1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)

122 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Đề ra các biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động dạy - học một số kiến thức của chương “ Động lực học vật rắn” vật lí 12 – Nâng cao theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học t

Trang 1

-   -

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

PHÁT HUY HỨNG THÚ VÀ NĂNG LỰC TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT KHI DẠY HỌC

MỘT SỐ KIẾN THỨC CỦA CHƯƠNG

“ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN”

(VẬT LÝ 12 – NÂNG CAO)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-   -

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

PHÁT HUY HỨNG THÚ VÀ NĂNG LỰC TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT KHI DẠY HỌC

MỘT SỐ KIẾN THỨC CỦA CHƯƠNG

“ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN”

(VẬT LÝ 12 – NÂNG CAO)

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Vật lí

Mã số : 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Khải

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn:

Thầy giáo PGS TS Nguyễn Văn Khải đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ trong

suốt thời gian thực hiện đề tài

Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học, khoa Vật lí, thư viện trường Đại học Sư phạm đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Các trường: THPT Hòn Gai, THPT Bãi Cháy, THPT Văn Lang và các đồng nghiệp, các em học sinh đã tận tình giúp đỡ trong quá trình tìm hiểu thực tế và kiểm nghiệm đề tài

Toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ và động viên!

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Mục lục i

Danh mục các chữ viết tắt iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY HỨNG THÚ VÀ NĂNG LỰC TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 4

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Những vấn đề đổi mới trong giáo dục phổ thông 4

1.1.2 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở THPT 5

1.1.3 Những nghiên cứu về việc phát huy hứng thú, năng lực tự lực học tập của học sinh trong dạy học vật lí .7

1.2 Vấn đề phát huy hứng thú học tập của học sinh 8

1.2.1 Hứng thú và những biểu hiện của hứng thú .8

1.2.1.1 Khái niệm hứng thú 8

1.2.1.2 C ấu trúc của hứng thú 10

1.2.1.3 Vai trò và các biểu hiện của hứng thú trong học tập 10

1.2.2 Các biện pháp phát triển hứng thú trong học tập 11

1.3 Vấn đề phát huy năng lực tự lực học tập của học sinh 13

1.3.1 Khái niệm về năng lực tự lực học tập 13

1.3.2 Cấu trúc của năng lực tự lực học tập 13

1.3.3 Vai trò và biểu hiện của năng lực tự lực học tập 14

1.3.4 Các biện pháp phát huy năng lực tự lực học tập 14

1.3.4.1 Những điều kiện cần thiết để phát huy năng lực tự lực học tập của học sinh 14

Trang 5

1.3.4.2 Những biện pháp cụ thể phát huy năng lực tự lực học tập cho học

sinh 16

1.4 Nghiên cứu thực trạng dạy học một số kiến thức chương “ động lực học vật rắn ” ở trường thpt 19

1.4.1 Mục đích 19

1.4.2 Phương pháp 19

1.4.3 Kết quả điều tra 19

1.4.3.1 Về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 19

1.4.3.2 Tình hình dạy của giáo viên 20

1.4.3 Tình hình học tập của học sinh 21

1.4.4 Những nguyên nhân cơ bản và biện pháp khắc phục 23

1.5 Xây dựng tiến trình dạy học theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của hs 26

1.5.1 Sử dụng phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học trong dạy học Vật lí 26

1.5.1.1 Phương pháp dạy học (PPDH) 26

1.5.1.2 Các phương pháp dạy học tích cực 26

1.5.1.3 Các phương tiện dạy học 30

1.5.1.4 Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học trong dạy học Vật lí theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh 32

1.5.2 Lựa chọn và sử dụng một số bài tập trong các giờ học lí thuyết 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

Chương 2 XÂY DỰNG TIẾN TRÍNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC VẬT RẮN” THEO HƯỚNG PHÁT HUY HỨNG THÚ VÀ NĂNG LỰC TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 36

2.1 Đặc điểm của chương động lực học vật rắn 36

2.1.1.Vị trí, vai trò của chương 36

2.1.2 Cấu trúc nội dung của chương Động lực học vật rắn 36

Trang 6

2.1.3 Mục tiêu cần đạt được khi dạy học chương 37

2.2 Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học vật rắn” 38

2.2.1 Ý tưởng sư phạm xây dựng tiến trình dạy học 38

2.2.1.1 Ý tưởng sư phạm 38

2.2.2 Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học vật rắn” (vật lí 12 – nâng cao) 42

1 Hoạt động 1: Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh 44

1 Hoạt động 1: Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm (tnsp) 84

3.2 Nhiệm vụ của TNSP 84

3.3 Đối tượng và cơ sở TNSP 84

3.4 Phương pháp TNSP 85

3.5 Phương pháp đánh giá kết quả TNSP 85

3.5.1 Về mặt định tính 86

3.5.2 Về mặt định lượng 86

3.7 Kết quả và xử lí kết quả TNSP 88

3.7.1 Các kết quả về mặt định tính của việc phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh 88

3.7.2 Kết quả định lượng (kết quả của các lần kiểm tra) 89

3.3.2.3 Kết quả bài kiểm tra lần 3 93

3.4 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI, thế kỷ của tri thức khoa học và công nghệ cao Điều đó đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện Nghị quyết ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo ra những con người có đủ phẩm chất, năng lực

để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại, có năng lực phát huy giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi”

Để thực hiện được mục tiêu giáo dục nói trên, vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và tăng cường trang thiết bị dạy học Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII lần hai nhấn mạnh: “Đổi mới phương pháp giáo dục và đạo tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ” Đây cũng là một trong những yêu cầu nhằm phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay

Luật giáo dục 2005 chỉ rõ phương pháp giáo dục ở trường phổ thông: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Tuy nhiên, thực tiễn dạy và học môn vật lý trong nhà trường phổ thông hiện nay cho thấy, đa số giáo viên chỉ quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức mà ít chú trọng đến việc phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của HS, do đó khả năng tư duy

và năng lực sáng tạo của học sinh nói chung còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng giáo dục còn thấp Vì vậy bên cạnh các giải pháp khác, cần phải đổi mới

Trang 9

phương pháp dạy học theo hướng tăng cường phát triển tư duy học sinh và bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự lực chiếm lĩnh tri thức, tự lực giải quyết vấn đề Nếu thực hiện tốt vấn đề này thì có thể nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức vật lý cho học sinh ở trường THPT một cách rõ nét

Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Phát huy hứng

thú và năng lực tự lực học tập của học sinh THPT khi dạy học một số kiến thức của chương: “Động lực học vật rắn”( Vật lí 12 - Nâng cao)

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức của chương “ Động lực học vật rắn” (Vật lí 12 - Nâng cao) theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh lớp 12 THPT

3 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy - học chương “ Động lực học vật rắn” (Vật lí 12 - Nâng cao)

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được tiến trình dạy học một cách khoa học và hợp lí thì sẽ có thể phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh trên cơ sở đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương “ Động lực học vật rắn” (Vật lí 12 - Nâng cao)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh THPT trong quá trình dạy học

+ Điều tra thực trạng dạy học vật lý ở trường THPT

+ Đề xuất một số biện pháp cụ thể theo hướng phát huy hứng thú và năng lực

tự lực học tập của học sinh trong dạy học vật lý ở trường THPT

+ Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức vật lí của chương “ Động lực học vật rắn” (vật lí 12 – Nâng cao) theo hướng phát huy hứng thú, năng lực tự lực học tập của HS

+ Tổ chức dạy thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT trong tỉnh Quảng Ninh

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

+ Nghiên cứu các tài liệu có liên quan , phân tích các vấn đề nghiên cứu của

đề tài

+ Điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn, nhận xét rút ra kết luận

+ Tổ chức thực nghiệm sư phạm, kiểm tra giả thuyết khoa học đã đề ra

+ Phương pháp thống kê toán học, xử lý, phân tích kết quả rút ra kết luận

7 Các kết quả và đóng góp của luận văn

+ Luận văn đã thực hiện việc tổng hợp được các cơ sở lý luận về việc phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập cho học sinh thông qua dạy học một số kiến thức vật lí cụ thể

+ Đề ra các biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động dạy - học một số kiến thức của chương “ Động lực học vật rắn” (vật lí 12 – Nâng cao) theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh lớp 12 THPT

+ Xây dựng được tiến trình dạy học cụ thể một số kiến thức vật lí của chương: “Động lực học vật rắn” (vật lí 12 – Nâng cao) theo hướng phát huy hứng thú, năng lực tự lực học tập của học sinh lớp 12 THPT

+ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên dạy vật lí ở trường THPT, góp phần từng bước nâng cao chất lượng dạy học vật lí THPT

8 Cấu trúc của luận văn

MỞ ĐẦU

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát huy hứng thú và năng lực

tự lực học tập của học sinh trong dạy học vật lí

Chương 2: Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức của chương “Động

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY HỨNG THÚ VÀ NĂNG LỰC TỰ LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những vấn đề đổi mới trong giáo dục phổ thông [10,26]

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đã được khẳng định trong nghị quyết TW 4 khoá VII, nghị quyết TW 2 khoá VIII và được pháp chế hoá trong luật giáo dục (sửa đổi) Nghị quyết TW 2 khoá VIII nêu rõ: “Đổi mới mạnh

mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy, sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến

và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian

tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.” Điều 24.2 Luật giáo dục quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”

Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 (Ban hành kèm theo quyết định

số 201/2001/QĐ – TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ), ở mục 5.2 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động

tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập …”

Như vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT được diễn ra theo bốn hướng chủ yếu:

Trang 12

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

1.1.2 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở THPT [ 9,10 ]

Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh là yêu cầu bắt buộc đối với các nhà trường Việt Nam hiện nay, nó cũng là xu thế chung của các nhà trường trên thế giới Ở Việt Nam, định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1 -1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12 – 1996), được thể chế hoá trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong nhiều chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo Có thể nói, điều cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Để vận dụng thành công các phương pháp dạy học, chúng ta cần nắm vững các mối quan hệ sau:

a Quan hệ giữa dạy và học:

Cần hiểu phương pháp dạy học bao gồm cả cách thức dạy của giáo viên và cách thức học của học sinh, vì vậy để nhấn mạnh, đôi khi người ta dùng dấu gạch nối giữa dạy và học, viết là phương pháp dạy - học Quan niệm chức năng cơ bản của dạy là dạy cách học Trong hoạt động dạy học thì giáo viên giữ vai trò chỉ đạo còn học sinh giữ vai trò chủ động

b Quan hệ giữa mặt bên ngoài và mặt bên trong của phương pháp dạy học

Mặt bên ngoài là trình tự hợp lí các thao tác hành động của giáo viên và học sinh: Giáo viên giảng giải, đặt câu hỏi, biểu diễn thí nghiệm,… học sinh nghe, quan sát, trả lời … Mặt bên trong là cách thức hoạt động nhận thức của học sinh, là con đường giáo viên dẫn dắt học sinh lĩnh hội nội dung dạy học: Giải thích, minh hoạ, tìm tòi từng phần, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Mặt bên trong phụ thuộc một cách khách quan vào nội dung dạy học và trình độ phát triển tư duy của học

Trang 13

sinh Mặt bên ngoài tuỳ thuộc kinh nghiệm sư phạm của giáo viên và chịu ảnh hưởng của phương tiện, thiết bị dạy học Mặt bên trong quy định mặt bên ngoài Nếu chú trọng dạy học phát triển tư duy học sinh thì phải quan tâm mặt bên trong của phương pháp dạy học

c Quan hệ giữa phương pháp dạy học và các thành tố khác của quá trình dạy học

Theo tiếp cận hệ thống, quá trình dạy học gồm 6 thành tố cơ bản: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá Chúng tương tác với nhau thành một chỉnh thể, vận hành trong môi trường giáo dục của nhà trường và môi trường kinh tế - xã hội của cộng đồng Việc lựa chọn, sử dụng, đổi mới phương pháp dạy học phải được đặt trong mối quan hệ qua lại với những thành tố nói trên, đặc biệt là với mục tiêu và nội dung

Việc đổi mới phương pháp dạy học (thực chất là đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học) theo những định hướng sau đây:

- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông

- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể

- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh

- Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường

- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học

- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với những việc khai thác những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền thống

- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, đặc biệt lưu

ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin

Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cấp bách không chỉ của riêng nước ta mà còn của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế, xã hội trên đường tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ

Trang 14

1.1.3 Những nghiên cứu về việc phát huy hứng thú, năng lực tự lực học tập của học sinh trong dạy học vật lí

Vấn đề tổ chức quá trình dạy học có chú ý đến việc phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh không phải là vấn đề mới trong lý luận và thực tiễn dạy học, nó đã có từ rất sớm cả ở Phương Tây, Phương Đông cũng như ở Việt Nam Các tác giả đặt vấn đề nghiên cứu tổ chức quá trình dạy học nhằm phát huy hứng thú, tính tích cực học tập của học sinh nói chung dưới nhiều góc độ và nghiên cứu ở nhiều bình diện khác nhau Đặc biệt là những năm gần đây việc dạy học theo hướng phát huy hứng thú được đề cập đến khá rầm rộ dưới nhiều thuật ngữ khác

nhau như: “dạy học lấy học sinh là trung tâm”, “dạy học hướng vào người học”,

“dạy học tập trung vào người học”, “phương pháp dạy học tích cực”, “tư tưởng dạy học tích cực”…Vào khoảng đầu thế kỷ XX phong trào “nhà trường mới” xuất hiện

ở nhiều nước Trong phong trào này người ta chú ý khuyến khích học sinh tự tổ chức, sắp xếp kế hoạch, thời gian học tập theo khả năng của mình, tự mình học cho mình, ai học giỏi thì học nhanh, ai học yếu thì học chậm lại Chủ chương để trẻ em hoàn toàn tự do, phát triển theo năng khiếu và khả năng của mình

Ở Việt Nam tư tưởng dạy học phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập

của người học cũng xuất hiện từ rất sớm và cũng nhanh chóng trở thành trào lưu rộng khắp do những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như các nhân tố bên trong quá trình dạy học đặt ra sự bức thiết phải phát triển lý luận dạy học nói chung và phương pháp dạy học nói riêng Nhiều công trình nghiên cứu về dạy học

phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của người học của các tác giả như:

Nguyễn Kỳ: Mô hình dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm [11]; Phương pháp giáo dục tích cực [12] Phạm Viết Vượng: Bàn về phương pháp giáo dục tích cực [27]… đã đóng góp không nhỏ cả về lý luận lẫn thực tiễn vào đổi mới phương

pháp dạy học “nhằm hình thành và phát triển những giá trị nhân cách tích cực, năng động, sáng tạo của học sinh” Các công trình cũng đã vạch ra các phương hướng

nhằm phát huy cao độ hứng thú và năng lực tự lực học tập của người học

Trang 15

Về tính tự lực nhận thức, không nhiều công trình nghiên cứu độc lập mà chủ yếu nghiên cứu cùng phát huy hứng thú, tính tích cực học tập Điển hình là tài liệu bồi

dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT của Nguyễn Ngọc Bảo: “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” [1] Trong công trình này, tác

giả trình bày khái niệm hứng thú, tính tích cực, tính tự lực một cách độc lập và mối liên

hệ giữa chúng Đây là các khái niệm độc lập, song khi trình bày về phương pháp phát huy hứng thú tính tích cực, tự lực nhận thức tác giả trình bày chung với nhau Không

có sự phân biệt rõ ràng giữa hứng thú, tính tích cực và tự lực nhận thức để người đọc thấy được các cấp bậc phẩm chất của tư duy Trên cơ sở lý luận đó một số luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu các phương pháp và các biện pháp cụ thể phát huy hứng thú, năng lực tự lực nhận thức của học sinh ứng dụng trong dạy học một số kiến thức cụ

thể, như: Đỗ Thị Thúy Hà (2009) “ Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại để phát triển hứng thú và năng lực tự lực học tập cho học sinh qua các hoạt động giải bài tập Vật lý phần cơ học chương trình Vật lí 10 nâng cao) [29]

1.2 Vấn đề phát huy hứng thú học tập của học sinh

1.2.1 Hứng thú và những biểu hiện của hứng thú [29]

Mỹ lại cho rằng, hứng thú là một sự sáng tạo của tinh thần với đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào

* Quan điểm của tâm lý học Macxit về hứng thú

Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng Coi hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Khái niệm hứng thú được xét dưới nhiều góc

độ khác nhau

Trang 16

* Một số quan niệm về hứng thú của Việt Nam

- Theo quan điểm của một số nhà giáo dục học cho rằng: Khi ta có hứng thú

về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do

đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó

- Nguyễn Quang Uẩn trong tâm lý học đại cương đã cho ra đời một khái niệm tương đối thống nhất: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động Khái niệm này vừa nêu được bản chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân

* Xét về mặt khái niệm

Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng

Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thoả mãn 2 điều kiện sau đây:

- Điều kiện I: Có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân, điều kiện này quyết

định nhận thức trong cấu trúc của hứng thú, đối tượng nào càng có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của cá nhân thì càng dễ dàng tạo ra hứng thú Muốn hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của mình, nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú

- Điều kiện II: Có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân Trong quá trình

hoạt động với đối tượng, hứng thú quan hệ mật thiết với với nhu cầu Khoái cảm nảy sinh trong quá trình hoạt động với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm có tác dụng thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động, điều đó chứng tỏ hứng thú chỉ có thể hình thành

và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân Biện pháp quan trọng nhất, chủ yếu nhất để gây ra hứng thú là tổ chức hoạt động, trong quá trình hoạt động và bằng hoạt động với đối tượng, mới có thể nâng cao được hứng thú của cá nhân

Trang 17

1.2.1.2 C ấu trúc của hứng thú

Tiến sĩ tâm lý học N.G Mavôzôva: Ông đã dựa vào 3 biểu hiện để đưa ra quan niệm của mình về cấu trúc của hứng thú:

+ Cá nhân hiểu rõ được đối tượng đã gây ra hứng thú

+ Có cảm xúc sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú

+ Cá nhân tiến hành những hành động để vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó

Theo ông thì: Hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm tình cảm thực sự với đối tượng mà mình muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú, những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú

Vậy hứng thú là sự kết hợp giữa nhận thức – xúc cảm tích cực và hoạt động, nếu chỉ nói đến mặt nhận thức thì chỉ là sự hiểu biết của con người đối với đối tượng, nếu chỉ nói đến mặt hành vi là chỉ đề cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm tình cảm của họ đối với đối tượng đó, có nghĩa là hiểu được nội dung tâm lý của hứng thú nó tiềm ẩn bên trong Hứng thú phải là sự kết hợp giữa nhận thức và xúc cảm tích cực và hành động, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng, sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng

1.2.1.3 Vai trò và các biểu hiện của hứng thú trong học tập

* Vai trò của hứng thú: Hứng thú là động lực giúp người học tiến hành hoạt

động nhận thức đạt hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động Hứng thú làm tích cực hoá các quá trình tâm lý (tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng…) Hứng thú còn quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân

* Những biểu hiện cơ bản của hứng thú trong học tập đó là:

- Sự đam mê trong học tập, hăng hái, tích cực tham gia vào quá trình học tập

- Muốn khám phá những vấn đề mới, khó

- Luôn tìm hiểu những ứng dụng của kiến thức trong thực tiễn, vận dụng kiến thức vào cuộc sống

Trang 18

1.2.2 Các biện pháp phát triển hứng thú trong học tập [11, 23]

Căn cứ vào cấu trúc và các điều kiện để hình thành của hứng thú, chúng tôi đưa

ra một số biện pháp nhằm phát triển hứng thú học tập Vật lí cho học sinh như sau:

1 Xác định mục tiêu kiến thức, nội dung học tập phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh

Khi thiết kế bài giảng, giáo viên cần phải xác định rõ nội dung kiến thức cần truyền tải trong mỗi hoạt động dạy học, trong mỗi giờ học Đối với mỗi đối tượng học sinh (mỗi lớp) cần lựa chọn mục tiêu kiến thức cho phù hợp Nếu mục tiêu đặt

ra quá các so với năng lực của học sinh sẽ đặt các em vào những vấn đề khó khăn không tự giải quyết được, gây tâm lí nản chí Nhưng nếu mục tiêu đưa ra quá nhẹ, học sinh chưa cần vận dụng hết khả năng tư duy đã giải quyết được vấn đề cũng không tạo cho các em hứng thú khi tiếp nhận nhiệm vụ học tập

Để thực hiện được mục tiêu dạy học phù hợp, giáo viên cần có sự tìm hiểu rõ năng lực học tập của học sinh Trong trường hợp lớp gồm nhiều đối tượng học sinh, giáo viên cần có những các thức tổ chức hoạt động cho phù hợp để mỗi học sinh đều cảm thấy mình được giao nhiệm vụ đúng với năng lực của mình, nhất là trong các giờ bài tập

2 Vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Trong thực tế, nhiều giáo viên Vật lí vẫn còn giữ quan điểm dạy kiến thức vật

lí và làm thế nào để học sinh vận dụng kiến thức vào giải các bài tập, để thi cử cho tốt Chính vì thế nhiều học sinh cho rằng môn Vật lí là một môn học khó, trừu tượng Muốn học sinh hứng thú học tập, người giáo viên cần phải làm rõ tính ứng dụng trong thực tiễn của mỗi kiến thức Vật lí

Để thực hiện công việc này, người giáo viên cần làm rõ bản chất và ý nghĩa thực tiễn của các khái niệm vật lí, sử dụng các định luật, các thuyết Vật lí để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, các ứng dụng trong kĩ thuật, công nghiệp Trong các giờ bài tập, cần thiết đưa vào những bài toán có tính thực tế Qua việc giải bài toán, học sinh có thể tự rút ra những cách ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động, …

Trang 19

3 Sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học

Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi thích khám phá, thích sự mới lạ, không thích sự dập khuôn, máy móc Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáp viên cần có sự thay đổi hình thức tổ chức học tập để tránh sự nhàm chán đối với học sinh Ví dụ như việc kiểm tra bài cũ không nhất thiết là gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi mà có thể tổ chức thành trò chơi giải ô chữ, hay trả lời trắc nghiệm, …

4 Tổ chức tiến trình dạy học giải quyết vấn đề theo các pha thích hợp [20]

Tiến trình dạy học theo pha gồm các pha như sau:

- Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hoá tri thức, phát biểu vấn đề Tức là giáo viên giao cho học sinh một nhiệm vụ tiềm ẩn vấn đề Học sinh hăng hái nhận nhiệm vụ vì cảm nhận ban đầu là có thể thực hiện được một cách đơn giản Nhưng trong quá trình thực hiện các em mới phát hiện ra khó khăn (vấn đề xuất hiện) Sau đó giáo viên định hướng để học sinh phát biểu ra vấn đề cần giải quyết đó

- Pha thứ hai: Học sinh hành động độc lập, tự chủ, trao đổi , tìm tòi giải quyết vấn

đề Ở pha này giáo viên cần quan sát để đưa ra những định hướng, trợ giúp kịp thời

- Pha thứ ba: Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tranh luận, bảo vệ cái xây dựng được Giáo viên chính xác hoá, bổ sung, thể chế hoá tri thức mới Học sinh chính thức ghi nhận tri thức mới và vận dụng

5 Lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp

Để có thể phát triển hứng thú cho học sinh, giáo viên khi lên lớp cần hạn chế sử dụng nhóm các phương pháp dùng lời (như diễn giảng, thuyết trình) mà cần sử dụng nhiều các phương pháp thuộc nhóm các PP trực quan , nhóm các PP thực hành

6 Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại

Giáo viên cần tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh Mặt khác việc sử dụng máy tính, các phần mềm dạy học, phương tiện trình chiếu sẽ tăng kênh hình và kênh tiếng trong các hoạt động học tập của học sinh Nhờ có các phương tiện hỗ trợ này, giáo viên có thể trực quan hoá các hiện tượng, quá trình giúp HS dễ dàng nhận ra bản chất của vấn đề Đặc biệt, những vấn đề trừu tượng như hiện tượng cảm ứng điện từ, sự lan truyền của sóng cơ học, sự truyền nhiệt… nếu khi có sự hỗ trợ của các PTDH hiện đại (máy vi tính, phần mềm mô phỏng) thì hiệu quả của giờ học rất cao

Trang 20

1.3 Vấn đề phát huy năng lực tự lực học tập của học sinh

1.3.1 Khái niệm về năng lực tự lực học tập

"Năng lực tự lực học tập" (NLTLHT) là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ

và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v.v của người học) chiếm lĩnh tri thức kĩ năng

1.3.2 Cấu trúc của năng lực tự lực học tập [29]

Năng lực tự lực học tập có các thành phần cấu trúc như sau:

- Động cơ học tập: thể hiện ở nhu cầu nhận thức, hứng thú nhận thức, động

cơ có tính chất xã hội Thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt động nhận thức học tập

- Năng lực học tập: Được đặc trưng bằng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vững vàng làm chỗ dựa cho hoạt động nhận thức (thể hiện bằng sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ) nhờ đó mà người học có thể dễ dàng tự mình xác định được nhiệm

vụ nhận thức của mình, thay đổi những cách thức hành động của mình để phù hợp với những hoàn cảnh mới, biết đánh giá đúng những yêu cầu, nhiệm vụ đề ra Từ đó

mà người học có thể tự lực lĩnh hội tri thức mới từ nguồn nhận thức khác nhau, có thái độ phê phán, bình phẩm trong học tập, biết vận dụng tri thức đã tiếp thu được

để tự học, để giải quyết những nhiệm vụ do thực tiễn học tập và thực tiễn cuộc sống đặt ra Nhờ đó, đủ niềm tin để bảo vệ ý kiến của mình và bảo vệ chân lí

- Tổ chức học tập: là sự thống nhất giữa phương pháp suy nghĩ và phương pháp lao động chung của hoạt động tự lực nhận thức ( phương pháp lao động chung bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức lao động học tập và tự kiểm tra kết quả học tập)

Tự kiểm tra là phương tiện kích thích phát triển hơn nữa hoạt động tự lực nhận thức Học sinh càng nắm được cách thức kiểm tra thì càng lĩnh hội được tri thức và việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo đạt được kết quả Từ đó mà tạo cho học sinh phát triển hứng thú học tập, kích thích nhu cầu hiểu sâu và rộng tri thức Tự kiểm tra cũng là sự thể hiện năng lực học tập, tự mình nhận thấy những sai lầm của mình

Trang 21

- Hành động ý chí: Thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần khắc phục khó khăn nhằm thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập

Bốn thành phần cấu trúc của năng lực tự lực học tập liên hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc và qui định lẫn nhau Thiếu một trong những thành tố đó thì không

biểu hiện được năng lực tự lực học tập

1.3.3 Vai trò và biểu hiện của năng lực tự lực học tập [1]

* Vai trò của tự lực học tập: Khi học sinh phát huy được năng lực tự lực học

tập thì sẽ có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng với chất lượng cao hơn Tự lực học tập giúp người học có khả năng tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng, biết vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế Ngoài ra, việc tự học còn giúp người học định hướng nhanh, biết phân tích suy đoán

và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách tối ưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả

* Dấu hiệu biểu hiện đánh giá năng lực tự học phát triển đó là:

- Có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng với chất lượng cao hơn

- Không rập khuôn máy móc mà phải luôn thích ứng với những tình huống mới

- Có khả năng tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng

- Vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế

- Định hướng nhanh, biết phân tích suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách tối ưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả

1.3.4 Các biện pháp phát huy năng lực tự lực học tập [24, 25, 27]

1.3.4.1 Những điều kiện cần thiết để phát huy năng lực tự lực học tập của học sinh [9]

a Đảm bảo cho học sinh có điều kiện tâm lí thuận lợi để tự lực học tập

- Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm cái mới, ta thường gọi

là xây dựng tình huống có vấn đề Việc thường xuyên tham gia vào giải quyết các mâu thuẫn nhận thức này sẽ tạo ra thói quen, lòng ham thích hoạt động trí óc có chiều sâu, tự giác, tích cực

Trang 22

- Tạo môi trường sư phạm thuận lợi cho học sinh chủ động, tự lực tham gia vào quá trình nhận thức Học sinh từ lâu đã quen học thụ động, ít tự lực suy nghĩ, cho nên trong thời gian đầu thường rụt rè, lúng túng, chậm chạp và phạm sai lầm khi thực hiện các hành động học tập Giáo viên cần phải biết chờ đợi, động viên, giúp đỡ và tổ chức lớp học sao cho học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến của riêng mình, nêu thắc mắc, tranh luận chứ không chỉ chờ sự nhận xét của giáo viên

b Tạo điều kiện để học sinh có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao

Vì chúng ta chủ trương thường xuyên đặt học sinh vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức cho nên sự thành công của họ trong việc giải quyết vấn đề học tập

có tác dụng rất quan trọng làm cho họ tự tin, hứng thú, mạnh dạn suy nghĩ để giải quyết những vấn đề ngày càng khó hơn Để giúp học sinh tránh tâm lí rụt rè, thiếu

tự tin khi nhận nhiệm vụ, có thể thực hiện biện pháp sau:

* Lựa chọn một logic bài học hợp lí

+ Trước hết người giáo viên phải phân chia bài học thành những đơn vị kiến thức nhỏ vừa với trình độ xuất phát của học sinh để các em có thể tự lực giải quyết vấn đề với sự cố gắng vừa phải Cần phải có sự chọn lựa kĩ lưỡng một số vấn đề vừa sức và xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể

+ Trong giờ học, giáo viên hạn chế thuyết trình, có thể giảm nhẹ nội dung kiến thức để dành thời gian rèn luyện cho học sinh năng lực tự lực học tập

* Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản: gồm

thao tác chân tay và thao tác tư duy

+ Thao tác chân tay trong học tập Vật lí chủ yếu là quan sát, sử dụng các thiết bị đo lường cơ bản, lắp ráp thí nghiệm…

+ Những thao tác tư duy hay dùng là phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá … Các thao tác tư duy rất khó rèn luyện Muốn đạt hiệu quả trong việc rèn luyện thao tác này cần kiên trì, bền bỉ, bắt đầu bằng những câu hỏi mà học sinh muốn trả lời phải thực hiện một số thao tác tư duy nào đó Nếu

Trang 23

học sinh chưa trả lời đúng, giáo viên phải đưa ra câu hỏi đơn giản hơn, đòi hỏi ít thao tác tư duy hơn Cứ như thế nhiều lần, thường xuyên, học sinh sẽ quen, tích luỹ được kinh nghiệm, thực hiện đúng và nhanh hơn

* Cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức Vật lí được sử dụng phổ biến

Con đường nhận thức khoa học nói chung và nhận thức khoa học Vật lí nói riêng cần vận dụng chu trình sau:

Trong học tập Vật lí, một mặt học sinh phải quan sát thực tế để cảm nhận được

sự tồn tại của thực tế khách quan Mặt khác học sinh phải thực hiện các phép suy luận, biến đổi trong óc để rút ra những đặc tính bản chất và những mối quan hệ phổ biến khách quan, nhờ thế mà tìm ra chân lí mới Trình tự hợp lí của hành động vật chất và tinh thần đảm bảo cho kết luận cuối cùng rút ra được phản ánh đúng thực tế khách quan Muốn cho học sinh làm quen dần với phương pháp đi tìm chân lí mới trong quá trình học tập, nhất thiết phải dạy cho họ các phương pháp nhận thức phổ biến Trong các trường phổ thông hiện nay, các phương pháp nhận thức Vật lí phổ biến hay dùng là: Phương pháp thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương pháp

mô hình, phương pháp thí nghiệm lí tưởng

1.3.4.2 Những biện pháp cụ thể phát huy năng lực tự lực học tập cho học sinh

Thực chất của việc phát triển năng lực tự học là hình thành và phát triển năng

lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp, biện pháp ) từ quá trình giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc vào nhận thức

Mô hình - Giả thuyết

Kiểm tra - Thực nghiệm Các sự kiện

khởi đầu - xuất phát

Trang 24

kiến thức mới, năng lực đánh giá và tự đánh giá Để có thể phát triển năng lực tự lực học tập cho học sinh thì bản thân các em phải có ý chí quyết tâm cao độ, luôn tìm phương pháp học tập tốt cho mình, phải học bằng chính sức mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lời nói của mình, viết theo ý mình, không rập khuôn theo câu chữ của thầy, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ, suy luận đúng đắn và linh hoạt sáng tạo thông qua những câu hỏi, bài toán

Muốn rèn được năng lực tự học thì trước hết và quan trọng nhất là phải rèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập Bởi lẽ, việc rèn cho học sinh có thói quen

tư duy (suy nghĩ và hành động) độc lập, sẽ dẫn đến tư duy phê phán, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo Rõ ràng, độc lập là tiền đề cho tự học Biểu hiện của “độc lập”:

+ Không có sự viện trợ trực tiếp từ bên ngoài;

+ Tự mình nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề, đặt vấn đề để giải quyết; + Tự mình tìm ra cách giải bài toán; tự mình kiểm tra được, đánh giá được cách giải của bản thân;

+ Có đầu óc tự phê phán và phê phán được cách giải của người khác;

+ Bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách chặt chẽ

Như vậy để rèn được tư duy độc lập cho học sinh thì phải tạo điều kiện để học sinh suy nghĩ độc lập Giáo viên nêu câu hỏi, nêu vấn đề để học sinh nghiên cứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận Giáo viên quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của học sinh, nhất là bài tập ở nhà Khuyến khích nhận xét cách giải của bạn Giúp học sinh biết phương pháp suy nghĩ độc lập và thực hiện hành động độc lập Tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng Yêu cầu học sinh tự ra đề của bài toán Cho giải bài tập và nâng cao dần nội dung của bài toán Ra bài tập nhỏ áp dụng vào tình huống mới Gây cho học sinh có hứng thú suy nghĩ độc lập Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa và tự học Khuyến khích học sinh sưu tầm các hiện tượng trong thực tế và bài toán mới Giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúng mức suy nghĩ và hành động độc lập của học sinh

Ngoài ra, để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh một cách toàn diện hơn, chúng ta cần phối hợp với một số biện pháp cụ thể sau:

Trang 25

* Đối với giáo viên

- Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn học sinh cách tự học

- Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáo viên, dành thời gian thích đáng cho học sinh tự học, tự nghiên cứu, serminar, thảo luận, giải đáp thắc mắc

- Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lực nhận thức cho học sinh, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học cần thiết Tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các loại bài tập trong tổ chuyên môn

- Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và

tự ôn tập kiến thức qua các kênh thông tin

- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh

- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học

* Đối với học sinh

- Cần xác định thái độ học tập đúng đắn

- Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu

- Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện kế hoạch, thời gian biểu

- Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảng hoặc ghi chép

- Rèn luyện cho học sinh khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập

- Hướng dẫn học sinh tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm các trang web phục vụ cho quá trình học tập

Trên đây là những biện pháp mà chúng tôi đưa ra với mong muốn góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Những biện pháp trên chỉ thật sự có hiệu quả khi nào có sự nỗ lực đồng thời của cả người dạy và người học

Trang 26

1.4 Nghiên cứu thực trạng dạy học một số kiến thức chương “ động lực học vật rắn ” ở trường thpt

1.4.1 Mục đích

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi điều tra, khảo sát thực trạng dạy học vật lí với mục đích:

- Tìm hiểu về cơ sở vật chất phục vụ dạy học

- Tìm hiểu việc sử dụng các phương pháp trong dạy học vật lí, các phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ hoạt động dạy học của giáo viên THPT

- Tìm hiểu hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh khi học môn vật lí

- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn của HS khi học chương “ Động lực học vật rắn” (vật lí 12 – Nâng cao)

- Trên cơ sở điều tra thực tế, phân tích hạn chế, khó khăn để tìm ra nguyên nhân, biện pháp khắc phục nhằm phát triển hứng thú và năng lực tự lực học tập của học

sinh qua các giờ học vật lí

1.4.2 Phương pháp

Để đạt được mục đích nói trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:

- Điều tra qua giáo viên: Trao đổi trực tiếp, dùng phiếu điều tra, hỏi ý kiến, xem giáo án, dự giờ

- Trao đổi với lãnh đạo nhà trường, tổ trưởng tổ chuyên môn, tham quan các phòng dạy học bộ môn

- Điều tra qua học sinh: trao đổi trực tiếp, dùng phiếu điều tra

1.4.3 Kết quả điều tra

Chúng tôi đã thực hiện điều tra, trao đổi với giáo viên và học sinh lớp 12 THPT ở các trường trên địa bàn thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh: Trường THPT Hòn Gai, Trường THPT Bãi Cháy, Trường THPT Văn Lang Căn cứ vào thông tin thu nhận được qua điều tra, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:

1.4.3.1 Về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Hiện nay với sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của Sở GD&ĐT cùng với các Trường THPT, điều kiện dạy học đã khá thuận lợi Phòng học đảm bảo chất lượng, các trường đều có phòng học chuyên môn, phòng học giáo

Trang 27

án điện tử, phòng thí nghiệm Qua trao đổi với lãnh đạo của một số trường, chúng tôi nhận thấy các thiết bị dạy học hiện đại như máy vi tính, máy chiếu Projector, máy chiếu camera, một số phần mềm dạy học, … đều đã được trang bị Lãnh đạo các nhà trường cũng rất khuyến khích giáo viên sử dụng công nghệ thông tin và sưu tầm, phổ biến cho đồng nghiệp các phần mềm dạy học, phim học tập, đồng thời các trường cũng đang tiếp tục xây dựng , bố trí tăng cường các phòng học sử dụng công nghệ thông tin

1.4.3.2 Tình hình dạy của giáo viên

- Thực hiện theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, các giáo viên vật

lí khi được hỏi ý kiến hầu hết đều cho biết là đã có sự tìm hiểu và vận dụng các phương pháp dạy học tính tích cực nhằm phát huy hứng thú và năng lực tự lực của học sinh như vấn đáp-đàm thoại, phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học theo nhóm nhỏ,…Tuy nhiên, tuỳ theo năng lực sư phạm mà khả năng vận dụng đem lại hiệu quả là khác nhau Các đồng chí cũng cho biết là phương pháp diễn giảng, thuyết trình - hỏi đáp vẫn sử dụng chủ yếu vì như vậy mới truyền tải hết nội dung kiến thức trong một bài học cho học sinh

- Nhìn chung tất cả các GV đều soạn bài trước khi lên lớp, thực hiện đầy đủ các bước lên lớp theo quy định, song một số bài soạn vẫn chỉ là tóm tắt theo nội dung SGK, chưa xác định rõ hoạt động của GV và HS,chủ yếu soạn theo PP diễn giảng là chính, chưa xây dựng được hệ thống câu hỏi phát vấn phát triển tư duy cho

HS, ít xây dựng tình huống có vấn đề trong học tập

GV có đặt câu hỏi nhưng chỉ là những câu hỏi đơn giản, ít đòi hỏi ở HS sự phân tích, suy luận tìm tòi mà mới chỉ đòi hỏi ở HS sự tái hiện thông thường Nếu HS không trả lời được thì GV thường không đưa ra những câu hỏi gợi mở để hướng HS vào việc giải quyết vấn đề Do đó, chưa phát huy được hứng thú và năng lực tự lực học tập cho HS

- Một số GV còn ngại sử dụng thí nghiệm, một số ít GV có sử dụng thí nghiệm nhưng chưa đúng với mục đích của bài giảng Trong các tiết dạy trên lớp

Trang 28

+ Nhiều thí nghiệm cồng kềnh, lắp ráp khó khăn mất thời gian

+ Khó ổn định tổ chức HS lúc trước và sau khi thí nghiệm

+ TN nhiều khi không thành công, mất uy tín…

+ Không có hoặc dụng cụ không đầy đủ (hỏng, mất)

Tuy nhiên, đa số GV đều nhận định nếu sử dụng được nhiều thí nghiệm trên lớp sẽ kích thích được sự say mê, hứng thú, sáng tạo của HS trong học tập vật lí

- Trong các giờ hoc, 40% giáo viên được hỏi cho rằng học sinh khá hứng thú tích cực xây dựng bài và có khoảng 35% học sinh có khả năng tự lực trong học tập

Số còn lại đánh giá học sinh có khả năng tự lực học tập chỉ vào khoảng 20%, trong các giờ học trên lớp học sinh còn ít hứng thú bên cạnh đó có những học sinh rất trầm, biết nhưng cũng không phát biểu vì có tâm lý ngại, sợ sai

- Việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học vật lí cũng là một vấn đề cần được quan tâm Khoảng 40% giáo viên đã sử dụng thành thạo và sử dụng thường xuyên các thiết bị như máy vi tính, máy chiếu Projector, máy chiếu camera, phần mềm dạy học… Số còn lại cũng đã biết sử dụng các phương tiện trên nhưng chỉ dùng chủ yếu trong các giờ thao giảng, thi giáo viên giỏi Mặc dù vậy, tất

cả giáo viên được hỏi đều ý thức được rằng việc sử dụng phương tiện hiện đại vào dạy học vật lí là rất hữu ích

1.4.3 Tình hình học tập của học sinh (thống kê trên tổng số 270 học sinh được hỏi

ý kiến)

Qua điều tra bằng phiếu thăm dò, tham khảo các sổ điểm, các bài kiểm tra chất lượng của học sinh, trao đổi trực tiếp với giáo viên, học sinh và dự giờ chúng tôi thu được những kết quả sau:

* Về hứng thú học tập môn Vật lí: Có khoảng 40% học sinh thích học môn

vật lí, thích tìm hiểu ý nghĩa của các kiến thức Vật lí và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Khoảng 20% học sinh không thích môn Vật lí và chưa bao giờ quan tâm đến việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn HS trong giờ học, ngại suy nghĩ, thường bị động trong việc tiếp thu kiến thức mới, luôn chờ đợi sự gợi ý, giảng giải, thông báo của GV, chưa có thói quen tìm tòi, suy nghĩ, tự đặt câu hỏi và đi tìm câu trả lời, khi

Trang 29

GV ngừng hướng dẫn thì HS cũng ngừng hoạt động, ít hứng thú trong học tập, khi vận dụng vào các trường hợp cụ thể thì thường mắc sai lầm, trong giờ học HS ngại phát biểu, nếu không được khích lệ và tạo điều kiện thì không động não phát biểu ý kiến, học theo kiểu đối phó Số còn lại chỉ coi môn vật lí là môn học bình thường, thỉnh thoảng mới để ý tới tính ứng dụng thực tiễn của các kiến thức Vật lí được học

* Về năng lực tự lực học tập: 40% học sinh tự đánh giá khả năng tự học

của mình ở mức khá hoặc tốt, đó chính là những học sinh thích học môn vật lí và học khá giỏi bộ môn này 35% học sinh đánh giá mình có khả năng tự lực học tập ở mức trung bình, thể hiện việc chuẩn bị bài ở nhà của các em chỉ là học lí thuyết và làm các bài tập (dễ và trung bình) của bài đã học Số còn lại tự đánh giá lực học yếu, ở nhà các em chỉ học thuộc lòng lí thuyết và làm những bài tập dễ được giao

* Những thuận lợi, khó khăn của HS khi học chương “ Động lực học vật rắn”

+ Thuận lợi:

- HS có thể vận dụng được kiến thức của phần cơ học lớp 10 đã học để nghiên cứu chuyển động quay của vật rắn quanh một trục, nghiên cứu về tính chất chuyển động về chuyển động quay của vật rắn khi chịu tác dụng của những vật khác

- Trong các giờ học trên lớp HS có thể được quan sát nhiều hình vẽ, tranh ảnh minh họa, các video clip, các phần mềm mô phỏng chuyển động quay của vật rắn Từ

đó, giúp phát huy hứng thú và tư duy sáng tạo cho HS trong quá trình lĩnh hội tri thức

- Thí nghiệm về chuyển động quay của vật rắn khá đơn giản, dễ thực hiện và rất thành công ví dụ như : Thí nghiệm ghế xoay Gui-cốp-xki, thí nghiệm về con quay hồi chuyển

- Thông qua các ứng dụng trong thực tiễn như: nghiên cứu mômen động lượng để các vận động viên nhảy cầu biết điều chỉnh tốc độ quay để đạt được thành tích cao và tiếp nước an toàn, vận động viên trượt băng nghệ thuật có màn trình diễn đẹp mắt, cách hổ báo vồ mồi nhanh và chính xác…sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn các kiến thức trong bài học

- Kiến thức của chương cũng là nền tảng cho học sinh sau này học tập và nghiên cứu ở các bậc học cao hơn như: đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Đây là một động lực thúc đẩy và phát huy năng lực tự lực học tập cho học sinh

Trang 30

+ Khó khăn:

- Chương “Động lực học vật rắn” là chương đầu tiên trong chương trình Vật

lí lớp 12 Nâng cao, mà ở chương trình cơ bản không đề cập đến Chương này mới được đưa vào chương trình phổ thông từ năm học 2008-2009, do vậy việc giáo viên lựa chọn các phương pháp dạy học cho phù hợp còn nhiều hạn chế kéo theo việc tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn

- Một số phần kiến thức cơ bản tương đối khó và mới nên giáo viên thường chỉ dạy “chay” mang tính thông báo kiến thức, bám sát theo y hệt như trong sgk đã trình bày còn về phía học sinh thì tiếp thu một cách thụ động, dập khuôn dẫn đến chất lượng học tập còn thấp, chưa phát huy được hứng thú và năng lực tự lực học tập cho HS

- Chương “Động lực học vật rắn” là chương mới vì vậy một số HS bị rỗng kiến thức từ các lớp dưới (Phần cơ học lớp 10), không có PP học đúng đắn thì sẽ khó tiếp thu được kiến thức, không biết vận dụng để giải bài tập, không hiểu được những ứng dụng vật lí trong thực tiễn

1.4.4 Những nguyên nhân cơ bản và biện pháp khắc phục

* Về phía giáo viên

+ Nguyên nhân:

- Một số giáo viên vẫn còn nặng về truyền tải nội dung kiến thức mà chưa chú trọng đến việc dạy học gắn liền với cuộc sống, giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh

- Phương pháp dạy học theo cách cũ lâu ngày cộng với áp lực công việc nhiều gây nên tư tưởng ngại đổi mới Kiến thức về phương pháp và đổi mới phương pháp dạy học còn chưa được cập nhật hoặc được cập nhật nhưng chưa biết vận dụng thực hành trong giảng dạy

- Một số giáo viên chưa chịu khó tìm hiểu nguồn tài liệu tham khảo có liên quan đến kiến thức vật lí để đưa vào bài giảng, chưa chịu nghiên cứu thêm những dạng bài tập để bồi dưỡng cho học sinh

- Trong việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học đòi hỏi sự đầu tư cả trí tuệ, sức lực và thời gian, chính vì thế nhiều giáo viên có tâm lí ngại vất vả Thêm

Trang 31

nữa, số phòng học sử dụng công nghệ thông tin chưa nhiều trong khi số giáo viên cần dùng các phòng học này lại đông nên có khi giáo viên chuẩn bị bài mà không có phòng để dạy dẫn đến giảm hứng thú

- Tăng cường tự bồi dưỡng kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học; trao đổi với đồng nghiệp, với tổ chuyên môn để cùng xây dựng hệ thống giáo

án sử dụng các phương pháp dạy học tích cực và phương tiện dạy học hiện đại nhằm phát triển hứng thú và năng lực tự lực học tập cho học sinh

- Trước khi dạy phần kiến thức “Động lực học vật rắn” cần kiểm tra, ôn tập lại kiến thức về phần cơ học ở chương trình vật lí lớp 10 Nắm chắc được các kiến thức này thì HS mới có thể tham gia vào quá trình nhận thức một cách tích cực, tự giác cao

- Mỗi giáo viên phải dành thời gian cho việc soạn thảo giáo án với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, xây dựng những tình huống học tập cho học sinh đồng thời phải tổ chức cho HS hoạt động kích thích hứng thú học tập , lôi cuốn HS vào quá trình học tập một cách tích cực tự giác Trong mỗi bài học phải có sự liên hệ giữa các kiến thức đã học và kiến thức mới để HS nắm được kiến thức một cách liên tục, toàn diện, không bị đứt quãng

- Trong các giờ dạy lí thuyết giáo viên nên lựa chọn và lồng ghép thêm một số bài tập định tính, định lượng, bài tập thí nghiệm thông qua phiếu học tập trong đó nội dung có gắn liền với các hiện tượng thực tiễn cuộc sống, kĩ thuật để học sinh vận dụng khi đó sẽ kích thích được hứng thú và năng lực tự lực học tập cho các em

Trang 32

có sự kiểm soát của các quán điện tử, Internet Các yếu tố này làm phân tán mạnh

mẽ tư tưởng và thời gian học tập của học sinh

+ Biện pháp khắc phục:

- Tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh

- Tạo hứng thú trong học tập, tạo môi trường thân thiện, gần gũi, động viên khích lệ kịp thời sự cố gắng trong học tập của học sinh để các em có được sự tự tin trong giao tiếp, trong học tập Hướng dẫn phương pháp học phù hợp với trình độ tư duy của các em để nâng cao năng lực tự lực học tập cho học sinh

- Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội để giáo dục học sinh một cách toàn diện

* Về phía nhà trường và các cấp quản lí giáo dục

- Cần quan tâm đến việc bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn và nghiệp

vụ cho giáo viên, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học

- Trang bị phòng học và phương tiện phục vụ dạy học đảm bảo cho hoạt động dạy học được thực hiện đầy đủ và có hệ thống và phù hợp với yêu cầu của bộ môn

- Tổ chức các hội thảo khoa học về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

để giáo viên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với nhau Động viên, khuyến khích giáo viên sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học và phương tiện dạy học hiện đại

- Tạo môi trường sư phạm trong học đường, phối hợp với gia đình, xã hội để quản lí giáo dục, giúp đỡ học sinh Chú trọng rèn luyện đạo đức đi đôi với học tập kiến thức

Trang 33

1.5 Xây dựng tiến trình dạy học theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của hs

1.5.1 Sử dụng phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học trong dạy học Vật lí [29]

1.5.1.1 Phương pháp dạy học (PPDH)

PPDH là một hệ thống các hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, nhằm đảm bảo cho học sinh nắm vững nội dung trí dục và đạt được các mục tiêu dạy học đặt ra

1.5.1.2 Các phương pháp dạy học tích cực [5,11,12,27]

a Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp tích cực: là một nhóm phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Cần hiểu phương pháp dạy học tích cực thực chất là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

b Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực

* Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học hiện nay Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học, biến từ học thụ động sang tự học chủ động, phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp tổ chức người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Người học không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm

Trang 34

năng sáng tạo của mình Theo cách dạy học này người giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động

* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Phương pháp tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quá trình tự lực dành lấy kiến thức mới Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng con đường thuần tuý cá nhân mà con đường đi tới chân lí còn được tạo nên qua mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong tập thể Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đó bài học vận dụng được vốn hiểu biết, kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp

* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong học tập, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá và tạo điều kiện để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau từ đó để tự điều chỉnh cách học

Thực hiện phương pháp dạy học tích cực, vai trò của giáo viên không hề giảm bớt mà lại có yêu cầu cao hơn, giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có kinh nghiệm sư phạm, có óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

c Một số phương pháp dạy học tích cực

Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ phương pháp dạy học truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc đã được sử dụng trong mấy thập kỉ gần đây cũng đã có nhiều phương pháp tích cực Việc đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa và phát triển những phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện ở nước ta, để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc

Trang 35

Theo quan điểm về phương pháp dạy học tích cực, một số phương pháp dạy học dưới đây cần được quan tâm trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh

1 Dạy học vấn đáp, đàm thoại

Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời hoặc tranh luận với nhau, với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học

Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng cách tăng cường hình thức hỏi - đáp, đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, rèn luyện cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể Muốn thực hiện điều đó, đòi hỏi giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định vai trò, chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi Giáo viên cũng cần dự kiến các phương án trả lời của học sinh để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ, tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của học sinh và tăng hấp dẫn của giờ học

2 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (Dạy học nêu vấn đề)

Nội dung cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là đặt ra trước học sinh một hệ thống tình huống có vấn đề, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết các vấn đề đó và những chỉ dẫn nhằm đưa học sinh vào con đường tự lực giải quyết các vấn đề đã đặt ra Bằng con đường đó, không những học sinh thu được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới mà họ còn rèn luyện năng lực tự lực nhận thức

và phát triển được năng lực sáng tạo

Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học

Quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể chia thành 3 giai đoạn:

Trang 36

* Giai đoạn 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:

Công việc của giai đoạn này là

- Tạo tình huống có vấn đề

- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

- Phát biểu vấn đề cần giải quyết

* Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề đặt ra:

Các công việc của giai đoạn này là:

- Đề xuất các giả thuyết

- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

- Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề

* Giai đoạn 3: Kiểm tra, vận dụng kết quả:

Các công việc cụ thể của giai đoạn này là:

- Thảo luận kết quả và đánh giá

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra

Tiến trình của một tiết học (hoặc một buổi học) hoạt động theo nhóm có thể thực hiện như sau:

Bước 1: Làm việc chung cả lớp

- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức;

- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ;

- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm

Bước 2: Làm việc theo nhóm

Trang 37

- Phân công trong nhóm;

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm;

- Cử đại diện (hoặc phân công) người trình bày kết quả

Bước 3: Tổng kết trước lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

- Thảo luận chung;

- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong giờ học

1.5.1.3 Các phương tiện dạy học [10,25]

Phương tiện dạy học (còn gọi là đồ dùng, thiết bị dạy học) là các vật thể hoặc tập hợp các vật thể mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này

Các phương tiện dạy học theo nghĩa rộng có thể bao gồm: các thiết bị dạy học, phòng dạy học, phòng thí nghiệm, bàn ghế, các phương tiện kĩ thuật, …

a Vị trí của các phương tiện trong quá trình dạy học [2]

Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, vai trò của thiết bị dạy học ngày càng mở rộng Các thiết bị dạy học hiện đại đã cho phép đưa vào QTDH những nội dung diễn cảm và hứng thú, làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, tạo ra trong QTDH một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lí mới

b Các chức năng của phương tiện dạy học

* Theo quan điểm lí luận dạy học, các phương tiện dạy học có các chức năng sau:

- Sử dụng phương tiện dạy học để tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của học sinh đặc biệt trong giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu

- Sử dụng phương tiện dạy học để hình thành kiến thức, kĩ năng mới

- Phương tiện dạy học có thể được sử dụng để củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá)

- Sử dụng phương tiện dạy học để kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã thu được

- Phương tiện dạy học góp phần phát triển năng lực nhận thức của học sinh

Trang 38

- Việc sử dụng phương tiện dạy học đem lại hiệu quả xúc cảm, thẩm mĩ cho học sinh

- Hiệu quả của việc điều khiển quá trình nhận thức của học sinh sẽ được nâng cao

- Phương tiện dạy học góp phần thực hiện một trong các nội dung dạy học Vật lí là phát triển tối ưu nhân cách của từng học sinh

c Các loại phương tiện dạy học

* Các phương tiện dạy học truyền thống:

1 Các vật thật trong đời sống kĩ thuật

2 Các thiết bị thí nghiệm dùng để tiến hành các thí nghiệm của giáo viên và các thí nghiệm của học sinh

d Một số yêu cầu chung khi sử dụng phương tiện trong quá trình dạy học

Để việc sử dụng thiêt bị có hiệu quả, phải thoả mãn một số yêu cầu chung sau:

1 Phải xác định rõ nhiệm vụ của thiết bị trên bài học

Trang 39

1.5.1.4 Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học trong dạy học Vật lí theo hướng phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh [29]

Trong thực tế lập kế hoạch và tiến hành dạy học, người thầy giáo luôn phải đối diện với câu hỏi: làm thế nào để lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp và

có hiệu quả? Các nhà lí luận dạy học đều đưa ra lời khuyên: mỗi phương pháp dạy học đều có giá trị riêng, không có phương pháp dạy học vạn năng, cần phối hợp sử dụng các phương pháp Để lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với mỗi bài dạy, mỗi hoạt động dạy học, chúng ta cần quan tâm mối quan hệ của nó với các yếu tố liên quan, đó là mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, điều kiện giảng dạy và học tập, nhu cầu, hứng thú, thói quen học tập của học sinh, năng lực, sở trường, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên

Để có thể phối hợp có hiệu quả các phương pháp dạy học và phương tiện dạy học trong dạy học vật lí, giáo viên nên thực hiện đồng bộ những biện pháp sau đây: + Nắm vững ưu, nhược điểm của từng phương pháp dạy học và cách vận dụng các phương pháp đó vào dạy học

+ Nắm vững chức năng và cách sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại + Nghiên cứu kĩ các nội dung kiến thức cần truyền tải trong giờ học, phân tích các hiện tượng vật lí xảy ra để thấy rõ cơ chế của hiện tượng

+ Lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp với từng mục tiêu kiến thức Sử dụng các chức năng của phương tiện dạy học hiện đại để phát huy ưu điểm của PPDH đã lựa chọn

+ Mỗi đối tượng học sinh cần có sự điều chỉnh phương pháp dạy học khác nhau và mức độ đòi hỏi tư duy khác nhau Do vậy khi thiết kế phương án dạy học, cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi, hình ảnh mô phỏng, minh hoạ theo cấp độ yêu cầu đối với tư duy

+ Sử dụng các tính năng ưu việt của máy vi tính để đổi mới hình thức kiểm tra, hình thức đặt vấn đề, tổng hợp kiến thức của từng bài học, từng chương, của từng phần

Trang 40

1.5.2 Lựa chọn và sử dụng một số bài tập trong các giờ học lí thuyết [28]

Chúng tôi lựa chọn và sử dụng một số bài tập (thông qua phiếu học tập) để phân tích cho học sinh tìm hiểu kiến thức trong giờ học lí thuyết vừa có tác dụng giúp học sinh tham gia xây dựng kiến thức mới, vừa giúp rèn ngôn ngữ vật lí cho học sinh Các bài có sự hướng dẫn cần vận dụng kiến thức nào để học sinh dễ hiểu Nhiệm vụ đề ra

là vừa sức và thực hiện trong thời gian ngắn nên gây được hứng thú cho học sinh Qua đó giúp cho giờ học lí thuyết trở nên sôi nổi và học sinh sẽ chủ động hình thành tri thức cho bản thân Khi lựa chọn và sử dụng một số bài tập trong các giờ lí thuyết nhằm phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của HS, chúng tôi nêu ra một số nguyên tắc sau:

+ Có thể phân chia bài tập thành những phần nhỏ vừa sức với trình độ nhận thức của nhiều đối tượng học sinh, sao cho các em có thể tự lực giải quyết vấn đề với sự cố gắng nỗ lực của bản thân

+ Có bài tập định tính, bài tập định lượng; bài tập cơ bản, bài tập phức hợp nhằm tạo ra logic kiến thức giúp rèn luyện kĩ năng giải thích hiện tượng và kĩ năng tính toán, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh…

+ Nội dung bài tập phải đa dạng và có tính sáng tạo, đó là những bài tập mà học sinh muốn giải được không chỉ áp dụng máy móc các công thức vật lí, mà đòi hỏi học sinh phải tư duy sáng tạo, suy nghĩ cẩn thận và vận dụng các kiến thức một cách linh hoạt Từ đó hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh dần được phát huy + Có phần bài tập xây dựng kiến thức mới trong giờ học lí thuyết, bài tập bổ sung những nội dung kiến thức lí thuyết chưa nêu rõ hoặc chưa đề cập đầy đủ, có phần bài tập vận dụng kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức vừa học, có phần bài tập liên quan đến các hiện tượng thực tế Góp phần mở rộng kiến thức kích thích hứng thú học tập cho học sinh

1.5.3 Sử dụng thí nghiệm trong giờ dạy - học

Thí nghiệm là một trong số các phương tiện kích thích hứng thú học tập cho

HS rất có hiệu quả Để phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức thì cách tốt nhất là GV sử dụng thí nghiệm và tổ chức cho

HS hoạt động theo các giai đoạn sau:

Ngày đăng: 25/11/2014, 22:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ Giáo dục và Đào Tạo - Vụ GV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
4. Đoàn Ngọc Căn - Đặng Thanh Hải - Vũ Đình Tuý (2008), Bài tập chọn lọc Vật lí 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập chọn lọc Vật lí 12
Tác giả: Đoàn Ngọc Căn - Đặng Thanh Hải - Vũ Đình Tuý
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
5. Nguyễn Hữu Chí, Các căn cứ lí luận và thực tiễn lựa chọn phương pháp dạy học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các căn cứ lí luận và thực tiễn lựa chọn phương pháp dạy học
6. Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Tuý - Phạm Quý Tư (2008), Vật lí 12 Nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 12 Nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Tuý - Phạm Quý Tư
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7. Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Tuý - Phạm Quý Tư (2008), Bài tập Vật lí 12 Nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Vật lí 12 Nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Tuý - Phạm Quý Tư
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Tuý - Phạm Quý Tư (2008), Sách giáo viên Vật lí 12 Nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Vật lí 12 Nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi - Vũ Thanh Khiết - Nguyễn Đức Hiệp - Nguyễn Ngọc Hưng - Nguyễn Đức Thâm - Phạm Đình Thiết - Vũ Đình Tuý - Phạm Quý Tư
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 - Môn Vật lí, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 - Môn Vật lí
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai (2007), Lí luận dạy học Vật lí ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Duy Chiến, Phạm Thị Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Kỳ (1996), Mô hình dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, Trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Năm: 1996
12. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp giáo dục tích cực, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
13. Phạm Thị Mai, Bùi Thị Hiên, Lê Bá Tứ (2004), Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí, Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí
Tác giả: Phạm Thị Mai, Bùi Thị Hiên, Lê Bá Tứ
Năm: 2004
14. Nghiêm Xuân Nùng , Lâm Quang Thiệp (1995), Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục
Tác giả: Nghiêm Xuân Nùng , Lâm Quang Thiệp
Năm: 1995
15.Nguyễn Trọng Sửu (2008), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 – Môn Vật lí - Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12 – Môn Vật lí -
Tác giả: Nguyễn Trọng Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
16. Phạm Xuân Quế (2007), Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động nhận thức Vật lí, tích cực, tự chủ và sáng tạo, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động nhận thức Vật lí, tích cực, tự chủ và sáng tạo
Tác giả: Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
17.Nguyễn Đức Thâm, An Văn Chiêu, Vũ Đào Chỉnh, Phạm Hữu Tòng (1983), Phương pháp giảng dạy Vật lí trong các trường phổ thông ở Liên Xô và Cộng hoà dân chủ Đức, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Vật lí trong các trường phổ thông ở Liên Xô và Cộng hoà dân chủ Đức
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, An Văn Chiêu, Vũ Đào Chỉnh, Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1983
18.Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng (1999), Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông – Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
19.Phạm Hữu Tòng (1996), Hình thành kiến thức, kĩ năng – Phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kiến thức, kĩ năng – Phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
20. Phạm Hữu Tòng (2007), Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học Vật lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học Vật lí
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Năm: 2007
21. Phạm Hữu Tòng (2006), Lí luận dạy học vật lí 1, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học vật lí 1
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
22. Trần Đức Vượng (2005), Một số vấn đề lí luận dạy học hiện đại, Giáo trình sau đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Trần Đức Vượng
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ lôgic giải bài toán: - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Sơ đồ l ôgic giải bài toán: (Trang 76)
Bảng 1: Chất lượng học tập của các nhóm TN và ĐC - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 1 Chất lượng học tập của các nhóm TN và ĐC (Trang 92)
Bảng 2: Kết quả kiểm tra lần 1 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 2 Kết quả kiểm tra lần 1 (Trang 96)
Bảng 3: Xếp loại học tập lần 1 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 3 Xếp loại học tập lần 1 (Trang 97)
Đồ thị phân phối tần suât lần 1 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
th ị phân phối tần suât lần 1 (Trang 98)
Bảng 5: Kết quả kiểm tra lần 2 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 5 Kết quả kiểm tra lần 2 (Trang 98)
Bảng 6: Xếp loại học tập lần 2 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 6 Xếp loại học tập lần 2 (Trang 99)
Bảng 7: Phân phối tần suất lần 2 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 7 Phân phối tần suất lần 2 (Trang 99)
Bảng 8: Kết quả kiểm tra lần 3 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 8 Kết quả kiểm tra lần 3 (Trang 100)
Đồ thị phân phối tần suât lần 2 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
th ị phân phối tần suât lần 2 (Trang 100)
Bảng 9: Xếp loại học tập lần 3 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
Bảng 9 Xếp loại học tập lần 3 (Trang 101)
Đồ thị phân phối tần suât lần 3 - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
th ị phân phối tần suât lần 3 (Trang 102)
HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM - phát huy hứng thú và năng lực tự lực học tập của học sinh thpt khi dạy học một số kiến thức của chương động lực học vật rắn ( vật lí 12 - nâng cao)
HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM (Trang 122)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm