Nhận thấy việc dạy KN viết chính tả cho hoc sinh Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La còn chưa cao và việc viết chính tả của HS DTTS đa số còn mắc nhiều lỗi thông thường như viết hoa tự do
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH XUÂN HUYÊN
RÈN KỸ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU
HỌC QUYẾT TÂM – SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH XUÂN HUYÊN
RÈN KỸ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU
HỌC QUYẾT TÂM – SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận “Rèn kỹ năng viết chính tả của học sinh dân tôc thiểu số lớp 2 Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La”, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng, người đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học – Mầm non, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Đinh Xuân Huyên
Trang 4DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ Viết tắt
Giáo viên Học sinh Sách giáo khoa Giáo dục và đào tạo Dân tộc thiểu số Học sinh dân tộc Tiếng mẹ đẻ Tiếng Việt
Ví dụ Nhà xuất bản
Kỹ năng
GV
HS SGK GD-ĐT DTTS HSDT TMĐ
TV
VD NXB
KN
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của đề tài 5
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN KỸ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 2 6
1.1 Một số vấn đề chung về dạy học chính tả 6
1.1.1 Khái niệm chính tả 6
1.1.2 Mục tiêu của phân môn Chính tả 6
1.1.3 Nhiệm vụ của dạy chính tả ở Trường Tiểu học 7
1.2 Cơ sở khoa học về việc dạy chính tả 8
1.2.1 Cơ sở triết ho ̣c Mác – Lê Nin 8
1.2.2 Cơ sở ngôn ngữ học 10
1.2.3 Cơ sở giáo dục học 12
1.2.4 Cơ sở tâm lí học 13
1.3 Nguyên tắc dạy học chính tả 14
1.3.1 Nguyên tắc phát triển lời nói trong dạy học chính tả 14
1.3.2 Nguyên tắc phát triển tư duy trong dạy học chính tả 15
1.3.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh trong dạy học chính tả 16
1.3.4 Nguyên tắc phối hợp phương pháp tích cực với phương pháp tiêu cực trong dạy học chính tả 18
TIỂU KẾT 19
Trang 6CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ THỰC TIỄN 20
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học chính tả lớp 2 - Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La 20
2.1.1 Mục đích khảo sát 20
2.1.2 Nội dung khảo sát 20
2.1.3 Đối tượng khảo sát 20
2.1.4 Phương pháp khảo sát 20
2.1.5 Thời gian, địa bàn khảo sát 21
2.2 Kết quả khảo sát 21
2.2.1 Chương trình Chính tả ởlớp 2 21
2.2.2 Thực trạng dạy học chính tả lớp 2 - Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La 23 2.2.3 Đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số với vệc rèn kỹ năng chính tả 27
2.2.4.Thực trạng học chính tả của học sinh lớp 2 - Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La 29
TIỂU KẾT 39
CHƯƠNG 3:BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT TÂM – SƠN LA 40
3.1 Vận dụng các phương pháp dạy chính tả để rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh dân tộc thiểu số 40
3.1.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ 40
3.1.2 Phương pháp giao tiếp 41
3.1.3 Phương pháp rèn luyện theo mẫu 41
3.1.1 Phương pháp thực hành 42
3.2 Các biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh 43
3.2.1 Rèn kỹ năng phát âm đúng 43
3.2.2 Cách sử dụng quy tắc viết hoa 46
3.2.3 Tạo hứng thú học tập cho học sinh 48
3.2.4 Thống nhất giữa giáo viên và học sinh về cách đọc, cách phát âm và rèn luyện qua các môn khác 48
Trang 73.2.5 Lựa chọn nội dung chính tả phù hợp với từng đối tượng học sinh 49
3.2.6 Sử dụng các mẹo luật quy tắc chính tả 50
3.2.7 Yêu cầu học sinh tự phát hiện ra lõi chính tả và tự sửa lỗi 53
3.2.8 Kết hợp với phụ huynh và các lực lượng khác 53
3.2.9 Rèn kỹ năng chính tả thông qua trò chơi 54
3.3 Thử nghiệm tính khả thi và phù hợp của các biện pháp 54
3.3.1 Mục đích thể nghiệm sư phạm 54
3.3.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 55
3.3.3 Nội dung và phương pháp thể nghiệm 55
TIỂU KẾT 59
PHẦN KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤ
Trang 8PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ tư duy của một dân tộc nói chung và của các em học sinh (HS) trong nhà trường nói riêng Ngôn ngữ đồng thời còn là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng nhất của một nền văn hóa dân tộc, góp phần làm nên và thể hiện ra bản sắc, giá trị của nền văn hóa ấy Là hệ thống ký hiệu bằng các con chữ và các dấu, chữ viết ghi lại ngôn ngữ âm thanh, thành tiếng của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại về không gian và thời gian, ghi lại những kinh nghiệm ngàn đời của cha ông về tự nhiên và xã hội, sáng tạo ra các tác phẩm văn chương cho muôn đời
Đối với nhà Trường phổ thông ở Việt Nam, việc phát âm chuẩn và viết đúng chính tả có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xây dựng và rèn luyện ngôn ngữ là tiếng Viê ̣t (TV) Môn TV có chức năng là rèn luyện các kỹ năng (KN) nghe, nói, đọc, viết nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học ngôn ngữ tiếng me ̣ đẻ (TMĐ) trong nhà Trường ; và mục tiêu đầu tiên của giáo dục Tiểu học là rèn luyện cho HS KN "đọc thông viết thạo" chữ Quốc ngữ Chính tả là một phần trong nội dung chương trình môn TV ở bậc Tiểu học Đây là môn học
có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển các KN cơ bản - đó là nghe, nói, đọc, viết Có KN chính tả thành thạo sẽ giúp cho HS học tập, giao tiếp và tham gia các quan hệ xã hội được thuận lợi; đồng thời việc mỗi thành viên xã hội (trong đó có HS) phát âm chuẩn và viết đúng chính tả sẽ góp phần giữ gìn sự trong sáng và thống nhất của TV
Học sinh dân tộc (HSDT) khi tới Trường mới bắt đầu tiếp xúc, làm quen
và học tập bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới là TV Các em không có thời gian
để học nói TV trước, cũng không có điều kiện để tiếp xúc, cũng như được mọi người xung quanh dạy nói một cách tự nhiên như HS người Kinh Ngay từ khi tới Trường , các em phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Các
em phải làm quen với một hệ thống âm không hoàn toàn giống với TMĐ
Trang 9Sơn La là tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc của Việt Nam, bao gồm có 12 dân tộc anh
em cùng cộng cư sinh sống, các dân tô ̣c thiểu số (DTTS) chiếm tỉ lệ gần 90% dân
số của toàn tỉnh Nên HS và người dân chịu ảnh hưởng nhiều của phương ngữ, tâm
lí HSDT rụt rè hay xấu hổ, các em chưa có thói quen nói TV nên thường ngại nói, khi có cơ hội các em thường quay về với TMĐ quen thuộc của mình, kể cả trong lớp học
Nhận thấy việc dạy KN viết chính tả cho hoc sinh Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La còn chưa cao và việc viết chính tả của HS DTTS đa số còn mắc nhiều lỗi thông thường như viết hoa tự do, các lỗi về phụ âm đầu…Muốn khắc phục những hạn chế này đòi hỏi chúng ta phải đánh giá chính xác KN viết trong phân môn Chính tả của HS DTTS để có biện pháp khắc phục Đây chính là lý do
khiến tôi chọn đề tài: “Rèn kỹ năng viết chính tả của học sinh dân tộc thiểu số lớp 2 Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La” nhằm bước đầu tìm hiểu KN viết
chính tả của HS DTTS lớp 2 Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La và đề ra các biện pháp để rèn luyện các KN này
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề KN đã được các nhà tâm lý học nghiên cứu từ lâu dưới nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung có hai hướng chính Đó là: Hướng nghiên cứu KN ở mức độ khái quát Đại diện của hướng nghiên cứu này có: P.Ia.Galperin, K.K.Platonov, P.V.Pêtropxki, V.X.Cudin.P.Ia.Galperin chủ yếu đi sâu vào vấn
đề hình thành tri thức, KN theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn K.K.Platonov thì trình bày khái quát ba khái niệm: Tri thức, kỹ xảo, KN
và mối quan hệ giữa chúng theo quan niệm của ông và các nhà tâm lý khác Hướng nghiên cứu KN ở mức độ cụ thể Đây là hướng nghiên cứu lớn về KN, gắn liền với nhiều nhà tâm lý lớn và trong nhiều hoạt động cụ thể như: KN hoạt động sư phạm(A.A.Leonchive,), KN lao động (V.V.Tsebbuseva, V.G.Look, E.A.Milerian), KN học tập (G.X.kchiuc, N.A.Menchinxcaia.)
KN viết và KN viết chính tả được nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu Năm
1905, tác giả E.Javal (Pháp) nghiên cứu và cho ra đời tác phẩm “Sinh lý học của việc dạy đọc và viết” Năm 2007 nhà xuất bản (NXB) Đại học Huế có biên dịch
Trang 10cuốn “Dạy đọc viết cho tất cả HS ở Trường Tiểu học và Chuyên biệt” của tác giả Kristin Bostelmann & Vivien Heller Năm 1989 NXB Giáo dục có biên dịch cuốn “Phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ – Các nguyên tắc tâm lý của việc dạy chính tả” của Đ.N.Bôgôiavlenxki Luận án phó tiến sĩ khoa học tâm lý của tác giả Dương Thiệu Hoa “Hình thành KN đọc và viết TV cho HS đầu lớp 1” (1995),
Lê Phương Nga có công trình “Phương pháp dạy học TV ở Tiểu học”, Lê A với cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học”, Nguyễn Đức Dương “Về chiến lược dạy chính tả” (Kỉ yếu hội nghị khoa học – 1997), Hoàng Trọng Canh “Chữ quốc ngữ với vấn đề luyện chính tả ở Trường phổ thông” (Ngữ học trẻ - 1996),
Hà Quang Năng “Từ thực trạng mắc lỗi của HS Tiểu học, suy nghĩ về cách dạy học và SGK hiện nay” (Kỉ yếu hội thảo khoa học – 1997)
Các công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quý báu để tác giả thực
hiện đề tài: "Rèn kỹ năng viết chính tả của hoc sinh DTTS lớp 2 Trường Tiểu
học Quyết Tâm – Sơn La"
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn dạy học chính tả ở tiểu học, tìm ra những ưu điểm và hạn chế nhằm đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng viết chính tả của hoc sinh DTTS lớp 2 Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành đề tài tác giả thực hiện nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chính tả ở Trường Tiểu học nói chung
- Khảo sát, thống kê phân loại lỗi, chỉ ra thực trạng mắc lỗi, nguyên nhân mắc lỗi của HS Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La
- Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cơ bản cho HSDTTS
- Tiến hành thiết kế giáo án và dạy thể nghiệm
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính khả thi của vấn đề nghiên cứu
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp rèn KN chính tả cho HS DTTS lớp 2 Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La
4.2 Khách thể nghiên cứu
Do khả năng và thời gian có hạn nên tôi chỉ tiến hành điều tra, khảo sát
và thực nghiệm trên HS DTTS 2 của Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La
5 Giả thuyết khoa học
Kỹ năng viết chính tả của HS nói chung và nhất là HS DTTS nói riêng còn gặp nhiều khó khăn Đây là vấn đề được nhiều giáo viên (GV) tiểu học miền núi Sơn La quan tâm Chúng tôi giả định rằng nếu xây dựng được một số biện pháp rèn kỹ năng chính tả một cách khoa học, phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chính tả cho HS DTTS lớp 2 nói riêng và trong nhà trường tiểu học nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc tham khảo tài liệu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các vấn đề tài liệu có liên quan để làm cơ sở lí luận cho đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp trắc nghiệm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê và phân loại lỗi chính tả
cơ bản HS DTTS thường mắc phải, nắm được thực trạng, nguyên nhân mắc lỗi
Trang 126.4 Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
Tổng kết, đánh giá kết quả của đề tài và những mặt còn hạn chế, rút kinh nghiệm
6.5 Phương pháp thực nghiệm
Trên cơ sở đưa ra những biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HS DTTS Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La chúng tôi đã tiến hành thiết kế và dạy thể nghiệm
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài gồm có ba chương:
Chuơng 1: Cơ sở lý luận của việc rèn kỹ năng viết chính tả của học sinh dân tộc thiểu số lớp 2
Chuơng 2 : Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Biện pháp rèn kĩ năng viết chính tả của học sinh DTTS lớp 2 Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La
Trang 13PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN KỸ NĂNG VIẾT
CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 2
1.1 Một số vấn đề chung về dạy học chính tả
1.1.1 Khái niệm chính tả
Theo đi ̣nh nghĩa trong mô ̣t số từ điển , chính tả là viết đúng, là cách viết
hơ ̣p với chuẩn và những quy đi ̣nh mang tính quy ước xã hô ̣i , được mo ̣i người
trong mô ̣t cô ̣ng đồng chấp nhâ ̣n và tuân thủ Những quy đi ̣nh đó thường là
những thói quen trong vâ ̣n du ̣ng thực tiễn, nhưng cũng có thể do các tổ chức, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để sử du ̣ng trong xã hô ̣i
Tính thống nhất của chính tả thể hiện sự thống nhất cảu một ngôn ngữ
Cũng như hệ thống ngữ âm , hê ̣ thống chữ viết hoa ̣t đô ̣ng trong g iao tiếp theo
những quy tắc đảm bảo cho quá trình ký mã và giải mã được thuâ ̣n lợi và chính
xác Hê ̣ thống quy tắc chính tả quy đi ̣nh cách viết các từ , viết chữ hoa , chữ
thường, cách dùng các dấu câu , cách viết các từ p hiên âm hoă ̣c chuyển tự Các
hê ̣ thống chính tả trên thế giới thường dựa vào mô ̣t số nguyên tắc nhất đi ̣nh
Viê ̣c dựa tren mô ̣t nguyên tắc hay phối hợp đồng thời các nguyên tắc khác nhau
của chính tả chịu sự chi phối bởi các đă ̣c điểm văn hóa , ngôn ngữ của quốc gia
trong mô ̣t thời điểm li ̣ch sử cu ̣ thể
1.1.2 Mục tiêu của phân môn Chính tả
Bốn hoạt động vô cùng quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ của con
người là nghe, nói, đọc và viết Xét dưới góc độ chức năng giao tiếp thì nói và
viết là hoạt động tạo lập lời nói, còn nghe và đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói
Còn xét dưới góc độ phương diện giao tiếp thì nghe và nói là hoạt động âm
thanh, đọc và viết là hoạt động bằng chữ viết Cả bốn hoạt động này luôn có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt động này là tiền đề thực hiện bốn hoạt
động kia và ngược lại Tuy nhiên, ở trong mỗi hoạt động lại có những đặc điểm
riêng, giữ vị trí riêng trong hoạt động chung của mỗi con người cũng như trong
Formatted: Indonesian (Indonesia)
Trang 14dạy học ở nhà Trường , trong đó một kĩ năng vô cùng quan trọng là rèn KN
chính tả cho HS
Cụ thể hoá mục tiêu của môn Tiếng Việt, phân môn Chính tả nhằm hình
thành ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý tới kĩ năng
viết (có kết hợp với kĩ năng nghe) Bên cạnh đó, Chính tả cung cấp cho học sinh
một số kiến thức về chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính
tả… Phân môn Chính tả còn góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy
như phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hoá…, cung cấp
cho học sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, về con người, văn hoá,
văn học Việt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cái thiện,
lòng trung thực, lòng tốt, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội; góp phần hình
thành lòng yêu mến tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
VD: Trong bài chính tả tâ ̣p chép Bím tóc đuôi sam, mục tiêu của bài học là:
- Giúp HS c hép lại chính xác, trình bày 1 đoạn đối thoại trong bài: Bím tóc
đuôi sam
- Luyện viết đúng quy tắc chính tả với iê/yê/iên/yên làm đúng các bài tập
phân biệt tiếng có âm đầu hoặc vần dễ lần (r/ d/ gi hoặc ân/ âng)
1.1.3 Nhiệm vụ của dạy chính tả ở Trường Tiểu học
1.1.3.1 Nhiê ̣m vụ chung
Trên cơ sở các mu ̣ c tiêu cơ bản của môn Tiếng Viê ̣t , phan môn Chính tả
dạy trẻ em biết chữ để đọc tiếng , dùng chữ để học các môn học khác và để sử
dụng trong giao tiếp Trong các giờ ho ̣c Chính tả , HS nắm được các quy tắc
chính tả hình th ành kỹ năng , kỹ xảo chính tả nói các khác là hình thành ở HS
năng lực viết đúng chính tả , thể hiê ̣n các văn bản viết trên các chất liê ̣u như :
bảng, vở từ đó gióp phần hình thành nhân cách và phát triển tư duy cho ho ̣c
sinh
1.1.3.1 Nhiê ̣m vụ cụ thể
Viết trong phân Chính tả là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của quá trình rèn kỹ năng viết
Từ lớp 1 đến lớp 5, các em được học cách viết các văn bản theo các thể loại Tập
chép, Nghe - viết và Nhớ - viết HS nhớ la ̣i mô ̣t đoa ̣n văn , đoa ̣n thơ và viết la ̣i
Formatted: Indonesian (Indonesia) Formatted: Indonesian (Indonesia) Formatted: Indonesian (Indonesia)
Formatted: English (United States)
Formatted: Font: Times New Roman, 14 pt,
Trang 15cho đúng hoă ̣c nghe giáo viên đo ̣c mẫu và chép Như vâ ̣y, mục tiêu của phân Chính tả ở tiểu học có hai nhiệm vụ:
Cùng với phân môn Tập viết , phân môn Chính tả giúp HS nắm được c ác quy tắc chính tả , hình thành các kỹ năng chính tả , nói cách khác, giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả Qua đó, củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết Tiến g Viê ̣t, trang bi ̣ cho HS công cu ̣ để ho ̣c tâ ̣p và giao tiếp xã hô ̣i
Bồi dưỡng tình yêu tình yêu tiếng Viê ̣t , hình thành thói quen cẩn thận , sạch sẽ , kiên trì, từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho HS Phân môn Chính tả nhờ vậy còn rèn luyện cho HS óc thẩm mĩ , sự quan sát tinh tế và hướng đến cái đe ̣p
Trong bài Chính tả Bím tóc đuôi sam ( Tiếng Viê ̣t 2) mục tiêu của bài là:
- Chép lại chính xác, trình bày 1 đoạn đối thoại trong bài: Bím tóc đuôi sam
- Luyện viết đúng quy tắc chính tả với iê/yê/iên/yên làm đúng các bài tập phân biệt tiếng có âm đầu hoặc vần dễ lần (r/ d/ gi hoặc ân/ âng)
Qua đó rèn cho HS óc thẩm mĩ tức là trình bày bài viết của mình sa ̣ch
đe ̣p, gọn gàng và khoa học , hình thành cho HS kỹ năng và thói quen viết đúng iê/yê/iên/yên và phân biệt tiếng có âm đầu hoặc vần dễ lần (r/ d/ gi hoặc ân/ âng)
1.2 Cơ sở khoa học về việc dạy chính tả
1.2.1 Cơ sơ ̉ triết học Mác – Lê Nin
Triết học Mác – Lênin là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy học chính tả , nó quyết định phương hướng chung của phương pháp dạy học chính tả Nó giúp chúng ta hiểu được đối tượng của phương pháp dạy học chính
tả một cách sâu sắc, trang bị cho chúng ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn: xem xét các quá trình dạy học Tiếng Việt trong sự phát triển và trong mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau, trong sự mâu thuẫn và sự thống nhất, phát hiện những sự biến đổi số lượng dẫn tới những biến đổi chất lượng…
Sau đây, chúng ta xem xét những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về ngôn ngữ và quá trình nhận thức có ảnh hưởng quan trọng, trực tiếp đối với
Trang 16phương pháp dạy chính tả, những luận điểm được xem như là những lí thuyết quan trọng để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của việc dạy học chính tả “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lênin) Luận điểm này không chỉ đơn thuần khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp mà là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện giao tiếp đặc trưng của loài người Không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại Việc nắm bản chất xã hội của ngôn ngữ cho phép ta rút ra kết luận có tính chất phương pháp Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm thì nghiên cứu nó phải nghiên cứu hệ thống hoạt động chức năng Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường là phải giúp HS có thể sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp Vì vậy phát triển lời nói là nhiệm vụ quan trọng để dạy học chính tả trong nhà trường Tất cả các giờ dạy chính tả, cả dạy đọc, viết, cả nghiên cứu ngữ pháp, từ ngữ… phải đi theo khuynh hướng này HS phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện, kết cấu
và quy luật cũng như hoạt động hành chức của nó HS cần hiểu rõ người ta nói
và viết không phải chỉ để cho mình mà còn cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu Đồng thời, vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học chính tả Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (C.Mác) Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgíc,
lí tính Chính trong các đơn vị và dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát hóa, trừu tượng hóa Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề để phát triển tư duy Từ đây người ta rút ra những kết luận có tính chất phương pháp: kiến thức, kĩ xảo ngôn ngữ phải được xem xét như là những yếu tố của phát triển tư duy, các hệ thống dạy học chính tả cần bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói và tư duy
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng: Con đường biện chứng của nhận thức chân lí đi qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, đồng thời cũng chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của nhận thức, cũng là tiêu chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng của nhận
Trang 17thức Đây là cơ sở của nguyên tắc trực quan trong dạy chính tả và cũng là cơ sở
để đề cao nguyên tắc phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của HS trong quá trình
dạy học chính tả Khi nói về sự cần thiết của việc trẻ em nắm kiến thức ngôn
ngữ một cách có ý thức, chúng ta không quên ý nghĩa của việc nhận thức các
hiện tượng ngôn ngữ một cách cảm tính của chúng Đứa trẻ nhận thức thế giới
xung quanh một cách cảm tính, bằng mắt, bằng tai… gắn với màu sắc, âm thanh
cụ thể Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường trong dạy chính tả là phát triển
những khả năng nhận thức cảm tính của trẻ em Dạy chính tả phải dựa trên kinh
nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói của HS HS sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói
trong đời sống, thông qua việc phân tích tổng hợp để đi đến những khái quát
hóa, những định nghĩa lí thuyết, những quy tắc và từ đó lại quay về thực tiễn
giao tiếp lời nói sống động trong dạng nói và dạng viết Kết quả là các em tiếp
nhận được những mẫu lời nói và quy tắc ngôn ngữ một cách có ý thức Cách làm
việc như vậy của HS với tiếng mẹ đẻ trong nhà trường không chỉ tuân thủ những
quy luật chung của quá trình nhận thức chân lí của loài người mà còn đáp ứng
được những đòi hỏi của lí luận dạy học hiện đại Đó là con đường nghiên cứu
phát minh – khuynh hướng của phương pháp dạy học hiện đại nói chung, của
dạy học chính tả nói riêng
1.2.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Để hạn chế được lỗi chính tả cho HS, người GV cần nắm chắc, hiểu, vận
dụng và giảng dạy cho HS một số nguyên tắc chính tả TV sau đây:
Một là: Chính tả TV là chính tả ngữ âm
Theo nguyên tắc này chính tả phải biểu hiện đúng âm hưởng của từ, phát
âm thế nào thì viết thế ấy
1 Giữa cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau, được nghe
đọc đúng thì HS sẽ viết đúng Bởi vậy TV là chữ ghi âm vị nên nguyên tắc này
là nguyên tắc cơ bản nhất Nó thể hiện ở chỗ: Cách viết của mỗi từ thể hiện đúng
âm cần đọc của từ Quan hệ giữa âm và chữ là quan hệ 1-1 nguyên tắc này đòi
hỏi GV phải phát âm chuẩn thì HS mới viết đúng Nếu với nguyên tắc này ở một
số địa phương phát âm lệch chuẩn, HS không thể dựa hoàn toàn vào cách phát
Formatted: Justified, Indent: First line: 1 cm
Formatted: Justified, Indent: First line: 1 cm,
Trang 18âm thực tế của địa phương nhất định nào đó vì phát âm sai lệch so với chính âm
GV phải sửa chữa, vạch rõ cách phát âm sai lệch phương ngữ để các em hiểu rõ
và tự sửa chữa
- Bắc bộ: Sai phụ âm đầu: Ch/tr, d/gi/r, c/k/q/l/n
2 - Trung bộ: Sai thanh điệu: ( ?/ ~), (suy nghĩ, sạch sẽ)
Sai vần: Ie/yê, ươ/ưu, ( con hươu/con hiêu, uống rượu/uống riệu)
3. - Nam bộ: Sai vần: V/d (vô nam/dô nam), i/y Hay đồng hóa hai âm cuối
n/ng (luôn luôn/ luôn luông), t/k (tuốt tuột/ tuốc tuộc), (bay nhảy/bay nhải)
Hai là: Nguyên tắc chính tả ngữ nghĩa: Chính tả TV là chính tả ngữ âm học
nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả việc nắm nghĩa của từ là cơ sở giúp
người học viết đúng chính tả
VD: Nếu GV đọc một từ có hình thức ngữ âm là “za” thì HS có thể lúng
túng, khó xác định chữ viết nhưng nếu đọc chọn vẹn là “gia đình”, “da thịt” hay
“ra vào”… thì các em sẽ hiểu nghĩa các từ đó và viết đúng
Ba là: Nguyên tắc chính tả có ý thức: Là loại chính tả nhằm phát hiện ra
quy tắc chính tả từ cơ sở đó mà viết đúng chính tả HS cần nắm chắc một số quy
tắc làm căn cứ để viết đúng các từ, các chữ nằm trong phạm vi quy tắc mà
không cần gắng sức ghi nhớ cách viết của từng từ một Dạy chính tả theo đường
này có những thuận lợi sau:
+ Khi nắm được các quy tắc chính tả các em sẽ nắm được cách viết đúng
mà không phải ghi nhớ máy móc
+ Rút ngắn được thời gian rèn luyện, nhanh chóng hình thành các kĩ năng
kĩ xảo chính tả
+ Qua so sánh, phân tích đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa… Từ đó
rút ra quy tắc chính tả, HS được rèn luyện khả năng tư duy
VD 1: Chữ viết thể hiện của âm vị “k” khi nó đứng trước các nguyên âm hàng
trước (i, e, ê, yê ) thì được viết tắt là “k” Khi nó đứng trước các nguyên âm hàng sau
(o, a, u, ô) thì được viết là “c” Khi nó đứng trước âm đệm “u” thì được viết là “q”
Formatted: Font: Italic, Indonesian
Trang 19VD 2: Đứng trước các nguyên âm hàng trước (i, e, ê, yê) được viết là “gh”,
âm vị “y” được viết là “ngh” Đứng trước các nguyên âm hàng sau (a, ă, â …) viết là “g”, âm vị “y” viết là “ng”
Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho HS GV cần nắm chắc các quy tắc chính tả và phải có trình độ lí luận khoa học để áp dụng tốt vào thực tiễn
1.2.3 Cơ sở giáo dục học
Phương pháp dạy học chính tả là một bộ phận của khoa học giáo dục nên
nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Giáo dục học nói chung, Lí luận dạy học đại cương nói riêng cung cấp cho Phương pháp dạy học chính tả những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học Có thể coi Phương pháp dạy học chính tả là một khoa học sinh ra từ sự tích hợp biện chứng của Việt ngữ học và Lí luận dạy học đại cương Mục đích của Phương pháp dạy học chính tả cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của HS, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới
Quan hệ của Phương pháp dạy học chính tả với khoa học giáo dục thể hiện
ở chỗ phương pháp dạy học chính tả được một hệ thống lí luận giáo dục tạo ra
và làm cơ sở Phương pháp dạy học chính tả hoàn toàn sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của giáo dục học Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do giáo dục học đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho HS, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động Trong Phương pháp dạy học chính tả có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học…
Phương pháp dạy học chính tả vận dụng những nguyên tắc này tuỳ theo những đặc trưng riêng của mình Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành trong phương pháp dạy học chính tả đòi hỏi một hoạt thường xuyên, rèn kỹ năng viết cùng với việc thường xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết vào
Trang 20làm các bài tập Thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ chính tả không chỉ là
việc chỉ sử dụng sơ đồ, bảng biểu, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là “trực
quan lời nói”, bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào
bài khóa trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
1.2.4 Cơ sở tâm lí học
Mục đích của việc nghiên cứu cơ sở tâm lý học là hình thành năng lực viết
thành thạo, thành thục chữ viết TV theo các chuẩn chính tả đến hình thành các kĩ
xảo chính tả "kĩ xảo là những yếu tố tự động hóa của hoạt động có ý thức được
tạo ra trong quá trình thực hiện hoạt động đó " (định nghĩa của B.M Chép.Lốp),
việc hình thành kĩ xảo chính tả là giúp viết đúng chính tả một cách tự động hóa
không cần trực tiếp nhờ tới các quy tắc chính tả, không cần đến sự tham gia của
ý chí Được chia thành hai con đường có ý thức và không có ý thức trong dạy
chính tả
Cách không có ý thức (máy móc, cơ giới) dạy chính tả không cần đến sự
tồn tại quy tắc chính tả Không cần hiểu mối quan hệ giữa các ngữ âm và chữ
viết, những cơ sở từ và ngữ pháp của chính tả, mà chỉ đơn thuần là việc viết
đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể Nhưng cách này thông thường chỉ áp
dụng cho những lớp đầu cấp Chính vì vậy việc giảng dạy chính tả không có ý
thức có tồn tại một số hạn chế như: Tốn nhiều thời gian, công sức, không phát
triển được tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định
Bên cạnh đó, việc dạy chính tả còn bằng con đường có ý thức hay còn
gọi là ý thức tự giác Bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo chính tả từ
đó tiến hành luyện tập và từng bước đạt kĩ xảo chính tả Chính vì vậy con
đường có ý thức này được áp dụng ở những lớp cuối cấp và việc dạy chính tả
một cách có ý thức vừa tiết kiệm được thời gian, công sức, và là con đường ngắn
nhất, có hiệu quả nhất
Để viết được chữ và viết đúng chính tả con người phải vận dụng hai yếu tố
chính đó là vận dụng cơ bắp và thao tác trí óc của người viết Kĩ năng chính tả là
phối hợp thuần thục: Ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay để sử dụng bút thể hiện
đúng các chữ đảm bảo sự khu biệt và tốc độ chữ viết nhanh
Formatted: Justified, Indent: First line: 1 cm
Trang 21Kĩ năng chính tả là hoạt động có ý thức đạt tới mức tự động hóa một cách
tự giác mức độ thông thạo viết đúng các chữ cái ở mọi vị trí cần thiết của chúng,
nó phụ thuộc vào hoạt động cơ bắp và thần kinh của các bộ phận cơ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động
Chính tả TV là chính tả ngữ âm, viết chính tả TV chủ yếu là ghi âm tiết thể hiện các thành phần âm vị đoạn tính hay siêu đoạn tính trong cấu trúc âm tiết thành chữ các biểu tượng về âm tiết và cách viết các âm tiết
Viết chính tả là sự tái tạo mẫu chữ, là kĩ năng hoạt động ghi nhớ các biểu tượng về âm tiết và cách viết âm tiết
HS Tiểu học thường hiếu động, chóng nhớ, chóng quên, do đó GV cần hình thành cho các em kĩ xảo chính tả một cách tự động hóa, không cần phải nhờ đến những quy tắc chính tả, không cần sự tham gia của ý chí Để đạt điều này có thể tiến hành theo hai cách: Có ý thức và không có ý thức, với cách không có ý thức thường tốn thời gian, công sức, GV phải luyện cho HS thường xuyên qua đó củng cố trí nhớ máy móc ở mức độ nhất định
Với cách có ý thức, GV cần cho HS bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các “mẹo” luật chính tả Nội dung kiến thức phải bắt đầu từ dễ đến khó, tránh nhàm chán mà phải học mà chơi chơi mà học Thông qua luyện tập dần dần hình thành những kỹ xảo chính tả bằng con đường có ý thức, đó là con đường ngắn nhất, có hiệu quả cao Cần vận dụng cả hai phương pháp để rèn luyện chính tả cho HS Tiểu học Trong đó cách không có ý thức thường được sử dụng đối với
các lớp đầu cấp, cách có ý thức thường sử dụng ở các lớp cuối cấp
1.3 Nguyên tắc dạy học chính tả
1.3.1 Nguyên tắc phát triển lời nói trong dạy học chính tả
Nguyên tắc này liên quan đến viê ̣c nắm lời viết Trẻ em không lĩnh hội đươ ̣c lời viết nếu chúng chưa nắm được lời nói miê ̣ng Do đó trong da ̣y ho ̣c chính tả đã đề ra nguyên tắc phát triển lời nói miệng trước lời viết đối chiếu lời viết với lời nói miê ̣ng trong quá trình rèn kỹ năng viết Nguyên tắc đòi hỏi khi dạy chính tả trong quá trình dạy viết cần tổ chức cho trẻ phối hợp các cơ quan cấu âm, cơ quan thính giác với tay viết và mắt đo ̣c để nắm được sự giống nhau
Trang 22và nhau giữa âm và chữ , ngữ điê ̣u và kí hiê ̣ u ghi la ̣i chúng , có kỹ năn chuyển
mô ̣t cách nhanh chóng từ hình thức nói sang thức viết và ngược la ̣i, từ hình thức viết sang hình thức nói
Xem xét các đơn vi ̣ ngôn ngữ trong hoa ̣t đô ̣ng hành chức , tứ c là đưa chúng vào các đơn vi ̣ lớn hơn, ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu như thế nào, câu ở trong đoa ̣n , trong bài ra sao Phải tổ chức hoạt động nói năng của HS để rèn kỹ năng chính tả, nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạ y chủ đạo ở tiểu học
1.3.2 Nguyên tắc phát triển tư duy trong dạy học chính tả
Nguyên tắc này yêu cầu phải chú ý rèn luyê ̣n các thao tác và phẩm chất tư duy trong giờ da ̣y chính tả Phải làm sao cho HS thông hiểu được ý nghĩa c ủa đơn vi ̣ ngôn ngữ Phải tạo điều kiện cho học sịnh nắm được nội dung các vấn đề cần viết và biết thể hiê ̣n nô ̣i dung này bằng các phương tiê ̣n ngôn ngữ
Nguyên tắc phát triển tư duy trước hết yêu cầu giáo viên phải rèn luyện
cho học sinh các thao tác tư duy trong quá trình dạy tiếng Đó là các thao tác phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, lược bỏ, so sánh, khái quát hoá…Chẳng
hạn, khi dạy học sinh phân biệt các hình thức ghi âm đầu g và gh, giáo viên có
thể hướng dẫn học sinh so sánh để tìm ra sự tương đồng về cách phát âm, sự khác biệt về chữ viết và khái quát hoá từ các hiện tượng cụ thể thành quy tắc chính tả Vận dụng quy tắc chính tả đã khái quát được bằng cách thay thế hoặc lược bỏ, bổ sung, học sinh có thể viết đúng nhiều chữ ghi tiếng khác có âm đầu
viết bằng g hoặc gh Nguyên tắc phát triển tư duy còn yêu cầu làm cho học sinh
thông hiểu ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, làm cho các em hiểu nội dung những điều cần nói, viết và tạo điều kiện để các em thể hiện nội dung đó bằng các phương tiện ngôn ngữ Với phân môn Chính tả, điều này trước hết thể hiện
ở việc lựa chọn các bài viết chính tả (chính tả đoạn bài) Các bài viết chính tả thường được trích từ bài tập đọc trước đó hoặc được biên soạn lại từ nội dung của bài tập đọc đã học từ trước Một số bài viết được chọn từ nguồn khác, nhưng
có nội dung dễ hiểu, gần gũi với vốn hiểu biết của học sinh Trong việc tổ chức dạy học, giáo viên gợi ý để các em hiểu hoặc tái hiện nội dung bài viết, hiểu nội
Trang 23dung của từ hoặc tiếng khó trong bài Phân môn Chính tả không có các bài dạy riêng về lí thuyết, kĩ năng chính tả được thể hiện qua các bài tập Hệ thống bài tập chính tả phong phú về số lượng, đa dạng về hình thức thể hiện, chính là phương tiện rất tốt để khuyến khích học sinh, tạo hứng thú cho các em tham gia vào hoạt động giao tiếp (chủ yếu là giao tiếp bằng các hoạt động viết chữ và liên quan đến nhiệm vụ viết chữ) Chính những đặc điểm trên đây đã góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh, đáp ứng các yêu cầu của nguyên tắc phát triển lời nói trong dạy học chính tả
1.3.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh trong dạy học chính tả
Vì học sinh là nhân tố trung tâm trong dạy học tiếng Việt nên cần phải chú ý đến đặc điểm của học sinh trong dạy học tiếng Việt nói chung, dạy học chính tả nói riêng
Chính vì ở giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3) và giai đoạn 2 (lớp 4, 5), đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh có sự khác biệt nhất định nên việc lựa chọn nội dung và biện pháp dạy học chính tả trong hai giai đoạn này mặc dù giống nhau về căn bản, những cũng có khác nhau ít nhiều Sự lựa chọn cách hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh giai đoạn 1 chủ yếu là theo con đường không ý thức, còn ở giai đoạn 2 lại chủ yếu thông qua con đường có ý thức (giải nghĩa từ/tiếng, cung cấp quy tắc chính tả để học sinh viết đúng chính tả) là một trong những ví dụ về việc chú ý tới đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh trong việc lựa chọn cách thức dạy học chính tả
Viê ̣c da ̣y chính tả phải dựa trên sự hiểu biết chắc chắn về trình đô ̣ tiếng
mẹ đẻ vốn có của HS
Sự vâ ̣n du ̣ng nguyên tắc này khi da ̣y chính tả với tư cách là tiếng me ̣ đẻ và
tư cách là ngôn ngữ thứ hai có khác nhau
Trước hết, với HS người Viê ̣t , khi nghiên cứu tiếng Viê ̣t , HS tiếp xác với
mô ̣t đối tượng quen thuô ̣c, gắn bó trực tiếp với cuô ̣c sống hàng ngày của các em Trước khi đến trường các em đã nắm hai da ̣ng hoa ̣t đô ̣ng là nói và nghe , các em đã có mô ̣t vốn từ và quy tắc ngữ pháp nhất đi ̣nh Vì vậy, cần phải điều tra, nắm vững vốn tiếng Viê ̣t của HS theo từng lớp , từng vùng khác nhau để hoa ̣ch đi ̣nh
Trang 24nôi dung, kế hoạch da ̣y ho ̣c Đó là yêu cầu thứ nhất của viê ̣c thực hiê ̣n nguyên tắc Yêu cầu thứ hai là phải phát huy tính tích cực chủ đ ộng của HS trong giờ học chính tả Yêu cầu thứ ba là giáo viên phải phát huy những năng lực tích cực của HS, hạn chế và xóa bỏ những mặt tiêu cực về rèn kỹ năng viết trong quá trình học tập
Với HS ho ̣c tiếng Viê ̣t với tư cách là ngôn ngữ thứ hai , viê ̣c vâ ̣n du ̣ng nguyên tắc này cũng rất quan tro ̣ng Nếu tiếng me ̣ đẻ có đă ̣c điểm giống tiếng Viê ̣t thì ho ̣c sinh cần sử du ̣ng kinh nghiê ̣m nói năng sang tiếng Viê ̣t , còn những
đă ̣c điểm nào không giống thì xem là cản trở Cần làm so sánh loa ̣i hình, nghiên cứu sự chuyển di tích cực và tiêu cực để có ứng du ̣ng trong da ̣y ho ̣c chính tả cho những đối tượng này
Mỗi phương ngữ, thổ ngữ có sự sai dị nhất định so với chính âm Chính vì vậy, không thể thực hiện phương châm “ nghe thế nào viết thế ấy” được Do đó, dạy học chính tả theo khu vực thực chất cũng là chú ý tới đặc điểm ngôn ngữ của học sinh Phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả, từ sự ảnh hưởng tiêu cực của cách phát âm đến chữ viết của học sinh từng vùng, miền để lựa chọn nội dung rèn luyện phù hợp với học sinh ở từng địa phương
Ví dụ:
- Đối với phương ngữ Bắc Bộ, trọng điểm chính tả là phân biệt các chữ âm
đầu: ch / tr; s / x; l / n, r / gi / d; các chữ ghi âm vần iu / ưu
- Đối với phương Bắc Trung Bộ, trọng âm chính tả là phân biệt các dấu
thanh hỏi / ngã …
- Đối với phương ngữ Nam Bộ, trọng âm chính tả là phân biệt các chữ ghi
âm đầu v / d, các chữ ghi âm cuối n / ng; t / c, các chữ ghi vần iêu / iu, ươu… Tuân theo nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh, trước khi dạy, giáo
viên phải điều tra phát hiện các loại lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung dạy học thích hợp (đặc biệt ở phần luyện viết đúng trước khi viết chính tả đoạn - bài, và phần bài tập lựa chọn trong các bài tậpchính tả âm - vần) Cần tăng cường sự linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy:có thể thay đổi, điều chỉnh nội dung giảng dạy cho phù hợp với đặc điểmphương ngữ và trình độ chính tả của từng đối tượng học sinh cụ thể
Trang 251.3.4 Nguyên tắc phối hợp phương pháp tích cực với phương pháp tiêu cực trong dạy học chính tả
Phương pháp tích cực là phương pháp cung cấp cho HS các quy tắc chính
tả, hướng dẫn ho ̣c sinh thực hành, luyê ̣n tâ ̣p nhằm hình thành các kĩ xảo chính tả Phương pháp tiêu cực là phương pháp đưa các trường hợp viết sai chính
tả, hướng dẫn ho ̣c sinh phát hiê ̣n sủa chữa rồi từ đó hướng đến cái đúng , loại bỏ các lỗi chính tả
Lâu nay, trong dạy học tiếng Việt, chúng ta còn quan tâm chưa đầy đủ tới các phương pháp “tiêu cực” Không phải chỉ ở chính tả mới cần thiết phải phối hợp phương pháp tích cực và phương pháp “tiêu cực”, ở các phân môn khác, việc giúp học sinh chữa lỗi để tránh lỗi đọc, viết… cũng giữ vai trò quan trọng Tuy nhiên, trong Chính tả, nguyên tắc này giữ vai trò có phần quan trọng hơn, vì
có tác dụng rất cao trong việc phòng ngừa lỗi Thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy chính tả, giáo viên không chỉ cho học sinh viết nhiều và cung cấp các quy tắc, các mẹo chính tả để các em biết viết đúng, mà còn cần thống kê, phân loại lỗi chính tả học sinh thường mắc, giúp các em biết chữa lỗi, từ đó hạn chế dần các lỗi chính tả trong bài viết của các em
Có thể thấy cả hai phương pháp trên đều có ưu nhươ ̣c điểm riêng nhưng
ưu điểm bên này sẽ khắc phu ̣c được nhược điểm bên kia và ngược la ̣i Do đó, trong da ̣y ho ̣c chính tả cần chú ý phối hợp cả hai phương pháp Như thế viê ̣c da ̣y học sẽ đạt hiệu quả cao và vững chắc hơn
Trang 26TIỂU KẾT
Phân môn Chính tả ở lớp 2 nhằm góp phần hình thành ở HS kỹ năng sử dụng
TV, trong đó đặc biệt chú ý tới kỹ năng viết kết hợp với nghe, cung cấp cho HS kiến thức về chữ viết như cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả…Để giúp HS rèn kỹ năng chính tả một cách có hiệu quả GV cần phải nắm được mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của phân môn Chính tả là giúp HS nắm vững quy tắc chính tả, hình thành kỹ năng chính tả: Viết đúng, viết đẹp, viết nhanh; phải nắm được cơ sở của việc dạy chính tả, cơ sở tâm lý của HS ở lứa tuổi này, nhất là đối với HS dân tộc thiểu số miền núi như ở Trường Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La Điều quan trọng là cần phải giúp HS thực hành thường xuyên và toàn diện để kỹ năng viết của HS được rèn luyện và nâng cao Dạy viết chính tả có vai trò quan trọng ở Tiểu học Tầm quan trọng của phân môn Chính tả đã được làm rõ khi tác giả phân tích nhiệm vụ và các cơ sở khoa học của việc dạy viết chính tả ở Tiểu học Sự phân tích này sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi dạy học Chính tả ở Tiểu học thực chất là dạy cái gì và cần dựa trên những căn cứ nào để tiến hành quá trình dạy học đạt hiệu quả
Trang 27CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học chính tả lớp 2 - Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La
2.1.1 Mục đích khảo sát
Tôi tiến hành khảo sát nhằm:
Thống kê các lỗi chính tả mà HS DTTS thường mắc phải và tiến hành phân loại lỗi, để nắm được thực trạng mắc lỗi chính tả của HS, từ đó tìm ra nguyên nhân mắc lỗi và đề ra được biện pháp khắc phục
2.1.2 Nội dung khảo sát
- Chương trình chính tả lớp 2
- Thực trạng rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số của giáo viên
- Đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số
- Những khó khăn trong việc rèn kĩ năng viết chính tả
- Những lỗi Chính tả học sinh dân tộc hay mắc
Chúng tôi dựa trên chương trình SGK TV lớp 2 để thiết kế phiếu khảo sát điều tra cách sử dụng âm, vần, dấu thanh và cách viết hoa của các em trong trường hợp thích hợp
* Điền vào chỗ trống d/gi/r, ch/tr, ng/ngh, s/x, l/d/tr/ch, ui/uy, iên/iêng, uôn/ uông, ai/ay, ân/âng, ân/âm
* Chọn từ thích hợp cho trước điền vào chỗ trống
* Điền vào chỗ trống và các dấu thanh
* Viết lại cho đúng các từ đã cho
2.1.3 Đối tượng khảo sát
HS DTTS lớp 2 Truờng Tiểu học Quyết Tâm – Sơn La
2.1.4 Phương pháp khảo sát
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp trắc nghiệm
Trang 282.1.5 Thời gian, địa bàn khảo sát
Vì điều kiện còn hạn chế nên chúng tôi tiến hành khảo sát trên địa bàn Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La
Tiến hành trong 2 tháng: Tháng 1 và tháng 2 năm 2014, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra GV và HS ở ba lớp 2A, 2B và 2C Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La và kiểm tra, chấm vở viết của HS
2.2 Kết quả khảo sát
Bảng 1 Nội dung chương trình Chính tả ởlớp 2
- Rèn luyện thói quen sửa lỗi chính tả;
- Rèn luyện trình bày bài chính tả đúng quy định;
- Chính tả phương ngữ
Trang 29
Bảng 2 Cấu trúc bài chính tả
Dung lượng bài viết và thời gian viết dành
- Bài viết có thể là trích đoạn của bài tập đọc
đã học, hoặc được soạn lại từ một bài tập đọc
đã học cho phù hợp với mục tiêu dạy học, hoặc cũng có thể là một bài viết được chọn ở ngoài SGK Tiếng Việt
- Khoảng 50 chữ
- Tốc độ viết: 3 - 4
+ Nhóm bài tập lựa Đây là loại bài tập chính
tả phương ngữ Để thực hiện những bài tập này, học sinh phải sử dụng các thao tác đối chiếu, so sánh lựa chọn
- Khoảng 50 chữ
- Tốc độ viết: 3 - 4 chữ /1 phút
Qua bảng 1 và bảng 2 có thể nhận thấy chương trình tiếng Việt mới, phân môn Chính tả tập trung chủ yếu ở bước luyện viết đúng chữ khó và bước thực hiện các bài tập chính tả âm, vần Nhóm bài tập lựa tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tuỳ đặc điểm phương ngữ của từng đối tượng học sinh, giáo viên chọn bài tập thích hợp để cho học sinh luyện tập, thậm chí, giáo viên có thể soạn bài
Trang 30tập lựa chọn cho học sinh của mình, nếu như các bài tập trong sách giáo khoa không thực sự phù hợp với đặc điểm phương ngữ của đối tượng học sinh cụ thể trong lớp mình
2.2.2 Thực trạng dạy học chính tả lớp 2 - Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La
2.2.2.1 Trình độ đào tạo của GV
Trường Tiểu học Quyết Tâm là một Trường Tiểu học nằm trên địa bàn thành phố Sơn La, có vị trí và giao thông đi lại rất thuận lợi cho công tác GD - ĐT Trường có tổng diện tích mặt bằng 4000m2, năm học 2012-2013 nhà Trường
có tổng số 11 lớp với tổng số 233 HS trong đó dân tộc thái 92 HS, dân tộc Mông
80 HS, dân tộc Mường 40 HS, còn lại là số HS dân tộc khác
Tổng số cán bộ giáo viên: 22 (nam 1), đảng viên 10, trong đó:
Ban giám hiệu: 2
Tổng phụ trách đội:1
GV chuyên: 3
GV đứng lớp: 16
Trình độ đào tạo 100% GVđạt trình độ trên chuẩn
Giáo viên đạt trình độ Đại học: 5
GV đạt trình độ Cao đẳng: 9
GV đạt trình độ trung cấp: 5
Trang 312.2.2.2 Thực trạng rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số của giáo viên
a Về phương pháp rèn kỹ năng chính tả
Bảng 3 Các phương pháp rèn kỹ năng chính tả giáo viên thường sử dụng để rèn
kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số
Số lượng
GV khảo sát
Sử dụng (%)
Không
sử dụng (%)
(25%)
3/4 (75%)
(50%)
2/4 (50%)
(75%)
1/4 (25%)
(25%)
3/4 (75%)
Trang 32b Các nguyên tắc được giáo viên vận dụng để rèn kỹ năng viết chính tả trong dạy học Chính tả
Bảng 4 Các nguyên tắc giáo viên thường sử dụng để rèn kĩ năng viết chính tả
cho học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số
STT Tên nguyên tắc
Số lượng
GV khảo sát
Sử dụng (%)
Không
sử dụng (%)
1 Nguyên tắc phát triển lời nói
(25%)
3/4 (75%)
(75%)
1/4 (25%)
3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học
2/4 (50%)
2/4 (50%)
4 Nguyên tắc phối hợp phương pháp tích
3/4 (75%)
1/4 (25%)
Trang 33c Những khó khăn trong việc rèn kĩ năng viết chính tả
Bảng 5: Những khó khăn của việc việc thực hiện các nguyên tắc và phương
pháp rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số
Số lượng
GV khảo sát
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
1 Khó thực hiện nguyên tắc phát triển
2/4 (50%)
2/4 (50%)
2 Khó thực hiện nguyên tắc phát triển
3/4 (75%)
1/4 (25%)
3 Khó thực hiện thực hiện phương
3/4 (75%)
1/4 (25%)
4 Khó thực hiện phương pháp rèn
2/4 (50%)
2/4 (50%)
Hòa cùng với sự phát triển, đổi mới đất nước về mọi mặt, ngành GD - ĐT cũng có những đổi mới nhất định Phương pháp dạy học là một trong những nội dung quan trọng nằm trong chương trình đổi mới của ngành GD - ĐT
Nói chung, đa số GV dựa vào sự hướng dẫn của sách GV là chính, chưa vâ ̣n dụng triệt để và sáng tạo các nguyên tắc và phương pháp dạy học chính tả trong giờ học Tôi cho rằng quy trình dạy trong sách GV là hợp lí, song khi vận dụng GV phải có sự linh hoạt, sáng tạo, nếu không lớp học sẽ dễ rơi vào đơn điệu, không sôi nổi Tôi đã trực tiếp dự một số tiết Chính tả ở Trường và cảm thấy tiết học diễn ra khá đơn điệu, nhiều em thực hiện sai so với yêu cầu Như vậy rõ ràng ở đây vấn đề phương pháp dạy học sao cho phù hợp nhất đóng vai trò hết sức quan trọng
Thực tế cho thấy một bộ phận GV vẫn duy trì và rập khuôn theo cách dạy học truyền thống Đó là sử dụng hình thức dạy học lấy GV làm trung tâm, GV là người tổ chức toàn bộ các hoạt động trên lớp của HS, toàn bộ mạch kiến thức hầu như được GV giới thiệu, xem xét, đánh giá và kết luận
Trang 34Với hình thức dạy học này GV giữ vai trò chủ đạo và trung tâm, còn HS thì thụ động tiếp thu kiến thức của bài học, không tự mình tìm tòi, khám phá ra cái mới Do đó, việc truyền thụ kiến thức còn chƣa đƣợc thực sự quan tâm đến đối tƣợng HS, và việc lĩnh hội kiến thức của HS bị phụ thuộc nặng nề vào bài giảng của GV, HS không chịu khó suy nghĩ, ỷ lại, thụ động Với cách dạy này HS phải tuân theo khuôn mẫu đã vạch ra trong bài giảng của GV, ít có cơ hội bộc lộ năng lực của bản thân Đặc biệt đối với các em HS DTTS khi mà trình độ nhận thức của các em còn chƣa cao, khả năng tƣ duy kém, việc tiếp thu kiến thức một cách thụ động nhƣ vậy sẽ làm cho các em khó nhớ kiến thức hoặc quên nhanh Do vậy, hiệu quả mà giờ học mang lại của môn học nói chung và phân môn Chính
tả nói riêng là rất thấp
2.2.3 Đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số với vệc rèn kỹ năng chính tả
Bảng 6 Nhận xét của giáo viên về đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số với việc rèn kĩ năng viết chính tả
GV khảo sát
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
(75%)
1/4 (25%)
(50%)
2/4 (50%)
(50%)
2/4 (50%)
(25%)
3/4 (70%)
Trang 35
Bảng 7 Đặc điểm vốn từ của học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số
khảo sát
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
1 Số lượng từ tiếng Việt ít
(75%)
1/4 (25%)
2 Ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ
3/4 (75%)
1/4 (25%)
3 Sử dụng từ tiếng Việt
2/4 (50%)
2/4 (50%)
Bảng 8 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số
GV khảo sát
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
(40%)
6/10 (60%)
(70%)
3/10 (30%)
(50%)
5/10 (50%)
(60%)
4/10 (40%)
HS trên địa bàn Thành Phố Sơn La đa số là HS DTTS, trong đó HS dân tộc Thái chiếm đa số Do các em sinh ra và lớn lên trong các gia đình DTTS nên trước khi đi học các em mới chỉ nắm vững TMĐ và phát triển nhận thức bằng TMĐ chứ không phải bằng TV Vốn TV của các em rất ít hoặc không có gì, nếu
có một chút vốn TV lại chưa chuẩn xác trong cách phát âm và sử dụng Khi đến
Trang 36Trường các em mới bắt đầu học TV và các em phải học TV trên cơ sở kinh nghiệm của TMĐ
Khi học TV, HS người Kinh có nhiều cơ hội giao tiếp với người lớn ở mọi lúc mọi nơi, trong và ngoài nhà Trường Những lĩnh vực được tiếp cận khi đối thoại rất đa dạng và phong phú HSDT hầu như không thể có được số lượng và mật độ các cuộc giao tiếp bằng TV nhiều như HS người Kinh Ở Trường học, HSDT chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy, cô giáo những người nắm vững TV Do số
HS trong lớp thì đông mà lại chỉ có một GV nên cơ hội giao tiếp bằng TV giữa
GV và HS rất có hạn chế Nội dung các vấn đề được đề cập trong các cuộc giao tiếp chủ yếu chỉ liên quan tới bài học, trong khi các vấn đề của đời sống ngôn ngữ lại luôn sôi động và đa dạng
Một số HS chưa chịu khó học tập, chữ viết không đúng cỡ chữ kiểu chữ Một số em chưa nắm được, chưa nhớ được quy tắc chính tả cơ bản
Theo một xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng TMĐ được HSDT đưa vào trong quá trình học TV Hệ quả là, những yếu tố giống nhau giữa TV và TMĐ tạo điều kiện thuận lợi, còn những yếu tố khác nhau lại cản trở, gây khó khăn cho HSDT khi học TV, đó cũng là nguyên nhân khiến HSDT mắc các lỗi
sử dụng TV như lỗi phát âm, lỗi dùng từ, lỗi sử dụng câu…
2.2.4.Thực trạng học chính tả của học sinh lớp 2 - Trường Tiểu học Quyết Tâm
Không đồng ý (%)
(39%)
55/90 (61%)
(67%)
30/90 (33%)
Trang 37HS trên địa bàn Thành Phố Sơn La đa số là HS DTTS, trong đó HS dân tộc Thái chiếm đa số Do các em sinh ra và lớn lên trong các gia đình DTTS nên trước khi đi học các em mới chỉ nắm vững TMĐ và phát triển nhận thức bằng TMĐ chứ không phải bằng TV Vốn TV của các em rất ít hoặc không có gì, nếu
có một chút vốn TV lại chưa chuẩn xác trong cách phát âm và sử dụng Khi đến Trường các em mới bắt đầu học TV và các em phải học TV trên cơ sở kinh nghiệm của TMĐ, do đó các em không có hứng thú ho ̣c tiếng Viê ̣t dẫn đến viết sai lỗi chính tả
Khi học TV, HS người Kinh có nhiều cơ hội giao tiếp với người lớn ở mọi lúc mọi nơi, trong và ngoài nhà Trường Những lĩnh vực được tiếp cận khi đối thoại rất đa dạng và phong phú HSDT hầu như không thể có được số lượng và mật độ các cuộc giao tiếp bằng TV nhiều như HS người Kinh Ở Trường học, HSDT chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy, cô giáo những người nắm vững TV Do số
HS trong lớp thì đông mà lại chỉ có một GV nên cơ hội giao tiếp bằng TV giữa
GV và HS rất có hạn chế Nội dung các vấn đề được đề cập trong các cuộc giao tiếp chủ yếu chỉ liên quan tới bài học, trong khi các vấn đề của đời sống ngôn ngữ lại luôn sôi động và đa dạng
Theo một xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng TMĐ được HSDT đưa vào trong quá trình học TV Hệ quả là, những yếu tố giống nhau giữa TV và TMĐ tạo điều kiện thuận lợi, còn những yếu tố khác nhau lại cản trở, gây khó khăn cho HSDT khi học TV, đó cũng là nguyên nhân khiến HSDT mắc các lỗi
sử dụng TV như lỗi phát âm, lỗi dùng từ, lỗi sử dụng câu…
* HS coi chính tả như một môn học bắt buộc phải học
Như chúng ta đều biết rằng, môn TV hình thành cho HS bốn KN: Nghe, nói, đọc, viết Mà bốn KN này lại có quan hệ mật thiết với nhau Nói có chuẩn thì người nghe mới hiểu đúng và mới viết đúng được, viết đúng mới đọc được chuẩn, đọc được hay Cho nên hình thành KN viết đúng có vai trò rất quan trọng
Viết sai chính tả ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen và ảnh hưởng không nhỏ đến sau này Chính tả không chỉ là công cụ giúp HS chiếm lĩnh văn hóa, trau dồi kiến thức, tư duy học tập mà nó còn tạo điều kiện ban đầu
Trang 38trong hành trang ngôn ngữ của các em Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phân môn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà Trường Thế nhưng trên thực tế lại không như vậy, không riêng gì với HS DTTS của Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La mà hầu hết các em HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Chính tả và chỉ nhìn nhận môn học này là một môn học
“phụ”, hỗ trợ cho KN sử dụng TV Điều đó được thể hiện cụ thể: Theo thống kê phiếu điều tra khảo sát HS của Trường Tiểu học Quyết Tâm - Sơn La mà tôi tiến hành nghiên cứu cho thấy: Có tới 67% HS là không thích học phân môn Chính tả, 39% HS thích và rất thích học môn này Như vậy, chúng ta nhận thấy một thực tế của HS ở Trường Tiểu học Quyết Tâm các em chỉ quan tâm đến chính tả ở góc độ cho biết chữ và là một môn học bắt buộc phải học trong nhà Trường, chứ chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học chính tả, chưa thực sự quan tâm đến các lỗi mà mình mắc phải lúc viết, sử dụng chính tả sao cho đúng chuẩn
2.2.4.2 Những khó khăn trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả của học sinh lớp 2 dân tộc thiểu số
Bảng 10 Khả năng nắm bắt quy tắc chính tả của học sinh
quy tắc chính tả
Số lượng HS khảo sát
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
38/90 (42%)
60/90 (58%)
65/90 (72%)
25/90 (28%)
Trang 39*Học quy tắc chính tả tiếng Việt là một khó khăn đối với các em HS dân tộc thiểu số
Đối với các em HS là dân tộc kinh ở các lớp đầu cấp việc học quy tắc chính
tả đã là một khó khăn Do vậy việc hiểu và nhận biết các quy tắc chính tả chữ viết càng trở nên khó khăn hơn đối với các em HS DTTS
HS viết sai chính tả âm chính có thể là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối với các âm trong hầu hết các vần trên Cũng có thể là
do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê, yê,
ia, ya; ươ, ưa, uô, ua (bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua - muôn)…
Do chưa nắm vững quy tắc chính tả cũng như chưa nhớ mặt chữ (vì trong lớp còn một vài em đọc bài chậm) nên dễ dẫn đến việc ghép âm một số tiếng tùy tiện hoặc do không nắm vững luật chính tả
Do cách phát âm chưa chuẩn và do có tính cẩu thả, nghe không chính xác vẫn cứ viết bừa không chú ý đến nghĩa từ vựng hay cấu trúc của câu Bên cạnh
đó yếu tố tâm lí ảnh hưởng không nhỏ, biết mình viết sai cũng không dám hỏi giáo viên
Quy tắc chính tả TV trong từng trường hợp thì ở những mức độ khó, dễ khác nhau Cũng có nhiều trường hợp chính tả không thể sử dụng quy tắc hay quy ước nào để có thể phân biệt chúng với những từ khác Do đó, gây ra nhiều khó khăn trong việc sử dụng chính tả, nhất là đối với các em HS DTTS, trình độ nhận thức của các em còn hạn chế, lại thêm sự phức tạp của quy tắc chính tả TV, nên việc tiếp nhận và lĩnh hội các quy tắc chính tả TV Nếu không hiểu, không nắm được bản chất của những kết hợp có quy tắc thì những trường hợp chính tả mang tính quy ước hay không mang tính quy ước thì các em cũng không thể nắm được Bởi vậy, việc viết sai từ, sử dụng từ không đúng với chuẩn chính tả TV xảy ra ở các
em là một điều không thể tránh khỏi