luận văn thạc sĩ sư phạm Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 - THPT Như chúng ta đã biết, công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật (CMKH – KT) hiện nay. Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị quyết CP của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa CNTT (CNTT) vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, Luật giáo dục (1998) và Luật giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010,… Trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII Đảng và Nhà nước ta khẳng định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên.” Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2015 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”, nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT ”. Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”. Với tất cả các môn học nói chung và môn Địa lý nói riêng, một trong 3 xu hướng đổi mới hiện nay đó chính là đổi mới dạy học theo quan điểm của công nghệ dạy học. Nói đến công nghệ dạy học người ta không thể không nhắc đến CNTT với một phương tiện ngày càng trở nên quen thuộc là Internet.Với Internet, người ta có thể truy cập được một khối lượng thông tin khổng lồ với tốc độ cực kì nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu GV không định hướng cho HS trong quá trình sử dụng thông tin trên Internet thì sẽ khiến cho HS mất thời gian, thông tin tìm được không chính xác, hàm lượng khoa học không cao. Để khắc phục những nhược điểm trên đây của việc học tập sử dụng Internet người ta đã phát triển phương pháp WebQuest. Đây là một phương pháp mới và rất có hiệu quả trong việc hỗ trợ HS học tập thông qua Internet với những định hướng nhằm hạn chế những khó khăn trong quá trình tìm kiếm thông tin trên mạng của HS. Bản thân chính tác giả cũng đã từng kiểm chứng tính khả dụng của Webquest và cảm thấy cần tiếp tục đào sâu nghiên cứu để phát triển thêm phương pháp này. Với tất cả những lí do trên, em đã chọn đề tài "Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 - THPT” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ. 2. Lịch sử nghiên cứu 2.1. Trên thế giới Như chúng ta đã biết, cùng với sự bùng nổ của ICT cũng như việc ứng dụng ICT vào dạy học nói chung và dạy học địa lý nói riêng đã được nghiên cứu rộng rãi. Có rất nhiều nghiên cứu liên quan tới ứng dụng ICT vào dạy học như: Chương trình MEP (Microelectronies Education Program) ở Anh vào năm 1980; Tổ chức NSCU (National Software - Cadination Unit) của Ôx-trây-li-a được thành lập vào năm 1984 chuyên cung cấp các chương trình, các phần mềm, các môn học cho các trường Đại học; Hội thảo về "Xây dựng các phần mềm dạy học" ở các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Srilanca, Thái Lan, Malaysia) năm 1985; Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School), Ấn Độ, 1985… Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về mặt lý thuyết của CNTT và cho ra đời các ứng dụng (Các phần mềm, website... hỗ trợ dạy học). Theo đó, nhiều PPDH liên quan tới ICT đã ra đời trong đó có Webquest hay còn gọi là PPDH hiệu quả thông qua Internet. Năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) là người đầu tiên sử dụng Webquest trong dạy học. Các đại diện tiếp theo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ). Ý tưởng của họ là đưa ra cho HS một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc lịch sử, dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận. HS tìm được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông qua những trang kết nối (links) đã được GV lựa chọn từ trước. Một số cuốn sách nghiên cứu về Webquest đã xuất bản như: “Using WebQuests in the Social Studies Classroom” (Sử dụng Webquest trong dạy học các môn khoa học xã hội) của các tác giả: Margaret M. Thombs, Maureen M. Gillis, Alan S. Canestrari, cung cấp các biện pháp thực tế để sử dụng Webquest nhằm tối ưu hóa việc học các môn khoa học xã hội, đòi hỏi mức độ tư duy cao của HS, thúc đẩy hơn sự hiểu biết về các nền văn hóa xã hội; “The World Is Open” (Thế giới mở) của tác giả Curtis J. Bonk, khám phá các thay đổi mạnh mẽ của thế giới đang ảnh hưởng đến người học trong đó có việc khai thác Internet nói chung và sử dụng thông tin trên các trang web nói riêng… Bên cạnh đó, cũng có nhiều luận văn và luận án nghiên cứu về Webquest và hiệu quả của việc sử dụng WebQuests như: luận án nghiên cứu “The WebQuest creation process” (Quá trình tạo Webquest) của Roberts, Leanne M., 2005, “WebQuest design strategies”(Các kĩ thuật xây dựng Webquest) của Frazee, James Phillip vào năm 2004. Các đề tài này đã nghiên cứu về các vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn của Webquest trong đó chú trọng đến việc nghiên cứu quá trình tạo ra Webquest, các mô hình Webquest và các kĩ thuật xây dựng Webquest, đồng thời tiến hành thực nghiệm kiểm chứng đối với sinh viên các trường Đại học Akron, Đại học San Diego… Ngày nay WebQuest (thuật ngữ tiếng Anh) được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong giáo dục phổ thông cũng như đại học. 2.2. Ở Việt Nam Trong những năm gần đây, việc đổi mới PPDH trong đó có vấn đề ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và dạy học địa lý nói riêng được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Trong những nghiên cứu này có thể kể đến: Phần mềm "PC FACT với dạy học địa lý" của G.S Nguyễn Dược, phần mềm Db - Map của PGS.TS Đặng Văn Đức (1998), phần mềm "Atlas Địa lý Việt Nam" của Tổng cục du lịch Việt Nam, phần mềm “Atlas Địa lý môi trường Việt Nam" do Cục môi trường - Bộ Khoa học công nghệ và môi trường xây dựng (2001); Báo cáo “Nghiên cứu ứng dụng tin học trong dạy học địa lý – một hướng đổi mới dạy học và HS làm trung tâm” của PGS.TS Đặng Văn Đức (1998)… Các luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ như: “ Đổi mới PPDH địa lý KT –XH thế giới ở trường THPT tại TPHCM” – Phan Huy Xu (1993), “Ứng dụng CNTT trong giảng dạy Địa lý KT –XH Việt Nam (lớp 12, THPT)” – Trần Thị Thanh Thủy (2002), “Ứng dụng CNTT trong giảng dạỵ PHẦN MỞ ĐẦU1 1. Lí do chọn đề tài1 2. Lịch sử nghiên cứu2 2.1. Trên thế giới2 2.2. Ở Việt Nam4 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài6 3.1. Mục đích6 3.2. Nhiệm vụ6 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu6 4.1. Đối tượng nghiên cứu6 4.2. Phạm vi nghiên cứu6 5. Phương pháp nghiên cứu7 5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết7 5.1.1. Phương pháp thu thập tài liệu7 5.1.2. Phương pháp thống kê toán học7 5.1.3. Phương pháp phân tích tổng hợp7 5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn8 5.2.1. Phương pháp chuyên gia8 5.2.2. Phương pháp khảo sát, điều tra8 5.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm9 6. Cấu trúc của luận văn9 7. Những đóng góp mới của luận văn10 PHẦN NỘI DUNG11 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBQUEST TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 THPT11 1.1. Cơ sở lí luận11 1.1.1. Một số vấn đề của việc đổi mới PPDH11 1.1.1.1. Định hướng về đổi mới PPDH11 1.1.1.2. Bản chất của đổi mới PPDH12 1.1.1.3. Ý nghĩa của đổi mới PPDH địa lý14 1.1.1.4. Xu hướng đổi mới PPDH hiện nay16 1.1.2. Ứng dụng ICT trong dạy học địa lý18 1.1.2.1 Khái niệm ICT18 1.1.2.2. Vai trò của ICT trong dạy học địa lý19 1.1.2.3. Khả năng ứng dụng ICT trong dạy học địa lý22 1.1.3. Internet với dạy học địa lý ở trường phổ thông23 1.1.3.1. Internet23 1.1.3.2 Giới thiệu các ứng dụng của Internet25 1.1.3.3. Vai trò của Internet trong dạy học địa lý THPT26 1.1.3.4. Hướng dẫn khai thác thông tin trên Internet28 1.1.4. Webquest30 1.1.4.1. Giới thiệu về Webquest30 1.1.4.2. Ứng dụng webquest trong dạy học36 1.2. Cơ sở thực tiễn44 1.2.1. Chương trình và SGK Địa lý lớp 10 THPT44 1.2.1.1. Mục tiêu44 1.2.1.2. Chương trình và SGK Địa lý 1045 1.2.2. Thực trạng việc đổi mới PPDH địa lý ở trường phổ thông48 1.2.3. Đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của HS lớp 10 THPT52 1.2.3.1. Đặc điểm tâm lí của HS lớp 10 THPT52 1.2.3.2. Khả năng nhận thức của HS lớp 10 THPT54 1.2.3.3. Đặc điểm nhân cách của HS lớp 10 THPT55 CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBQUEST TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 THPT56 2.1. Các yêu cầu cơ bản đối với việc xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT56 2.1.1. Yêu cầu về nội dung Webquest56 2.1.2. Yêu cầu về môi trường học56 2.1.2.1. Yêu cầu về giáo viên56 2.1.2.2. Yêu cầu về học sinh59 2.1.2.3. Yêu cầu về cơ sở vật chất60 2.1.3. Đặc điểm của một Webquest60 2.1.3.1. Chủ đề61 2.1.3.2. Nhiệm vụ của một Webquest61 2.1.3.3. Tài nguyên của một Webquest62 2.1.3.4. Cách thức làm việc62 2.1.3.5. Trình bày và sử dụng63 2.2. Khả năng ứng dụng của WebQuest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT63 2.2.1. Trong điều kiện CNTT thuận lợi63 2.1.2. Trong điều kiện CNTT không thuận lợi64 2.3. Quy trình thiết kế WebQuest hỗ trợ dạy học địa lý 10 THPT64 + Trước khi thiết kế WebQuest, hãy cân nhắc các câu hỏi sau:64 2.3.1. Chọn và giới thiệu chủ đề65 2.3.2. Tìm nguồn tài liệu học tập65 2.3.3. Xác định mục đích66 2.3.4. Xác định nhiệm vụ66 2.3.5. Thiết kế tiến trình67 2.3.6. Trình bày trang Web67 2.3.7. Thực hiện WebQuest67 2.3.8. Đánh giá, sửa chữa67 2.4. Xây dựng Webquest hỗ trợ dạy học địa lý lớp 10 THPT bằng Google site68 2.4.1. Giới thiệu công cụ tạo web Google Sites68 2.4.2. Các tính năng của Google Sites69 2.4.3. Các bước tạo Webquest với Google site69 2.5. Một số phần mềm tạo trang WebQuest khác78 2.5.1. Microsoft Word với xây dựng Webquest78 2.5.2. eXe Learning83 2.4.3. Microsoft ProntPage84 2.4.4. Zunal Webquest maker85 2.4.5. QuestGarden86 2.6. Sử dụng WebQuest trong dạy học địa lý 10 THPT87 2.6.1. Một số nội dung trong chương trình Địa lý 10 THPT có khả năng ứng dụng WebQuest87 2.6.2. Những phương pháp thường kết hợp với Webquest trong dạy học địa lý 10 THPT87 2.3.2.1. Phương pháp dạy học dự án87 2.3.2.2. Phương pháp làm việc nhóm88 2.3.2.3. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề90 2.3.2.4. Phương pháp dạy học kết hợp (Blended Learning)91 2.6.3. Tiến trình thực hiện dạy học với WebQuest trong dạy học địa lý 10 THPT92 2.6.3.1. Nhập đề93 2.6.3.2. Xác định nhiệm vụ93 2.6.3.3. Hướng dẫn nguồn thông tin:93 2.6.3.4. Thực hiện:93 2.6.3.5. Trình bày:93 2.6.3.6. Đánh giá:93 2.7. Bài dạy minh họa94 CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM120 3.1. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ, nguyên tắc thực nghiệm120 3.1.1. Mục đích và ý nghĩa120 3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm120 3.1.3. Nguyên tắc thực nghiệm121 3.2. Phương pháp thực nghiệm121 3.3. Tổ chức thực nghiệm122 3.3.1. Thời gian thực nghiệm122 3.3.2. Chọn địa bàn thực nghiệm122 3.3.3. Đối tượng thực nghiệm122 3.3.4. Quy trình đánh giá thực nghiệm122 3.3.5. Nội dung thực nghiệm123 3.4. Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm137 3.4.1. Kết quả thực nghiệm qua ý kiến đánh giá của GV và HS137 3.4.1.1. Ý kiến của GV137 3.4.1.2. Ý kiến của HS138 3.4.2. Kết quả thực nghiệm qua các bài kiểm tra139 3.4.3. Nhận xét chung142 3.4.3.1. Những thành công đạt được142 3.4.3.2. Những khó khăn142 PHẦN KẾT LUẬN144 1. Những kết luận của đề tài144 2. Những đóng góp của đề tài145 3. Hạn chế của đề tài147 4. Kiến nghị và đề xuất147 5. Hướng phát triển đề tài148 TÀI LIỆU THAM KHẢO149 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, công nghệ thông tin và truyền thông (Informationand Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cáchmạng khoa học - kỹ thuật (CMKH – KT) hiện nay
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng vàNhà nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của cácphương tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghịquyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõđiều này, như: Nghị quyết CP của Chính phủ về chương trình quốc gia đưaCNTT (CNTT) vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương II khóaVIII, Luật giáo dục (1998) và Luật giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chiến lượcphát triển giáo dục 2001 – 2010,…
Trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII Đảng và Nhà nước ta
khẳng định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên.”
Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng
cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn
2001 – 2015 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học
tập”, nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT ”
Trang 2Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của
Bộ Giáo dục – Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển
giáo dục dựa trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay
đổi lớn trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”.
Với tất cả các môn học nói chung và môn Địa lý nói riêng, một trong 3
xu hướng đổi mới hiện nay đó chính là đổi mới dạy học theo quan điểm củacông nghệ dạy học Nói đến công nghệ dạy học người ta không thể khôngnhắc đến CNTT với một phương tiện ngày càng trở nên quen thuộc làInternet.Với Internet, người ta có thể truy cập được một khối lượng thông tinkhổng lồ với tốc độ cực kì nhanh chóng Tuy nhiên, nếu GV không địnhhướng cho HS trong quá trình sử dụng thông tin trên Internet thì sẽ khiến cho
HS mất thời gian, thông tin tìm được không chính xác, hàm lượng khoa họckhông cao Để khắc phục những nhược điểm trên đây của việc học tập sửdụng Internet người ta đã phát triển phương pháp WebQuest Đây là mộtphương pháp mới và rất có hiệu quả trong việc hỗ trợ HS học tập thông quaInternet với những định hướng nhằm hạn chế những khó khăn trong quá trìnhtìm kiếm thông tin trên mạng của HS Bản thân chính tác giả cũng đã từngkiểm chứng tính khả dụng của Webquest và cảm thấy cần tiếp tục đào sâunghiên cứu để phát triển thêm phương pháp này
Với tất cả những lí do trên, em đã chọn đề tài " Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 - THPT” làm nội dung nghiên cứu cho
Trang 3cứu rộng rãi Có rất nhiều nghiên cứu liên quan tới ứng dụng ICT vào dạy họcnhư: Chương trình MEP (Microelectronies Education Program) ở Anh vàonăm 1980; Tổ chức NSCU (National Software - Cadination Unit) của Ôx-trây-li-a được thành lập vào năm 1984 chuyên cung cấp các chương trình, cácphần mềm, các môn học cho các trường Đại học; Hội thảo về "Xây dựng cácphần mềm dạy học" ở các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương(Gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Srilanca, Thái Lan, Malaysia) năm1985; Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School), Ấn Độ,1985… Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về mặt lý thuyết của CNTT
và cho ra đời các ứng dụng (Các phần mềm, website hỗ trợ dạy học)
Theo đó, nhiều PPDH liên quan tới ICT đã ra đời trong đó có Webquesthay còn gọi là PPDH hiệu quả thông qua Internet
Năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University(Mỹ) là người đầu tiên sử dụng Webquest trong dạy học Các đại diện tiếptheo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ) Ý tưởng của họ là đưa racho HS một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc lịch sử, dựa trên cơ sởnhững dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểm của mình về chủ đề đótrên cơ sở lập luận HS tìm được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông quanhững trang kết nối (links) đã được GV lựa chọn từ trước
Một số cuốn sách nghiên cứu về Webquest đã xuất bản như: “Using
WebQuests in the Social Studies Classroom” (Sử dụng Webquest trong dạy
học các môn khoa học xã hội) của các tác giả: Margaret M Thombs, Maureen
M Gillis, Alan S Canestrari, cung cấp các biện pháp thực tế để sử dụng
Webquest nhằm tối ưu hóa việc học các môn khoa học xã hội, đòi hỏi mức độ
tư duy cao của HS, thúc đẩy hơn sự hiểu biết về các nền văn hóa xã hội; “The
World Is Open” (Thế giới mở) của tác giả Curtis J Bonk, khám phá các thay
Trang 4đổi mạnh mẽ của thế giới đang ảnh hưởng đến người học trong đó có việc khaithác Internet nói chung và sử dụng thông tin trên các trang web nói riêng…
Bên cạnh đó, cũng có nhiều luận văn và luận án nghiên cứu vềWebquest và hiệu quả của việc sử dụng WebQuests như: luận án nghiên cứu
“The WebQuest creation process” (Quá trình tạo Webquest) của Roberts, Leanne M., 2005, “WebQuest design strategies”(Các kĩ thuật xây dựng
Webquest) của Frazee, James Phillip vào năm 2004 Các đề tài này đã nghiên
cứu về các vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn của Webquest trong đó chú trọngđến việc nghiên cứu quá trình tạo ra Webquest, các mô hình Webquest và các
kĩ thuật xây dựng Webquest, đồng thời tiến hành thực nghiệm kiểm chứng đốivới sinh viên các trường Đại học Akron, Đại học San Diego…
Ngày nay WebQuest (thuật ngữ tiếng Anh) được sử dụng rộng rãi trênthế giới, trong giáo dục phổ thông cũng như đại học
2.2 Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, việc đổi mới PPDH trong đó có vấn đề ứngdụng CNTT vào dạy học nói chung và dạy học địa lý nói riêng được rất nhiềunhà giáo dục quan tâm nghiên cứu Trong những nghiên cứu này có thể kểđến: Phần mềm "PC FACT với dạy học địa lý" của G.S Nguyễn Dược, phầnmềm Db - Map của PGS.TS Đặng Văn Đức (1998), phần mềm "Atlas Địa lýViệt Nam" của Tổng cục du lịch Việt Nam, phần mềm “Atlas Địa lý môitrường Việt Nam" do Cục môi trường - Bộ Khoa học công nghệ và môitrường xây dựng (2001); Báo cáo “Nghiên cứu ứng dụng tin học trong dạyhọc địa lý – một hướng đổi mới dạy học và HS làm trung tâm” của PGS.TSĐặng Văn Đức (1998)… Các luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận ántiến sĩ như: “ Đổi mới PPDH địa lý KT –XH thế giới ở trường THPT tạiTPHCM” – Phan Huy Xu (1993), “Ứng dụng CNTT trong giảng dạy Địa lý
KT –XH Việt Nam (lớp 12, THPT)” – Trần Thị Thanh Thủy (2002), “Ứng
Trang 5dụng CNTT trong giảng dạy Địa lý KT –XH Thế giới theo hướng tích cực(lớp 11)” – Nguyễn Thị Thu Anh (2005)… Nội dung của các luận văn này đềcập đến vấn đề đổi mới PPDH trong đó có việc đổi mới theo xu hướng sửdụng CNTT cụ thể là sử dụng các chương trình, phần mềm máy tính để thiết
kế các bài giảng Địa lý ở THPT, xây dựng website tư liệu phục vụ cho giảngdạy bộ môn Địa lý với những chuyên ngành khác nhau như Địa lý tự nhiên,
KT - XH
Bên cạnh đó còn có rất nhiều sách, giáo trình đề cập tới đổi mới PPDH
và ứng dụng CNTT vào dạy học địa lý: Sách dịch “Phát huy tính tích cực của
HS như thế nào?”, tác giả I.F.Khrlamop, Nxb Giáo dục năm 1979; "Phươngpháp dạy học địa lý" của Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng Phúc,Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đức Tuấn, Nxb Giáo dục năm 1996; "Phươngpháp dạy học địa lý KT – XH thế giới ở THPT" của Nguyễn Ngọc Minh, Đạihọc Sư phạm Huế năm 2000; Tư liệu "Đổi mới phương pháp dạy học địa lýtheo hướng tích cực hóa hoạt động người học" của Đặng Văn Đức, NguyễnThị Thu Hằng (2001); Sách "Phương pháp dạy học địa lý theo hướng tíchcực" của Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Đại học Sư phạm(2004) Trong những tài liệu này, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề củađổi mới PPDH, phát huy tính tích cực của HS Các tác giả đã đưa ra những cơ
sở lí luận của vấn đề, hướng dẫn cách khai thác từng loại phương pháp theotừng bước đi cụ thể và đưa ra một vài ví dụ minh họa
Ở Việt Nam, có một số tài liệu đề cập tới Webquest như: “Một số vấn
đề chung về đổi mới PPDH ở trường THPT (Dự án phát triển giáo dục THPTcủa Bộ Giáo dục và đào tạo)” – Nguyễn Văn Cường và Bern Meier, 2010;Đĩa CD “CNTT cho dạy học tích cực”, NXB Giáo dục, 2010; Tài liệu tậphuấn, bồi dưỡng cho GV Địa lý các trường THPT chuyên ở Việt Nam củaPGS.TS Trần Đức Tuấn Hầu hết các tài liệu này đề cập tới các vấn đề lí luận
Trang 6liên quan đến Webquest và xây dựng một ví dụ minh họa Riêng tài liệunghiên cứu về cách xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý thìmới chỉ có duy nhất khóa luận tốt nghiệp của chính tác giả: “Sử dụngWebquest trong dạy học địa lý lớp 11 THPT” – Nguyễn Thị Hồng (2012)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về cách xây dựng và sửdụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 nhằm phát huy được tính tích cực,chủ động, sáng tạo và vận dụng kíên thức, kĩ năng của HS, đáp ứng được yêucầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học địa lý ở trườngTHPT
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và biện pháphướng dẫn sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT
- Xây dựng Webquest hỗ trợ dạy học địa lý lớp 10
- Nghiên cứu sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thicủa đề tài nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng và sử dụngWebquest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài hướng tới việc:
- Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT
Trang 7- Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở trường THCS và THPT Tạ Quang
Bửu, Hà Nội Cụ thể, bài dạy thực nghiệm là bài 37: Địa lý các ngành giaothông vận tải
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
5.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tiến hànhnghiên cứu, thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như các sách liên quantới PPDH và đổi mới PPDH của các tác giả như: Nguyễn Dược, Nguyễn Đức
Vũ, Đặng Văn Đức, Trần Đức Tuấn Bên cạnh đó còn có các luận văn thạc
sĩ, khóa luận tốt nghiệp liên quan đến đổi mới PPDH và ứng dụng CNTT vàotrong dạy học địa lý, các SGV và thiết kế bài giảng liên quan đến chươngtrình Địa lý lớp 10 (ban cơ bản) Ngoài ra, tác giả còn thu thập các tài liệu liênquan tới tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, đây là những cơ sở quantrọng cho việc lựa chọn các nội dung và PPDH tích cực nhằm phát huy tối đatính tích cực, chủ động của HS trong học tập
5.1.2 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng để thống kê và xử lý kết quả điều trathực tế, thống kê và xử lý kết quả thực nghiệm Ngoài ra tác giả cũng sử dụngphương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả điều tra ở trường phổ thông
Để kết quả nghiên cứu chính xác và đảm bảo độ tin cậy cao, việc sử dụngnhóm phương pháp toán học trong nghiên cứu là rất cần thiết Thông quaphương pháp này, ta nhận biết được kết quả lĩnh hội tri thức của HS từ đó rút
ra kết luận cho toàn bộ hệ thống lí luận và thực nghiệm của đề tài
5.1.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Là phương pháp nghiên cứu để nhận thức các đối tượng tồn tại trongmột hệ thống bao gồm nhiều yếu tố tạo nên Nội dung, phương pháp, phương
Trang 8tiện dạy học là một thể thống nhất với những quy luật nội tại của nó Các yếu
tố đó có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau Do đó, để đảm bảo tính khoahọc, các đối tượng phải được xem xét trong một hệ thống hoàn chỉnh Tổchức một giờ học có sử dụng các PPDH mới liên quan đến CNTT như sửdụng Webquest phải quan tâm tới nhiều yếu tố như: Nội dung bài học, trình
độ của GV và HS, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, của địa phương Với những tài liệu đã thu thập được, tôi phân tích, tổng hợp và đưa ra nhữnggiả thuyết, kết luận cho những vấn đề đang quan tâm
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tranh thủ những ý kiến và kinh nghiệm của các giáo
sư, tiến sĩ, các thầy cô giáo dạy giỏi môn Địa lý bao gồm một số thầy cô trongkhoa Địa lý trường ĐHSP Hà Nội và các thầy cô dạy Địa lý tại các trườngTHPT trên địa bàn Hà Nội Từ những kiến thu nhận được, tác giả đã cónhững định hướng về nội dung nghiên cứu đề tài cũng như những vấn đề liênquan đến thực nghiệm sư phạm
5.2.2 Phương pháp khảo sát, điều tra
Để tìm hiểu tình hình thực tế của việc ứng dụng CNTT và sử dụngWebquest trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS và rènluyện các kĩ năng cho HS trong dạy học địa lý lớp 10, tác giả đã sử dụngphương pháp khảo sát, điều tra bằng cách tiến hành tổ chức điều tra ở một sốtrường thông qua một số hình thức chủ yếu sau:
- Dự giờ: Dự các giờ lên lớp của GV kết hợp với các giáo án để xácđịnh cách thiết kế bài giảng hiện nay của GV
- Khảo sát dựa trên các phiếu điều tra: Lập các mẫu phiếu điều tra vớiđối tượng là GV
Trang 9- Phỏng vấn: Phỏng vấn các GV môn Địa lý các vấn đề như thiết kế bàigiảng, sử dụng phương pháp dạy học, việc ứng dụng CNTT, vấn đề học tậpcủa HS và các vấn đề khác có liên quan
Việc áp dụng các phương pháp mới nhất là các phương pháp có liênquan đến CNTT phù hợp với khả năng của HS là một quá trình thử nghiệmlâu dài, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của GV và điều kiện cơ sở vật chất của nhàtrường Do đó, quá trình nghiên cứu cần có sự điều tra, khảo sát một cáchchính xác
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm chứng tính khả thi của nội dung nghiên cứu, tác giả đã sửdụng phương pháp thực nghiệm sư phạm Quá trình thực nghiệm được thựchiện ở khu vực thành thị - nơi có điều kiện ứng dụng CNTT thuận lợi (HàNội) trên cơ sở tiến hành kiểm chứng ở 2 lớp là lớp đối chứng và lớp thựcnghiệm Thông qua kết quả thực nghiệm có thể chứng thực tính tích cực, ưuviệt của việc sử dụng Webquest vào dạy học địa lý nói chung và dạy học địa
lý lớp 10 THPT nói riêng
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm ba phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kếtluận
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụngWebquest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT
- Chương 2: Xây dựng và sử dụng Webquest trong dạy học địa lý lớp
10 THPT
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 107 Những đóng góp mới của luận văn
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụngWebquest trong dạy học địa lý lớp 10 THPT
- Luận văn góp phần khẳng định việc xây dựng và sử dụng Webquesttrong dạy học địa lý lớp 10 THPT phát huy được tính tích cực, chủ động vàsáng tạo của HS trong quá trình học tập
- Thiết kế và sử dụng Webquest vào dạy học một số bài trong chươngtrình Địa lý 10 THPT nhằm phát huy được tích tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh
- Đã tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệuquả của đề tài nghiên cứu
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBQUEST TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 THPT 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề của việc đổi mới PPDH
1.1.1.1 Định hướng về đổi mới PPDH
Định hướng về đổi mới PPDH đã được thể hiện cụ thể trong Nghịquyết Hội nghị Trung uơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướnghiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹnăng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máymóc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ýcác hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụngcông nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.”
Dạy học là hoạt động thống nhất hữu cơ của hai hoạt động dạy và học.Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho HS của người GV Bản chất của quátrình dạy học là tạo ra các tình huống học tập, các tình huống gia cố trong đóngười học sẽ hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV Học là quá trình hoạtđộng tự giác, tích cực của HS nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, pháttriển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của HS Bản chất của quá trìnhhọc tập là quá trình tiếp thu, xử lí thông tin bằng các hoạt động trí tuệ và hoạtđộng thể chất, từ đó có được kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi mới
Trong quá trình dạy học có sự tác động qua lại, chi phối lẫn nhau củarất nhiều các nhân tố nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Mối quan hệ của các
Trang 12thành tố trong quá trình dạy học thể hiện ở sự tác động qua lại giữa mục tiêu,phương pháp, tổ chức, nội dung, phương tiện, đánh giá và được thể hiện cụthể bằng sơ đồ sau [5]:
Hình 1.1: Sơ đồ quá trình dạy học
Nhìn vào sơ đồ trên, chúng ta thấy rõ đổi mới quá trình dạy học là quátrình đổi mới toàn diện trên tất cả các nhân tố của quá trình dạy học (Mụctiêu, phương pháp, tổ chức, nội dung, phương tiện, đánh giá) Nó là một quátrình mà trong đó các nhân tố liên quan đến quá trình dạy học có tác độngtương hỗ lẫn nhau, ảnh hưởng tới nhau, một nhân tố thay đổi kéo theo cácnhân tố khác cũng thay đổi và làm thay đổi toàn bộ quá trình dạy học Để đổimới thành công quá trình dạy học nhằm phát huy hơn nữa chất lượng và hiệuquả giáo dục thì cần phải có sự đổi mới ở tất cả các nhân tố cả mục tiêu,phương pháp, tổ chức, nội dung, phương tiện, đánh giá Trong đó, việc đổimới PPDH là một trong những yêu cầu bức thiết nhất
1.1.1.2 Bản chất của đổi mới PPDH
Đổi mới PPDH địa lý là quá trình hiện đại hóa và tối ưu hóa tổ chứcdạy học địa lý Lí luận và thực tiễn dạy học địa lý đã chứng tỏ điều này Đổimới PPDH địa lý chỉ thành công nếu chúng ta đẩy mạnh quá trình hiện đại
Quá trình dạy học
Môi trường giáo
dục của nhà trường Môi trường kinh tế - xã hội
Trang 13hóa và tối ưu hóa dạy học địa lý theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường
áp dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học hiện đạikết hợp với việc cải biến các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chứcdạy học truyền thống theo những định hướng mới của dạy học hiện đại
Hình 1.2: Bản chất của đổi mới dạy học địa lý
[1, tr12]Đổi mới PPDH địa lý là quá trình tác động mạnh mẽ đến cả thầy và trò.Không thể đạt được các mục tiêu của cải cách giáo dục và không thể cải biếnđược tình trạng dạy học địa lý kém hiệu quả như hiện nay nếu sự đổi mới chỉtác động đến người thầy Sự đổi mới PPDH địa lý chỉ thành công khi PPDH
địa lý tác động sâu sắc đến người HS và "phát huy được tính tự giác, tích cực,
chủ động học tập và ý chí vươn lên" (Luật Giáo dục 1998, chương I, điều 24).
Ở Trung Quốc người ta cũng có câu nói rất hay rằng: "Tôi nói - tôi quên, Tôinghe - tôi nhớ, Tôi làm - tôi hiểu" Có thể nói, lí luận dạy học hiện đại đãkhẳng định con người phát triển trong hoạt động và bằng hoạt động Vì vậy,đổi mới PPDH địa lý về thực chất là quá trình phát huy mạnh mẽ các hoạtđộng tích cực, tự giác, sáng tạo của HS theo hướng tăng cường các hoạt độngđộc lập và các hoạt động tương tác của HS
Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, đổi mới PPDH không chỉ giới hạn ởyếu tố phương pháp mà nó đòi hỏi sự đổi mới ở nhiều mặt khác nhau của quátrình dạy học từ mục tiêu đến nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thứcdạy học và không gian học tập Địa lý Chính vì vậy, thực chất của đổi mới
Đổi mới tổ chức dạy học
Địa lý
Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học địa lý
Hiện đại hóa và tối ưu hóa việc tổ chức quá trình dạy học
Đổi
mới
PPDH
địa lý
Trang 14PPDH địa lý là quá trình đổi mới tổ chức dạy học địa lý Từ trước đến nay,chúng ta mới chỉ chú ý đến đổi mới các yếu tố như: phương pháp , phương tiện
và hình thức dạy học còn việc đổi mới một không gian lớp học còn chưa đượcquan tâm đúng mức Việc ứng dụng PPDH Webquest không chỉ đáp ứng đượcyêu cầu về đổi mới phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức mà ngay cảkhông gian học tập cũng được thay đổi, đáp ứng được yêu cầu đổi mới
Mục đích tối cao của đổi mới dạy học địa lý trên cơ sở hiện đại hóa vàtối ưu hóa tổ chức dạy học địa lý là nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạyhọc địa lý, làm cho môn học có vị thế xứng đáng trong hệ thống các môn học
ở nhà trường phổ thông, để HS ngày càng yêu thích học Địa lý hơn
Đổi mới quá trình dạy học địa lý là một quá trình đòi hỏi có thời gian
Tư tưởng nóng vội muốn trong một thời gian ngắn hoàn thành quá trình đổimới trong khi chưa tạo ra những điều cần và đủ cho quá trình đổi mới đềukhông thích hợp và sẽ không tránh khỏi những sai sót trong quá trình thựchiện Quá trình đổi mới sẽ thành công khi các trường THPT kết hợp đượcnhững tiến bộ liên tục, tuần tự với những bước tiến nhảy vọt trong quá trìnhđổi mới PPDH ở trường phổ thông
1.1.1.3 Ý nghĩa của đổi mới PPDH địa lý
Đổi mới PPDH mang lại nhiều ý nghĩa to lớn
- Trước hết, trong cuộc sống hiện nay, khi cuộc cách mạng KHKT pháttriển như vũ bão, khi mà thế giới đang bước vào thời đại của toàn cầu hóa vàphát triển bền vững thì ngành giáo dục và đào tạo đứng trước những khókhăn, thách thức và vận hội mới, đổi mới PPDH địa lý đáp ứng được nhu cầuthực tiễn của cuộc sống hiện đại đang đặt ra góp phần giúp cải tiến nền giáodục còn nhiều yếu kém và hạn chế của nước ta
- Đổi mới PPDH góp phần vào việc làm thay đổi phong cách dạy củathầy và phong cách học của trò Trước đây, phong cách dạy học chủ yếu là
Trang 15lấy thầy làm trung tâm với đặc trưng là thầy đọc trò chép, người thầy lên lớpvới những PPDH truyền thống, chưa chú ý tới những nhu cầu, hứng thú của
HS Đặc biệt hơn là với môn Địa lý, một môn học luôn bị các em coi là mônphụ thì đôi khi việc lên lớp của GV còn mang tính hình thức, người thầy chỉquan tâm đến nhồi nhét kiến thức cho HS khiến cho HS không có hứng thúhọc và không có trách nhiệm với việc học của mình và do đó việc dạy học địa
lý không thể thành công được Đổi mới PPDH với việc tác động sâu sắc tới cảthầy và trò đã hình thành nên phong cách dạy và học mới Phong cách dạyhọc mới thể hiện ra ở những đặc trưng hết sức quan trọng như: người thầythiết kế các tình huống để HS tự khai thác, tự chiếm lĩnh, tự kiến tạo kiến thức
và tạo ra các cơ hội để người HS có thể suy nghĩ nhiều hơn, hoạt động nhiềuhơn, có trách nhiệm nhiều hơn và tìm thấy nhiều niềm vui trong học tập củamình Phong cách học của trò cũng có nhiều đổi mới: HS chủ động, tích cực
và có động cơ học tập cao; luôn tò mò, say mê và tự mình khám phá điều gì
đó, có trách nhiệm với công việc học tập của bản thân, biết đánh giá việc họctập của mình và các bạn cùng lớp
- Đổi mới PPDH với việc đưa vào những PPDH tích cực đã gợi mở,kích thích, đòi hỏi người học phải suy nghĩ, tìm tòi, phát huy tư duy đến mứccao nhất để có thể giải quyết thấu đáo các vấn đề đặt ra và mô hình chung đãgiúp người học có thể phát hiện ra khả năng tiềm ẩn của bản thân mình Bêncạnh đó, việc đổi mới PPDH với những hình thức tổ chức dạy học mới còngiúp phát huy tối đa trí tuệ tập thể, tạo nên một tập thể lớp đoàn kết, đồng thờicòn giúp bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học - một yếu tố cần thiết vớimỗi HS trong thời đại mới
- Đổi mới dạy học địa lý góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả củaviệc dạy học Điạ lý ở các trường phổ thông Nhờ có đổi mới PPDH , HS tiếpthu bài tốt hơn, nắm vững kiến thức Địa lý và các kĩ năng thực hành hơn, trí tuệ
Trang 16được hình thành và phát triển tốt hơn, các phẩm chất, các giá trị quan trọng củangười HS hiện đại được hình thành, củng cố và phát triển mạnh mẽ hơn
Đặc biệt hơn, đổi mới PPDH với việc ứng dụng CNTT truyền thông đãtạo tiền đề để hình thành các PPDH mới trong đó có việc sử dụng Webquest
đã làm tăng hiệu quả dạy học lên rất nhiều Trên cơ sở đó, đáp ứng được yêucầu của quá trình đổi mới
1.1.1.4 Xu hướng đổi mới PPDH hiện nay
Hiện nay, đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH địa lý nói riêngkhông chỉ giới hạn ở đổi mới dạy học địa lý theo quan điểm lấy HS làm trungtâm như nhiều người quan niệm Trên thực tế, đổi mới PPDH địa lý chịu tácđộng của nhiều quan điểm đổi mới giáo dục và dạy học hiện đại, trong đóđáng kể nhất là các xu hướng đổi mới cơ bản sau đây:
+ Xu hướng đổi mới dạy học địa lý theo quan điểm lấy HS làm trung
tâm: Vấn đề dạy học lấy HS làm trung tâm những năm gần đây đã được đề
cập đến khá nhiều trong các tài liệu dạy học ở trong nước cũng như ở nướcngoài Trong thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, ở nhà trường phổ thôngcũng như đại học đã có nhiều ý kiến bàn bạc, tranh luận về vấn đề này Cóngười quá nhấn mạnh vào vấn đề lấy HS làm trung tâm mà có phần coi nhẹvai trò của GV Ngược lại cũng có những người cho rằng dạy học lấy HS làmtrung tâm không đúng hoặc không phù hợp với thực tiễn dạy học ở nước ta.Ngoài ra, một số người đã tán thành quan điểm này nhưng chưa hiểu thật rõbản chất của nó Nói một cách khái quát, bản chất của việc dạy học lấy HSlàm trung tâm là người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của ngườihọc, đến những đặc điểm tâm sinh lí và cấu trúc tư duy cuả từng người, làchiến lược, phương pháp, thủ pháp dạy của thầy phải phù hợp với chiến lược,phương pháp, thủ pháp của trò, việc dạy phải xuất phát từ người học, vì ngườihọc, phải đáp ứng được những yêu cầu của người học cũng như của xã hội
Trang 17Theo đó, xu hướng đổi mới dạy học theo quan điểm lấy HS làm trung tâm yêucầu phải cải biến và sử dụng các PPDH truyền thống theo quan điểm đổi mới(bao gồm phương pháp thuyết trình, đàm thoại…) đồng thời tăng cường sửdụng các phương pháp mới, hiện đại (bao gồm phương pháp nhóm, thảo luận,động não, nêu và giải quyết vấn đề…)
+ Xu hướng đổi mới theo quan điểm công nghệ dạy học:
Dạy học theo quan điểm công nghệ dạy học là một xu thế phát triểnmạnh mẽ của dạy học địa lý hiện đại và đồng thời cũng là một tiếp cận quantrọng để đổi mới tổ chức dạy học địa lý Thực tế đã chứng minh sự khác biệtkhông nhỏ giữa dạy học theo quan điểm công nghệ dạy học và không theocông nghệ dạy học Điều này được lí giải bởi những ưu việt của công nghệ dạyhọc khi nó được áp dụng một cách đúng đắn Về bản chất, công nghệ dạy học
là một chuyên ngành lí luận dạy học chuyên biệt nhằm hiện đại hóa và tối ưuhóa việc tổ chức quá trình dạy học trên cơ sở áp dụng tổng hợp những thànhtựu của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là những thành tựu của khoahọc giáo dục và các ngành khoa học có liên quan như tâm lí học, sinh học,lôgic học và đặc biệt là CNTT và truyền thông (ICT) nhằm tạo nên chất lượng,năng suất hiệu quả cao hơn cho giáo dục Chính nhờ những ưu điểm mang lại
mà công nghệ day học ngày càng tỏ ra là một tiếp cận và công cụ quan trọng đểđổi mới dạy học địa lý ở nhà trường phổ thông Với sự trợ giúp của công nghệdạy học, quá trình đổi mới tổ chức dạy học địa lý có thể thực hiện theo cáchướng sau đây:
- Đổi mới thiết kế các bài học Địa lý theo quan điểm công nghệ dạy họctheo hướng tăng cường chuẩn hóa và qui trình hóa: Điều này cho phép tạo lậpmối liên hệ chặt chẽ giữa mục tiêu, các hoạt động dạy học và sản phẩm củaquá trình dạy học và qui trình hóa các quá trình dạy học diễn ra trong bài học
Trang 18Địa lý Thiết kế bài học theo công thức GIPO sẽ là một tiếp cận đổi mới quantrọng theo hướng này.
- Tăng cường sử dụng ICT để tạo ra những công cụ dạy học hiện đạinhư hồ sơ dạy học điện tử, Webquest… cũng như hỗ trợ cho việc áp dụng cácPPDH hiện đại trong tổ chức dạy học địa lý như: Tổ chức dạy học dự án với
sự trợ giúp của ICT đặc biệt là Internet, tổ chức dạy học với Webquest
Có thể nói đổi mới PPDH trong đó có xu hướng ứng dụng CNTT vào dạyhọc sẽ mang lại hiệu quả cao, phát huy được tối ưu tính tích cực của HS Song
để đạt được hiệu quả tốt nhất, GV không nên cứng nhắc lựa chon một phươngpháp xuyên suốt toàn bài mà phải lồng ghép nhiều phương pháp tùy vào nộidung bài dạy Bên cạnh đó, dạy học không chỉ đổi mới về mặt phương pháp màcần phải đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới về đánh gíá kết quả học tập của
HS Giữa đánh gía của GV và HS cần có sự phối hợp tốt để mang lại hiệu quảđánh giá cao, đặc biệt là khi sử dụng các PPDH có ứng dụng CNTT như dạy học
dự án hay Webquest thì điều này trở nên thuận tiện và dễ dàng
1.1.2 Ứng dụng ICT trong dạy học địa lý
1.1.2.1 Khái niệm ICT
"ICT" ((Information and Communication Technologies) được sử dụngnhư là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép ngườidùng tạo, truy cập và thao tác với thông tin ICT là một sự kết hợp của côngnghệ thông tin và công nghệ truyền thông
Công nghệ thông tin giờ đây đã có mặt ở nhiều phương diện trong cuộcsống hàng ngày của chúng ta từ thương mại đến giải trí và thậm chí cả vănhóa Ngày nay, điện thoại di động, máy tính để bàn, thiết bị cầm tay, thư điện
tử và việc sử dụng Internet đã trở thành tâm điểm trong văn hóa và cộng đồngcủa chúng ta ICT đã tạo nên một xã hội toàn cầu, nơi mà mọi người có thểtương tác và liên lạc với nhau một cách nhanh chóng và hiệu quả
Trang 19Ứng dụng của ICTngày càng nhiều và có hiệu quả sâu sắc đến hầu hếtmọi mặt của đời sống xã hội nói chung và trong ngành giáo dục nói riêng Đã
từ rất lâu, trong hệ thống giáo dục của phương Tây, ICT đã được tích hợp vàochương trình học phổ thông Người ta đã nhận thấy rằng ứng dụng ICT rất cóích cho tất cả các môn học Ở nước ta, trong những năm gần đây, ICT nóichung và CNTT đã từng bước làm nên cuộc cách mạng đổi mới phương phápdạy học trong trường phổ thông và đem lại nhiều hiệu quả lớn
1.1.2.2 Vai trò của ICT trong dạy học địa lý
ICT có vai trò rất lớn đối với quá trình dạy học cuả tất cả các môn học nói chung và môn Địa lý nói riêng Cụ thể với môn Địa lý, ICT có 4 vai trò cơbản như sau:
+ ICT gây hứng thú và phát huy tính tích cực học tập Địa lý của học
sinh:
Với ưu thế của ICT – một nguồn thông tin – dữ liệu rất khổng lồ dưới
các dạng khác nhau như kí hiệu, hình ảnh, đồ thị, biểu đồ với những màu sắchấp dẫn, âm thanh sống động kích thích sự hứng thú, tò mò và ham muốn tìm
tò, nghiên cứu, trải nghiệm của học sinh Trong quá trình học tập ICT ( máy
tính, Internet ) là nguồn tài liệu khổng lồ, quý giá và có thể khai thác đượctrong thời gian ngắn Mặt khác nó còn cho phép người học có thể công bố(đánh giá) kết quả học tập và nghiên cứu của mình Đặc biệt việc sở dụngInternet ta có thể tiến hành các cuộc điều tra, trao đổi ý kiến cho nhau vàthông báo những thông tin cần thiết Chính vì vậy mà ICT sẽ thu hút đượcngười học và thúc đẩy người học tích cực làm việc độc lập
+ ICT có khả năng lưu trữ và cung cấp cho việc dạy và học Địa lý lượng thông tin lớn:
Trong quá trình dạy học địa lý, bằng những kĩ năng sử dụng cácphương tiện, thiết bị kĩ thuật hiện đại học sinh có thể khai thác từ Internet,
Trang 20Encarta, phần mềm Db- map một khối lượng thông tin Địa lý khổng lồdưới nhiều dạng khác nhau: văn bản, hình ảnh, số liệu, lược đồ, bản đồ Nguồn thông tin này luôn cập nhật, chính xác và nhanh chóng Ta có thểkhẳng định rằng không có giáo trình, sách giáo khoa và thư viện nào có thểcung cấp thông tin một cách nhanh chóng và cập nhật như Internet.
Điều này không những đối với học sinh mà còn có ý nghĩa đặc biệt vớigiáo viên Với các nguồn tư liệu phong phú và cập nhật này, giúp cho giáoviên thuận tiện hơn rất nhiều khi chuẩn bị bài cũng như khi lên lớp
Hơn nữa, máy tính lưu giữ thông tin và dữ liệu, nó cho phép giáo viên
có thể thành lập ngân hàng dữ liệu thông tin giáo khoa, nội dung giảng dạy
+ ICT góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lý:
Như chúng ta đã biết, đổi mới phương pháp dạy học chính là khắc phụclối truyền thụ một chiều, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạocủa học sinh Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiệnhiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tựnghiên cứu cho học sinh
Tuy nhiên muốn thay đổi định hướng đổi mới phương pháp dạy họcĐịa lý, người giáo viên phải thay đổi cách dạy, người học phải thay đổi cáchhọc Cần tăng cường sử dụng các phương pháp tích cực như hợp tác theonhóm, khai thác tri thức từ bản đồ, nêu và giải quyết tình huống, phương pháp
dự án, và tổ chức các giờ học Địa lý theo quan điểm kiến tạo, sư phạmtương tác, hoạt động hoá người học Tổ chức dạy học theo các quan điểm vàphương pháp đó, đòi hỏi học sinh phải biết kết hợp làm việc theo nhóm vàlàm việc một cách độc lập, mặt khác học sinh phải hoạt động tìm kiếm, lựachọn xử lí một cách tự giác, tích cực Tuy nhiên để thực hiện được điều đó,phải có phương tiện, thiết bị kĩ thuật để hỗ trợ cho học sinh hoạt động Có
Trang 21như vậy trong một khoảng thời gian nhất định, dưới sự hỗ trợ của giáo viên,học sinh mới có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
+ ICT có khả năng đổi mới hình thức tổ chức dạy học Địa lý:
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học Địa lý nói riêng chúng ta
có thể áp dụng nhiều tổ chức hình thức dạy học khác nhau Ngoài hình thứcgiáo dục truyền thống là lên lớp giảng bài, học mở rộng, học từ xa tươngứng với các hình thức này đã xuất hiện các ứng dụng của công nghệ điện tử -viễn thông trong giáo dục đó là: băng nghe tiếng (hệ 1); băng hình, truyềnhình (hệ 2) Tuy các phương tiện này đã thúc đẩy việc dạy- học, song các loạinày vẫn còn ở thế bị động, nó chỉ hoạt động một chiều Người học không thểtương tác với máy, khó chọn được thời gian học
Hiện nay, thế hệ 3 – sử dụng ICT để dạy và học đã được áp dụng vàđáp ứng được yêu cầu của việc dạy học, đặc biệt là dạy học từ xa Hai côngnghệ hiện đại và ứng dụng một cách có hiệu quả nhất cho giáo dục và đào tạo
là công nghệ truyền thông đa phương tiện Multimedia và công nghệ mạngNetworking, đặc biệt là Internet Hai công nghệ này đã giúp cho dạy học thayđổi được hình thức tổ chức Người học không nhất thiết phải lên lớp, theođúng thời gian, địa điểm quy định, mà người học có thể học bất cứ ở đâu, nơinào ( thành phố hay vùng sâu, vùng xa) Người học có thể chủ động được thờigian , bất cứ lúc nào họ muốn, họ không phải phụ thuộc vào giờ lên lớp hayphát sóng của đài, truyền hình
Đặc biệt là nhờ ICT, chúng ta có khả năng dạy học theo kiểu phân hoá.
Mỗi học sinh ngồi trước một máy trong hệ thống máy đã được nối mạng.Giáo viên giao bài tập cho từng học sinh tuỳ theo khả năng của học sinh đó vàngay sau đó bài tập được đánh giá trên máy
Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Vì vậy,việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn
Trang 22quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cánhân Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, họcđại học mà là học suốt đời.
1.1.2.3 Khả năng ứng dụng ICT trong dạy học địa lý
Khả năng ứng dụng ICT trong dạy học địa lý bao gồm:
+ Khả năng lựa chọn và khai thác những thông tin Địa lý:
Thông qua những phần mềm Địa lý có sẵn, GV có thể khai thác dữ liệuphục vụ cho nội dung bài giảng Việc khai thác các thông tin trên máy vi tínhnhanh chóng, dễ dàng và thuận tiện hơn so với một số tài liệu khác Đặc biệt,máy vi tính có thể giúp GV có được lượng thông tin lớn và chính xác thôngqua việc sử dụng Internet, khai thác các phần mềm Địa lý như: Word Atlat,Encatar, Mapinfo…để có được những hình ảnh, âm thanh, bản đồ… tăng tínhtrực quan cho bài học
+ Khả năng thiết kế bài giảng Địa lý trên máy vi tính:
Các chương trình trình diễn trên máy vi tính cho phép GV có thể thiết
kế toàn bộ nội dung bài giảng trên máy với các kênh chữ, kênh hình, kênhtiếng rất đa dạng Đồng thời còn có khả năng thiết kế các mô hình, các dạngchuyển động Địa lý như hệ mặt trời, động đất, núi lửa mà HS khó có thểquan sát ngoài thực tiễn
+ Khả năng thực hiện tiến trình dạy học trên lớp:
Địa lý là môn học không thể thiếu các bản đồ, biểu đồ và các hình ảnhtrực quan Máy vi tính sẽ giúp GV muốn đưa bản đồ, hình ảnh thì chỉ cần mởfile đó lên Điều này giúp GV, HS tiết kiệm thời gian do không phải treo bản
đồ hay vẽ biểu đồ lên trên bảng Mặt khác, Địa lý là môn học cung cấp cho
HS những tri thức về tự nhiên cũng như KT - XH khắp nơi trên thế giới, nơi
mà cả GV và HS đều khó có điều kiện đến tận nơi quan sát… Trước đây, GVthường dụng bản đồ để giúp HS xác định được vị trí của những khu vực đó
Trang 23Nhưng hiện nay với máy tính điện tử, Internet và các phần mềm ứng dụng,
HS còn được quan sát cụ thể các hiện tượng tự nhiên, những phong tục tậpquán, những hoạt động sản xuất của con người ở khắp các khu vực đó mộtcách trực quan, sinh động thông qua các tranh ảnh, video mà GV cung cấp,hoặc HS cũng có thể tự tìm hiểu trên các trang web
+ Khả năng kiểm tra, đánh giá:
GV có thể sử dụng các phần mềm có sẵn hoặc tự xây dựng các phầnmềm kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu bài giảng của HS như câu hỏi trắcnghiệm, các bài thực hành với bản đồ câm, các bài thực hành với biểu đồ
+ Khả năng tự học, tự nghiên cứu:
Ngoài giờ học trên lớp, cả GV và HS đều có thể khai thác các phần mềmĐịa lý ở nhà để mở rộng nội dung, tự bổ sung tri thức và rèn luyện kĩ năng
Các thông tin Địa lý đặc biệt là Địa lý KT - XH luôn thay đổi và yêu cầutính cập nhật rất cao Máy vi tính với sự kết nối toàn cầu của nó sẽ là công cụ hỗtrợ hữu ích cho mỗi người trong quá trình tự học suốt đời của mình
1.1.3 Internet với dạy học địa lý ở trường phổ thông
1.1.3.1 Internet
Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công
cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyềnthông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu dựa trên một giao thức liên mạng
đã được chuẩn hóa Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơncủa các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học củangười dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu
Để có được Internet với nhiều tiện ích và nhiều nhà điều hành như hiệnnay nó đã có một chặng đường dài phát triển
Tiền thân của Internet ngày nay là mạng Arpanet Mạng này được hìnhthành đầu tiên tại cơ quan quản lí dự án nghiên cứu phát triển Arpanet của bộ
Trang 24quốc phòng Mĩ Arpanet được thành lập với mục đích quân sự, dùng để liênkết 4 địa điểm gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học Califonia của LosAngeles, Đại học Utah và Đại học Califonia của Santa Barbara vào tháng 7năm 1969 Đây chính là mạng liên khu vực đầu tiên được xây dựng, chúng tahay gọi là mạng WAN (Wide Area Network).
Chúng ta được biết đến với thuật ngữ "Internet" lần đầu tiên vàokhoảng năm 1974 Nhưng đến năm 1983, chúng ta mới có một giao thứcchuẩn đối với ngành quân sự Mĩ và tất cả các máy tính nối với Arpanet phải
sử dụng chuẩn mới này đó chính là TCP/IP Đến năm 1984, Arpanet mớichính thức được chia thành hai bộ phận nhằm cụ thể hóa mục đích chính củatừng bộ phận mới này Bộ phận thứ nhất vẫn được gọi là Arpanet dành chomục đích nghiên cứu và phát triển, bộ phận thứ hai là Milnet dùng cho mụcđích quân sự
Sau những năm 1984, khoảng năm 1985, Internet mới được xác lập khi
tổ chức khoa học quốc gia Mĩ (NSF) thành lập mạng liên kết các trung tâmmáy tính lớn với nhau gọi là NSFNET Từ đó, Internet không ngừng lớnmạnh và phạm vi ảnh hưởng của nó cũng ngày càng được mở rộng
Như vậy, Mĩ là quốc gia tiên phong cho hệ thống Internet như ngàynay Với rất nhiều ứng dụng có quan hệ mật thiết với đời sống hằng ngày củachính chúng ta Khả năng phổ biến rộng rãi Internet phần nào thay đổi bộ mặtcủa toàn xã hội và kể cả ngành giáo dục Hiện nay, Internet có rất nhiều ứngdụng hữu ích cho ngành giáo dục Nếu sử dụng hợp lí Internet sẽ phần nàolàm thay đổi chính chất lượng giáo dục hiện nay của nước nhà
Trong thời đại của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệhiện đại, Internet phát triển như vũ bão và đã trở thành một công cụ hiệunghiệm của dạy học địa lý phổ thông Internet chính là kho tri thức khổng lồnhất, đầy đủ, sinh động, cập nhật nhất về tất cả các lĩnh vực khoa học, kinh tế,
Trang 25văn hóa, giáo dục… trên thế giới, qua đó GV và HS sẽ dễ dàng tìm thấy thôngtin phục vụ cho việc dạy và học
1.1.3.2 Giới thiệu các ứng dụng của Internet
Internet ngày càng ảnh hưởng một cách sâu rộng tới toàn bộ xã hội làđiều không thể phủ nhận, với rất nhiều các ứng dụng nó đã cung cấp cho cuộcsống nhiều điều thú vị, mới mẻ hơn Trong đó, phải kể đến một số các ứngdụng nổi bật của Internet như sau:
+ Hệ thống thư điện tử (email): Với mục đích có thể gửi thư đến nhau
dưới dạng file mềm nhằm rút ngắn khoảng cách và thời gian để nhận và trả lờithư Nhờ dịch vụ này mà những thông tin cần thiết được cập nhật nhanh chóng
+ Trò chuyện trực tuyến (chat): Có những người cách xa nhau cả nửa
vòng thế giới vẫn có thể trò chuyện với nhau, vẫn có thể nhìn thấy nhau, nghegiọng nói của nhau Internet quả thực đã tạo ra được điều kì diệu
+ Máy truy tìm dữ liệu (search engine): Nhờ ứng dụng truy tìm dữ liệu
này của Internet mà người sử dụng có thể không mất quá nhiều thời gian đểtìm được thứ mình cần Rất đơn giản, có thể quay số, băng rộng không dây,
vệ tinh hay điện thoại cầm tay
+ Các dịch vụ thương mại và chuyển ngân: Không nằm ngoài mục đích
rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian, ngay cả với các dịch vụ thươngmại và chuyển ngân cũng được các ứng dụng của Internet tác động và đem lạinhiều tiện ích
+ Các dịch vụ về y tế, giáo dục (ví dụ như dịch vụ chữa bệnh từ xa hay
các lớp học ảo )
Kế thừa một số các ứng dụng của Internet để sử dụng trong giáo dục sẽđem lại hiệu quả cao Có thể sử dụng để tìm kiếm dữ liệu, thông tin liên quanđến bài giảng hoặc liên quan đến việc học tập, hay sử dụng để tạo các lớp học
Trang 26trực tuyến sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, tiết kiệm thời gian và tiền bạc, hơnnữa có thể học ở mọi lúc mọi nơi miễn là có Internet.
1.1.3.3 Vai trò của Internet trong dạy học địa lý THPT
Trong thời gian gần đây chúng ta thấy đươc Internet đã phát huy tác dụngmạnh mẽ đối với sự nghiệp giáo dục Các nhà giáo bây giờ không còn chỉ bị bóhẹp phạm vi tìm hiểu trong các văn bản tĩnh mà việc sử dụng Internet rất hữu íchđối với các ngành khoa học trong đó có sự nghiệp giáo dục nói chung và dạy họcđịa lý nói riêng Cụ thể với môn Địa lý Internet có một số vai trò như:
- Internet cung cấp một khối lượng thông tin phong phú và khổng lồcho dạy học địa lý
- Internet có một sức mạnh to lớn góp phần phát triển động cơ hứngthú học tập Địa lý của HS, kích thích ở HS sự tò mò và lòng hammuốn tìm hiểu các vấn đề Địa lý Tăng cường năng lực và thúc đẩycác tiến bộ trong học tập của HS
- Tăng cường khả năng liên kết trong quá trình nói và viết
- Tăng cường và nâng cao năng lực hành động do HS liên tục xử lí,gia công các kiến thức, thông tin thu nhận được
- Tăng cường và nâng cao khả năng làm việc độc lập và làm việcnhóm
- Nâng cao trách nhiệm của bản thân và trách nhiệm chung trong quátrình học tập
- Internet tạo điều kiện để thúc đẩy quá trình đổi mới PPDH địa lý.Bên cạnh những vai trò như trên, Internet còn có những khả năng ứngdụng rất đặc trưng đối với việc dạy và học Địa lý hiện đại Cu thế:
+ Đối với GV:
- Internet giúp cho việc chuẩn bị bài lên lớp: GV có thể lấy trênInternet nhiều thông tin nhằm bổ trợ hoặc cập nhật nội dung SGK Trong
Trang 27nhiều trường hợp, GV có thể tìm kiếm được trên Internet nhiều bản đồ, tranhảnh phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho bài học Địa lý hoặc công bố trênInternet những hướng dẫn để HS chuẩn bị bài mới hoặc công bố đáp án củacác bài tập mà HS cần hoàn thành ở nhà.
- Internet giúp cho việc giảng dạy ở trên lớp: GV có thể sử dụngInternet để hướng dẫn họ sinh các phương pháp, kĩ thuật khai thác và lấythông tin trên Internet Trong một số trường hợp, GV có thể lấy thông tin,hình ảnh trực tiếp trên Internet để tiến hành bài giảng
- Ngoài ra, với việc sử dụng Internet giáo viên có thể tham gia vào cáclớp học trực tuyến nhằm nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ từ đó nâng caohiệu quả giảng dạy Hơn thế nữa với Internet và các ứng dụng của nó, GV còn
mở ra cho mình cơ hội sáng tạo trong giảng dạy như thiết kế các PTDH, sửdụng Internet như là một công cụ để giao tiếp với HS, một công cụ hỗ trợ HShọc tập
+ Đối với HS:
Internet ngày nay có rất nhiều tiện ích, đặc biệt đối với thế hệ trẻ là các em
HS ở lứa tuổi THPT Độ tuổi này các em rất ham học hỏi, thích tìm tòi những cáimới vì vậy Internet đã giúp giải quyết phần nào những nhu cầu của HS
- Học bài và chuẩn bị bài học ở nhà: HS có thể tìm kiếm trên Internetnhững thông tin cần thiết cho bài học mà trong SGK chưa trình bày kĩ hoặctìm kiếm thông tin trên Internet để làm một bài báo cáo trình bày trước lớp
- Sử dụng Internet trong các giờ học trên lớp nhằm các mục đích như:Tìm kiếm các tài liệu liên quan tới một chủ đề nào đó, tìm kiếm thông tin bổsung cho các chủ đề của bài học, công bố các kết quả học tập trên mạng …
- Ngoài ra, các em HS còn sử dụng Internet để tìm kiếm các bài thi, các
đề kiểm tra, các thông tin liên quan đến những vấn đề trong hoặc ngoài nộidung chương trình học ở trên lớp Sử dụng Internet với những mục đích học
Trang 28tập tích cực sẽ rất có hiệu quả cho việc học tập của HS nhằm nâng cao hiểubiết và trình độ học vấn của các em
Như vậy, Internet đang trở thành một nguồn lực quan trọng để sử dụngtrong các trường học và như vậy nó đã tạo ra sự cần thiết phải xem xét lại ởnhững điều chúng ta biết về cách học của các em HS và khoảng cách các giáoviên tiếp cận các nhiệm vụ liên quan đến việc giảng dạy Internet, bản thân nó
đã chứa đựng vô cùng nhiều thông tin, nhưng sử dụng, khai thác nguồn thôngtin ấy như thế nào thì không phải là việc dễ dàng GV và HS có thể sử dụngInternet để rút ngắn khoảng cách tới nội dung kiến thức của bài học, làm chobài học trở nên sinh động và có thể tiếp thu một cách dễ dàng
1.1.3.4 Hướng dẫn khai thác thông tin trên Internet
+ Giới thiệu về dịch vụ tìm kiếm thông tin trên Internet
Dịch vụ tìm kiếm thông tin trên Internet là một dịch vụ được sử dụngrộng rãi nhất hiện nay Dịch vụ này phục vụ cho nhiều đối tượng người dùngkhác nhau với nhiều mục đích tìm kiếm khác nhau GV có thể sử dụng ,khaithác các ứng dụng sẵn có của Internet để phục vụ tốt hơn công tác chuyên môncủa mình Một trong những dịch vụ đó là "dịch vụ tìm kiếm thông tin"
Xét về bản chất, khi sử dụng các trang Web cung cấp dịch vụ tìm kiếmthông tin trên Internet là chúng ta đang sử dụng các " Search engine" để tìmkiếm các tài liệu Vậy Search engine là gì ? Search engine được tạm dịch là hệthống truy tìm Hệ thống truy tìm (bao gồm máy chủ và phần mềm) có nhiệm
vụ tìm ra các trang web, các nơi cung cấp nguồn tin trên mạng dựa vào nhữngthông tin mà nó có Dữ lượng thông tin cua Search engine thực chất là một cơ
sở dữ liệu cực lớn Công cụ này tìm kiếm các tài liệu dựa trên các từ khóa vàtrả vể một danh mục bao gồm những trang có chứa từ khóa
+ Một số điểm cần lưu ý khi khai thác thông tin trên Internet
Trang 29Khi sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin trên Internet, chúng ta cần lưu
ý một số vấn đề sau đây:
Không phải bất cứ thông tin trên Internet đều đáng tin cậy Những thôngtin đó có thể chưa được kiểm duyệt khi tung lên mạng, cho nên trước khi sửdụng bất kì thông tin nào từ bất kì trang web nào, chúng ta phải biết thông tin đó
có đáng tin cậy hay không Điều này vô cùng quan trọng đối với mục đích tìmkiếm của thông tin của GV Địa lý, các thông tin phải có độ tin cậy cao và phảimang tính cập nhật Muốn đánh giá được mức độ chính xác của các thông tintrên một trang web, chúng ta cần phải dựa vào các yếu tố sau :
- Việc đặt tên của website: Độ chính xác của thông tin có thể được đánh
giá dựa vào việc đặt tên Website đăng tải thông tin đó Tên các websitethường có các định dạng đuôi như sau: com; org; gov…
- Tác giả của bài viết: Khi tìm kiếm được một bài viết phù hợp, chúng
ta có thể tìm đến phần ghi nguồn thông tin, tên tác giả hoặc có thể tìm lí lịchkhoa học của tác giả Nếu trong bài viết không ghi các thông tin về lí lịchkhoa học,chúng ta có thể sử dụng tên của tác giả và nội dung bài viết để tìmngược trên mạng để xác minh về những thông tin khoa học liên quan
- Dựa vào nguồn tài liệu tham khảo: Nếu bài viết có đua thông tin về
nguồn tham khảo là các tài liệu khoa học, tạp chí chuyên ngành thì các tài liệu
đó đã được hội đồng khoa học duyệt bài trước khi đăng lên web nên cũng lànguồn tin đáng tin cậy
- Tính cập nhật của thông tin: Cũng là điều cần chú ý khi quyết định
khai thác vá sử dụng thông tin tìm được trên mạng Các thông tin được tải lênmang từ nhiều thời điểm khác nhau có thể không được gỡ bỏ đi, cho nên córất nhiều thông tin không mang tính cập nhật Trong một số trường hợp nếuchúng ta sử dụng các thông tin này có thể sẽ làm sai lệch các mục đích khoahọc Đặc biệt khi GV Địa lý sử dụng các trang web để cập nhật các số liệu
Trang 30thống kê hay tìm kiếm những thông tin về các sự kiện Địa lý Chúng ta có thểkiểm tra tính cập nhật của thông tin khi nhìn vào ngày tháng mà thông tin đóđược đăng tải hay cập nhật (thường nằm ở cuối hoặc trên đầu bài viết).
+ Việc tìm kiếm thường kéo dài vì lượng thông tin trên mạng lớn;
+ Dễ bị chệch hướng khỏi bản thân đề tài;
+ Nhiều tài liệu được tìm ra với nội dung chuyên môn không chính xác,
có thể dẫn đến “nhiễu thông tin”;
+ Chi phí thời gian quá lớn cho việc đánh giá và xử lý những thông tintrong dạy học;
+ Việc tiếp thu kiến thức qua truy cập thông tin trên mạng có thể chỉmang tính thụ động mà thiếu sự đánh giá, phê phán của người học
Để khắc phục những những nhược điểm trên đây của việc học quamạng, người ta đã phát triển phương pháp WebQuest
Webquest ban đầu được xây dựng bởi Bernie Dodge và Tom Marchbao gồm một số bước cụ thể, từ giới thiệu và nhiệm vụ, đến đánh giá quátrình học tập Thông thường, Webquest sẽ đưa ra một danh sách các đườngliên kết để hỗ trợ người học hoàn thành một hoạt động Người học thườngđóng một vai trò nào đó Họ có thể học theo nhóm và mỗi cá nhân sẽ đảm
Trang 31đương một trách nhiệm như quan sát, thu thập thông tin, ghi chép, báo cáo,trình bày, vv…
Các đại diện tiếp theo là Tom March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ) Ýtưởng của họ là đưa ra cho HS một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặclịch sử, dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểmcủa mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận HS tìm được những thông tin, dữliệu cần thiết thông qua những trang kết nối Internet links đã được GV lựachọn từ trước
Kể từ những ngày đầu, hàng chục ngàn GV đã chấp nhận Webquestnhư là một cách để tận dụng tốt của Internet Các mô hình dạy học vớiWebquest đã lan rộng trên khắp thế giới đặc biệt ở Brazil, Tây Ban Nha,Trung Quốc, Australia và Hà Lan
Ngày nay Webquest được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong giáo dụcphổ thông cũng như đại học WebQuest có thể được sử dụng ở tất cả các loạihình trường học Điều kiện cơ bản là HS phải có kỹ năng đọc và có thể tiếpthu, xử lý các thông tin dạng văn bản Bên cạnh đó, HS cũng phải có nhữngkiến thức cơ bản trong thao tác với máy tính và Internet WebQuest có thể sửdụng trong mọi môn học Ngoài ra, WebQuest rất thích hợp cho việc dạy họcliên môn GV các nước sử dụng các bài tập dạng WebQuest để khuyến khích
HS sử dụng Internet nhằm rèn luyện các kỹ năng tư duy mức cao mà xã hộithế kỷ 21 yêu cầu…
b Khái niệm
WebQuest là một PPDH học mới, được xây dựng trên cơ sở phươngtiện dạy học mới là CNTT và Internet Ở Việt Nam, phương pháp này chưađược phổ biến và trong tiếng Việt chưa có cách dịch hoặc cách dùng thuậtngữ thống nhất cho khái niệm này Trong tiếng Anh, Web ở đây nghĩa làmạng, Quest là tìm kiếm, khám phá Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái
Trang 32niệm có thể gọi WebQuest là phương pháp “Khám phá trên mạng”.
WebQuest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập Internet
Webquest là một bài tập yêu cầu người học sử dụng World Wide Web
để học hay tổng hợp kiến thức về một chủ đề cụ thể Một Webquest đòi hỏi sựtổng hợp kiến thức mới bằng cách hoàn thành một “bài tập” hay một “nhiệm
vụ tìm kiếm”, thường là để giải quyết một giả thuyết hay một vấn đề thực tế
Mục đích của hoạt động sử dụng Webquest là để thúc đẩy kết quả họctập “biến đổi”, mà kết quả này đạt được thông qua quá trình đọc, phân tích,tổng hợp các thông tin mạng Sức mạnh của Webquest nằm ở chỗ nó phát huysức mạnh của người học về các vấn đề thực tế và trong quá trình thực hiện,người học dần dần trở thành những người hiểu biết cơ bản về CNTT- mộttrong những hiểu biết quan trọng của một công dân thực sự của thế kỷ 21
Có nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khác nhau về Webquest Theonghĩa hẹp, WebQuest được hiểu như một PPDH (WebQuest-Method) Theonghĩa rộng, WebQuest được hiểu như một mô hình, một quan điểm về dạy học
có sử dụng Internet WebQuest cũng là bản thân đơn vị nội dung dạy học đượcxây dựng để sử dụng phương pháp này và là trang WebQuest được đưa lênmạng Khi gọi WebQuest là một PPDH, cần hiểu đó là một phương pháp phứchợp, trong đó có thể sử dụng những phương pháp cụ thể khác nhau
Với tư cách là một PPDH, có thể định nghĩa WebQuest như sau:
"WebQuest là một PPDH, trong đó HS tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm
vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HS trình bày và đánh giá" [4, tr 91].
Trang 33Như vậy, việc sử dụng Webquest đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phùhợp với xu thế ứng dụng CNTT trong dạy học địa lý nói chung và dạy học địa
lý lớp 10 nói riêng
c Các loại WebQuest
Theo mức độ rộng hay hẹp của nội dung tìm hiều, WebQuest có thểđược chia thành các WebQuest lớn và các WebQuest nhỏ:
+ WebQuest lớn: Xử lý một vấn đề phức tạp trong một thời gian dài (ví
dụ cho đến một tháng), có thể coi như một dự án dạy học
+ WebQuest nhỏ: Trong một vài tiết học (ví dụ từ 2 đến 4 tiết), HS xử
lý một đề tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin và xử lý chúng chobài trình bày, tức là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lập cấu trúc theocác tiêu chí và kết hợp vào kiến thức đã có trước của các em
d Cấu trúc WebQuest
Cấu trúc của một Webquest bao gồm 5 thành phần cơ bản và đượcminh họa qua sơ đồ sau:
Trang 34Hình 1.3: Sơ đồ cấu trúc của Webquest
+ Giới thiệu (Introduction)
Phần này viết cho người đọc là các em HS Viết một đoạn ngắn ở đâygiới thiệu cho HS về bài học, về các nhiệm vụ Ở phần này, thông thường HSđược giao một vai trò nào đó để thực hiện 1 nhiệm vụ cụ thể Phần giới thiệunày có tác dụng kích thích HS khi tham gia vào thực hiện nhiệm vụ được giaonhằm tạo sân khấu cho hoạt động, tạo chú ý cho người học, dẫn dắt người họcđến nhiệm vụ, cung cấp thông tin nền, lôi cuốn sự chú ý của người học thôngqua việc:
- Đặt vấn đề
- Giới thiệu nguồn gốc vấn đề
- Nêu ý nghĩa của vấn đề
+ Nhiệm vụ (Task)
Mô tả ngắn gọn, rõ ràng các kết quả mà HS phải đạt được thông quacác nhiệm vụ mà mình phải thực hiện:
- Vấn đề đưa ra phải được giải quyết;
- Sản phẩm phải được thiết kế hoàn tất;
Cấu trúc của Webquest
Nhiệ
m vụ
Tiến trình
Đánh giá
Kết luận
Giới thiệu
Trang 35- Các nhiệm vụ phức tạp phải nghiên cứu;
- Các ý kiến, nhận xét của cá nhân HS;
- Các bảng tổng kết;
- Các kết quả mang tính sáng tạo;
- Các nhiệm vụ yêu cầu HS phải biết xử lý và diễn đạt lại thông tin
Ở đây, nhiệm vụ có thể thực hiện cá nhân hoặc tiến hành theo nhóm tùyvào mức độ khó dễ của nhiệm vụ Tuy nhiên, dạy học với Webquest, nhiệm
vụ thường được thực hiện theo nhóm với những yêu cầu cao hơn so với chuẩnkiến thức kỹ năng thông thường GV cũng cần mô tả rõ nhiệm vụ người họcphải thực hiện, phải làm gì …để hoàn thành bài tập Nêu rõ kết quả cuối cùng
là một sản phẩm hay là một báo cáo (miệng, ppt, ấn phẩm, website…)
+ Tiến trình (Process)
Tiến trình ở đây chính là các bước cần thực hiện để hoàn thành cácnhiệm vụ ở trên Các liên kết đến các trang web nên liệt kê ở đây theo tiếntrình thực hiện để HS truy cập (không nên tách thành một danh sách riêng).Nếu chia theo nhóm, thì các liên kết được liệt kê theo tiến trình của từngnhóm Ở phần này, chúng ta hướng dẫn cách tổ chức, sắp xếp lại các thông tin
do các em tìm được: bảng tổng kết, đồ thị Hoặc nếu cần, đưa ra danh sáchcác câu hỏi hướng dẫn các em phân tích thông tin, hoặc viết thu hoạch cho bàihọc Nên có thêm nguồn thông tin offline (sách, tạp chí, tờ rơi,…)
+ Đánh giá (Evaluation)
Cho các em HS biết rõ về cách đánh giá tiến trình hoc tập của các em.Đánh giá theo nhóm hoặc cá nhân tùy theo nhiệm vụ mà GV yêu cầu Đưa rathang đánh giá để đo lường sản phẩm một cách khách quan và cung cấp chongười học cơ hội đặt câu hỏi
Các hình thức đánh giá trong Webquest rất đa dạng, được thiết kế chủyếu dưới dạng các ma trận Một công cụ đánh giá chi tiết cho biết sẽ đánh giá
Trang 36cái gì và như thế nào (Rubric) Đánh giá phải đưa ra các tiêu chí có thể đolường được kết quả của người học Có thể đánh giá bằng thang điểm hay phânloại Cơ bản có các cách thức đánh giá như:
đề xuất cách thức sử dụng các nguồn tri thức học được trong những bối cảnhkhác nhau.Nếu cần, đưa ra các câu hỏi, bài tập mở rộng
Việc vận dụng CNTT vào dạy và học là xu thế của xã hội ngày nay.Chỉ cần có phương pháp đúng đắn và khoa học, HS sẽ không chỉ được họctrên lớp mà còn có thể tự tiếp thu được rất nhiều kiến thức trong quá trình tựhọc ở nhà theo định hướng của GV, tránh việc tiếp thu kiến thức lan man vàthiếu hiệu quả Không những thế HS còn cảm thấy chủ động trong việc học và
có hứng thú hơn với các giờ học trên lớp Đó chính là một trong những lý do
mà phương pháp WebQuest ra đời
1.1.4.2 Ứng dụng webquest trong dạy học
a Mục đích sử dụng của WebQuest
Trong giáo dục, Webquest được tổ chức để:
+ Xác định vấn đề và giải pháp: Tất cả các WebQuest bắt đầu từ bài tậpthách thức trong đó người học đóng vai trò và tìm ra giải pháp
Trang 37+ Kích thích và hỗ trợ khám phá: Một Webquest hay là một Webquestđưa nội dung vào trong ngữ cảnh, cho phép người học có thể học về một chủ
đề nào đó như một phần của một tổng thể lớn Trong một số trường hợp,Webquest có thể cho phép người học khám phá một chủ đề liên quan đếnnhiều bài học liên môn học Họ được hướng dẫn thông qua khám phá nguồn
tư liệu bao gồm câu hỏi, bài tập và thang tiêu chí đánh giá
+ Trình bày và đánh giá kết quả học tập: Kết quả của Webquest làngười học trình bày sản phẩm của mình Chuẩn đánh giá và thang đánh giáchi tiết được tích hợp trong Webquest cho phép đánh giá kết quả học tập
Webqust được thiết kế nhằm giúp người học sử dụng thông tin hơn làphải tốn thời gian tìm kiếm thông tin
Webquest giúp người học phát triển các kỹ năng phân tích, tổng hợp vàđánh giá các kỹ năng tư duy bậc cao theo thang phân loại của Bloom: Biết –Hiểu – Vận dụng – Phân tích – Tổng hợp – Đánh giá
b Ưu điểm của việc sử dụng WebQuest
Giống như bất kì bài học nào được hoạch định một cách cẩn thận, mộtWebquest tốt giúp việc học của người học trở nên thú vị Ngoài ra, như chínhbản thân Webquest, đây là một công cụ hỗ trợ học tập mạnh mẽ
+ Xét về mặt nội dung:
- Giải quyết vấn đề trong thế giới thực: Có thể tìm hiểu một cách chính xác vànhanh chóng những vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày, kiến thức liênquan đến thực tiễn, giúp tìm ra những giải pháp thích hợp cho từng tình huống
cụ thể
- Học tập liên môn: giúp cho người muốn tìm kiếm thông tin học hỏi thêmđược nhiều kiến thức, không chỉ kiến thức cần tìm mà còn nhiều kiến thức vềnội dung khác có liên quan hoặc không liên quan tới đề tài
Trang 38- Hướng tới việc đa dạng hóa học tập và trình bày: Webquest yêu cầu ngườihọc không chỉ biết và hiểu về kiến thức mà còn yêu cầu người học phải tìmcách trình bày sao cho những người khác cũng tiếp thu được bản chất vấn đề(luôn đánh giá cao sự sáng tạo của người học).
+ Xét về phương pháp sử dụng:
Đầu tiên, một Webquest tốt sẽ ứng dụng sức mạnh của các trang Webđằng sau chủ đề được đưa ra Việc dạy học trực tiếp qua các trang Web sẽkhông giới hạn người học ở vị trí nào Người học có thể học ở bất cứ nơi nàotrên thế giới chỉ cần nơi đó có kết nối Internet
- Giáo viên là người hướng dẫn cho người học khám phá năng lực bản thânhoặc chính họ tự khám phá năng lực của mình
- Webquest là một cách đẻ người học làm việc theo tốc độ của riêng họ, hoặc
là cá nhân, hoặc là theo nhóm
- Webquest cho phép người học khám phá các khu vực được lựa chọn sâu hơn,nhưng trong giới hạn mà người dạy đã lựa chọn (bằng Internet links) Điều nàygiúp Webquest vẫn đạt hiệu quả cao khi thực hiện trong một lớp học có mức độkhả năng học sinh khác nhau và việc kết hợp HS trở nên dễ dàng hơn
- Làm việc với Webquest giúp quá trình nghiên cứu, xử lí thông tin của cảngười dạy và người học năng động, sáng tạo hơn bởi cách tiếp cận vấn đềkhác nhau của mỗi cá nhân được tôn trọng
- Ngoài ra, Webquest cũng có thể làm tăng sự thoải mái cho người học khi sửdụng Internet cho các hoạt động học tập Khi người học có thể tiếp cận thôngtin qua máy tính thì quá trình làm việc với Webquest được thiết kế phù hợpgiúp người học trở thành một nhà nghiên cứu sáng tạo hơn là “lướt” từ thôngtin này qua thông tin khác như cách làm việc qua Internet thông thường
+ Xét về phạm vi sử dụng
Trang 39Webquest có thể sử dụng ở tất cả các loại hình trường học Điều kiện
cơ bản là người học phải có kĩ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý cácthông tin dạng văn bản Bên cạnh đó người học cũng phải có những kiến thức
cơ bản trong thao tác với máy tính và Internet
Webquest có thể sử dụng cho mọi môn học Ngoài ra, Webquest rấtthích hợp cho việc dạy học liên môn
c Những đặc trưng của dạy học với WebQuest
Webquest là một thiết kế hướng dẫn khá phức tạp Xây dựng mộtWebquest hay, có thể đáp ứng được nhu cầu học trong bối cảnh phải mất rấtnhiều thời gian và công sức Trong chương trình dạy học ở Việt Nam, cách sửdụng Webquest thích hợp nhất là thiết kế nó như một bài tập về nhà Đầu bàihọc, GV giới thiệu Webquest, nhiệm vụ và thảo luận với người học tiêu chuẩnđánh giá Người học có thể thực hiện Webquest theo cá nhân hay theo nhóm ởnhà hoặc trong thời gian rảnh rỗi Sau khi hoàn thành Webquest, người học cóthể trình bày các sản phẩm của mình trên lớp
Dạy học với WebQuest có những đặc trưng cơ bản sau:
+ Chủ đề dạy học gắn với tình huống thực tiễn và mang tính phức hợp:
Chủ đề dạy học được lựa chọn trong WebQuest là những chủ đề gắn với thựctiễn, có thể là những tình huống lịch sử mang tính điển hình, hoặc những tìnhhuống mang tính thời sự Đó là những tình huống mang tính phức hợp có thể
có xem xét dưới nhiều phương diện khác nhau và có thể có nhiều quan điểmkhác nhau để giải quyết
+ Định hướng hứng thú HS: Nội dung của chủ đề và PPDH định hướng
vào hứng thú, tích cực hoá động cơ học tập của HS
+ Tính tự lực cao của người học: Quá trình học tập là quá trình tự điều
khiển HS cần tự lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự điều khiển và kiểm
Trang 40tra GV đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn HS trong quá trình tìm hiểu nội dungkiến thức.
+ Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo: Khác với việc
truy cập mạng thông thường nhằm thu thập thông tin, trong WebQuest HScần tìm, xử lý thông tin nhằm giải quyết một nhiệm vụ HS cần có quan điểmriêng trên cơ sở lập luận để trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề
+ Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác: Hình thức làm việc
trong WebQuest chủ yếu là làm việc nhóm Do đó việc học tập mang tính xãhội và tương tác giữa các thành viên trong nhóm là rất cao
+ Quá trình học tập định hướng nghiên cứu và khám phá: Để giải
quyết vấn đề đặt ra HS cần áp dụng các phương pháp làm việc theo kiểunghiên cứu và khám phá Những hoạt động điển hình của HS trong WebQuestlà: Tìm kiếm, đánh giá, hệ thống hóa, trình bày trong sự trao đổi với những
HS khác HS cần thực hiện và từ đó phát triển những khả năng tư duy cơ bảnnhư:
- So sánh: Nhận biết và nêu ra những điểm tương đồng và khác biệtgiữa các đối tượng, các quan điểm
- Phân loại: Sắp xếp các đối tượng vào các nhóm trên cơ sở tính chấtcủa chúng và theo những tiêu chuẩn sẽ được xác định
- Suy luận: Xuất phát từ các quan sát hoặc phân tích mà suy ra các tổngquát hóa hoặc những nguyên lý chưa được biết
- Kết luận: Từ những nguyên lý cơ bản và các tổng quát hóa đã có màsuy ra những kết luận và điều kiện chưa được nêu ra
- Phân tích sai lầm: Nhận biết và nêu ra những sai lầm trong các quátrình tư duy của chính mình hoặc của những người khác;
- Chứng minh: Xây dựng chuỗi lập luận để hỗ trợ hoặc chứng minhmột giả thiết