1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số kinh nghiệm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong một giờ giảng văn ở trường thcs

23 589 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 314,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc học, làm bài tập và bài soạn theo kiểu đối phó: chép sách học tốt, sách bài tập;một số em mượn vở của các anh chị học năm trước chép laị; một số em mượn vở của bạnchép lại ở nhà; th

Trang 1

Tên đề tài : MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG MỘT GIỜ GIẢNG VĂN Ở TRƯỜNG THCS Tác giả: Trần Thị Cẩm

thân học sinh và sự phát triển xã hội Giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ

chức cho học sinh hoạt động Tuy nhiên thực tế đã diễn ra tại trường THCS Mỹ Lợi nóiriêng, một số nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa nói chung như thế nào?

Qua điều tra, tìm hiểu, tôi tiến hành tổng hợp kết quả về sự hứng thú của học sinh khihọc môn Ngữ văn, kết quả đạt được như sau:

Thời

Gian Lớp

Tổng

số HS

Thường xuyên phát biểu Thỉnh thoảng có phát biểu Hầu như không phát biểu

Trang 2

1.1 Về phía học sinh:

Qua thực tế dự giờ ở các tiết dạy của 05 giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn và thực tếhọc tập của học sinh tại trường THCS Mỹ Lợi trong nhiều năm qua, bản thân tôi nhậnthấy:

1.1.1 Học sinh có thói quen với lối học đối phó.

-Thực tế cho thấy còn nhiều học sinh lười học, lười đọc, lười tập trung, chủ quan ỷlại Việc học, làm bài tập và bài soạn theo kiểu đối phó: chép sách học tốt, sách bài tập;một số em mượn vở của các anh chị học năm trước chép laị; một số em mượn vở của bạnchép lại ở nhà; thậm chí có em tranh thủ chép ngay trong giờ học các môn khác, đặc biệthơn nữa là có em ngồi trong giờ học vừa chép vở học vừa chép vở soạn theo nội dung màgiáo viên bộ môn cho ghi trên bảng (chấp nhận vở soạn thiếu môt bài soạn trong khi đókhông cần biết giáo viên yêu cầu soạn bài ở nhà như thế nào…)

Lối làm bài tập và bài soạn đối phó trên dẫn đến một số biểu hiện đáng buồn sau: họcsinh soạn bài không đúng yêu cầu mà giáo viên cho về nhà vì các em cứ chép theo thứ tựsách bài soạn trong khi chương trình thì thay đổi Ví dụ: Trong chương trình giảm tải ởđầu năm học 2011-2012, chúng ta không dạy văn bản: “Mã Giám Sinh mua Kiều”, thế màkhi kiểm tra vở soạn bài của học sinh vẫn có trường hợp soạn trước bài này Thứ hai làhọc sinh soạn bài một cách máy móc, soạn bài theo cảm tính không cần đọc trước văn bản,nghiên cứu nội dung bài học, không đọc yêu cầu của bài tập mà cứ soạn được bài, cứ làmđược bài tập Và có trường hợp dẫn đến chép sai đầu đề, ví dụ: Bài" Các phương châmhội thoại'', viết thành: "Các phương châm hội họa" Ba là học sinh không chịu đọc chúthích về tác giả, tác phẩm, các từ khó khi giáo viên yêu cầu trình bày thì các em không trảlời được (nếu không cho các em xem sách trên lớp).Thậm chí có một số ít học sinh đi họckhông có sách giáo khoa, không chép bài, không soạn bài, khi giáo viên gọi kiểm tra bài

cũ liền mượn vở bạn để đối phó (tất nhiên là giáo viên phát hiện ra)…

- Đối với việc học bài cũ ở nhà: Học sinh có thói quen học đối phó: chỉ học nội dungđầu hoặc nội dung cuối (nếu bài học gồm nhiều nội dung); học sinh học bài theo lối thuộclòng mà dân gian thường gọi là học vẹt; học sinh còn học bài theo lối học chay: học nộidung mà giáo viên cho ghi ở lớp không buồn mở sách giáo khoa để xem dẫn chứng… Lối học bài đối phó trên dẫn đến một số biểu hiện đáng buồn sau: khi giáo viên nêu câuhỏi các em không xác định được nội dung để trả lời các em đọc lung tung, thậm chí trả lờiluôn nội dung mà không yêu cầu, ví dụ: Nêu giá trị nghệ thuật đặc sắc của văn bản? họcsinh trình bày cả phần nội dung văn bản; hoặc học sinh không nhớ từ đầu tiên và nhờ giáoviên nhắc hộ chữ đầu; hoặc học sinh chỉ trả lời được vài ý không biết cách phân tích nộidung, dẫn chứng…

- Học sinh quen lối học thụ động: nhiều học sinh rất sợ giáo viên gọi đến tên mình khiyêu cầu trả lời câu hỏi, yêu cầu đọc bài ( do kĩ năng đọc bài kém) ; một số học sinh sợ trảlời sai thầy giáo và các bạn cười (do tính nhút nhát); thậm chí có một số em có khả năngtrả lời được câu hỏi nhưng không tự giác giơ tay vì sợ các bạn trêu là do xem sách giải;hoặc chỉ giơ tay khi chờ một số bạn khác giơ tay trước hoặc chờ giáo viên gọi đến tênmình mới chịu giơ tay

Trang 3

1.1.2 Học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp.

Nhiều học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp với đặc trưng phân môn củamôn Ngữ văn, chưa biết nên học và chuẩn bị nội dung như thế nào cho có hiệu quả Từ đócác em chỉ biết học những gì có trong vở ghi, không đi sâu tìm hiểu nội dung bài học, tìmhiểu dẫn chứng nên không phát hiện cái hay, cái đẹp của văn chương, tỏ ra chán nảnkhông muốn học

1.1.3 Học sinh xem thường môn Ngữ văn

-Một số học sinh cho rằng học môn Văn ít thực dụng hơn môn Toán hoặc môn Hóahọc, môn Vật lí,… Học giỏi Văn đến mấy cũng không bằng học giỏi các môn khoa học tựnhiên; đặc biệt là một số học sinh nam không chú trọng đến việc học bộ môn này và đócũng là quan điểm của không ít các bậc phụ huynh

-Tình trạng học sinh viết chữ cẩu thả, quá xấu, không đọc được; học sinh khôngthích thú với môn học này, chỉ thích thú với các truyện tranh, truyện cười khi đến thưviện, không hề mượn sách tham khảo Học sinh nghèo vốn từ, khả năng diễn đạt yếu vàcho rằng mình không có năng khiếu văn chương, không tự tin vào năng lực của mình, nênkhông độc lập suy nghĩ, không có khát vọng tự mình chiếm lĩnh tri thức, thiếu niềm tinvào chính mình

1.2 Về phía giáo viên:

1.2.1 Giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc học của học sinh

- Một số giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc chuẩn bị sách vở của họcsinh, chưa theo dõi quá trình ghi bài của các em, chưa chú trọng kiểm tra vở soạn vở bàitập của các em (nhất là đối tượng học sinh yếu, kém) Đã có trường hợp học sinh đã họcđến giữa học kì I mà chưa có vở soạn bài

- Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến khâu thực hành nghe, nói, đọc, viếtcủa học sinh Nhìn chung học sinh đọc bài rất kém, nhưng giáo viên chỉ nhắc lướt qua, sợmất thời gian nên giáo viên chỉ gọi những học sinh đọc trôi chảy để đọc bài, do đó tạothêm tính chây lười ở các em

1.2.2 Chưa chú ý đến việc chuẩn bị bài mới, làm bài tập ở cuối tiết học

-Một số giáo viên dành thời lượng cho phần hướng dẫn ở nhà chưa thỏa đáng, giaobài soạn, bài tập về nhà cho học sinh thiếu chi tiết, thiếu cụ thể, không chú ý đến từng đốitượng học sinh mà còn mang tính chung chung

- Giáo viên chưa thật sự chú trọng bài tập khó cuối phần luyện tập, chưa chú trọngquan tâm phần đọc thêm Nhưng đây là phần có tác dụng bổ sung, mở rộng, nâng cao kiếnthức cho học sinh nhất là học sinh giỏi Từ đó học sinh giỏi cũng không quan tâm đếnphần này

1.2.3 Giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc kiểm tra học sinh.

- Đến lớp giáo viên ít chú trọng khâu kiểm tra nhất là những bài tập khó, những câuhỏi khó dành cho học sinh khá giỏi

- Học sinh khá giỏi nhiều lần tự giác làm bài tập khó, tự trả lời những câu hỏi nângcao trong sách giáo khoa nhưng không được giáo viên kiểm tra, phát huy tuyên dương Từ

Trang 4

đó học sinh không chịu tìm tòi, không chịu tự giác làm bài với những bài tập khó, do vậyđến lớp không trả lời được những câu hỏi khó.

1.2.4.Hệ thống câu hỏi của một tiết dạy chưa thật phù hợp.

-Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trên thực tế chưathực sự được chú trọng đúng mức , vẫn còn tình trạng đọc- chép và diễn giảng, truyền thụmột chiều mang tính áp đặt do giáo viên ngại khó, chưa thật sự đầu tư thời gian, công sứcvào hệ thống câu hỏi

-Câu hỏi trong giờ dạy văn để dẫn dắt định hướng gợi mở cho học sinh còn chưa thậtphong phú, thiếu tính hệ thống, chưa phù hợp với các loại đối tượng học sinh Các câu hỏichủ yếu nặng về câu hỏi phát hiện, còn thiếu loại câu hỏi nâng cao, câu hỏi giảng bình,chưa sử dụng một cách linh hoạt, chính xác các loại câu hỏi cho phù hợp với nội dungkhác nhau của bài giảng

-Có tình trạng rơi vào hỏi đáp liên miên, giờ dạy chỉ còn hỏi và đáp với những câu hỏiquá vụn vặt, phá vỡ hệ thống lôgíc của bài giảng khiến cho quá trình tiếp thu tri thức củahọc sinh không có một định hướng rõ rệt

Tất cả những điều đó đã tạo nên những quan niệm, những cách làm ngược xuôi khônggiống nhau, thành thử việc đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng tích cực đã bộc lộnhiều hạn chế Với thực trạng đó xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học văn là một vấn

đề bức xúc đặt ra với mỗi giáo viên đứng lớp

1.2.5 Giáo viên chưa linh hoạt trong khâu vận dụng phương pháp dạy học mới

- Do còn quen với phương pháp dạy học cũ, vận dụng phương pháp mới chưa linhhoạt, sử dụng câu hỏi gợi mở còn lúng túng, hệ thống câu hỏi còn rập khuôn Ví dụ: Yêucầu học sinh trình bày tác giả- tác phẩm, học sinh không cần chuẩn bị bài ở nhà vẫn cứ trảlời được, từ đó học sinh bỏ qua khâu tìm hiểu chú thích ở nhà Còn học sinh yếu đọc lướtqua trên lớp một lần không thể trả lời ngay câu hỏi của giáo viên, nên không dám giơ tay.Hoặc khi hỏi học sinh tìm bố cục văn bản thì chỉ duy nhất một câu hỏi: Hãy tìm bố cụccủa văn bản? Khi một học sinh trung bình không trả lời được thì giáo viên không gợimở.Ví dụ: Tìm đoạn văn thể hiện nội dung a, đoạn văn thể hiện nội dung b…để từ đó hìnhthành bố cục

-Đặc biệt, một số giáo viên chưa vận dụng thành công phương pháp dạy học mới, nênkhi tổ chức các hoạt động dạy học trong một giờ giảng văn gặp nhiều khó khăn và nhữnghạn chế yếu kém nhất định: Đó là phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp vẽ bản đồ

tư duy khi khai thác nội dung bài mới Một trong những yếu kém nữa hiện nay mà bảnthân giáo viên nào cũng đều nhận thấy đó là cách khai thác, cảm nhận và cách truyền đạttới học sinh về giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn chương chưa tốt Chính giáo viênkhông làm tốt điều này dẫn đến học sinh cảm nhận giá trị nghệ thuật của một tác phẩmvăn học một cách máy móc, lâu dần học sinh sẽ không cảm được cái hay cái đẹp về giá trịnghệ thuật ngôn từ, về phong cách nghệ thuật trong tác phẩm của tác giả, của thể loại…dẫn đến sự bào mòn cảm xúc, rung động thẩm mỹ cần có ở các em

- Ngoài ra, một số giáo viên rất sơ sài trong việc rèn luyện phương pháp tự học , tíchcực, chủ động học tập môn Ngữ văn của học sinh: giúp học sinh sử dụng SGK, SBT và

Trang 5

các tư liệu tham khảo một cách có ý thức và hiệu quả; uốn nắn, hướng dẫn cách tự đọc, tựhọc, tự nghiên cứu phù hợp với năng lực cụ thể của từng học sinh; bồi dưỡng hứng thúhọc tập Ngữ văn, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập và giao tiếp bằng ngônngữ cho học sinh.

- Giáo viên chưa thật chú trọng đến khâu giải thích từ khó, một yêu cầu lẽ ra học sinhphải tự tìm hiểu ở nhà trước khi trả lời câu hỏi phần đọc-hiểu văn bản lúc soạn bài Đếnlớp giáo viên không quan tâm, không kiểm tra nên các em không chú trọng mặt này

1.2.6 Chưa quan tâm đúng mức đến các đối tượng học sinh

- Đa số giáo viên khi lên lớp đều có tâm lí sợ không đủ giờ nên khi tổ chức cho họcsinh đọc bài cứ gọi học sinh giỏi đọc, nêu câu hỏi cứ gọi học sinh khá-giỏi trả lời, thậmchí khi kiểm tra bài cũ vẫn cứ phải chọn học sinh khá –giỏi (nhất là khi có người dự giờ)nên học sinh trung bình trở xuống không được quan tâm, lâu ngày dẫn đến thói quen thụđộng Khi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm những học sinh này không thèm chú ýtham gia thảo luận Khi cần giáo viên hỏi đến thì học sinh không trả lời được

- Giáo viên chưa phát huy hết tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;chưa thực sự quan tâm sâu sắc đến đặc điểm từng lớp học, đặc thù của bộ môn Ngữ văn.Chính vì vậy, việc bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh cònhạn chế

1.2.7 Giáo viên chưa quan tâm thích đáng đến việc đánh giá năng lực của học sinh

-Về vấn đề kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh sau mỗi đơn vị kiến thức ( mỗibài, chủ đề, chủ điểm…) chưa tốt Giáo viên còn ngại khó, làm việc rập khuôn máy móc,chưa có cái tâm sâu sắc đối với cái nghề của mình Hãy ghi nhớ một câu nói nổi tiếng sau:

“Giáo dục tốt một người đàn ông thì được một người, giáo dục tốt một người phụ nữ thìđược một gia đình, giáo dục tốt một người thầy giáo thì được cả một thế hệ”

Ví dụ điển hình: Hiện nay, việc sử dụng công nghệ thông tin khá phổ biến, nên giáo viêncũng không cần phải đầu tư suy nghĩ, khi kiểm tra 15’hoặc 45’, thi HK lại coppy ngay một

đề trên mạng, thậm chí in ngay đề kiểm tra của năm học trước ( có sẵn trong giáo án) màkhông cần phải chỉnh sửa gì thêm Không cần biết tình hình thực tế của lớp học; của xuhướng giáo dục hiện nay như thế nào Và học sinh thì cũng không cần học nhiều cũng nhưtìm hiểu kiến thức ở các lĩnh vực khác để làm gì, chỉ cần mượn đề của anh chị năm trước

là làm bài được ngay Vì thế mà thực tế cho thấy giáo viên ra đề kiểm tra có nội dung kiếnthức nằm ngay trong chương trình giảm tải của Bộ GD-ĐT, đây là một hiện tượng đángbuồn

1.2.8 Một số giáo viên không kiềm chế được cảm xúc bực dọc khi đứng lớp.

Khi học sinh trả lời câu hỏi sai, giáo viên có thái độ cau có, nạt nộ tỏ ý không hài lòng

Từ đó học sinh có tâm lí sợ hãi Khi học sinh trả lời câu hỏi đúng (nhất là học sinh yếu)giáo viên chưa tìm cách tuyên dương kịp thời

1.2.9 GVBM và GVCN phối hợp chưa tốt trong việc giáo dục học sinh

Trang 6

- Quá trình giảng dạy giáo viên bộ môn chưa coi trọng quan hệ với giáo viên chủnhiệm lớp để có kế hoạch phối hợp theo dõi, động viên khích lệ những học sinh có tinhthần học tập tích cực; nhắc nhở, uốn nắn những học sinh tinh thần học tập chưa tốt.

-Một nguyên nhân cơ bản nữa mà chắc ai là người đam mê môn văn cũng đều nhậnthấy đó là cảm hứng khi dạy, người giáo viên phải có một tâm hồn nghệ sĩ Nghệ thuật tổchức hoạt động dạy học, với nhiều hình thức khác nhau để gây hứng thú học tập cho họcsinh, tạo cho học sinh tinh thần sảng khoái để tiếp thu kiến thức tốt hơn Ví dụ: trong tiếtdạy giáo viên mang một tâm lí nặng nề hoặc do một tình huống sư phạm không hay nào

đó đã làm tan biến cảm hứng văn chương cần có của giáo viên, tiết học sẽ trở nên buồn tẻkhông gây hứng thú học tập cho học sinh

1.3 Về phía nhà trường:

Cơ sở vật chất còn thiếu thốn: Bàn ghế, sân chơi bãi tập, thiết bị dạy học, cảnh quansân trường nhằm tạo ra một môi trường học tập thân thiện để nâng cao hứng thú và hiệuquả học tập Ngữ văn cho học sinh còn hạn chế

Trên đây là những thực tế vẫn còn đang xảy ra ở trường THCS Mỹ Lợi nói riêng, ởnhiều nơi nói chung Chính những việc làm, những biểu hiện trên là những nguyên nhândẫn đến hạn chế tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập nói chung,trong một giờ giảng văn nói riêng Vì vậy, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm để khắcphục những hạn chế nêu trên

2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:

Giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo hơn trong quá trình học tập nói chung vàtrong một giờ giảng văn nói riêng Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáodục; rèn kĩ năng sống cho học sinh, đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu nước, yêunền văn hóa, văn học của dân tộc mình

3.Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng: Học sinh lớp 9A3, 9A4 và lớp 8A2, 8A3 Trường THCS Mỹ Lợi

- Nội dung: Phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trongmột giờ giảng văn ở trường THCS

II Phương pháp tiến hành:

1 Cơ sở lí luận và thực tiễn:

* Cơ sở lí luận:

Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ vănluôn được các nhà khoa học, nhà giáo quan tâm, nghiên cứu Nhiều phương pháp, biệnpháp mới liên tục được đưa ra dù có khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định vai tròcủa người học không phải là những bình chứa thụ động mà là những chủ thể nhận thứctích cực trong quá trình học tập Như vậy dạy Văn là dạy cách tư duy, dạy cách đi tìm và

sự tự chiếm lĩnh lấy kiến thức cho học sinh Đó là một định hướng giáo dục quan trọnghiện nay Tuy nhiên, để giúp học sinh có cách tư duy tốt và tự chiếm lĩnh tri thức khôngphải là một việc đơn giản Chính vì vậy việc tìm giải pháp để phát huy tính tích cực củahọc sinh là một vấn đề quan trọng trong việc học Ngữ văn

Trang 7

* Cơ sở thực tiễn:

Bộ môn Ngữ văn trong nhà trường là một trong những bộ môn có dung lượng kiếnthức và có số tiết dạy nhiều nhất Đây là môn học có vai trò quan trọng trong việc hìnhthành nhân cách học sinh, góp phần giúp các em nhận ra cái tốt cái đẹp của cuộc sống để

từ đó sống tốt hơn, đẹp hơn Thế nhưng qua thực tế, chúng ta thấy rằng ở nhiều địaphương, nhất là vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, trong đó có trường THCS Mỹ Lợi, việc

áp dụng phương pháp mới còn nhiều bất cập, học sinh chưa thích nghi với phương phápdạy học tích cực, học sinh học yếu, học tập chưa tự giác, còn thụ động chưa chủ động,không có cảm xúc và tỏ ra chán ngán

Vậy nguyên nhân nào khiến các em rơi vào tình trạng như vậy? Cũng có thể là dogiáo viên chỉ chú trọng đến việc truyền đạt nội dung của bài dạy đến học sinh ( sợ hết thờigian), chưa quan tâm đến các đối tượng học sinh, vận dụng phương pháp mới còn cứngnhắc, thiếu linh hoạt; hoặc sách học tốt Ngữ văn đang tràn ngập thị trường khiến các emkhông cần phải động não mà vẫn làm bài được, trả lời được Nhưng chủ yếu là do các emchưa có phương pháp học bộ môn này, chưa thấy tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văntrong nhà trường, chưa hứng thú trong cảm nhận một tác phẩm văn học….Đó chính làđiều trăn trở của người giáo viên dạy Ngữ văn trong nhà trường THCS.Vậy làm thế nào đểgiúp các em hứng thú, tích cực, chủ động, sáng tạo trong một giờ học văn ?

Để khắc phục tình trạng đó GVBM cần phải làm gì để kích thích tính tích cực củahọc sinh trong quá trình học tập nói chung, trong một giờ giảng văn nói riêng Giải quyếtvấn đề này nhiều nhà khoa học, nhà giáo đã nghiên cứu nhưng chỉ đưa ra kết luận chung

áp dụng ở những nơi phát triển, học sinh có điều kiện học tập, mà chưa có những giảipháp cụ thể cho học sinh những nơi còn đặc biệt khó khăn Đây chính là lí do mà bản thân

tôi quyết định chọn đề tài "Một số kinh nghiệm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong một giờ giảng văn ở trường THCS".

Để viết được đề tài này bản thân tôi đã dựa vào những điều kiện thuận lợi có thểphát huy được, trong quá trình nghiên cứu tôi đã được các đồng chí giáo viên trong tổtham khảo góp ý, nhưng chủ yếu là bản thân tôi dựa vào thực tế giảng dạy ở trường THCS

Mỹ Lợi và xét thấy năng lực của mình có thể làm được điều đó Sau đó áp dụng cho giáoviên giảng dạy môn Ngữ văn và học sinh toàn trường

2/ Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:

a Các biện pháp tiến hành

*Cơ sở tiến hành:

Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, đồng thời dưa vào nhiệm vụ cần giải quyết, phươngpháp tiến hành, tôi đã chọn các lớp 9A3, 9A4 làm đối tượng nghiên cứu và các lớp 8A1,8A2 làm đối chứng những kinh nghiệm trong quá trình dạy học Thực hiện đề tài này, bảnthân tôi có một mong muốn tìm ra những kinh nghiệm phát huy tác dụng của phương phápdạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rènluyện phương pháp tự học của học sinh trong một giờ giảng văn

*.Phương pháp điều tra:

Trang 8

Sau khi thực hiện một số tiết dạy ở các lớp: 8A2, 8A3, 9A3, 9A4, chúng tôi tiến hànhphát phiếu đến từng học sinh trong lớp để cá nhân học sinh lớp điền những thông tin màtôi cần, mục đích để thẩm định thực tế (Học sinh đánh chéo vào cột mà bản thân cho làphù hợp)

* Phương pháp thực nghiệm

Sau khi thống nhất một số kinh nghiệm chúng tôi tiến hành chọn lớp 9A3,9A4 đểthực nghiêm nhằm thẩm định lại phiếu tự đánh giá của học sinh (có sự chứng kiến củagiáo viên tổ văn) và đến giai đoạn cuối học kì I cũng chọn lớp này thực nghiệm để làm đốichứng Sau đó thống kê tỉ lệ phần trăm đối chiếu với lần trước để đi đến kết luận

a Thời gian tạo ra giải pháp:

*Thời gian tiến hành: 03 năm

-Định hướng khái quát vấn đề cần nghiên cứu: Từ 9/2009 đến tháng 10/2011

-Tiến hành nghiên cứu , tổ chức điều tra, vạch ra phương pháp mới nhằm giải quyết vấnđề: Từ tháng 10/2009 đến ngày 02/11/2011

-Tiến hành thực nghiệm phương pháp mới, thao giảng, khảo sát chất lượng: Từ tháng11/2009 đến tháng 11/2011

Dựa vào yêu cầu của phương pháp dạy học mới và thực tế học tập của học sinh và

dựa vào các tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài mà tôi nghiên cứu tìm ra một sốkinh nghiệm giúp bản thân tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình giảng dạy

Trang 9

Dựa trên cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn bản thân tôi đặt ra nhiệm vụ của đề tài vàtiến hành phân tích thực tế việc áp dụng phương pháp dạy học mới, phân tích tình hìnhhọc tập của học sinh ở trường THCS Mỹ Lợi để từ đó áp dụng những kinh nghiệm mà bảnthân tôi đã tích lũy được trong quá trình giảng dạy giúp học sinh tích cực chủ động hơntrong quá trình học tập nói chung và trong một giờ giảng văn nói riêng

II Mô tả giải pháp của đề tài.

1.Thuyết minh tính mới:

Một số kinh nghiệm được áp dụng vào giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng và sáng tạo trong một giờ giảng văn ở học sinh THCS như sau:

Từ việc nghiên cứu thực tiễn trên, bản thân tôi đã đề ra một số biện pháp nhằm pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh như sau;

1.1 Kinh nghiệm chuẩn bị, tổ chức, thực hiện của giáo viên.

1.1.1 Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh.

Tự học là một trong những yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dụccủa nhà trường chính là chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh Để tạo ra chất lượngnày, người giáo viên cần có biện pháp kích thích nhu cầu tự học và niềm tin vào khả năng

tự học của mỗi học sinh Nhu cầu và niềm tin tự học có ý nghĩa quan trọng đối với nhucầu tự học nói chung và rèn luyện kĩ năng tự học nói riêng của mỗi học sinh Học sinhkhông thể tự học, và càng không thể rèn luyện kĩ năng tự học nếu như ở các em thiếu đi sựmong muốn, khát vọng tự mình chiếm lĩnh, mở rộng đào sâu kiến thức ở bản thân, thiếu điniềm tin vào chính mình

Vì thế giáo viên cần giúp cho học sinh thấy vai trò to lớn của việc tự học Thường xuyêngiao cho các em nhiệm vụ học tập và giúp các em tự giải quyết các nhiệm vụ đó

1.1.2 Hướng dẫn cho học sinh tự chuẩn bị bài ở nhà:

- Giáo viên phải dành một khoảng thời gian thỏa đáng cho khâu hướng dẫn học sinh

tự chuẩn bị bài ở nhà (từ 3-5 phút) Khắc phục tình trạng hướng dẫn qua loa, sơ sài thường

là do không chủ động thời gian trên lớp Cần dặn dò học sinh một cách chi tiết từ việc đọcvăn bản, đến việc đọc chú thích (tác giả, tác phẩm, những từ khó cần chú ý) soạn bài theonhững câu hỏi nào, câu hỏi nào là câu hỏi khó cần đặc biệt lưu ý Đối với học sinh khá-giỏi lưu ý cho các em tự giác làm bài tập khó, câu hỏi khó sau khi đã được hướng dẫn trênlớp

- Ngoài ra cần lưu ý cho các em về cách trình bày vở soạn bài và chữ viết Mặt nàygiáo viên bộ môn thường ít quan tâm mà chỉ dừng lại ở việc nhắc học sinh soạn đúng bàitheo phân phối chương trình

- Rèn luyện phương pháp tự học và tích cực học tập môn Ngữ văn của học sinh:giúp học sinh sử dụng SGK, SBT và các tư liệu tham khảo một cách có ý thức và hiệuquả

- Cách kiểm tra vở soạn bài trên lớp: Việc kiểm tra vở soạn được thực hiện bằng

nhiều hình thức, nhiều nội dung khác nhau: kiểm tra vở bài soạn kết hợp với kiểm tra bài

cũ, kiểm tra độc lập vở bài soạn, thu vở bài soạn về nhà,… Khi kiểm tra cũng cần phải chú

Trang 10

ý từng đối tượng học sinh Đối với học sinh yếu- kém kiểm tra xem các em có chép bàikhông, có soạn bài không, việc trình bày vở bài soạn như thế nào, soạn đến mức độ nào?Đối với học sinh khá-giỏi, ngoài yêu cầu chung kiểm tra xem các em có tự trả lời đượcnhững câu hỏi khó hay không, mức độ tự giải quyết các câu hỏi khó, các bài tập khó rasao Đặc biệt là kiểm tra việc tự giải các bài tập khó ở trên lớp đã được giáo viên hướngdẫn Điểm này trong quá trình kiểm tra vở bài soạn của học sinh giáo viên thường bỏ qua.Đây là cơ sở để giáo viên nhận xét, đánh giá đúng quá trình chuẩn bị bài ở nhà của họcsinh, là cơ sở để giáo viên khuyến khích, khích lệ học sinh Khi kiểm tra giáo viên nên chođiểm học sinh hoặc điểm kiểm tra vở bài soạn phải dành một tỉ lệ thỏa đáng cho cột kiểmtra miệng (tỉ lệ 4/6, 3/7,…)

- Mỗi tiết học có thể kiểm tra từ 1-3 vở soạn tùy theo câu hỏi kiểm tra bài cũ Cónhững tiết giáo viên dành hẳn cho việc kiểm tra vở soạn bài (khoảng 5 vở) để kiểm tra sựchuẩn bị bài của lớp

1.1.3 Hướng dẫn cho học sinh phương pháp học tập phù hợp với đặc trưng của một tiết giảng văn:

Đa số học sinh ít nghiên cứu bài mới ở nhà, khi soạn bài các em chỉ đọc lướt quanên cảm thấy hơi khó hiểu

Trước hết giáo viên cần hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm văn chương mộtcách độc lập thông qua việc chuẩn bị bài mới Giáo viên đưa ra một số kiến thức nhất địnhbuộc các em phải chuẩn bị kiến thức cũng như tâm lí khi đến lớp Và khi tự mình chuẩn bịmột số kiến thức nhất định các em sẽ tự tin chọn học và tiếp thu kiến thức mới Năng lực

tự học dù còn hạn chế vẫn là nguyên tố quyết định đến việc tiếp thu bài trên lớp của họcsinh Vậy để chuẩn bị bài mới được tốt giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị nhữngnội dung sau:

+ Đọc tác phẩm trước khi soạn bài: đọc kĩ, đọc đúng, đọc diễn cảm để tự cảm nhậntác phẩm, đồng thời với việc đọc có suy nghĩ là thói quen dùng bút chì gạch chân và ghilại những đoạn hay của tác phẩm Ví dụ khi dạy bài: “Hịch tướng sĩ”-Trần Quốc Tuấn,

GV hướng HS dùng bút chì gạch chân và ghi nhớ đoạn văn cảm xúc nhất: “Ta thường tớibữa quên ăn…ta cũng yên lòng” Để từ đó hình thành cho HS có thói quen cảm thụ, suyngẫm văn xuôi

+ Nếu là tác phẩm thơ: đọc thuộc , ghi nhớ, suy ngẫm tác phẩm, những câu, đoạn

mà mình tâm đắc nhất Ví dụ khi dạy bài “Con cò” của Chế Lan Viên, GV hướng HSthuộc lòng và cảm nhận hai câu thơ: Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con

Để từ đó hình thành cho HS có thói quen cảm thụ, suy ngẫm thơ

+ Hình thành thói quen liên tưởng, liên hệ với những vấn đề, những tác phẩm khác

có liên quan đến những giá trị cơ bản trong tác phẩm đang học.Ví dụ khi dạy bài: Bài thơ

về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật, HS sẽ liên tưởngđến hình ảnh người lính cụ

Hồ trong kháng chiến chống Mỹ qua bài thơ Đồng chí-Chính Hữu

Trang 11

+ Cảm nhận tác phẩm theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh không máy móc thụ động,phải tập trung suy nghĩ những điều mới lạ ở tác phẩm khi cảm nhận nó qua sự dẫn dắt, gợi

ý của thầy cô; nghĩa là phải có sự cảm nhận của riêng mình

+ Cảm nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại-kiểu văn bản, đặc trưng thi pháp

- Rèn luyện tích tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh ở giờ giảng văn khôngchỉ dừng lại ở việc thực hiện các thao tác trên mà nó còn đòi hỏi ở cả giáo viên lẫn họcsinh một cách hoc, cách dạy hợp lí, khoa học, linh hoạt, không phải bài nào cũng dùngcác phương pháp dạy học như nhau theo kiểu rập khuôn máy móc Phải tùy thuộc vào tácphẩm cụ thể, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, đặc trưng thi pháp của tác phẩm

-Để giúp học sinh có được sự sáng tạo trong một giờ giảng văn, giáo viên nênhướng dẫn học sinh đi theo con đường thi pháp học ( thuật ngữ “thi pháp” được hiểu theonghĩa rộng, đó là những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, cách lựa chọn đề tài, cách biểuhiện chủ đề, tư tưởng, phương pháp, phong cách nghệ thuật…của một tác phẩm văn họchoặc của một tác giả; từ đó thấy rõ sự khác biệt giữa tác phẩm này với tác phẩm kia Ví dụthi pháp Truyện Kiều, thi pháp thơ Đường…) Điều này giúp học sinh hiểu đúng, nhanhchóng phát hiện ra những điểm sáng thẩm mỹ ở tác phẩm.Muốn vậy, người thầy phải nắm

và vận dụng linh hoạt, vững vàng lí luận thi pháp trong quá trình giảng văn

Ví dụ: Khi phân tích thơ, nên đi từ mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình hoặc hìnhtượng trữ tình trong tác phẩm Chẳng hạn khi tìm hiểu bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xekhông kính”-Phạm Tiến Duật, ta có thể phân tích hình tượng những chiếc xe không kính

và hình tượng những chiến sĩ lái xe Khi tìm hiểu bài thơ “ Sang thu”-Hữu Thỉnh ta phântích theo mạch trữ tình –chính luận của nhân vật trữ tình trong bài thơ

Với văn xuôi, có tác phẩm giảng bằng thi pháp nhân vật Ví dụ : Khi dạy văn bản

“Lặng lẽ Sa Pa”-Nguyễn Thành Long, rèn luyện cho học sinh năng lực phân tích, cắtnghĩa tác phẩm văn học, năng lực tái hiện hình tượng trung tâm của tác phẩm Từ đó pháthiện được đặc trưng về phong cách nghệ thuật cũng như điểm sáng thẩm mỹ của một tácphẩm nghệ thuật Giáo viên giúp học sinh phát hiện chất trữ tình của trong phong cảnhthiên nhiên hiện lên dưới ngòi bút tinh tế của tác giả Học sinh sẽ tái hiện lại bức tranhthiên nhiên đẹp, thơ mộng, bằng nghệ thuật ngôn ngữ tạo hình, giàu chất thơ và qua cáirung cảm của một tâm hồn tinh tế thông qua một số câu văn: “Nắng bây giờ bắt đầu đốtcháy rừng cây…luồn cả vào vòm xe” “Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ vàlàm cho cô gái thấy mình rực rỡ theo” Có thể nói chỉ vài nét vẽ thôi cũng đủ gợi lên mộtphong cảnh SaPa tuyệt đẹp, thơ mộng hòa vào những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật

Có tác phẩm giảng bằng thi pháp cốt truyện, tình tiết Ví dụ: Tác phẩm “ Bến Nguyễn Minh Châu Hình ảnh ông giáo Khuyến ở cuối truyện là nét đẹp về tình cảm lánggiềng có sự chia sẻ, cảm thông động viên rất mực chân thành Đây còn là giá trị bền vữngđáng trân trọng mà Bến quê hướng tới Hay hình ảnh của nhân vật Nhĩ ở cuối truyện gợi

quê”-ra một ý nghĩa khái quát Đó là ý muốn thức tỉnh mội người về những cái vòng vèo, chùngchình mà chúng ta đang sa vào trên đường đời, dứt ra khỏi nó để hướng tới những giá trịđích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững

1.1.4 Hệ thống câu hỏi trong một tiết dạy

Ngày đăng: 26/11/2014, 19:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ minh họa - một số kinh nghiệm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong một giờ giảng văn ở trường thcs
Sơ đồ minh họa (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w