1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang

100 362 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Neb- 26 là loại phân bón hữu cơ có tác dụng tạo điều kiện phát triển các vi sinh vật có lợi trong đất, cây trồng sử dụng được nhiều dinh dưỡng hơn, tăng cường phát triển bộ rễ, tăng s

Trang 1

–––––––––––––––––––

LA VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG CAO

VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM Neb-26

KẾT HỢP VỚI ĐẠM TRÊN GIỐNG LÚA ĐS1

TẠI HIÊP HOÀ - BẮC GIANG

Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT

Mã số: 60 62 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUÝ NHÂN

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc

ai công bố

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

La Văn Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với TS Đặng Quý Nhân đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Sau Đại học đã giúp đỡ tôi cho việc hoàn thành báo cáo này

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những bạn bè đồng nghiệp, người thân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn này

Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân trọng cảm ơn

Thái Nguyên, ngày 8 tháng 9 năm 2011

Tác giả luận văn

La Văn Tuấn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 5

2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và việt nam 5

2.2.1 Tình hình sản xuất luá gạo trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 7

2.3 Tình hình nghiên lúa trong và ngoài nước 10

2.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 10

2.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước 14

2.4 Tổng quan về chế phẩm tiết kiệm đạm Neb -26 trong canh tác lúa 19

2.4.1 Hiệu quả của bón phân truyền thống 19

2.4.2 Tổng quan về hiệu suất sử dụng phân bón của cây lúa 23

2.4.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm Neb-26 26

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng nghiên cứu 30

Trang 5

3.2 Địa điểm, phạm vi và thời gian tiến hành nghiên cứu 30

3.2.1 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 30

3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu vụ mùa 2010 - vụ Xuân 2011 30

3.2.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

3.2.5 So sánh một số giống lúa chất lượng 33

3.3 Phương pháp phân tích số liệu 43

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Kết quả thí nghiệm so sánh các giống lúa 44

4.1.1 Sinh trưởng phát triển của mạ 44

4.1.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống lúa thí nghiệm 45

4.1.3 Một số hình dạng lá của giống lúa 48

4.1.4 Khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi 49

4.1.5 Các yếu tố cấu thành năng suất lúa 50

4.1.6 Chỉ tiêu chất lượng gạo qua đo đếm cảm quan 53

4.1.7 Phẩm chất các giống lúa qua nấu nướng 54

4.1.8 Chất lượng gạo qua phân tích sinh hoá 55

4.2 Kết quả nghiên cứu thảo luận thí nghiệm 2 55

4.2.1 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến thời gian sinh trưởng của giống lúa ĐS1 55

4.2.2 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26 đến động thái tăng trưởng chiều cao cây 57

4.2.3 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống ĐS1 59

4.2.4 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến động thái tăng trưởng số nhánh của giống lúa ĐS1 60

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

4.2.5 Ảnh hưởng của mức đạm bón dạng phân viên nén khi kết

hợp với chế phẩm Neb-226 đến số nhánh hữu hiệu, tỷ lệ

nhánh hữu hiệu của giống lúa ĐS1 63

4.2.6 Ảnh hưởng của mức đạm bón dạng phân viên nén khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến chỉ số SPAD của giống lúa ĐS1 64

4.2.7 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa ĐS1 65

4.2.8 Hiệu quả kinh tế sử dụng chế phẩm Neb-26 kết hợp với phân đạm của giống lúa ĐS1 67

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

TGST Thời gian sinh trưởng

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 9

Bảng 3.1 Phân loai, nguồn gốc, đặc điểm canh táccủa các giống lúa tham gia thí nghiệm 30

Bảng 4.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của mạ 44

Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm 45

Bảng 4.3 Khả năng đẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa Vụ mùa năm 2010 48

Bảng 4.4 Một số đặc điểm hình dạng lá của các giống lúa 48

Bảng 4.5 Tình hình sâu, bệnh và khả năng chống đổ của các giống lúa trong thí nghiệm 50

Bảng 4.6 Các yếu tố cấu thành năng suấtcủa các giống lúa vụ mùa năm 2010 52

Bảng 4.7 Các chỉ tiêu chất lượng gạo đánh giáqua xay xát và thương trường 53

Bảng 4.8 Phẩm chất các giống qua nấu nướng 54

Bảng 4.9 Chất lượng gạo qua phân tích sinh hoá 55

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến thời gian sinh trưởng của giống lúa ĐS1 (ngày) 56

Bảng 4.11Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26 đến tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (cm) 58

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (cm/tuần) 59

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến động thái tăng trưởng số nhánh của giống lúa ĐS1 62

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26 đến số nhánh hữu hiệu, tỷ lệ nhánh hữu hiệu của giống lúa ĐS1 63

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26 đến chỉ số SPAD của giống lúa ĐS1 64

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa ĐS1 65

Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế phẩm Neb-26 kết hợp với đạm của giống ĐS1 67

Trang 9

PHẦN I

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây lúa (Oryza sativa L) là cây lương thực lâu đời , phổ biến nhất trên

thế giới Cây lúa gắn liền với sự phát triển của loài người , xã hội phát triển , đời sống của người dân càng đượ c nâng cao , chất lượng ăn uống được cải thiện đáng kể nhất là khu vực thành thị , nhu cầu chất lượng thực phẩm đang được đặt lên hàng đầu

Việt Nam là nước có nền nông nghiệp gắn liền với cây lúa Mặc dù là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo xong giá thành cạnh tranh thấp chưa mang lại hiệu quả cao cho người nông dân Điều đó đòi hỏi càng phải nâng cao sản lượng và chất lượng lúa Theo thống kê của FAO năm

2010, tổng diện tích trồng lúa t rên thế giới hiện nay gần 154 triệu ha, tổng sản lượng lúa gạo đạt trên 615 triệu tấn, cung cấp lương thực cho cả thế giới

Tuy nhiên , cùng với cuộc chạy đua nâng cao năng suất cây trồng con người đã lạm dụng rất nhiều loại phân hóa học Việc bón phân mất cân đối làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp bền vững , làm kiệt quệ nguồn dinh dưỡng trong đất , môi trường sinh thái bị ô nhiễm Bên cạnh đó giá thành phân bón bị leo thang , nhập khẩu ngu yên liệu chế biến phân hóa học cao cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất của người nông dân

Trong thực tế sản xuất , hiệu quả sử dụng phân bón đặc biệt là phân đạm chỉ đạt vào khoảng 40% Lượng đạm bị mất đi t heo con đường rửa trôi, bốc hơi và th ấm sâu Việc mất đạm ngày càng được quan tâm nhiều hơn và chúng không những làm lãng phí tiền đầu tư mà còn làm ô nhiễm

môi trường và gây hiệu ứng nhà kính Hiệu quả sử dụng phân đạm th ấp cũng làm giảm hiệu quả kinh tế

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chế phẩm Neb-26 là loại siêu phân bón thế hệ mới do công ty AGMOR, Hoa Kỳ sản xuất Neb- 26 được nhập khẩu bởi Công ty Cổ phần Xây dựng và Thương mại Phú Bắc, phân phối bởi Công ty Cổ phần Kỹ thuật nông nghiệp tỉnh Bắc Giang , Trung tâm nghiên cứu Đất và Phân bón vùng Trung Du Neb-

26 là loại phân bón hữu cơ có tác dụng tạo điều kiện phát triển các vi sinh vật

có lợi trong đất, cây trồng sử dụng được nhiều dinh dưỡng hơn, tăng cường phát triển bộ rễ, tăng sức đề kháng, giúp cây trồng chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng nông sản, tiết kiệm phân bón, giảm được lượng đạm Urê Năng suất tăng khoảng từ 10 - 15% so với cách bón thông thường, thân thiện với môi trường và thân thiện với thực phẩm

Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu

khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm Neb- 26 kết hợp với đạm trên giống lúa ĐS1 tại Hiệp Hoà - Bắc Giang"

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định được 01 giống lúa có năng suất cao , chất lượng tốt và hiệu quả kinh tế cao thích nghi với điều kiện canh tác tại Hiệp Hoà - Bắc Giang , đồng thời nghiên cứu tỷ lệ đạm bón thích hợp khi kết hợp với chế phẩm Neb -

26 từ đó tìm ra công thức bón t hích hợp nhằm giảm lượng đạm mà vẫn đảm bảo năng suất lúa

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

1 - Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao

2 - Xác định được lượng đạm bón thích hợp khi kết hợp với chế phẩm Neb - 26 cho các giống lúa nghiên cứu

3- Đánh giá chất lượng gạo bằng phương pháp phân tích hàm lượng Amiloza, protein và kết hợp chỉ tiêu hình thái

Trang 11

4- Xác định được giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện canh tác lúa tại Hiệp Hòa - Bắc Giang

1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

* Ý nghĩa khoa học của đề tài:

- Nghiên cứu xác định được thời gian sinh trưởng, phát triển, năng suất của các giống lúa chất lượng

- Là cơ sở cho việc đề xuất hướng chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa

- Tìm ra các công thức sử dụng phân bón Neb -26 kết hợp với đạm có hiệu quả thâm canh cao để tiết kiệm chi phí đầu tư , tăng năng suất cây trồng

và giữ được cân bằng sinh thái ruộng lúa

* Ý nghĩa thực tiễn:

- Lựa chọn được 1 giống lúa có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, khuyến cáo nhân rộng mô hình với quy mô hợp lý

- Góp phần định hướng cho nông dân chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa

- Đa dạng hóa thêm bộ giống lúa chất lượng tại địa phương

- Đề tài mang tính ứng dụng cao, được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Một trong những tác nhân quan trọng làm tăng năng suất lúa là yếu tố phân bón Những giống lúa mới năng suất cao yêu cầu nhiều dinh dưỡng đặc biệt là đạm, vì đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất Từ trước tới nay có rất nhiều nghiên cứu về bón phân cho lúa và các nghiên cứu này đều khẳng định là hiệu quả sử dụng phân đạm đối với lúa nước không cao, thông thường hiệu quả sử dụng phân đạm chỉ đạt xấp xỉ 40% [20] Nguyên nhân của hiệu quả sử dụng phân bón thấp là do đạm trong đất lúa bị mất đi qua các con đường sau: Do bốc hơi dưới dạng NH3, do rửa trôi bề mặt khi nước tràn bờ,

do rửa trôi theo chiều sâu nhất là dạng nitrat (NO3

-), bay hơi dưới dạng N2 do hiện tượng phản nitrat hoá Do vậy, cần có một biện pháp bón phân hợp lý nhằm làm giảm đáng kể lượng đạm bị mất đi, phù hợp với điều kiện kinh tế

và canh tác của nông dân [32] Bón phân Urê kết hợp chế phẩm Neb được coi

là một trong những phương pháp bón phân mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao do hạn chế thất thoát đạm trong canh tác lúa Phương pháp này đã được nhiều tổ chức quốc tế đề nghị áp dụng trên diện rộng ở các nước đang pháp triển trồng lúa Một tiến bộ nữa đã và đang được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển trên thế giới là sử dụng chế phẩm Neb- 26, đây là chế phẩm được trộn trực tiếp với đạm trước khi bón cho lúa, chất này có tác dụng điều chỉnh phản ứng thủy phân urea sau khi bón vào đất thông qua việc tác động đến enzim urease Kết hợp hai phương pháp trên tiết kiệm đáng kể lượng đạm

bị thất thoát trong canh tác lúa

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu sau này nhằm góp phần mở rộng phạm vi sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm Đặc biệt là việc tìm ra các công thức sử dụng chế phẩm siêu phân bón Neb-

26 kết hợp phân đạm để tiết kiệm chi phí đầu tư, tăng năng suất cây trồng và giữ được cân bằng sinh thái của ruộng lúa

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay, phân Neb- 26 đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh thành trong cả nước và đang là phương pháp bón phân mới được nhiều nông dân chấp nhận do những tác dụng mà phương pháp này mang lại như: làm tăng năng suất lúa, giảm chi phí phân bón, hạn chế chi phí bảo vệ thực vật Nhìn chung ở những vùng mưa tập trung, đất dốc, điều kiện kinh tế nông hộ còn khó khăn và nhất là khi giá phân bón lên cao thì nông dân đều mong muốn được áp dụng các biện pháp làm giảm lượng phân bón Nhiều vùng xung quanh những thành phố lớn cũng mong muốn áp dụng phương pháp này vì sẽ hạn chế được hàm lượng đạm dư thừa trong nông sản

Trên thế giới cũng như nước ta hiện nay bên cạnh việc áp dụng các phương pháp bón phân tiết kiệm đạm thì một vấn đề cũng đang chú ý tới đó là

sử dụng các chế phẩm hữu cơ để tiết kiệm lượng đạm bón Việc sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm làm áo urê đã được một số nước như Mỹ, Newzealand sử dụng và mang lại kết quả rất khả quan do việc hạn chế thêm được 25% lượng đạm thất thoát do biến thành amoniac bay vào không khí [61]

Trong những năm gần đây giá cả phân đạm ngày càng tăng cao nên việc sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm là một giải pháp để hạn chế sử dụng đạm, qua đó có thể nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.2.1 Tình hình sản xuất luá gạo trên thế giới

Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong những cây lương thực chính với

trên 100 nước sản xuất đảm bảo cung cấp lương thực cho hơn 60% dân số thế

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

giới (có khoảng 70% dân số thế giới sử dụng gạo trong bữa ăn hàng ngày) Từ hàng ngàn năm nay lúa gạo đã đi vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội của các quốc gia trồng lúa Cho đến nay sản xuất lúa vẫn được coi là một lĩnh vực quan trọng nhất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam [25]

Trên thế giới có khoảng trên 100 nước đang trồng lúa thì đa số nằm ở châu Á Cây lúa gắn bó mật thiết với các quốc gia thuộc Đông Nam Á và Nam Á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản Trong số 25 nước sản xuất lúa chính của thế giới có 17 nước nằm trong vùng này và 8 nước nằm ngoài vùng [47] Diện tích lúa của thế giới vào khoảng 150 triệu ha hàng năm (chiếm 11% đất gieo trồng của thế giới) [54]

Trong khi nhu cầu lúa gạo của thế giới liên tục tăng mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng thì đã có những tín hiệu cho thấy sự giảm sút sản lượng lúa gạo Giai đoạn 1985 - 1994 sự tăng trưởng sản xuất lúa gạo chỉ có 1,7%/năm so với 3,2%/năm giai đoạn 1975 - 1985 Thời kỳ 1985 - 1994, việc tăng trưởng sản lượng lúa gạo ở một số quốc gia Châu Á đã thấp hơn sự tăng trưởng dân số Nhiều quốc gia ở Nam và Đông Nam Á sẽ khó duy trì được khả năng tự túc lúa gạo trong vòng 10-20 năm tới Năng suất lúa thế giới tăng

từ 3,0 - 5,8 tấn/ha thời kỳ 1964 - 1990 ở những nơi chủ động tưới tiêu Những vùng đất không chủ động tưới tiêu năng suất chỉ từ 1,4 - 1,7 tấn/ha do thiếu giống được cải tiến phù hợp [45]

Tuy nhiên, trong những năm gần đây do việc sử dụng các giống lúa mới cộng với việc áp dụng các biện pháp canh tác và bố trí cơ cấu các trà lúa hợp lý làm cho sản lượng lúa tăng đáng kể ở hầu hết các quốc gia trồng lúa Tổng sản lượng lúa trong vòng 30 năm qua đã tăng gấp đôi: từ 257 triệu tấn năm 1965 lên tới 535 triệu tấn năm 1994 Cùng với nó, diện tích trồng lúa cũng tăng lên đáng kể, năm 1970 diện tích trồng lúa toàn thế giới là 134.390 triệu ha, đến năm 1994 con số này đã lên tới 146.542 triệu ha Trong đó, các

Trang 15

nước Châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo [51], [53] Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Burma, Philippines, Brazil, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pakistan vẫn là 12 nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa gạo, với tổng sản lượng lúa gạo chiếm tới 89% tổng sản lượng lúa gạo của cả thế giới

Năm 2008, Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Ai Cập, Hoa Kỳ vẫn là 7 nước được dự báo vẫn đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, với tổng khối lượng gạo xuất khẩu dự kiến đạt 23,7 triệu tấn, chiếm 82% thị phần của thế giới [66]

2.2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thể coi là cái nôi hình thành cây lúa nước Đã từ lâu, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội nước ta Với địa bàn trải dài trên 15

vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những vùng đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu

Trước năm 1945 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam

Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng thóc tương ứng là 2,4 và 3 triệu tấn Năng suất bình quân đạt 13 tạ/ha Từ năm 1976 đến năm 1994 diện tích trồng lúa cả nước liên tục tăng, diện tích lúa năm 1994 tăng 123,8% so với năm 1976, trong khi đó đồng bằng Sông Hồng trồng lúa có chiều hướng giảm thì đồng bằng sông Cửu Long lại có tốc độ tăng nhanh và đều nhất (149,6%) Nguyên nhân là do miền Nam mới được giải phóng và chúng ta bắt đầu vào thời kỳ đổi mới nên người dân tiến hành trồng cấy ở nhiều nơi, diện tích lúa ĐBSH tuy giảm nhưng tổng diện tích lúa miền Bắc vẫn tăng 105,0%,

và đến năm 2000 diện tích trồng lúa ở hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ đã tăng lên tới 1212,4 nghìn ha và 3936,1 nghìn ha, năng suất đạt được 42,5 và 42,4 tạ/ha [14]

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong những năm qua, chính phủ đã quan tâm cải tạo cơ sở hạ tầng cho các công trình thuỷ lợi, diện tích gieo trồng đã mở rộng hơn và hệ số luân canh tăng theo Nhiều vùng trước đây chỉ trồng một vụ lúa nay đã trồng được 2-3 vụ [27] Sau khi giống lúa IR8 (Nông nghiệp 8) được nhập nội từ IRRI, Việt Nam đã mở đầu cuộc cách mạng xanh về cây lúa [14] Sản lượng lương thực của Việt Nam những năm gần đây tăng bình quân trên 1 triệu tấn/năm

Từ năm 1989 Việt Nam đã tự túc được lương thực và duy trì lượng gạo xuất khẩu ngày một tăng Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực Sản lượng lúa của Việt Nam từ 32,55 triệu tấn năm 2000 đã tăng lên 38,89 triệu tấn năm

2009 [38], bình quân tăng 1,1 triệu tấn/năm, đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới

Điều đáng chú ý là trong khi diện tích lúa giảm từ 7.666 nghìn ha năm

2000 xuống 7.440 nghìn ha năm 2009, nhưng sản lượng lúa vẫn tăng 6,36 nghìn tấn Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, xu hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh, dân số liên tục tăng làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra ở đây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu [35] Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã làm diện tích trồng lúa bắt đầu đã có dấu hiệu giảm về diện tích, mặc dù sản lượng vẫn tăng cao do việc ứng dụng các TBKHKT vào sản xuất làm tăng năng suất và sản lượng của lúa Bên cạnh sản lượng lúa tăng chúng ta cũng đã chú trọng đến chất lượng của lúa gạo, những giống lúa

cổ truyền như tám ấp bẹ, tám xoan Dự, nếp cái Hoa vàng, Nàng thơm đã được phục tráng và mở rộng sản xuất [24]

Trang 17

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Năm Diện tích (1000 ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(triệu tấn)

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2011 [38]

Sản xuất gạo trong thập kỷ qua đã làm cho Việt Nam có thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đưa nền nông nghiệp Việt Nam bước sang giai đoạn sản xuất hàng hoá, hướng tới xuất khẩu Từ năm 1089 Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu gạo với số lượng 1,4 triệu tấn/năm Năm 1999 là năm xuất khẩu nhiều nhất với 4,6 triệu tấn Ngày nay gạo đã trở thành mặt hàng xuất khẩu, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước

Trước năm 1945 đồng bằng Sông Hồng sản lượng lúa 2 vụ/năm là

25-30 tạ/ha, đồng bằng sông Cửu Long gieo trồng vụ lúa nổi cho năng suất 11-15 tạ/ha và lúa cấy đạt 15-20 tạ/ ha

Như vậy, có thể nói rằng, trong thời gian qua sản xuất lúa ở Việt Nam

đã đạt được khá nhiều thành công Để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực và giữ vị trí xuất khẩu lúa gạo đứng hàng đầu thế giới, một vấn đề đặt ra đó là cần thâm canh tăng vụ, tập trung nguồn lực và trí lực cho việc nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với điều

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

kiện ngoại cảnh, ít sâu, bệnh chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi Nhằm nâng cao cả về mặt giá trị xuất khẩu, chúng ta cần tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển lúa chất lượng cao phục vụ cho công tác xuất khẩu lúa gạo trong những năm tiếp sau

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN LÚA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới

Cùng với sự phát triển của loài người, nghề trồng lúa được hình thành

và phát triển Trình độ thâm canh cây lúa cũng ngày một nâng cao Các giống lúa địa phương không ưa thâm canh, khả năng chống chịu sâu, bệnh kém, năng suất thấp dần được thay thế bằng các giống lúa mới chịu thâm canh, chống chịu sâu, bệnh tốt và thích hợp với điều kiện sinh thái tại địa phương Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) đã được thành lập ở Philippin Viện này đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại, tiêu biểu như các dòng IR, Jasmin [36] Đặc biệt vào thập niên 80 giống lúa IR8 được trồng phổ biến ở Việt Nam đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể Cuộc " cách mạng xanh " từ giữa thập niên 60 đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của châu Á Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo

Các nhà nghiên cứu của viện lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng các giống lúa mới thấp cây, lá đứng tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thể có giải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 và Jamin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Trên cơ sở là một giống lúa chất lượng cao viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lượng Vitamin và Prôtêin cao, có

Trang 19

mùi thơm, cơm dẻo ) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nguời tiêu dùng [41]

Nhiều nước ở châu Á có diện tích trồng lúa lớn, có kỹ thuật thâm canh tiến tiến và có kinh nghiệm dân gian phong phú Có đến 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước châu Á, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonêxia, Bangladet, Thái Lan, Việt Nam, Mianma và Nhật Bản [16]

Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới (trên 1,3 tỷ người) là một nước thiếu đói lương thực trầm trọng trong thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, vì vậy công tác nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc và ứng dụng các TBKHKT, nhất là giống lúa mới vào sản xuất Trong lịch sử phát triển lúa lai trên thế giới, Trung Quốc là nước sử dụng đầu tiên ưu thế lai của lúa vào sản xuất Năm 1960 khi theo rõi thí nghiệm của mình, Viên Long Bình đã phát hiện một cây lúa lạ khoẻ, bông to, hạt nhiều Nhưng ông đã thất vọng vì chưa tìm ra phương pháp sử dụng ưu thế lai Sau đó ông đã tìm dòng bất dục đực Con đường tạo giống ưu thế lai theo phương pháp "3 dòng" được hé mở ở đây Từ năm 1964, Viên Long Bình phát hiện cây có tính bất dục đực nhưng không giữ được tính bất dục đó bởi không có dòng duy trì mẹ Tháng 11 năm

1970 Lý Tất Hồ cộng tác với Viên Long Bình thu được cây bất dục đực trong loài lúa dại ở đảo Hải Nam Đây là thành công có tính quyết định đến việc tạo

ra các tổ hợp lai 3 dòng và 2 dòng sau này Vào năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có ưu thế lai cao, đồng thời hoàn thành quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3 dòng" được hoàn thiện và được đưa vào sản xuất năm 1975, đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Trung Quốc nói riêng và trên toàn thế giới nói chung [15] Những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 Trung Quốc tập trung vào việc lai tạo các giống lúa lai 2 dòng và đang hướng tới tạo ra các dòng lúa lai 1 dòng siêu cao sản (siêu lúa) có thể đạt năng suất 18 tấn/ha/vụ Về chiến lược phát

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2 dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng, lúa lai siêu cao sản nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lúa gạo của đất nước [45]

Lúa lai ra đời đã giúp nền sản xuất lúa lai Trung Quốc phá được hiện tượng ''đội trần" của năng suất lúa lúc bấy giờ và lúa lai được coi là thành tựu sinh học của loài người, được xem là "chàng hiệp sỹ khổng lồ đứng lên tiêu diệt giặc đói đang đe doạ hành tinh chúng ta" [17] Có thể nói rằng Trung Quốc

là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng lúa lai, đưa lúa lai vào sản xuất đại trà Nhờ đó đã làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của Trung Quốc, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho một nuớc đông dân nhất thế giới (1,3 tỷ dân) Các giống lúa lai của Trung Quốc được tạo ra trong thời gian gần đây đều có tính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh Các giống lúa lai như Bồi Tạp Sơn Thanh, Nhị Ưu

838, San Ưu Quế, SYN6, Thục Hưng6…Ngày nay Trung Quốc đã hình thành

hệ thống nghiên cứu lúa lai đến tận các tỉnh, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu

và kỹ thuật viên đông, xây dựng hệ thống sản xuất, kiểm tra, kiểm nghiệm, khảo nghiệm và chỉ đạo thâm canh lúa lai thương phẩm

Theo FAOSTAT năm 2011, Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa đứng đầu thế giới (41.850 nghìn ha), đồng thời Ấn Độ cũng là nước đi đầu trong cuộc "cách mạng xanh" về đưa các TBKHKT nhất là giống mới vào sản xuất, làm nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo của Ấn Độ Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập năm 1946 tại khu Cuttuck bang Orisa là nơi tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Bên cạnh đó Ấn Độ cũng là nước có giống lúa chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới như giống lúa: Basmati, Brimphun có giá trị rất cao trên thị trường tiêu thụ Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạt được một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai được sử dụng rộng rãi

Trang 21

như: IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI 136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 … [42]

Nhật Bản là nước có diện tích trồng lúa ít 1,6 triệu ha nhưng năng suất bình quân cao đạt 65 tạ/ha, sản lượng đạt 10,4 triệu tấn [66] Có được kết quả

đó là do người Nhật chỉ trồng lúa 1 vụ/ năm, cây lúa được gieo trồng trong điều kiện thời tiết thuận lợi nhất, công tác giống lúa của Nhật cũng được đặc biệt chú trọng về giống chất lượng cao vì người nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chất lượng cao Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, Nhật bản đã tập trung vào công tác nghiên cứu giống lúa ở các Viện Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốt như Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu… đặc biệt ở Nhật Bản đã lai tạo được 2 giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao như giống: Miyazaki1và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng prôtêin cao tới 13%, hàm lượng Lysin cũng rất cao [13]

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Với những ưu đãi của thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dù năng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọng đến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúa của Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này có nhiệm

vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít dập gẫy khi xay sát, có hướng thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho chúng ta thấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của Việt Nam [12] Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới của Thái Lan là: Khaodomali, Jamin (Hương nhài) Sản xuất nông nghiệp của

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thái lan trong mấy thập kỷ qua phát triển tuơng đối ổn định và Thái Lan cùng nhiều nước Đông Nam Á khác trong buổi đầu phát triển kinh tế Tư Bản chủ nghĩa, đều xuất phát từ thế mạnh nông nghiệp [21]

Ở khu vực Đông Á còn có một số nước cũng có diện tích trồng lúa đáng kể đó là: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Các nước này chủ yếu sử dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực này Các giống lúa nổi tiếng của khu vực này là Ton gil (Hàn Quốc ), Tai chung1, Tai chung 2, Gang chan gi, Đee-Geo- Wô- Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee- Geo- Wo- Gen là một vật liệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [48]

Ngoài châu Á, thì ở Mĩ, trong thời gian gần đây các nhà koa học không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, lai tạo và đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, mà còn nghiên cứu tỷ lệ Prôtêin trong gạo, phù hợp với thị trường hiện nay

Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu các giống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh

2.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước

2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam

Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây lúa luôn gắn liền với đời sống hàng ngày của dân tộc ta Vì vậy, có thể nói rằng Việt Nam

là cái nôi của nền văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước mà nó còn góp phần quan trọng vào thị trường xuất khẩu lúa gạo của thế giới

Trước năm 1954, người dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúa

Trang 23

địa phương, tuy năng suất không cao song chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện đất đai khí hậu của Việt Nam đồng thời có khả năng chống chịu tốt với sâu, bệnh Nhiều giống lúa được lưu truyền trong sản xuất từ đời này sang đời khác như giống: Chiêm Tép, Chiêm Sài Đường, Chiêm Cút… các giống gieo cấy vụ mùa như: lúa Di, lúa Tám Soan, lúa Dự…[22]

Từ sau ngày hoà bình lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng tới việc phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, với mục đích nhanh chóng đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh trở thành một đất nước có nền nông nghiệp phát triển Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau kinh tế của đất nước ta vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng Đất nước vẫn không thể chuyển mình và nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trước thực trạng đó Đảng và nhà nước đã có những nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn về đường lối

về chính sách và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân,

đó là tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà nông học đã nhập nội, thử nghiệm sản xuất nhiều giống lúa ngắn ngày của Trung Quốc, làm tiền

đề cho sự ra đời của vụ lúa Xuân gieo cấy bằng các giống Chân Trâu Lùn, Trà Trung Tử…[8]

Khi Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975), chúng ta đã tập trung nhiều vào nghiên cứu cây lúa, trong đó chọn tạo và lai tạo các giống lúa được đặc biệt chú trọng Nhờ các thành tựu trong nghiên cứu và áp dụng các TBKHKT, năng suất lúa của Việt Nam không ngừng tăng Chúng ta cũng nhập nội một số giống lúa từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và của một

số nước khác làm phong phú bộ giống lúa của Việt Nam

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nhận thức rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, cho nên từ đại hội Đảng lần thứ VI và các kỳ đại hội tiếp theo ngành nông nghiệp đã được Đảng, nhà nước quan tâm thúc đẩy đúng mức Trong một thời gian không lâu đất nước đang từ một quốc gia nhập khẩu lương thực, người nông dân làm ra sản phẩm lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác song quanh năm vẫn chịu cảnh thiếu đói lương thực, nay đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 trên thế giới, song một vấn đề đặt ra đó là số lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá bán không cao do chất lượng gạo Việt Nam còn kém so với các nước khác như Thái Lan

Vì thế chiến lược sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong những năm tới và các thập niên tiếp theo là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hằng năm ở mức gần 40 triệu tấn/năm như hiện nay, đồng thời đưa vào gieo cấy khoảng 1 triệu

ha lúa chất lượng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế [59]

Với điều kiện thời tiết, khí hậu địa lí thuận lợi cho việc trồng lúa, Việt Nam được coi như là cái nôi của nền văn minh lúa nước Phát huy những lợi thế đó trong những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, từ nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đến nay nền nông nghiệp nước ta được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và đã được đầu tư đúng mức nên năng suất và sản lượng lúa gạo Việt Nam không ngừng được nâng cao

Để có được một ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệ nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa học nông nghiệp có giá trị, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng cho tới nay Sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có một cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm

Trang 25

Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Một số giống lúa chất lượng cao như giống Tám Thơm, lúa Dự, Nàng Thơm, Nếp cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, các giống Nếp Nương, Tẻ Nương…đã được đưa vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Chúng ta đã nhập và thuần hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá, Khaodomaly Tiền Giang [24]

2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa chất lượng cao, giống đặc sản ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lúa thơm có nhiều nét đặc sắc thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Bên cạnh lúa thơm cổ truyền, một vài dòng lúa thuần thông qua lai tạo có mùi thơm cùng được phát triển trong sản xuất các nhà chọn giống nước ta đã khai thác nguồn bố mẹ trong ngân hàng gen của Việt Nam thông qua nội dung: chọn dòng thuần, đột biến gen, lai đơn, nuôi cấy mô khai thác đột biến tế bào Sôma v.v [3]

Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam là một Viện nghiên cứu nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo các giống lúa nhất là các lúa giống chất lượng cao, các giống lúa Nếp thơm,

Tẻ thơm như: IR64, IR66, T1, Xi21, Xi23, NX30…đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Hiện tại các giống lúa lai HYT, Việt Lai… của viện lai tạo ra cũng đang được thí nghiệm và sản xuất thử ở nhiều nơi, kết quả thu được là rất khả quan [9] Các giống Nếp 87, Nếp 97 là những giống Nếp được chọn tạo có nhiều ưu điểm như năng suất cao, chất lượng tốt, có hương thơm như Nếp Cái Hoa Vàng, các giống lúa này hiện đang được trồng nhiều ở các tỉnh từ bắc Trung

bộ trở ra Để tạo cơ sở cho việc ứng dụng các quy trình canh tác các giống lúa đặc sản và giống lúa chất lượng tập thể tác giả của viện Khoa học kĩ thuật nông nghiệp Việt Nam đã giới thiệu về các giống lúa chất lượng và kĩ thuật canh tác nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng của lúa [6]

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Theo Lê Vĩnh Thảo và các cộng sự (2004), lúa thơm ở miền Bắc có thể được phân thành 3 nhóm: lúa Tám, lúa Nếp, lúa Nương Phân tích mức độ đa dạng di truyền của 37 mẫu giống gạo tẻ thơm ở miền Bắc cho thấy: có 30 mẫu giống thuộc Indica, 5 mẫu giống thuộc Japonica và 2 mẫu giống chưa có [59] Nhóm lúa Tám thuộc Japonica, có mùi thơm là một ghi nhận mới trong nghiên cứu lúa ở Việt Nam Còn ở miền Nam hầu hết các giống lúa thơm có dạng hạt dài, thon dài thuộc loại hình Indica Nổi tiếng nhất là Nàng Thơm Chợ Đào (Long An) [61]

Viện cây lương thực - thực phẩm được thành lập năm 1968 do bác sĩ nông học Lương Đình Của, giáo sư tiến sĩ viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng lãnh đạo,

đã tập hợp các nhà khoa học, tập trung vào công tác chọn lọc giống Nhiều giống lúa mới ra đời như Chiêm 314, năng suất khá, chịu rét, chịu nước sâu Giống NN8-388 được phát triển từ giống lúa nhập nội IR8 có nhiều ưu điểm như thấp cây, năng suất cao Giống Bao Thai Lùn đã tồn tại với thời gtan dài

và hiện nay vẫn là giống chủ lực có năng suất cao, phẩm chất tốt trên trà lúa mùa chính vụ ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam Trong những năm gần đây Viện đã tập trung công tác nghiên cứu và chọn tạo các giống lúa theo hướng chọn ra các giống có tính chống chịu cao với điều kiện ngoại cảnh như: chịu hạn, chịu úng, chịu mặn, chống chịu tốt với sâu, bệnh đồng thời chọn các giống lúa chất lượng cao như giống lúa P4 và P6 là các giống lúa có hàm lượng Protein cao, năng suất trung bình đạt từ 45-50 tạ/ha/vụ Đặc biệt giống P4 có hàm lượng Protein cao tới 11%, hàm lượng Amiloza 16-20%, hạt gạo dài, tỷ lệ gạo sát cao [10] Giống P6 là giống có hàm lượng Protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45-50 tạ/ha/vụ, đây cũng là giống

có chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu [63]

Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam cũng đã nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa mới như DT122 là giống có năng suất cao, phẩm chất gạo tốt

Trang 27

Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam cũng chọn tạo được nhiều giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt như CR203, C70, C71 …[62]

Từ năm 1990 lúa lai được đưa vào trồng ở Việt Nam bằng hạt giống của Trung Quốc đã đem lại năng suất và sản lượng tăng đáng kể, đây cũng là động lực để các nhà khoa học Việt Nam tập trung vào việc tạo ra các tổ hợp lai có ưu thế lai cao đưa vào sản xuất

Viện lúa đồng bằng Sông Cửu Long là một Viện nghiên cứu chuyên sâu về các giống lúa đặt tại trung tâm châu thổ Sông Cửu Long Các giống lúa MTL241, MTL305, MTL385, MTL386, MTL389, MATSURI, OM35-36 do Viện chọn lọc, lai tạo đang được trồng phổ biến ở đây đã tạo ra bước ngoặt lớn về năng suất và chất lượng của lúa Ngoài ra công tác xây dựng mô hình trồng các giống lúa chất lượng cao như Hương nhài, Khaodomaly, Nàng thơm cũng được Viện đặc biệt chú ý Viện này cũng đang chịu trách nhiệm quy hoạch và hướng dẫn nông dân trồng 1 triệu ha lúa chất lượng cao phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu gạo chất lượng của Việt Nam trong thời gian tới [64]

Ngoài ra các cơ quan nghiên cứu, các trường Đại học nông nghiệp trong cả nước cũng đã tích cực nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu như giống Việt lai 20 (VL20) của trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội là giống lúa lai 2 dòng cho năng suất cao, chất lượng tốt Các Viện vùng, các trung tâm, trạm trại trong phạm vi cả nước cũng đã tích cực nghiên cứu, lai tạo, chuyển giao cho nông dân những tiến bộ kĩ thuật mới trong đó có các giống lúa mới được đưa vào sản xuất [65]

2.4 TỔNG QUAN VỀ CHẾ PHẨM TIẾT KIỆM ĐẠM NEB -26 TRONG CANH TÁC LÚA

2.4.1 Hiệu quả của bón phân truyền thống

Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng rất nhiều các biện pháp kỹ thuật

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm, 1995, Việt Nam hiện đang là một trong

20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới

Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn Kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân

và kali Ngoài ra một nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả của phân bón thấp là phương pháp bón phân chưa hợp lý, người nông dân còn có những hiểu biết hạn chế về việc biến đổi của phân đạm và các loại phân khác trong điều kiện đất lúa ngập nước, chính trong điều kiện này đạm rất dễ bị mất

Bón phân đạm theo phương pháp truyền thống thường phụ thuộc vào các thời kỳ yêu cầu đạm của cây lúa Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của phân để làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón đạm (Bón tập trung vào giai đoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm

từ 3,5 tạ/ha [18]

Trang 29

Theo sơ đồ của Shouichi Yoshida ta có thể thấy yêu cầu đạm của cây lúa thay đổi theo thời gian sinh trưởng Cây lúa cần nhiều đạm trong 2 thời

kỳ, đó là thời kỳ đẻ nhánh, sau đó là thời kỳ phân hóa đòng và phát triển đòng Kết thúc thời kỳ phân hóa đòng hầu như lúa đã hút trên 80% tổng lượng đạm cho cả chu kỳ sinh trưởng

Theo các tác giả Đinh Văn Lữ (1978); Búi Huy Đáp (1980); Đào Thế Tuấn (1980) và Nguyễn Hữu Tề (1997): thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng đạm là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10 - 15% là hút ở giai đoạn làm đòng, lượng còn lại là từ sau làm đòng đến chín

Theo tác giả Bùi Đình Dinh [8], cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời

kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt

Giai đoạn cuối của quá trình sinh trưởng, sự hấp thu đạm của lúa cũng rất cần thiết phải bón thêm nhiều đạm [4]

Tuy nhiên, phân đạm được chia ra bón nhiều lần dẫn đến người nông dân rất khó xác định thời gian và lượng bón chính xác cho lúa Nhiều trường hợp bón quá nhiều đạm ở giai đoạn sau, lúa quá tốt, nhiều sâu bệnh dẫn đến năng suất lúa rất thấp Mặt khác, việc chia phân đạm làm nhiều lần bón phụ thuộc vào thời tiết, nhiều trường hợp bón xong gặp mưa ngay làm hầu hết lượng đạm bón bị rửa trôi Biện pháp bón phân cho lúa bao gồm bón lót (được vùi vào đất hay là bón trên mặt) và bón thúc một đến hai lần Biện pháp bón phân truyền thống này nói chung là tiện lợi, nhưng rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng bón phân đạm theo kiểu trên thường cho hiệu quả rất thấp Các yếu tố khác cũng làm giảm hiệu quả của phân bón cho lúa nước như trong điều kiện nhiệt đới mưa thường tập trung, nhiều khi với những lượng mưa lớn đã làm cho nước chảy tràn bờ từ thửa ruộng này đến thửa ruộng khác mang theo lượng đạm bị rửa trôi rất lớn

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trong điều kiện ngập nước khi bón vãi và bón thúc Urê cho lúa, đạm bị hydrat hoá, do vậy dễ dàng bị mất đi do bay hơi Tương tự như vậy trong điều kiện ngập nước ở đất có độ thấm cao như đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất

có dung tích hấp thụ (CEC) thấp, không có tầng đế cày, thường dẫn đến việc rửa trôi urê và amôn theo chiều sâu Mặt khác khi bón vãi thường rất dễ xảy

ra quá trình phản nitrat hoá ở lớp đất mặt và ở vùng đất xung quanh bộ rễ lúa

Bón phân vãi urê vùi trộn với đất trước khi cấy có tác dụng làm giảm thiểu việc mất đạm, tuy nhiên việc vùi trộn này không phải lúa nào cũng dễ thực hiện đối với hầu hết các hộ nông dân trồng lúa Những nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng thậm chí đối với cả biện pháp vùi trộn phân đạm vào trong đất bằng cách bừa lấp cũng vẫn xảy ra việc mất đạm với lượng khá lớn Người ta cũng đề nghị nên tiêu nước trước khi vùi trộn phân đạm, trước khi bón lót hoặc bón thúc để làm giảm bớt việc mất đạm, nhưng những biện pháp này người nông dân cũng rất khó thực hiện vì hệ thống tưới tiêu không đồng

bộ và ở những nơi canh tác nhờ nước trời rất khó điều tiết được nước

Xuất phát từ những nghiên cứu trên, có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm giảm bớt lượng đạm bị mất đi, có thể tóm tắt thành 4 nhóm phương pháp sau:

- Duy trì nồng độ đạm thấp trong đất và trong nước (đạm giải phóng từ từ) Nhiều loại phân chậm tan được sản xuất để đáp ứng được mục đích này

- Giảm nhiệt độ nước và nhiệt độ đất bằng biện pháp che phủ

- Hạn chế việc di chuyển của không khí trong đất hoặc mặt nước thông qua đó giảm việc di chuyển của NH3 ra khỏi hệ thống không khí - đất và không khí - nước

- Đối với đất lúa nước, kìm hãm sự sinh trưởng của vi khuẩn lam và quá trình làm tăng pH

Trang 31

Các biện pháp trên hoặc là tiết kiệm chi phí không đáng kể, hoặc là khó thực hiện trong điều kiện canh tác cụ thể cho nên mức độ chấp nhận của nông dân còn hạn chế Do vậy cần có một biện pháp bón phân hợp lý nhằm làm giảm đáng kể lượng đạm bị mất đi, phù hợp với điều kiện kinh tế và canh tác của nông dân, nhất là nông dân trồng lúa ở nước ta, hầu hết là sản xuất quy

mô nhỏ, diện tích trồng lúa ít, tương đối dư thừa lao động

2.4.2 Tổng quan về hiệu suất sử dụng phân bón của cây lúa

Các nghiên cứu nước ngoài ở vùng ôn đới (đã sử dụng đồng vị đánh dấu) cho thấy hệ số sử dụng chất dinh dưỡng của phân bón đối với đạm là 50

- 55%; lân là 40 - 45%; kali là 50 - 60% (Xmirnốp, 1984), còn ở Việt Nam hệ

số này thấp hơn, ví dụ đối với lúa thì đạm là 40%; lân là 22% và kali là 45% Như vậy, có hơn 50% lượng đạm, 50% lượng kali và gần 80% lượng lân tồn

dư ở trong đất tiếp tục biến đổi và trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng Sự biến đổi của phân đạm khi bón vào đất theo các hướng chính kết hợp với tuần hoàn của nó sẽ giải thích bản chất gây ô nhiễm của việc bón phân đạm không hợp lý

Hiệu suất sử dụng phân đạm của cây lúa

Phân urê được sử dụng khá rộng rãi trong trồng lúa, vì giá sản xuất phân tương đối rẻ và chi phí vận chuyển thấp, hàm lượng đạm trong phân cao (46%) Tuy nhiên hiệu quả sử dụng phân đạm của cây trồng rất thấp, đặc biệt

là đối với lúa nước Lượng đạm bị mất đi phụ thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu và biện pháp canh tác được áp dụng Ở nước ta, trong mùa mưa, do mưa tập trung với cường độ lớn, đạm bị rửa trôi theo nước chảy bề mặt và xói mòn

là rất đáng kể Nhìn chung, đạm bị mất dưới dạng thể khí (NH3) và do quá trình phản đạm hoá là những nguyên nhân chủ yếu làm mất đạm trong nhiều

hệ thống nông nghiệp khác nhau

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Theo kết quả nghiên cứu của Mitsui, 1973 về ảnh hưởng của đạm đến hoạt động sinh lý của lúa như sau:

Sau khi tăng lượng đạm thì cường độ quang hợp, cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp độ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp gấp 10 lần cho nên vai trò của đạm làm tăng tích luỹ chất khô

Hiệu suất phân đạm đối với lúa Theo Iruka (1963) cho thấy: Nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúa đẻ nhánh và sau

đó giảm dần Với liều lượng bón đạm thấp thì bón vào lúc lúa đẻ và trước trỗ

10 ngày có hiệu quả cao [55] Theo Prasat và Dedatta (1979) thấy hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa cao ở mức bón thấp, bón sâu và bón vào thời kỳ sinh trưởng sau

Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển Mỗi lần bón với 7 mức đạm khác nhau, 2 tác giả trên đã có những kết luận sau:

+ Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ở mức thấp

+ Có 2 đỉnh về hiệu suất, đỉnh đầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ đẻ nhánh, đỉnh thứ 2 xuất hiện ở 1- 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2 Nếu bón liều lượng đạm thấp thì bón vào lúc 20 ngày trước trỗ, nếu bón liều lượng đạm cao thì bón vào lúc cây lúa đẻ nhánh [56]

Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón vào đến tỷ lệ đạm do cây lúa hút Không phải do bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân đạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ đạm hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160 kg N và 240 kg N có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà

Trang 33

cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa Sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng đạm

từ 40 kg N- 120 kg N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên [19]

Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức đạm từ năm 1992 đến 1994, kết quả cho thấy: Phản ứng của phân đạm đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa [27] và lượng đạm có hiệu quả cao là 90kg N, bón trên mức đó là gây lãng phí

Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm

về ảnh hưởng của liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lúa vụ Đông xuân

và Hè thu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985- 1994 của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, kết quả này đã chứng minh rằng: Trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60kg P2O5 và 30kg K2O làm mức thì khi có bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15- 48,5% trong vụ Đông xuân và vụ Hè thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của 2 vụ đều bón đến mức 90kg N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90kg N năng suất lúa tăng không đáng kể [1] Theo Nguyễn Thị Lẫm, 1994 [22] khi nghiên cứu về bón phân đạm cho lúa cạn đã kết luận: Liều lượng đạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương là 60kg N/ha Đối với những giống thâm canh thì lượng đạm thích hợp từ 90 -

120 kg N/ha

+ Trên đất lúa nước sâu thì mức bón 90kg N năng suất chênh lệch nhau không đáng kể Bình quân năng suất tăng lên của các giống khi tăng thêm 30kg N/ha thì đạt được 6 - 8% và năng suất giữa các giống cũng chênh lệch không đáng kể

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Theo Yoshida (1980) đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển

Khi cây lúa bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng [35] Theo Bùi Huy Đáp [11], đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết được tác dụng

2.4.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm tiết kiệm đạm Neb-26

Có rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ có 30 - 40% lượng phân đạm bón được cây lúa sử dụng, phần còn lại bị mất đi do quá trình bay hơi, rửa trôi bề mặt và thấm sâu (Hình 2.3)

Hình 2.3 Các con đường mất N trong điều kiện canh tác lúa ngập nước

Hiệu quả sử dụng đạm trong sản xuất chỉ đạt vào khoảng 33% (Raun và Jóhnonn, 1999) Lượng đạm bị mất đi thông qua các con đường như rửa trôi, bốc hơi và thấm sâu Việc mất đạm ngày càng được quan tâm nhiều hơn vì chúng không những làm lãng phí tiền đầu tư mà còn làm ô nhiễm môi trường

và gây hiệu ứng nhà kính Hiệu quả sử dụng phân đạm thấp cũng làm giảm

Trang 35

hiệu quả kinh tế (Englesjord et al., 1997) Các sản phẩm phân đạm mới dựa theo nguyên lý: phân được giải phóng chậm (CRN) có tác dụng thúc đẩy tối

đa sinh trưởng và làm giảm sự mất đạm đã được nghiên cứu nhiều trong hai thập kỷ gần đây (Goertz, 1991; Hauck, 1985; Waddington, 1990) Hiệu quả

sử dụng phân đạm tăng đồng nghĩa với việc tăng năng suất và chất lượng sản phẩm và làm tăng thu nhập cho người trồng trọt

Các loại phân giải phóng chậm có thể phân thành 2 loại: loại hoà tan chậm và loại được bọc hoàn toàn trong nước Ngoài ra còn có một số sản phẩm khác như chất ổn định đạm, chất hạn chế sinh học, thực chất chúng không phải là phân đạm chậm tan mà chúng có tác dụng làm giảm việc mất đạm thông qua việc làm chậm quá trình chuyển hoá đạm Các loại phân bọc polymer tỏ ra có nhiều hứa hẹn được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp vì chúng được sản xuất theo cách đạm được giải phóng một cách có kiểm soát

Các chất polymer thông thường có độ bền lớn và tốc độ giải phóng đạm chậm hơn so với dự đoán và phụ thuộc khá nhiều vào nhiệt độ và ẩm độ (Hauck, 1985)

Hầu hết các loại phân đạm chậm tan hiện nay là các loại phân đạm được bọc lưu huỳnh và bọc polymer Khi bón vào trong đất nhờ các quá trình phân huỷ sinh học hoặc phá vỡ lớp vỏ bọc để giải phóng đạm bên trong Các thí nghiệm áp dụng các loại phân này cho thấy khi bón cho bông làm giảm được 40% lượng đạm bón (Howard, 1997), làm tăng năng suất lúa mỳ 20% Khi bón cho khoai tây làm giảm khá lớn việc mất đạm dưới dạng nitrat và làm tăng năng suất đáng kể

Hiện nay khi giá phân đạm đang ở mức cao thì việc sử dụng tiết kiệm lượng đạm trong canh tác lúa để giảm giá thành sản xuất càng cần thiết Giảm lượng đạm nhưng ruộng lúa vẫn phải đảm bảo được năng suất, nên vấn

đề là cần gia tăng hiệu quả sử dụng đạm của cây lúa và chống thất thoát đạm trong quá trình canh tác

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hiệu quả sử dụng lượng phân đạm của lúa thường rất thấp, chỉ khoảng

35 - 40%, có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đạm lên tới 45- 50% bằng các biện pháp:

1/ Bón đúng các thời kỳ cây lúa có nhu cầu đạm cao: Đây là các thời

kỳ cây hút chất dinh dưỡng mạnh nhất, lúc này cần kịp thời bón phân đáp ứng nhu cầu của cây để đạt năng suất tối đa, các thời kỳ đó là: Bén rễ, nẩy chồi, làm đòng , sau khi lúa trổ

2/ Hạn chế sự thất thoát đạm: Phân đạm đang sử dụng rộng rãi hiện nay

là phân Urê, thuộc nhóm amôn rất dễ tan Khi bón vào đất, do tác động của men ureaza, Urê sẽ được thủy phân thành Carbonat amôn (NH4)2CO3 , được cây sử dụng hoặc được keo đất hấp thụ để sau đó cung cấp từ từ cho cây Khi chưa được thủy phân, Urê không bị đất giữ lại, thấm sâu rất nhanh Sự phân giải nhanh hay chậm tùy thuộc tính chất đất, độ pH đất, nhiệt độ, độ ẩm Ở đất thịt, trung tính, nhiệt độ 30ºC sự phân giải chỉ trong 2 - 3 ngày trong khi

Kỳ Sản phẩm được Viện Nông hoá thổ nhưỡng Bộ Nông Nghiệp khảo nghiệm và xây dựng mô hình thí điểm thành công tại các tỉnh phía Bắc Sau khi xây dựng các mô hình sử dụng siêu phân bón Neb - 26 trên các loại cây trồng ở các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình Cục trồng trọt, Bộ NN và PTNT đã chọn phân bón Neb- 26 là sản phẩm để thực hiện "Giải pháp tăng hiệu suất sử dụng phân bón, giảm chi phí

Trang 37

và tăng hiệu quả sản xuất" giúp bà con nông dân tiếp cận công nghệ khoa học tiên tiến trên thế giới vào sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp

Việc sử dụng phân bón vô cơ như đạm, kali, hoá chất bảo vệ thực vật

và tốc độ thâm canh cao của nông dân trong sản xuất nông nghiệp hiện nay kéo theo hàm lượng phân bón và thuốc trừ sâu "thải" vào môi trường sinh thái ngày càng tăng cao Thói quen này không những gây tốn kém, tăng chi phí sản xuất mà còn có nguy cơ làm suy thoái môi trường và giảm chất lượng của sản phẩm nông nghiệp

Phân bón NEB - 26 là sản phẩm ở dạng chất lỏng, phương pháp sử dụng chính là trộn với đạm urê bón hoặc hoà với nước để cung cấp cho cây Thông thường, lượng đạm được cung cấp, cây trồng có thể hấp thụ được 30 - 40%, lượng còn lại theo nguồn nước ngấm xuống đất hoặc khi ở nhiệt độ cao bốc hơi theo không khí Với việc gián tiếp kích thích vi sinh vật đất làm tăng giải chất hữu cơ thành chất dinh dưỡng dễ hấp thụ cung cấp cho cây trồng, NEB-26 đã góp phần tích cực vào chuyển hoá 100% lượng đạm cung cấp cho cây trồng Nhờ đó khi sử dụng NEB-26 bà con nông dân tiết kiệm được 50% lượng đạm trên đơn vị diện tích Đặc biệt, phân bón NEB-26 không độc hại với sức khoẻ con người

NEB-26 thực chất không phải là sản phẩm kích thích sinh trưởng, chúng chỉ có tác dụng giúp cây trồng sử dụng tối đa chất dinh dưỡng mà nông dân bón (vì thông thường trong quá trình bón phân có sự hao hụt rất nhiều, cây trồng chỉ hấp thụ được khoảng 50%) Hơn nữa loại sản phẩm này sử dụng đơn giản, chỉ cần chộn một liều lượng nhất định với phân đạm rồi bón cho cây trồng, không tốn thêm công sức cũng như ngày công lao động của nông dân

Hướng tới nền sản xuất sạch, bền vững là mục tiêu trong sản xuất nông nghiệp trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sử dụng phân bón NEB-26 vào thâm canh để tạo ra cây khoẻ, kháng sâu bệnh, giảm số lần phun thuốc hoá học cho cây trồng là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- 04 giống lúa chất lượng cao có năng suất khá, gồm giống: ĐS1, J01, J02 do Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Di truyền Nông Nghiệp cung cấp và 1 giống đối chứng HT1 Nguồn gốc, phân loại loài phu, và đặc điểm canh tác của các giống lúa tham gia thí nghiệm được trình bảy ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Phân loai, nguồn gốc, đặc điểm canh tác

của các giống lúa tham gia thí nghiệm

- Chế phẩm Neb -26 khi kết hợp với đạm

3.2 ĐỊA ĐIỂM, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

3.2.1 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

- Thí nghiệm được triển khai tại xã Xuân Cẩm huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang

- Loại đất được bố trí thí nghiệm: đất thịt trung bình, chủ động nước

- Thí nghiệm được bố trí trong công thức luân canh: Lúa Xuân - Lúa mùa - Cây ngô đông

3.2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu vụ mùa 2010 - vụ Xuân 2011

Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số

giống lúa mới trong vụ mùa 2010 tại Hiệp Hòa - Bắc Giang

Trang 39

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm khi kết hợp

với chế phẩm Neb - 26 bón cho giống lúa chất lượng cao ĐS1 tại Hiệp Hòa - Bắc Giang vụ xuân 2011

3.2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống lúa chất

lượng cao vụ mùa 2010 và vụ xuân 2011

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm khi kết hợp với chế phẩm Neb - 26 đối với giống lúa ĐS1

3.2.4 Phương pháp nghiên cứu

* Đánh giá hiện trạng sản xuất lúa chất lượng tại huyện Hiệp Hoà thông qua phòng Nông Nghiệp huyện, phòng Thống Kê huyện để thu thập số liệu sản xuất lúa tại địa phương qua các năm

- Thu thập số liệu thống kê về tình hình sử dụng đất và cơ cấu giống lúa được tiến hành từ phòng Nông Nghiệp huyện, phòng Thống Kê huyện

* Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm 1: Thí nghiệm gồm 4 công thức (03 giống lúa mới là J01,

J02, ĐS1 và giống đối chứng HT1) 3 lần nhắc lại, số ô thí nghiệm là 12, mật

độ cấy 55 khóm/m2, khoảng cách cấy 20cm x 9cm, khoảng cách giữa các ô là 0,4m Phương pháp bố trí thí nghiệm và các biện pháp kỹ thuật tuân theo quy trình kỹ thuật khảo nghiệm giống lúa của Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung Ương

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sơ đồ thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với

chế phẩm Neb-26 đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa ĐS1

Thí nghiệm được thực hiện trên giống lúa ĐS1 gồm 4 công thức phân bón và 03 lần nhắc lại

Công thức 1: (120N + 120P2O5 + 120K2O)/ha(đc)

Công thức 2: (120N + 120P2O5 + 120K2O)/ha + Neb - 26

(Mức giảm 0% so với đối chứng)

Công thức 3: (90N + 120P2O5 + 120K2O)/ha + Neb - 26

(Mức giảm 25% so với đối chứng)

Công thức 4: : (60N + 120P2O5 + 120K2O)/ha + Neb - 26

(Mức giảm 50% so với đối chứng)

Thí nghiệm sử dụng đạm Urê Hà Bắc để trộn với Neb - 26

(7ml Neb - 26 : 1kg Urê)

Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 4 công thức 3 lần nhắc lại Tổng số ô thí nghiệm: 12 ô, diện tích ô là 20 m2 Tổng diện tích thí nghiệm là 240 m2 Giữa các ô có đắp bờ ngăn bằng nilon

Ngày đăng: 25/11/2014, 21:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bộ (2003), Bón phân cân đối cho cây trồng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối cho cây trồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
2. Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm (1994),Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn, NXB Nông nghiệp,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
4. Nguyễn Tất Cảnh (2006), Sử dụng phân viên nén trong thâm canh lúa. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân viên nén trong thâm canh lúa
Tác giả: Nguyễn Tất Cảnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
5. Hà Văn Chín (2005), Đánh giá và lựa chọn cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân hợp lí trên đất một vụ tại các xã vùng thấp của huyện Chợ Mới, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ĐH Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và lựa chọn cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân hợp lí trên đất một vụ tại các xã vùng thấp của huyện Chợ Mới
Tác giả: Hà Văn Chín
Năm: 2005
6. Cục khuyến nông và khuyến lâm (1998), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng
Tác giả: Cục khuyến nông và khuyến lâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
7. Phạm Văn Cường (2005), Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất chất khô và năng suất hạt của lúa lai và lúa thuần, Tạp chí Khoa học nông nghiệp, ĐHNN I, Hà Nội, trang 354 - 361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Cường
Năm: 2005
8. Bùi Đình Dinh (1993), ‘‘Vai trò phân bón trong sản xuất cây trồng và hiệu quả kinh tế của chúng’’, Bài giảng lớp tập huấn về sử dụng phân bón cân đối để tăng năng suất cây trồng và cải thiện môi trường, 26 - 29/4/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lớp tập huấn về sử dụng phân bón cân đối để tăng năng suất cây trồng và cải thiện môi trường
Tác giả: Bùi Đình Dinh
Năm: 1993
9. Đinh Dĩnh (1970), Bón phân cho lúa, nghiên cứu về lúa ở nước ngoài - tập I. Bón phân cho lúa, NXB khoa học 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cho lúa, nghiên cứu về lúa ở nước ngoài - tập I. Bón phân cho lúa
Tác giả: Đinh Dĩnh
Nhà XB: NXB khoa học 1970
Năm: 1970
3. Nguyễn Tất Cảnh (2008), Hoàn thiện quy trình sản xuất và sử dụng phân viên nén NK và NPK cho lúa. Báo cáo tổng kết dự án sản xuất thử nghiệm cấp bộ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 2.1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam (Trang 17)
Hình 2.3. Các con đường mất N trong điều kiện canh tác lúa ngập nước - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Hình 2.3. Các con đường mất N trong điều kiện canh tác lúa ngập nước (Trang 34)
Bảng 3.1. Phân loai, nguồn gốc, đặc điểm canh tác   của các giống lúa tham gia thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 3.1. Phân loai, nguồn gốc, đặc điểm canh tác của các giống lúa tham gia thí nghiệm (Trang 38)
Sơ đồ thí nghiệm đƣợc bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Sơ đồ th í nghiệm đƣợc bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Trang 40)
Sơ đồ thí nghiệm: - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 41)
Bảng 4.1.  Đặc điểm sinh trưởng phát triển của mạ - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của mạ (Trang 52)
Bảng 4.2. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.2. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm (Trang 53)
Bảng 4.3. Khả năng đẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa  Vụ mùa năm 2010 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.3. Khả năng đẻ nhánh và chiều cao cây của giống lúa Vụ mùa năm 2010 (Trang 56)
Hình  thái,  màu  sắc  lá  là  một trong  những  yếu  tố quyết định trực  tiếp  đến khả năng quang hợp, khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây lúa - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
nh thái, màu sắc lá là một trong những yếu tố quyết định trực tiếp đến khả năng quang hợp, khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây lúa (Trang 56)
Bảng 4.5. Tình hình sâu, bệnh và khả năng chống đổ   của các giống lúa trong thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.5. Tình hình sâu, bệnh và khả năng chống đổ của các giống lúa trong thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 4.7. Các chỉ tiêu chất lƣợng gạo đánh giá  qua xay xát và thương trường - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.7. Các chỉ tiêu chất lƣợng gạo đánh giá qua xay xát và thương trường (Trang 61)
Bảng 4.8. Phẩm chất các giống qua nấu nướng - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.8. Phẩm chất các giống qua nấu nướng (Trang 62)
Bảng 4.9. Chất lƣợng gạo qua phân tích sinh hoá - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.9. Chất lƣợng gạo qua phân tích sinh hoá (Trang 63)
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm  Neb-26 đến thời gian sinh trưởng của giống lúa ĐS1 (ngày)  CT  Gieo - - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến thời gian sinh trưởng của giống lúa ĐS1 (ngày) CT Gieo - (Trang 64)
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm  Neb- 26 đến tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (cm) - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb- 26 đến tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (cm) (Trang 66)
Bảng 4.12. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm  Neb-26 đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa chất lượng cao và hiệu quả sử dụng chế phẩm neb-26 kết hợp với đạm trên giống lúa đs1 tại hiệp hòa - bắc giang
Bảng 4.12. Ảnh hưởng của mức đạm bón khi kết hợp với chế phẩm Neb-26 đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa ĐS1 (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w