động chính trị xã hội giúp sinh viên nắm được thựctiễn giáo dục địa phương, hiểu rõ hơn chủ trương, đường lối của Đảng vàNhà nước, của ngành học đối với giáo dục, hướng đến đích là nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, thấm nhuần phương châm của ngành là “xã hội hóagiáo dục”

1.4.2.3 Thông qua tập thể lớp học

Một trong những nguyên tắc giáo dục là “giáo dục qua tập thể và bằngtập thể”, lớp học là tập thể được tổ chức khá chặt chẽ, có tính mục đích, tính

Trang 36

giáo dục Vì thế, việc xây dựng tổ chức lớp học lành mạnh, có tính sư phạm

và tính giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng

Trong một lớp học thì cả lớp là một tập thể lớn, có những tập thể nhỏnhư: tổ, nhóm, câu lạc bộ… và mỗi sinh viên là thành viên của lớp, đồngthời là thành viên của vài ba tập thể nhỏ khác Tập thể chính là môi trườngdiễn ra các hoạt động, giao lưu, giúp các em học tập lẫn nhau Ở đó, hoạtđộng và các ý kiến của cá nhân đều được tập thể kiểm tra, đánh giá, đượcchấp nhận hoặc bị phê phán Vì ý kiến của mỗi thành viên không những cótác dụng thông báo những thông tin lớp trẻ quan tâm, những nội dung cácchuẩn mực, nguyên tắc đạo đức, mà còn có tác dụng kiểm tra, đánh giá vàđiều chỉnh nhận thức về các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức đó

Từ thực tế về sự đa dạng trong thống nhất của tập thể sinh viên đòihỏi nhà giáo dục phải có khả năng làm cho dư luận của những tập thể khácnhau có sự thống nhất cơ bản về cùng một hướng là lành mạnh, chỉ có nhưvậy thì dư luận mới có tác dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên Hơn nữa,nhà giáo dục phải biết hướng dư luận của tập thể sinh viên một cách có chủđịnh và dẹp đi những dư luận thất thiệt ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức

1.4.2.4 Qua sự tu dưỡng của sinh viên

Sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện của sinh viên là con đường trực tiếp, có ýnghĩa quyết định trong quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp ở sinh viên.Quá trình hình thành, phát triển đạo đức ở mỗi cá nhân là một quá trình lâudài, phức tạp, trong quá trình đó có các tác động bên ngoài và động lực bêntrong thường xuyên tác động lẫn nhau, vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi tùytheo từng giai đoạn phát triển của con người Khi nhân cách của cá nhânphát triển khá đầy đủ thì việc xem xét, đánh giá hay cư xử bất cứ điều gì cánhân cũng dựa trên quan điểm, niềm tin đạo đức của mình, lúc này cái bênngoài được sàng lọc thông qua cái bên trong Cá nhân dựa vào cái bên trong

Trang 37

của mình để đánh giá, tiếp nhận hay gạt bỏ cái bên ngoài Ở đây lương tâmtrở thành nhân tố điều chỉnh hành vi đạo đức cá nhân Sự hình thành và pháttriển các phẩm chất đạo đức của sinh viên do ảnh hưởng của tác động bênngoài mà trước hết là nhà trường, tập thể, gia đình sẽ dần chuyển thành sự tựgiáo dục, trong đó sự tự tu dưỡng là yếu tố cơ bản.

Như vậy, sự tự tu dưỡng về đạo đức nghề nghiệp là một hệ thốnghành động tự giác mà mỗi cá nhân thực hiện với chính mình nhằm khắcphục những hành vi trái đạo đức, bồi dưỡng, củng cố hành vi đạo đức Sự

tự tu dưỡng là yêu cầu tự nhiên ở mỗi cá nhân, ở trình độ ý thức đã pháttriển, mọi cá nhân đều cần làm cho mình tốt hơn lên, bồi dưỡng tình cảm

ý chí của chính mình, khắc phục những thói hu, tật xấu Đối với sinh viênCĐSP thì việc nhận thức được bản thân mình, đánh giá đúng mình, luôn

có thái độ phê phán nghiêm túc những hành vi thiếu đạo đức như: thái độ

tự mãn, tự kiêu… là rất cần thiết

Bên cạnh sự tự điều chỉnh cần có sự uốn nắn, điều chỉnh hành vicủa các tổ chức quản lý như nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp vớichuẩn mực đạo đức của người công dân, người giáo viên XHCN tronggiai đoạn hiện nay

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu các quan điểm, tư tưởng về GDĐĐNN choSVCĐSP nói riêng và đào tạo giáo viên nói chung, chúng tôi nhận thấy:các tác giả đã đánh giá cao vai trò và vị trí của người giáo viên trong việchình thành nhân cách cho thế hệ trẻ Đồng thời họ đã chỉ ra những phẩmchất mà người giáo viên phải có như: thế giới quan khoa học, lòng yêutrẻ, yêu nghề, tấm lòng vị tha-nhân ái, khoan dung, độ lượng, lý tưởng vàniềm tin nghề nghiệp… trên cơ sở đó mà chia thành những nội dung

Trang 38

GDĐĐNN cho SVCĐSP: giáo dục lòng yêu nghề, yêu trẻ, hình thành thếgiới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn…

Kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước là những căn cứ, cơ sởkhoa học rất quan trọng giúp chúng tôi trong quá trình xây dựng nội hàmkhái niệm ĐĐNN, xác định những nội dung cơ bản của GDĐĐNN choSVCĐSP Hơn thế nữa các kết quả đó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đểchúng tôi đánh giá thực trạng, đề xuất và tổ chức thực nghiệm khoa họcnhững biện pháp GDĐĐNN trong thực tiễn đào tạo giáo viên ở trường sưphạm Mặt khác, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-kỹthuật và những biến đổi lớn lao của thời đại đã làm cho công tác GDĐĐNN

và đào tạo giáo viên có thêm nhiều thời cơ mới và cũng phải đối mặt vớinhững thách thức mới nảy sinh

Trong những năm qua chất lượng đào tạo giáo viên của trườngCĐSP Kiên Giang đã đạt được những kết quả đáng kể, nhưng công tácGDĐĐNN cho sinh viên chưa được đặt, thực hiện xứng với tầm quantrọng của nó trong quy trình đào tạo giáo viên Nhận định này sẽ đượcminh chứng ở chương tiếp theo

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KIÊN GIANG

Trang 39

2.1 Khái quát về trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang

Trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang được thành lập trên cơ sởtrường Trung học sư phạm Kiên Giang theo quyết định số 128/QĐ-TTg,ngày 13/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ Nhiệm vụ chính của trường làđào tạo, bồi dưỡng giáo viên THCS, giáo viên Tiểu học và giáo viên Mầmnon, tổ chức cho cán bộ, giảng viên và sinh viên tham gia nghiên cứu khoahọc Hiện nay, trường còn liên kết với các trường Đại học khác đào tạo đạihọc liên thông hình thức vừa làm vừa học và các lớp ngoài ngành sư phạmphù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương Bên cạnh các nhiệm vụ đó,trường CĐSP Kiên Giang còn phát huy mạnh mẽ vai trò là trung tâm vănhoá, khoa học và nghiệp vụ ở địa phương

Đảng bộ nhà trường gồm 4 chi bộ trực thuộc với 50 đảng viên, trongnhiều năm liền luôn giữ vững danh hiệu tổ chức cơ sở đảng “trong sạchvững mạnh” Trường cũng đã được cấp trên chọn là đơn vị điểm về việcphát triển Đảng trong học sinh – sinh viên Trường hiện có 7 đơn vị trựcthuộc, gồm 03 phòng (phòng Đào tạo - Bồi dưỡng, phòng Hành chính -Quản trị, phòng Tổ chức cán bộ và Công tác HSSV), 03 khoa (khoa Xã hội,khoa Tự nhiên – Tin học, khoa Tiểu học - Mầm non) và 1 tổ Bộ môn chung(gồm 2 tổ chuyên môn là tổ Chính trị và tổ Tâm lý – Giáo dục) với tổng sốcán bộ, giảng viên, nhân viên là 136, trong đó có 2 tiến sĩ, 28 thạc sĩ, 19đang học chương trình sau đại học, thạc sĩ

Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo trình độ caođẳng hệ chính quy 17 mã ngành và đào tạo cấp chứng chỉ Tiếng Anh (trình

độ A,B), Tin học (trình độ A,B), Nghiệp vụ sư phạm, Quản lý nhà quản lý giáo dục đào tạo…Ngoài hình thức đào tạo chính quay tập trung,

Trang 40

nước-trường còn đào tạo hệ chuyên tu, tại chức nâng chuẩn cho giáo viên Mầmnon và giáo viên Tiểu học, liên kết với các trường Đại học đào tạo đại họcliên thông hệ vừa học vừa làm cho học viên ở các bậc học: mầm non, Tiểuhọc, Trung học cơ sở Hoạt động nghiên cứu khoa học còn yếu nhưng đã cóchuyển biến, đã có 08 đề tài khoa học cấp trường và 47 sáng kiến kinhnghiệm

Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ hoạt động của nhà trườngđược trang bị khá đầy đủ Trường hiện có 48 phòng dành cho 3 khoa, trong

đó có các phòng học đa năng được trang bị máy chiếu, máy tính, 3 phòngTin học với 75 máy, 1 phòng học ngoại ngữ, 2 phòng múa, 3 phòng thiết bịthực hành thí nghiệm Có 01 nhà hiệu bộ, 01 giảng đường, 01 nhà đa năng, 1thư viện được trang bị khá đầy đủ về giáo trình, sách giáo khoa phổ thôngđáp ứng yêu cầu dạy học, tuy nhiên sách tham khảo còn ít Trong khuôn viêntrường còn có sân tập, đường chạy, hố nhảy… phục vụ cho học tập thể dụcthể thao Các phòng học Nhạc, Mỹ thuật được trang bị tương đối đầy đủdụng cụ, phương tiện dạy học như tượng, giá vẽ, đàn các loại Công viêntrường được xây dựng đẹp, khang trang tạo thêm điều kiện giải trí cho sinhviên

Tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên của trường đã có nhiềuhoạt động thiết thực Công tác xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ anninh tổ quốc được nhà trường quan tâm và thực hiện có hiệu quả An ninhchính trị, trật tự được bảo đảm Đến nay chưa có ma tuý, tội phạm, tệ nạn xãhội xâm nhập vào học đường

Những điều kiện trên có tác động lớn đến chất lượng đào tạo của nhàtrường nói chung và điều kiện để thực hiện tốt các hoạt động giáo dục đạođức nghề nghiệp cho sinh viên nói riêng

Ngày đăng: 27/11/2014, 09:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1a:  Động cơ chọn học ngành sư phạm - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 1.1a Động cơ chọn học ngành sư phạm (Trang 42)
Bảng 1.1b: Nhận thức của sinh viên về các phẩm chất đạo đức nghề dạy - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 1.1b Nhận thức của sinh viên về các phẩm chất đạo đức nghề dạy (Trang 44)
Bảng 1.2c: Mức độ biểu hiện vi phạm chuẩn mực, nội quy nhà trường. - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 1.2c Mức độ biểu hiện vi phạm chuẩn mực, nội quy nhà trường (Trang 49)
Bảng 1.3a: Đánh giá của sinh viên về mức độ thực hiện các nội dung - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 1.3a Đánh giá của sinh viên về mức độ thực hiện các nội dung (Trang 51)
Bảng 2.1a: Đánh giá của sinh viên về mức độ tác động của các lực lượng - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 2.1a Đánh giá của sinh viên về mức độ tác động của các lực lượng (Trang 58)
Bảng 2.1b: Đánh giá của sinh viên về hiệu quả thực hiện các biện pháp - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 2.1b Đánh giá của sinh viên về hiệu quả thực hiện các biện pháp (Trang 60)
Bảng 2.2a: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các lực lượng giáo dục đối - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 2.2a Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các lực lượng giáo dục đối (Trang 62)
Bảng 2.2b: Đánh giá về hiệu quả thực hiện các biện pháp giáo dục đạo - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 2.2b Đánh giá về hiệu quả thực hiện các biện pháp giáo dục đạo (Trang 65)
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp giáo dục   đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường CĐSP Kiên Giang - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường CĐSP Kiên Giang (Trang 91)
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về sự cần thiết của các biện pháp giáo  dục ĐĐNN cho sinh viên trường CĐSP Kiên Giang như sau: - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về sự cần thiết của các biện pháp giáo dục ĐĐNN cho sinh viên trường CĐSP Kiên Giang như sau: (Trang 93)
Bảng 4.1a Nhận thức của SV về mức độ quan trọng đối với các phẩm chất   đạo đức nghề dạy học (3:quan trọng, 2:bình thường; 1:không quan trọng) - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 4.1a Nhận thức của SV về mức độ quan trọng đối với các phẩm chất đạo đức nghề dạy học (3:quan trọng, 2:bình thường; 1:không quan trọng) (Trang 96)
Bảng 4.5a: Nhận thức của SV về đạo đức nghề dạy học sau thực nghiệm. - luận văn tốt nghiệp sư phạm Nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức trách nhiệm công dân, xây dựng phẩm chất tốt đẹp và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên
Bảng 4.5a Nhận thức của SV về đạo đức nghề dạy học sau thực nghiệm (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w