Nội dung cơ bản của đề tài là hướng dẫn học sinh sử dụng phép phân tích đi lên trong việc giải quyết các bài toán hình học, đặc biệt là hình học không gian.. Sau khi tìm hiểu nguyên nhân
Trang 1Phần mở đầu
I Bối cảnh của đề tài
Đề tài được thực hiện trong năm học 2011 2012 tại trường THPT Trần Trường Sinh, trong đề tài bản thân muốn trao dồi cùng các đồng nghiệp trong việc nghiên cứu chuyên môn Nội dung cơ bản của đề tài là hướng dẫn học sinh sử dụng phép phân tích đi lên trong việc giải quyết các bài toán hình học, đặc biệt là hình học không gian
II Lý do chọn đề tài
Trong các năm học vừa qua, tỉ lệ học sinh yếu kém ở bộ môn toán còn cao Cụ thể năm học 20102011, số học sinh yếu kém là 291/730 học sinh, chiểm tỉ lệ 39,9% -một tỉ lệ khá cao và qua khảo sát, nhiều học sinh không giải được các bài toán hình học mặc dù các em đã học thuộc nhiều công thức nhưng vẫn không áp dụng được Sau khi tìm hiểu nguyên nhân, bản thân đã thấy được sở dĩ học sinh không làm được bởi các em chưa phân tích được đề bài, chưa tìm được một phép suy luận logic để đi đến lời giải của bài toán nên các em thường bị mất phương hướng trong quá trình giải quyết bài toán dẫn đến các em chưa sử dụng thành thạo các phương pháp giải các dạng bài toán hình học thường gặp
III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giúp học sinh giải quyết được mặt hạn chế trong việc phân tích bài toán và hình thành lời giải các bài toán hình học, đặc biệt là hình học không gian lớp 11, 12 và phương pháp tọa độ trong không gian ở lớp 12
Đối tượng nghiên cứu: Qua các bài kiểm tra hình học của học sinh lớp 11, 12; kiến thức môn hình học lớp 11, 12 và phương pháp dạy học môn Toán sở trường trung học phổ thông
IV Mục đích của đề tài:
Qua việc nghiên cứu và viết đề tài này, bản thân muốn trao dồi thêm về nghiệp
vụ sư phạm và phát triển một phương pháp dạy học nhằm đạt hiệu quả hơn trong công tác giảng dạy đặc biệt với đa số học sinh trung bình, yếu kém nhằm giúp các em không còn “ngán ngại” khi giải quyết các bài tập hình học, đồng thời giúp các em học
Trang 2sinh khá giỏi vận dụng hiệu quả phương pháp này để hoàn thiện kỹ năng giải toán hình học và tìm tòi kiến thức mới Ngoài ra, qua đề tài bản thân mong muốn trao đổi thêm cùng đồng nghiệp những kinh nghiệm và phương pháp dạy học hay để áp dụng trong công việc giảng dạy của bản thân
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm này đề cập đến một phương pháp dạy học hiệu quả đối với môn toán đặc biệt là với các bài toán hình học, những bài toán mang tính tư duy cao
Sáng kiến này đặt ra một vấn đề mới đối với công tác phụ đạo học sinh yếu kém
và bồi dưỡng học sinh khá giỏi là hoàn chỉnh một phương pháp dạy học đề cao tính
tự học, chủ động tìm tòi kiến thức và sáng tạo của học sinh
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
Phương pháp nghiên cứu sáng kiến này dựa trên cơ sở:
Các kiến thức về lý luận dạy học toán học;
Các kiến thức bộ môn hình học ở chương trình trung học phổ thông;
Các phương pháp giảng dạy bộ môn toán ở trường trung học phổ thông: trong các phương pháp đã thực hiện trong chương trình trung học phổ thông, giải bài tập hình học bằng phương pháp phân tích đi lên là phương pháp giúp học sinh dễ hiểu, có
kỹ thuật giải toán hình hệ thống, chặt chẽ và hiệu quả nhất
Vậy thế nào là phương pháp phân tích đi lên? Có thể khái niệm rằng, đây là
phương pháp dùng lập luận để đi từ vấn đề cần chứng minh dẫn tới vấn đề đã cho
trong một bài toán Cách lập luận đó không có gì xa lạ mà chính là các định nghĩa, định lý, các tính chất, các dấu hiệu nhận biết đã được dạy và học Nói cách khác, đây
là phương pháp dùng lập luận phân tích theo kiểu “thăng tiến”, biết cái này là do đã biết cái kia, biết vấn đề A từ cơ sở của vấn đề B… Hiểu đơn giản hơn, trong quá trình thực hiện phương pháp này, học sinh phải trả lời cho được các câu hỏi theo dạng: “để chứng minh (…) ta cần chứng minh (cần có) gì? Như vậy, muốn chứng minh A không có nghĩa là ta đi chứng minh trực tiếp A mà thông qua việc chứng minh B thì
ta đã chứng minh được A một cách gián tiếp theo kiểu đi lên
Nhằm hỗ trợ tốt cho phương pháp này, trong quá trình hướng dẫn học sinh, giáo viên cần hướng dẫn bằng hệ thống câu hỏi giúp học sinh phân tích đề bài theo hướng
đi từ kết luận đến giả thiết của bài toán Sau đó hướng dẫn học sinh thiết lập sơ đồ giải bài toán dựa trên các câu trả lời Lưu ý: Khi phân tích thì phân tích từ kết luận đến giả thuyết nhưng khi trình bày lời giải bài toán thì đi theo chiều ngược lại dựa trên sơ đồ phân tích
II Thực trạng của vấn đề
Sáng kiến này được hình thành xuất phát từ thực trạng phần lớn học sinh trung học phổ thông rất ngán ngại khi học bộ môn Toán và các em lại rất “sợ” môn hình học dẫn đến các em rất yếu về kỹ năng giải toán hình học Qua tìm hiểu, tham khảo
Trang 4các ý kiến phân tích thực trạng trên của những nhà nghiên cứu và tình hình thực tế tại đơn vị, tôi nhận thấy rằng: học sinh “sợ” môn hình học cũng có lý do của nó, bởi đây
là môn học đòi hỏi độ chính xác cao, khả năng lập luận tốt Ngoài ra, môn hình học còn đòi hỏi học sinh phải có trí tưởng tượng, óc suy xét và tư duy logic Trong khi đó, một số giáo viên hiện vẫn đi theo phương pháp giảng dạy truyền thống, chưa có sự tìm tòi sáng tạo ra những cách dạy mới hay cải tiến những cách dạy truyền thống để phát huy tính tích cực và khả năng sáng tạo, tư duy của học sinh Sáng kiến này đề cập đến một vấn đề là giúp học sinh vận dụng thành thạo phép phân tích đi lên trong việc giải các bài toán hình học, từ đó rèn luyện kỹ năng suy luận và giải toán cho các em
III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1 Đặt vấn đề
Khi tiếp cận với một bài toán hình học, đa số học sinh đều tóm tắt được bài toán, tức là các em đều nêu được giả thiết và kết luận của bài toán Vấn đề còn lại là
từ giả thiết và kết luận của bài toán làm thế nào để gải được và giải đúng bài toán đã cho Hầu hết các bài toán hình học ở chương trình trung học phổ thông giả thiết và kết luận của chúng vốn “gần” nhau, tức là giữa chúng có một mối quan hệ gần gũi với nhau, mối quan hệ đó thể hiện qua các định nghĩa, định lí, tính chất, mà các em
đã được học Nhiệm vụ của học sinh là tìm cách bắc những nhịp cầu logic làm cho mối quan hệ đó rõ ràng hơn, tường minh hơn và thông qua các bước trình bày các mối quan hệ đó thì bài toán sẽ được giải quyết tức là các em đã giải xong bài toán Qua các năm giảng dạy, tôi thấy có 2 vấn đề sau: Thứ nhất là để khơi dậy sự tư duy
và độc lập suy nghĩ của học sinh thì một số bài toán giả thiết và kết luận của bài toán được làm cho chúng “xa” nhau hơn tức là có nhiều mối quan hệ giữa chúng hơn; thứ hai là đối với hầu hết các em học sinh, khả năng suy luận logic còn rất yếu Hai vấn
đề trên đã gây rất nhiều khó khăn cho các em học sinh khi giải quyết các bài toán hình học, mặc dù các em đều nêu được giả thiết và kết luận của bài toán nhưng vẫn bị
“lạc đường” trong việc giải bài toán Lúc này, phương pháp phân tích đi lên xem như
là “người chỉ đường” hiệu quả cho các em gải quyết bài toán
2 Nội dung phương pháp và giải quyết vấn đề
Trang 5Dưới đây là một số bài toán điển hình sử dụng phương pháp phân tích đi lên để giải quyết các bài toán hình học không gian lớp 11 và lớp 12
Bài toán 1: Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình bình hành Gọi M, N
lần lượt là trung điểm của các cạnh SD và SC Chứng minh rằng MN song song với mặt phẳng (ABCD)
Hình vẼ:
N M
C
D
S
Phân tích: Đây là bài toán chứng minh đường thẳng song song với mặt phẳng và
là bài toán dễ Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chứng minh bằng qui nạp, qua cách giải bằng qui nạp thì có thể một số học sinh sẽ không hiểu cơ sở nào mà giáo viên chứng minh được như thế Từ bài toán dễ này, phương pháp phân tích đi lên được vận dụng như sau:
Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện phương pháp này bằng một số câu hỏi và thiết lập sơ đồ:
1 Để chứng minh MN // (ABCD), ta
chứng minh như thế nào?
Trả lời: Chứng minh MN song song với
một đường thẳng thuộc mặt phẳng ABCD
(định nghĩa đường thẳng song song với
mặt phẳng) Ta chọn đường thẳng DC.
2 MN có song song với DC không?
Trả lời: MN // DC.
Tóm tắt bài toán:
Giả thiết
S.ABCD có đáy là hình bình
hành.
M, N là trung điểm SD, SC
Kết luận MN // (ABCD)
Trang 63 Giải thích vì sao MN // DC?
Trả lời: MN là đường trung bình của tam
giác SDC.
Từ các câu hỏi trên, ta thiết lập sơ đồ
phân tích đi lên như cột bên
Qua hệ thống câu hỏi và sơ đồ trên, lời giải của bài toán được trình bày như sau:
Lời giải
Xét tam giác SDC, ta có:
M là trung điểm SD, N là trung điểm SC
MN là đường trung bình của tam giác SDC
MN // CD
Mà CD (ABCD)
MN // (ABCD) (đpcm)
Sau đây, ta sẽ xét bài toán khó hơn để thấy được hiệu quả của phương pháp này
Bài toán 2: Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình vuông cạnh;
SA ABCD Gọi M, N lần lượt là hình chiếu vuông góc của điểm A trên các đường thẳng SB và SD Chứng minh: SC (AMN)
Hình vẽ:
MN // (ABCD)
MN // DC
MN là đường trung bình của tam giác SDC
M là trung điểm SD
N là trung điểm SC
Trang 7M
D
A S
Phân tích: Đây là bài toán chứng minh đường thẳng vuông góc với mặt phẳng,
học sinh sẽ vận dụng định nghĩa và định lí của bài “đường thẳng vuông góc với mặt phẳng” để giải quyết bài toán trên Sau khi tóm tắt bài toán, chỉ với 2 dữ kiện
,
AM SB AN SC thì nhiều học sinh sẽ bị mất phương hướng trong việc tìm ra lời giải của bài toán trên vì so với bài toán 1 thì bài toán này mức độ phức tạp cao hơn Sau đây là hệ thống câu hỏi và sơ đồ phân tích đi lên
1 Để chứng minh SC (AMN), ta
chứng minh như thế nào?
Trả lời: Chứng minh SC vuông góc với
hai đường thẳng cắt nhau thuộc mặt
phẳng (AMN) (định lí về đường thẳng
vuông góc với mặt phẳng) Ta chọn hai
đường thẳng AM và AN.
2 Làm thế nào để chứng minh SCAM
?
Trả lời: Ta chứng minh AM vuông góc
với mặt phẳng chứa SC Ta chọn mặt
phẳng (SBC).
3 Làm thế nào để chứng minh
( )
AM SBC ?
Tóm tắt bài toán
Giả thiết
Hình chóp S.ABCD có đáy là hình vuông SA(ABCD)
,
AM SB AN SC
Kết luận SC (AMN)
SC AM SC AN
( )
AM SB gt
AM BC
( )
BC AB gt
BC AM
BC SA do SA ABCD
Chứng minh tương
tự như bên
Trang 8Trả lời: Ta chứng minh
,
AM SB AM BC
4 Làm thế nào để chứng minh
?
AM BC
Trả lời: Ta chứng minh BC(SAB) hay
,
BC SA BC AB
Tương tự, lặp lại câu hỏi 2, 3, 4 ta sẽ
chứng minh được SC AN
Từ sơ đồ trên, ta có lời giải bài toán 2 như sau:
Lời giải
Ta có:
SA ABCD SA BC
Mặt khác, ta có BC AB (do ABCD là hình vuông)
(1)
BC SAB
BC AM
Ta lại có AM SB ( ) (2)gt
Từ (1) và (2) AM (SBC) AM SC
Chứng minh tương tự, ta được AN SC
Từ đó suy ra SC (AMN) (đpcm)
Bình luận: Ở câu hỏi 2, học sinh sẽ nhận thấy rằng không thể chứng minh
SC AM trực tiếp được nên sẽ chứng minh gián tiếp SC AM thông qua chứng minh AM (SBC) Đây là câu hỏi kích thích sự tư duy của học sinh Cứ theo lối ấy, học sinh sẽ trả lời được câu hỏi 4
Qua bài toán 2, ta nhận thấy rằng khi sử dụng phương pháp này chính là giúp học sinh suy luận và rèn tư duy suy luận qua phân tích đi lên Giáo viên thường hướng dẫn học sinh đi từ kết luận để suy diễn sao cho điểm ban đầu là kết luận và điểm cuối cũng là kết luận, các bước trung gian phải sử dụng khai thác triệt để các dữ kiện mà
Trang 9đầu bài đã cho Trong quá trình giải các bài tập mẫu, giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi
để giúp học sinh tư duy, vì vậy khi gặp một bài toán hình học, học sinh cũng sẽ tự đặt
ra cho mình những câu hỏi và từ những câu hỏi đó, các em sẽ thiết lập được sư dồ phân tích
Bài toán 3: (Bài tập 17 sách giáo khoa hình học 11 nâng cao trang 103) Bài
tập về đường thẳng vuông góc với mặt phẳng
Cho hình tứ diện OABC có ba cạnh OA, OB, OC đôi một vuông góc Gọi H là hình chiếu vuông góc của điểm O lên mặt phẳng (ABC) Chứng minh H là trực tâm của tam giác ABC.
Phân tích: Đây cũng là dạng bài tập chứng minh đường thẳng vuông góc với
mặt phẳng, tuy nhiên đối với bài tập này, mức độ phức tập hơn so với bài tập 2 vì kiến thức vận dụng rộng hơn so với bài tập 2 Trên thực tế, khi cho học sinh lớp 11A1 giải bài tập này, hơn hai phần ba học sinh không tìm được lời giải
Sau đây là hệ thống câu hỏi và sơ đồ phân tích đi lên
Kẻ OH (ABC)
Gọi M AH BC ; N BH AC
1 Để chứng minh H là trực tâm của tam
giác ABC, ta cần chứng minh điều gì?
Trả lời: Chứng minh AM, BN lần lượt là
hai đường cao của tam giác ABC Tức là
ta chứng minh AM BC BN; AC
Tóm tắt bài toán
Giả thiết
Tứ diện OABC có OA, OB, OC đôi một vuông góc H là hình chiếu vuông góc của O lên mặt phẳng (ABC)
Kết luận H là trực tâm tam giác ABC
Trang 10Việc chứng minh AM BC BN; AC là
tương tự nhau, nên ta chọn chứng minh
.
AM BC
2 Để chứng minh AM BC ta cần
chứng minh như thế nào?
Trả lời: Ta chứng minh BC (OAH)
Mặt phẳng (OAH) chứa AM.
3 Để chứng minh BC (OAH), ta chứng
minh thế nào?
Trả lời: Ta chứng minh BC OA
BC OH
4 Để chứng minh BC OA, ta chứng
minh thế nào?
Trả lời: Ta có OA OB OA (OBC)
OA OC
5 Để chứng minh BC OH, ta chứng
minh thế nào?
Trả lời: OH (ABC) ( )gt
Lời giải
Ta có: OH (ABC) ( )gt OH BC (1)
Ta có OA OB (gt) OA (OBC) OA BC (2)
OA OC
Từ (1) và (2), suy ra BC (OAH) mà AM (OAH) Suy ra AM BC
Chứng minh tương tự, ta được BN AC
Vậy H là trực tâm của tam giác ABC (đpcm)
Trong phạm vi giới hạn của sáng kiến này nên tôi chỉ đưa ra 03 ví dụ tượng trưng cho phương pháp này Trên thực tế có rất nhiều dạng bài tập có thể áp dụng phương pháp này hiệu quả Lúc đầu khi lập sơ đồ, nhiều học sinh còn lúng túng nhưng qua một thời gian ngắn rèn luyện kỹ năng, hầu hết học sinh đều phân tích được
H là trực tâm tam giác ABC
Trang 11bài toán và lập được sơ đồ phân tích và giải quyết được bài toán, đặc biệt là các bài toán chứng minh
Một điều lưu ý là khi phân tích thì phân tích từ kết luận phân tích đi lên, nhưng khi trình bài lời giải của bài toán thì đi từ giải thuyết đi xuống theo sơ đồ đã lập
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến này có thể triển khai ứng dụng trong chương trình giảng dạy môn toán trung học phổ thông và các học sinh ôn tập thi tốt nghiệp và đại học Để đạt được hiệu quả cao trong công việc thì giáo viên cần phải có tinh thần nghiên cứu và sáng tạo, học sinh cần phải chuẩn bị bài nghiêm túc và có tinh thần say mê nghiên cứu, say mê học toán, say mê tìm tòi có như vậy giáo viên mới phát hiện ra các vấn
đề mới trong ứng dụng và học sinh ngày càng yêu thích môn toán hơn vì chỉ khi nào các em giải quyết được các bài toán giáo viên đưa ra khi đó các em sẽ yêu thích bộ môn toán hơn
Trang 12C PHẦN KẾT LUẬN
I Những bài học kinh nghiệm
Từ kinh nghiệm giảng dạy thực tế, tôi thấy phương pháp phân tích đi lên luôn có tác dụng gợi mở, tác động mạnh đến tư duy của học sinh (bao gồm tư duy phân tích
và tư duy tổng hợp) Từ đó giúp các em hệ thống và nhớ được các kiến thức liên quan
đã học trước đó Trong quá trình giải bài tập, các em vừa đi tìm đáp số vừa có dịp
“hồi tưởng” lại những kiến thức mình đã học mà có khi không nhớ hết Khi ôn tập, giáo viên nên đưa ra các dạng sơ đồ như: sơ đồ định nghĩa và sơ đồ dấu hiệu Do đó, khi dựa vào sơ đồ phân tích, học sinh dễ hiểu bài hơn và trình bày bài giải chặt chẽ hơn và tránh bị “lạc đường”
II Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến này nhằm trình bày sâu hơn, kỹ hơn về một phương pháp dạy học hiệu quả, đồng thời chia sẻ với quí đồng nghiệp và các em học sinh một số kinh nghiệm mà bản thân đã tích lũy khoảng trong thời gian giảng dạy bộ môn toán Các nội dung trong sáng kiến này sẽ khai thác hiệu quả phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển tư duy của học sinh trong đó nổi bật là tư duy logic, tư duy phân tích và tư duy tổng hợp Nếu thựuc hiện thành thạo phương pháp này sẽ giúp học sinh cải thiện đáng kể trong việc hình thành kỹ năng giải toán hình học của mình
III Khả năng ứng dụng, triển khai
Đề tài được ứng dụng trong các lớp của trường THPT phổ thông Trần Trường Sinh và có thể được áp dụng được tại các trường bạn Đề tài có thể được triển khai đến các em học sinh xem như là một tài liệu nghiên cứu để bổ sung thêm phương pháp giải toán cho các em
IV Những đề xuất, kiến nghị
Để học sinh có thể làm quen và rèn kỹ năng giải toán bằng phương pháp phân tích
đi lên, giáo viên cần đưa ra những yêu cầu bắt buộc trong khi thực hiện:
- Hình vẽ luôn chính xác, đầy đủ các ký hiệu trên đó Học sinh phải trang bị các dụng cụ học tập cần thiết như thước kẻ, com-pa, thước đo độ, bút chì, máy tính, …