Các nhà khoa học nghiên cứu về ngô đã ứng dụng ưu thế lai để tạo ra các giống ngô lai có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt, tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng, góp phầ
Trang 1NGUYỄN HOÀNG NGUYÊN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI
TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Các thông tin trích dẫn, tài liệu tham khảo sử dụng để hoàn thành luận văn được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Hoàng Nguyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp đến khi hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, quan tâm và hướng dẫn tận tình về phương pháp nghiên cứu thí nghiệm cũng như hoàn thiện luận văn của cô giáo TS Phan Thị Vân; Sự hợp tác rất nhiệt tình và có trách nhiệm của các em sinh viên cũng như sự yêu thích học hỏi, ứng dụng những tiến bộ khoa học mới vào sản xuất của bà con nông dân tại xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Để luận văn này được hoàn thành, tôi xin trân trọng cảm ơn:
Tiến sỹ Phan Thị Vân, Trưởng Bộ môn cây Lương thực, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, người tận tâm theo dõi và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa đào tạo Sau Đại học; Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và các cán bộ Viện nghiên cứu ngô đã tạo điều kiện trong quá tình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn bà con nông dân xã Hồng Tiến, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên đã giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực hiện và đánh giá hiệu quả mô hình trình diễn giống ngô mới có triển vọng
Và cuối cùng, xin chân thành cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp và bạn
bè, những người luôn quan tâm, sát cánh bên tôi trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu vừa qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Hoàng Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 0
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Yêu cầu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 9
1.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên 12
1.3 Vai trò của giống trong sản xuất ngô 14
1.4 Các loại giống ngô 17
1.4.1 Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety) 17
1.4.2 Giống ngô lai (Hybrid maize) 19
1.5 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống trên thế giới 21
1.6 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ở Việt Nam 28
1.7 Định hướng nghiên cứu phát triển sản xuất ngô ở Việt Nam 32
1.7.1 Các cơ quan nghiên cứu và sản xuất giống ngô ở Việt Nam 32
1.7.2 Hạn chế trong nghiên cứu ngô ở Việt Nam 33
1.7.3 Thách thức trong nghiên cứu, chọn tạo giống ngô ở Việt Nam 34
1.7.4 Cơ hội đối với ngành sản xuất ngô Việt Nam 34
1.7.5 Định hướng nghiên cứu phát triển ngô trong thời gian tới 35
1.7.6 Giải pháp phát triển nghiên cứu và sản xuất ngô ở Việt Nam 36
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Vật liệu nghiên cứu 38
Trang 52.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 39
2.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 40
2.4 Nội dung nghiên cứu 41
2.5 Phương pháp nghiên cứu 41
2.5.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của các giống ngô lai thí nghiệm 41
2.5.2 Xây dựng mô hình trình diễn 47
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 48
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm 49
3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2010 49
3.1.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống thí nghiệm 53
3.1.3 Tốc độ ra lá của các giống thí nghiệm 56
3.1.4 Đặc điểm hình thái, sinh lý của các giống thí nghiệm 60
3.1.5 Khả năng chống chịu của các giống thí nghiệm 65
3.1.6 Đánh giá trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống thí nghiệm 71
3.1.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thí nghiệm 73
3.2 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 1: Một số hình ảnh thực hiện thí nghiệm 91
PHỤ LỤC 2: Kết quả phân tích thống kê vụ xuân năm 2010 93
PHỤ LỤC 3: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2010 tại Thái Nguyên 123
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2001 - 2010 5
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2009 6
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2009 7
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 10
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở các vùng ngô chính của Việt Nam năm 2009 11
Bảng 1.6 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên năm 2001 - 2009 13
Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2010 tại Thái Nguyên 50
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai vụ Xuân 2010 tại Thái Nguyên 54
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô lai vụ Đông 2010 tại Thái Nguyên 55
Bảng 3.4 Tốc độ ra lá của các giống ngô lai thí nghiệm vụ Xuân 2010 tại Thái Nguyên 57
Bảng 3.5 Tốc độ ra lá của các giống ngô lai thí nghiệm vụ Đông 2010 tại Thái Nguyên 58
Bảng 3.6 Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các giống ngô lai vụ Xuân và Đông 2010 tại Thái Nguyên 60
Bảng 3.7 Số lá/cây, chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm vụ Xuân và Đông tại Thái Nguyên 64
Bảng 3.8 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2010 tại Thái Nguyên 67
Bảng 3.9 Khả năng chống đổ của các giống thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2010 tại Thái Nguyên 70
Trang 7Bảng 3.10 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống thí
nghiệm vụ Xuân và Đông 2010 tại Thái Nguyên 72
Bảng 3.11 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai vụ
Xuân 2010 tại Thái Nguyên 74
Bảng 3.12 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai vụ
Đông 2010 tại Thái Nguyên 75
Bảng 3.13 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống ngô
lai thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2010 tại Thái Nguyên 79 Bảng 3.14 Giống, địa điểm và qui mô trình diễn giống ưu tú 82 Bảng 3.15 Thời gian sinh trưởng và năng suất của giống ngô lai LCH9
vụ xuân 2011 tại Phổ Yên, Thái Nguyên 83
Bảng 3.16 Kết quả đánh giá của nông dân đối với các giống ngô ưu tú
vụ xuân 2011 84
Trang 9TGST : Thời gian sinh trưởng
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây ngũ cốc cổ nhất, cho
năng suất cao và có giá trị kinh tế lớn của loài người Do có tính đa dạng sinh học và khả năng thích nghi cao nên ngô là cây trồng có địa bàn phân bố vào loại rộng nhất thế giới: trải dài trên 90 vĩ tuyến (từ 40 vĩ độ Nam tới gần 55 vĩ
độ Bắc), từ độ cao 1- 2m cho tới gần 4000m so với mặt nước biển (Nguyễn Đức Lương và cs, 2000)[17]
Ngô là cây lương thực có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp của nhiều nước trên thế giới Tất cả các nước trồng ngô đều sử dụng ngô làm lương thực ở các mức độ khác nhau Trên thế giới, sản lượng ngô làm lương thực chiếm 17%, trong đó ở các nước đang phát triển là 30%, các nước phát triển là 4% Ngô cung cấp lương thực cho 1/3 dân số thế giới, các nước ở Trung Mỹ, Nam Á và châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính Các nước Đông Nam Phi sử dụng 72% sản lượng ngô làm lương thực, Tây Trung Phi 66%, Bắc Phi 45% (Ngô Hữu Tình, 2003) [31]
Những năm gần đây, ngô còn là cây thực phẩm được ưa chuộng Người
ta sử dụng ngô non (ngô bao tử) làm rau ăn cao cấp Nghề trồng ngô rau đóng hộp xuất khẩu phát triển mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều nước trên thế giới như: Thái Lan, Đài Loan
Bên cạnh giá trị làm lương thực, thực phẩm, ngô còn là nguồn thức ăn gia súc vô cùng quan trọng, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp cho gia súc
là ngô Ở các nước phát triển đã sử dụng 70 - 90% sản lượng ngô cho chăn nuôi như Bồ Đào Nha (91%), Italia(93%), Latvia (97%), … Cây ngô là thức
ăn xanh và ủ chua rất tốt cho chăn nuôi gia súc lớn, đặc biệt là bò sữa (Ngô Hữu Tình, 2003) [31]
Trang 11Ngô còn là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến Trong y học từ ngô có thể bào chế ra glucoza, penicillin Ngày nay, một số nước phát triển trên thế giới còn dùng ngô để điều chế nhiên liệu sinh học (ethanol) thay thế một phần nguồn năng lượng đang dần cạn kiệt trong lòng đất
Do có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên sản xuất ngô trên thế giới phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2009, diện tích ngô là 159,5triệu ha, năng suất 51,2 tạ/ha và sản lượng đạt 817,1 triệu tấn So với năm 2000, năm 2009 diện tích tăng 16,4%, năng suất tăng 18,5% và sản lượng tăng 37,9% (FAO, 2011) [42]
Sản xuất ngô trên thế giới có sự phát triển vượt bậc vào đầu thế kỷ XX
là nhờ ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống Các nhà khoa học nghiên cứu về ngô đã ứng dụng ưu thế lai để tạo ra các giống ngô lai có năng suất cao
và khả năng chống chịu tốt, tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng, góp phần cung cấp lương thực cho nhân loại trên toàn cầu
Ở Việt Nam, cây trồng chính là lúa nước song ngô được xác định là cây lương thực cho năng suất cao và ổn định, đặc biệt ở vùng núi vì cây ngô có khả năng thích nghi cao hơn so với cây lúa trong điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, khí hậu khắc nghiệt và trình độ canh tác hạn chế Ở nước ta, ngô được trồng chủ yếu trong điều kiện khó khăn (70% diện tích ngô trồng trong điều kiện không chủ động nước), vì vậy năng suất ngô bình quân của nước ta vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với thế giới Theo thống kê của FAO (2011) [42], năm 2009 năng suất ngô của Việt Nam chỉ bằng 78,5% năng suất trung bình thế giới, 73,5% năng suất trung bình của Trung Quốc; 38,9% năng suất trung bình của Mỹ; 21,2% năng suất trung bình của Jordan và chỉ bằng 19,1% năng suất trung bình của Kuwait Vì vậy để góp phần cải thiện năng suất ngô thì ngoài việc áp dụng đồng bộ những biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến cùng
Trang 12với các chính sách phù hợp cần xác định đúng những giống ngô lai mới có năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của từng vùng
Xuất phát từ yêu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi đã tiến hành thực hiện
đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô
lai mới tại Thái Nguyên”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác định được giống ngô lai có tiềm năng năng suất cao, chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên
3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống thí nghiệm
- Theo dõi khả năng chống chịu (chống chịu sâu bệnh, chống đổ) của các giống thí nghiệm
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí nghiệm, chọn giống ưu tú để khảo nghiệm sản xuất
- Theo dõi một số đặc điểm nông học của giống ưu tú trong mô hình trình diễn
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay sản xuất nông nghiệp đang phát triển với quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu của thị trường Để đáp ứng được yêu cầu của sản xuất cần có các giống mới ưu việt hơn thay thế các giống cũ Đặc biệt ở các tỉnh Trung du
và miền núi điều kiện tự nhiên khí hậu khắc nghiệt, điều kiện kinh tế khó khăn, vì vậy cần có các giống năng suất cao, khả năng chống chịu tốt
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tạo ra nhiều giống ngô lai năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái Các giống ngô lai của Việt Nam có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận tốt hơn và giá thành rẻ hơn so với các giống được sản xuất bởi các công ty nước ngoài Tuy có khả năng thích nghi rộng, nhưng muốn đưa một giống mới vào sản xuất ở một vùng nào đó đều phải tiến hành khảo nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi của giống với điều kiện sinh thái của vùng, để tránh rủi ro trong sản xuất
Với mục tiêu, chọn giống ngô lai mới để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành đề tài này
Việc đánh giá các đặc tính sinh học, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu của giống mới sẽ là cơ sở khoa học xác định được giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, với sự phát triển vượt bậc của khoa học
kỹ thuật và công nghệ đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng có những thay đổi mạnh mẽ Ngô là một trong những cây
Trang 14lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Mặc dù chỉ đứng thứ 3 về diện tích (sau lúa mỳ và lúa nước), nhưng với vị trí là cây có địa bàn phân bố rộng rãi trên thế giới, ngô đã có năng suất và sản lượng cao nhất trong các cây ngũ cốc Năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới chưa đến 20 tạ/ha nhưng đến năm 2010 năng suất đã đạt 51,22 tạ/ha (FAOSTAT, 2011) [42]
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2001 - 2010
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT, 2011[42]; USDA, 2011[51]
Số liệu bảng 1.1 cho thấy giai đoạn 2001-2010 sản xuất ngô trên thế giới phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2001, diện tích trồng ngô trên thế giới là 137,49 triệu ha, năng suất đạt 44,77 tạ/ha, sản lượng 615,48 triệu tấn, nhưng đến năm 2010 diện tích đạt 162,32 triệu ha, sản lượng 820,62 triệu tấn (USDA, 2011) [51] Giai đoạn 2001-2010, diện tích tăng 18,06%, năng suất tăng 14,41% và sản lượng tăng 33,33%
Kết quả trên có được trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh
Trang 15tác Đặc biệt, từ hơn 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống bằng kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mỳ và lúa nước
Vị trí của cây ngô đã được khẳng định ở nhiều vùng, nhiều quốc gia trên thế giới Số liệu thống kê của FAO (2011) [42] cho thấy sản xuất ngô có
sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, các châu lục
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2009
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Châu Á là khu vực có diện tích ngô lớn thứ 2 sau châu Mỹ với 52,17 triệu ha nhưng năng suất ngô ở khu vực này chỉ đạt 44,21 tạ/ha, bằng 81% năng suất trung bình của thế giới
Châu Âu đứng thứ 2 trên thế giới về năng suất với 60,76 tạ/ha (2009) Châu Phi đứng thứ 3 trên thế giới về diện tích nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 18,73 tạ/ha (2009), bằng 37,01% năng suất bình quân của thế giới
Trang 16Ở các nước phát triển năng suất ngô cao hơn năng suất trung bình của thế giới, còn các nước đang phát triển và kém phát triển năng suất thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Nguyên nhân chính do trình độ khoa học kỹ thuật ở các nước đang phát triển và kém phát triển còn hạn chế, chưa tạo ra được giống ngô phù hợp cho sản xuất; điều kiện khí hậu, đất đai không thuận lợi; kinh tế còn kém phát triển nên thiếu vốn đầu tư cho thâm canh
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2009
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2011 [42]
Ở châu Mỹ, có rất nhiều nước điển hình về sản xuất ngô, nhưng nước
có sản xuất ngô phát triển nhất là Mỹ Nước Mỹ luôn được coi là cường quốc
số một về ngô Năm 2009, diện tích trồng ngô của Mỹ là 32,21 triệu ha, năng suất bình quân đạt 103,4 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 333,01 triệu tấn chiếm 41,9% sản lượng ngô toàn thế giới Từ những năm 1990, 100% diện tích ngô của Mỹ đã trồng các giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình và cs, 1993) [26]
Trang 17Phần lớn các nước phát triển năng suất ngô tăng không đáng kể nhưng năng suất ngô ở Mỹ lại tăng đột biến Kết quả đó có được là nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen
ở Mỹ đạt 27,4 triệu ha chiếm 73% tổng diện tích ngô (Phan Xuân Hào, 2008) [12].Minh-Tang Chang and Peter (2005) [49] cho biết, ở Mỹ chỉ còn sử dụng 48% giống ngô được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% bằng công nghệ sinh học
Mỹ cũng là nước xuất khẩu ngô lớn nhất thế giới, năm 2009 Mỹ xuất khẩu 53,5 triệu tấn (chiếm 55 - 60%) tổng lượng ngô xuất khẩu trên thế giới, còn lại Nhật Bản chiếm 40%, Mêhicô 19%, Hàn Quốc 6% và Đài Loan 6% Theo số liệu của tổ chức Nông nghiệp và lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung
và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi đáng kể cho các nước sản xuất ngô lớn như Mỹ
Trung Quốc là nước sản xuất ngô đứng thứ 2 trên thế giới và đứng đầu Châu Á Năm 2009, Trung Quốc có tổng diện tích trồng ngô là 30,48 triệu ha chiếm 19,4% diện tích thế giới, năng suất đạt 53,5 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 163,12 triệu tấn chiếm 20,52% tổng sản lượng ngô toàn thế giới (FAO, 2011)[42] Theo USDA, năm 2010, Trung Quốc có tổng diện tích trồng ngô là 32,45 triệu, năng suất đạt 53,30 tạ/ha và tổng sản lượng đạt khoảng 173 triệu tấn (USDA, 2011)[51]
Theo dự đoán của Bộ Nông nghiệp Mỹ, xu hướng phát triển ngô trong thời gian tới là diện tích trồng ngô đi vào ổn định và có thể giảm dần do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp bởi nhiều nguyên nhân (dân số tăng, công nghiệp phát triển mạnh, hiện tượng sa mạc hoá,…) Nhưng nhu cầu của thị trường ngày càng lớn, theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương
Trang 18thực thế giới (IPRI) tổng nhu cầu sử dụng ngô trên thế giới vào năm 2020 là
852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỉ lệ này là
22% (IPRI, 2003) [48] Vì vậy để đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội cần tăng sản
lượng bằng cách tạo ra nhiều giống ngô có khả năng chịu thâm canh, cho
năng suất cao, chống chịu tốt
1.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Cây ngô là được nhập nội vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm Nhờ những đặc tính sinh học ưu việt như khả năng thích ứng rộng, chịu thâm canh, đứng đầu về năng suất, trồng được ở nhiều vùng sinh thái và ở các vụ khác nhau trong năm nên cây ngô đã khẳng định vị trí trong sản xuất nông nghiệp và trở thành cây lương thực quan trọng đứng thứ hai sau cây lúa góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Việt Nam
Những năm gần đây, nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cùng với sự hợp tác tích cực của các tổ chức lương thực quốc tế như FAO, CIMMYT và nỗ lực của các nhà khoa học cũng như sự năng động sáng tạo của người nông dân, cây ngô trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực quốc gia (Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [28]
Giai đoạn 2001 - 2010 sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2010, diện tích trồng ngô là 1.200 nghìn
ha, tăng 470,5 nghìn ha so với năm 2001 Việc tăng cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, đã cải thiện đáng kể năng suất ngô
Trong 20 năm qua, năng suất ngô nước ta tăng liên tục so với năng suất trung bình thế giới Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới, năm 1990 bằng 42%, năm 2000 bằng 59,8%, nhưng đến
Trang 19năm 2010 đã bằng 78,5% Năng suất ngô được cải thiện là nhờ ứng dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống Năm 2010 diện tích trồng ngô lai đã chiếm trên 90% diện tích ngô của cả nước Một số tỉnh có diện tích trồng ngô lai đạt gần 100% như Đồng Nai, An Giang, Trà Vinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sơn La, Vĩnh Phúc…
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (nghìn tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011[33] và USDA, 2011[51]
Có thể nói tốc độ phát triển ngô lai ở Việt Nam rất nhanh so với lịch sử phát triển ngô lai trên thế giới Sự phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) và tổ chức Nông lương (FAO) của Liên Hợp Quốc cũng như các nước trong khu vực đánh giá rất cao Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003) [31]
Trang 20Mặc dù năng suất ngô của nước ta tăng liên tục từ năm 2001-2010 nhưng so với năng suất bình quân của thế giới và khu vực thì năng suất ngô của nước ta còn thấp Năm 2009 năng suất ngô của Việt Nam chỉ bằng 78,5% năng suất trung bình thế giới, 73,5% năng suất trung bình của Trung Quốc;
38,9% năng suất trung bình của Mỹ (Tổng cục thống kê, 2011) [33] Vì vậy
đòi hỏi các nhà khoa học phải tiếp tục nỗ lực, nghiên cứu ra những giống ngô mới và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mới để
nâng cao năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam
Ở nước ta, cây ngô được trồng khắp hai miền Nam - Bắc, song do khác nhau về đất đai, thời tiết, khí hậu nên năng suất và sản lượng có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lƣợng ngô
ở các vùng ngô chính của Việt Nam năm 2009
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (nghìn tấn)
Bắc Trung bộ và Duyên Hải
Trang 21cả nước, ở đây ngô được trồng chủ yếu trên những diện tích bạc màu, nghèo dinh dưỡng Đây là vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, hạn hán và rét kéo dài, nhiệt độ quá thấp vào mùa đông, nhiều nơi băng giá có sương muối, lượng mưa phân bố không đồng đều và chủ yếu trồng những giống ngô địa phương năng suất thấp Do điều kiện bất lợi nên năng suất ngô trung bình của vùng này thấp nhất trong cả nước Năng suất ngô năm 2009 chỉ đạt 34,5 tạ/ha bằng 84,6% năng suất ngô của cả nước, 66,6% năng suất của đồng bằng sông Cửu Long Mặc dù năng suất thấp nhất so với các vùng trong cả nước nhưng
do diện tích lớn nên sản lượng ngô của vùng Trung du và miền núi phía Bắc cao nhất trong cả nước chiếm 34,5% sản lượng ngô cả nước
Diện tích trồng ngô ở Đồng bằng sông Cửu Long không lớn (37,1 nghìn ha) nhưng được thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ, lượng mưa cao và phân bố đều quanh năm nên năng suất ngô của vùng này rất cao (51,8 tạ/ha) Năng suất ngô trung bình của cả nước chỉ bằng 78,8% năng suất ngô của đồng bằng sông Cửu Long Đây là vùng có tiềm năng phát triển sản xuất ngô rất lớn, nếu mở rộng diện tích trồng ngô thì sản lượng ngô của vùng này sẽ đóng góp không nhỏ vào sản lượng ngô của cả nước
Nhìn chung, mỗi vùng đều có những điều kiện thuận lợi và khó khăn riêng, vì vậy cần khắc phục những khó khăn và phát huy những thế mạnh trong sản xuất ngô của mỗi vùng
1.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên 3.562,82km2
, dân số 1.127.430 nghìn người (Tổng cục thống kê, 2011) [15] Đất đai của Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi (chiếm đến 85,8% tổng diện tích tự nhiên) Đất phù sa có diện tích nhỏ (19.448 ha) chiếm 5,49% diện tích tự nhiên; đất bạc màu diện tích là 4.331 ha, chiếm 1,22% diện tích tự nhiên; đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa 4.380 ha, chiếm 1,24 % diện tích tự
Trang 22nhiên; đất dốc tụ 18.411 ha, chiếm 5,20% diện tích tự nhiên; đất đỏ vàng trên phiến thạch sét là 136.880 ha, chiếm 38,65% diện tích tự nhiên (Tổng cục thống kê, 2011) [15]
Đại đa số các huyện còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, trình độ thâm canh còn thấp; điều kiện tự nhiên phức tạp, hệ thống thuỷ lợi còn chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới cho nên sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngô nói riêng còn nhiều hạn chế Tuy nhiên do cây ngô có một vị thế quan trọng trong nền kinh tế nên tỉnh đã rất chú trọng đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn, cung cấp giống ngô mới, khuyến khích người dân phát triển sản xuất Vì vậy bước đầu đã đạt được những thành quả quan trọng
Bảng 1.6 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên năm 2001 - 2009
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (nghìn tấn)
Từ năm 2001-2009, diện tích trồng ngô của tỉnh Thái Nguyên tăng dần
và đạt diện tích lớn nhất vào năm 2008 với 20,6 nghìn ha, năng suất ngô đạt cao nhất vào năm 2007 (42,1 tạ/ha), bằng 107,1% năng suất bình quân của cả nước Sản lượng năm 2008 (84,6 nghìn tấn) tăng gần 2,8 lần so với năm 2001
Trang 23Trong vòng chưa đầy 10 năm (từ 2001 - 2009), diện tích ngô Thái Nguyên đã tăng 1,8 lần, sản lượng tăng 2,3 lần, năng suất tăng 1,3 lần
Kết quả này cho thấy, sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển và mở rộng ngành sản xuất ngô tại Thái Nguyên Đặc biệt là việc sử dụng các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt, năng suất cao ngày càng phổ biến ở tất cả các địa phương trong tỉnh
Các ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12, LVN99, và một số giống ngô nhập nội như: Bioseed 9607, DK999, NK4300, C919 đã được bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh Theo dự kiến, tỉnh Thái Nguyên sẽ xây dựng vùng ngô hàng hóa quy mô 7.000 ha đến năm 2010 [1]
1.3 VAI TRÒ CỦA GIỐNG TRONG SẢN XUẤT NGÔ
Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đang có nhiều thuận lợi và cũng có nhiều thử thách, nhất là từ khi gia nhập tổ chúc thương mại Quốc tế (WTO) Việt Nam đang cố gắng vượt qua các thử thách để cạnh tranh ở thị trường quốc tế cũng như trong nước Sự cạnh tranh này là động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
Trong hai thập kỷ qua, sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kích lệ Việt Nam đã trở thành một trong các quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuất nông nghiệp Cùng với việc cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác, giống cây trồng đã đóng vai trò rất quan trọng để đạt được các thành tựu trên
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là một tư liệu sản xuất đặc biệt Trước kia để có giống mới, con người chỉ chọn lọc từ những loại hình có sẵn trong tự nhiên Ngày nay khoa học hiện đại phát triển, công tác giống không chỉ chọn lọc mà còn chủ động tạo ra các giống mới bằng phương pháp lai tạo, dùng tác nhân vật lý, hóa học… Giống tốt là cơ sở tăng năng suất cây trồng, ở hầu hết các loại cây trồng, giống quyết định 65-67% năng suất Giống tốt
Trang 24được coi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất cải thiện năng suất và chất lượng nông sản
Những kết quả trong chọn tạo giống đã tạo điều kiện cơ bản để nước ta thực hiện thành công “Cuộc cách mạng mùa vụ”, cải thiện chất lượng và nâng cao sản lượng nông sản
Các nhà khoa học ước tính 30 đến 50% mức tăng năng suất hạt của các cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt Ở nước ta, từ năm 1981 đến 1996 giống đã đóng góp cho sự tăng sản lượng cây trồng lên 43,68% trong khi đó yếu tố phân bón hóa học - thuốc bảo vệ thực vật và yếu tố thủy lợi đóng góp với các tỷ lệ tương ứng là 32,57% và 31,97%, thấp hơn khoảng 10% so với giống (Phan Huy Thông, 2007) [25] Việc chọn đúng các giống tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác là
cơ sở đạt được năng suất cao, ổn định với hiệu quả kinh tế cao nhất
Cùng với các ngành sản xuất nông nghiệp trong cả nước, sản xuất ngô của Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể nhờ những thành tựu trong chọn tạo giống
Sau giải phóng đất nước, sản xuất ngô của Việt Nam đã có hai giai đoạn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống Trước những năm 1980, các giống sử dụng chủ yếu trong sản xuất là giống địa phương như: Gié Bắc Ninh, Xiêm trắng, Lừ Phú Thọ nên năng suất rất thấp Từ năm 1990 đến nay các thế hệ giống lai mới đã ra đời thay thế các giống thụ phấn tự do năng suất thấp nên năng suất ngô của nước tăng lên đáng kể Năm 2009, năng suất ngô tăng 4,0 lần so với năm 1975; 3,8 lần so với năm 1980 và tăng 2,7 lần so với năm 1990 Kết quả này phải kể đến vai trò to lớn của công cuộc cải tạo giống ngô Giống có vai trò quan trọng trong cải thiện năng suất và tăng thu nhập cho người sản xuất
Vụ đông năm 2007, Công ty Giống cây trồng miền Bắc đã trồng thử nghiệm giống ngô siêu năng suất MB069 tại Nghệ An, Thanh Hóa, Thái Bình,
Trang 25Vĩnh Phúc, Phú Thọ Tại các điểm thử nghiệm giống MB069 đạt năng suất 8 tấn/ha, có điểm lên đến 10-12 tấn/ha Giống MB069 đã đứng đầu trong tập đoàn giống khảo nghiệm tại Tứ Xuyên và Quảng Tây - Trung Quốc , năng suất trung bình cao hơn CP888 và CP999 15-20% (Báo nông nghiệp Việt Nam, 2008) [2]
Năm 2006, Viện nghiên cứu ngô đã thử nghiệm các giống ngô nếp lai VN1, VN2, VN6 và VN11 tại Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Hà Nội Kết quả cho thấy trồng các giống nếp lai bán bắp tươi thu nhập cao hơn từ 8-10 triệu đồng/ha so với các giống ngô lai, tăng từ 400-500 nghìn đồng/sào so với trồng các giống ngô nếp cũ (Báo nông nghiệp Việt Nam, 2008) [2]
Tại Thiệu Nguyên, Thanh Hóa giống ngô lai LVN66, LVN61 đã khẳng định được ưu điểm vượt trội so với các giống ngô lai cũ với năng suất bình quân đạt trên 10 tấn/ha LVN66 cũng đạt được kết quả tương tự ở các tỉnh Đồng Nai, Đăk Lăk, Hà Nội, Hòa Bình (Báo nông nghiệp Việt Nam, 2010) [7] [21]
Không chỉ có ưu điểm vượt trội về năng suất các giống ngô lai thế hệ mới còn có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận Tại cao nguyên đá Hà Giang hai giống ngô lai C919 và DK414 đã cho năng suất
80 tạ/ha, trong khi đó các giống ngô cũ ở đây năng suất trung bình chỉ đạt 30 tạ/ha Kết quả này đã góp phần làm thay đổi nhận thức của những người nông dân miền núi trong canh tác ngô (Thông tấn xã Việt Nam, 2010) [10]
Vụ Đông năm 2010, giống ngô lai LVN6654 đã được trồng thử nghiệm tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) Năng suất của LVN6654 đạt 230kg/sào, cao hơn năng suất của giống LVN4 20-21%, tăng thu nhập so với sử dụng giống LVN4 là 227.000 đồng/sào (Báo nông nghiệp Việt Nam, 2010) [8]
Trang 26Cơ cấu giống ngô của Huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai đã được bổ sung với ba giống mới là LVN885, C919 và NK4300 từ kết quả khảo nghiệm năm 2009-2010 Tại Bảo Yên giống LVN885, C919 và NK4300 đã đạt năng suất 62,79-72,35 tạ/ha cao hơn giống B9698 10,25-16,54 tạ/ha (Mai Thị Thu Huệ, 2011) [13]
Thực tiễn sản xuất cho thấy, do sự đa dạng và tính chất phức tạp của sản xuất nông nghiệp nên sản xuất thành công giống mới là một quá trình rất khó khăn Để khai thác tối đa hiệu quả của giống mới phải nắm rõ đặc tính và yêu cầu của giống, phải tiến hành thử nghiệm trước khi đưa ra sản xuất đại trà Chính vì vậy, để bổ sung các giống mới vào cơ cấu giống của tính Thái Nguyên chúng tôi cũng tiến hành đánh giá sự thích nghi của giống qua hai vụ Xuân và Đông 2010
1.4 CÁC LOẠI GIỐNG NGÔ
Theo phương pháp chọn tạo giống ngô được chia làm 2 nhóm chính: Nhóm ngô thụ phấn tự do và nhóm ngô lai (FAO/UNDF/VIE/80/004, 1998) [43]
1.4.1 Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety)
Giống ngô TPTD là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình thụ phấn, chúng được tự do thụ phấn (thụ phấn mở), đây là những khái niệm tương đối nhằm phân biệt với giống ngô lai
Các giống TPTD có đặc điểm sử dụng hiệu ứng gen cộng trong chọn tạo giống, có nền di truyền và khả năng thích ứng rộng, cho năng suất khá Độ đồng đều chấp nhận, dễ sản xuất và thay giống, giống sử dụng 2 đến 3 đời, giá giống rẻ Giống ngô TPTD bao gồm giống ngô địa phương (Local Variety), giống ngô tổng hợp (Improvel Variety) và giống ngô hỗn hợp (Ngô Hữu Tình, 1997) [28]
Trang 271.4.1.1 Giống ngô địa phương (Local Variety)
Giống ngô địa phương là những giống tồn tại trong thời gian dài ở địa phương, có những đặc trưng đặc tính khác biệt với các giống khác và di truyền được cho đời sau
Giống địa phương có đặc điểm như thích ứng với điều kiện khí hậu, điều kiện canh tác và tập quán sản xuất địa phương, có chất lượng tốt, dễ bảo quản nhưng năng suất thấp Giống ngô địa phương là nguồn vật liệu khởi đầu quan trọng để lai với nguồn nhập nội nhằm tạo ra các giống lai có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt (Trần Như Luyện và Luyện Hữu Chỉ, 1982) [18]
1.4.1.2 Giống ngô tổng hợp (Synthetie variety)
Giống tổng hợp là thế hệ tiến triển của lai nhiều dòng bằng thụ phấn
tự do
Một số nhà chọn tạo giống còn cho rằng ngoài dòng thuần, nguồn vật liệu tạo giống tổng hợp có thể là giống hay quần thể nhưng phải thử khả năng kết hợp chung Chỉ những kiểu gen có khả năng kết hợp chung tốt với tất cả các nguồn vật liệu khác mới được đưa vào giống tổng hợp (Allard, 1960) [39]
Giống tổng hợp ngoài việc sử dụng trực tiếp trong sản xuất còn được coi là nguồn vật liệu tốt để rút dòng tạo giống ngô lai (Ngô Hữu Tình và cs,
1997) [28]
Giống tổng hợp được sử dụng đầu tiên trong sản xuất do đề xuất của Hayse và Garber năm 1919 Hai tác giả này cho rằng sản xuất hạt giống ngô cải tiến bằng cách tái hợp nhiều dòng tự phối có ưu điểm hơn so với lai đơn, lai kép vì nông dân có thể tự giữ được giống (Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [27]
1.4.1.3 Giống ngô hỗn hợp (Composite variety)
Giống hỗn hợp là thế hệ tiến triển của tổ hợp các nguồn vật liệu ưu tú
có nền di truyền khác nhau Nguồn vật liệu này bao gồm các giống thụ phấn
tự do, giống tổng hợp, được chọn theo một số chỉ tiêu như năng suất hạt,
Trang 28thời gian sinh trưởng, dạng và màu hạt, tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh (Ngô Hữu Tình và cộng sự, 1997) [27]
Các kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ và Mexico đã chỉ ra rằng phát triển với các giống hỗn hợp nếu sử dụng phương pháp chọn lọc hợp lý có thể đạt được năng suất cao ngang tầm với giống ngô lai mà đầu tư ít hơn (Singh, 1980) [50]
Giống hỗn hợp có vai trò đáng kể trong nghề trồng ngô các nước đang phát triển (Ngô Hữu Tình và cộng sự, 1997) [27] Ở nước ta đã có những giống ngô hỗn hợp nổi tiếng như: VM1, TSB2, MSB49, TSB1…
1.4.2 Giống ngô lai (Hybrid maize)
Ngô lai là kết quả của ứng dụng ưu thế lai trong tạo giống Giống ngô lai sử dụng hiệu ứng trội và siêu trội trong quá trình chọn tạo giống nên có nền di truyền hẹp, thích ứng hẹp, năng suất và độ đồng đều cao, hạt giống chỉ
sử dụng được đời F1, giá thành giống đắt (Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [27]
Ngô lai được chia thành hai nhóm: Giống lai không quy ước (Nonconventional hybrid) và giống lai quy ước (Conventional hybrid) (Viện nghiên cứu ngô, 1996) [38]
1.4.2.1 Giống ngô lai không quy ước (Nonconventional hybrid)
Giống ngô lai không quy ước là giống lai trong đó có ít nhất một bố mẹ không thuần Thuận lợi chính của loại giống này là sử dụng bố không thuần nên dễ sản xuất hạt giống và giảm giá thành (Ngô Hữu Tình và cs, 1997) [27]
Các giống lai không quy ước có thể là:
+ Giống x Giống: Giống lai giữa các giống thường cho năng suất cao
15 - 18% so với giống thụ phấn tự do có cùng thời gian sinh trưởng
+ Dòng x Giống (lai đỉnh): Cho năng suất cao hơn 25 - 30% so với giống thụ phấn tự do có cùng thời gian sinh trưởng
+ Lai đơn x giống (lai đỉnh kép): Cho năng suất cao hơn 20 - 30% so với giống thụ phấn tự do có cùng thời gian sinh trưởng
Trang 291.4.2.2 Giống ngô lai quy ước (Conventional hybrid)
Là giống ngô tạo ra bằng cách lai các dòng thuần, có thể chia thành nhiều loại giống lai quy ước căn cứ vào số dòng thuần tạo nên giống Đây là phương thức sử dụng có hiệu quả nhất của hiện tượng ưu thế lai, lợi dụng được hiệu ứng trội và hiệu ứng siêu trội khi lai các dòng tự phối đời cao với nhau Các giống lai quy ước có thể là lai đơn, lai đơn cải tiến, lai ba, lai ba cải tiến, lai kép
+ Lai đơn: Là giống tạo ra giữa 2 dòng thuần, (A x B) trong đó A, B là dòng thuần Một số giống ngô lai đơn có năng suất cao, phẩm chất tốt được sử dụng phổ biến trong sản xuất như LVN 10, LVN4, LVN20, LVN99
+ Lai ba: Lai giữa giống lai đơn và một dòng tự phối, [(A x B) x C] trong đó A, B, C là dòng thuần
+ Lai kép: Lai giữa hai giống lai đơn, [(A x B) x (C x D)], trong đó A,
B, C, D là dòng thuần
Hiện nay nhiều giống ngô lai quy ước được sử dụng rất rộng rãi trong sản xuất như: LVN10, DK888, LVN98, LVN4, LVN17, C919, LVN23 (ngô rau), LVN24…
Trang 301.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG TRÊN THẾ GIỚI
Đối với các bộ tộc da đỏ Châu Mỹ, về một phương diện nào đó, ngô đã thuộc về khái niệm con người hơn thực vật, ngô trở thành điểm hội tụ của niềm tin và chủ nghĩa tượng trưng, là món ăn vật chất và tinh thần của tất cả các bộ tộc da đỏ của châu lục mới Cây ngô gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của người bản xứ châu Mỹ, được suy tôn như bậc thần thánh, được cúng tế trước lúc gieo trồng và sau khi thu hoạch Thế kỷ 16 và 17 người da trắng tiếp nhận cây ngô từ người da đỏ nhưng cũng không phát hiện được gì hơn so với những gì mà người da đỏ đã làm được
Tuy nhiên phải đến thế kỷ XVIII, tức sau khi Columbus mang cây ngô
về châu Âu hơn 2 thế kỷ, loài người mới có những phát hiện khoa học quan trọng về cây ngô Phát hiện đầu tiên là phát hiện về giới tính của ngô
Vào năm 1716, Mather đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo ở ngô tại Massachusetts Trên ruộng ngô vàng được trồng một hàng bằng giống đỏ và xanh da trời Ông nhận thấy giống ngô vàng có sự thay đổi về màu hạt bởi giống đỏ và xanh
Tám năm sau công bố của Mather, Paul Dadly đã đưa ra nhận xét về giới tính của cây ngô và ông cho rằng gió đã mang phấn ngô cho quá trình thụ tinh (Ngô Hữu Tình, 2009) [32]
Năm 1760, nhà bác học người Nga, Koelreuter đã quan sát và mô tả hiện tượng ưu thế lai thông qua việc lai giữa các chi Nicotinana tabacum và N.robusa Năm 1766, Koelreuter lần đầu tiên miêu tả hiện tượng tăng sức sống của con lai ở ngô, khi tiến hành lai các cây trồng thuộc chi Nicotiana, Dianthus, Verbascum, Mirabilis và Datura với nhau, đây là cơ sở để Charles Darwin quan sát thấy hiện tượng ưu thế lai ở ngô vào năm 1871 Ông nhận thấy những cây giao phối phát triển cao hơn các cây tự phối 20% (Ngô Hữu Tình, 2009) [32]
Trang 31Vào nửa cuối thế kỷ 19, các phương pháp cải tạo ngô đã mang tính chất khoa học chứ không trông chờ vào sự may rủi Công trình cải tạo giống ngô
đã được Beal thực hiện lần đầu tiên vào năm 1877, ông đã thấy sự khác biệt
về năng suất giống lai so với giống bố mẹ Năng suất của con lai vượt năng suất của giống bố mẹ về năng suất từ 25% (Ngô Hữu Tình, 2009) [32]
Năm 1877, Charles Darwin sau khi làm thí nghiệm so sánh hai dạng ngô tự thụ và giao phối đã đi tới kết luận: “Chiều cao cây ở dạng ngô giao phối cao hơn 19% và chín sớm hơn 9% so với dạng ngô tự phối” (Hallauer và
Miranda, 1986) [45]
Để tạo ra các dòng thuần, Shull (năm 1904), đã áp dụng tự phối cưỡng bức ở ngô Các thí nghiệm được tiến hành tiếp tục đến năm 1912, ông nhận thấy tự phối dẫn đến sự suy giảm kích thước của cây, giảm sức sống và năng suất Ông bắt đầu tiến hành lai đơn giữa một số dòng và thấy rằng năng suất
và sức sống ở giống lai tăng lên đáng kể Năm 1909, G.H.Shull đã công bố các giống lai đơn (single cross) cho năng suất cao hơn hẳn so với các giống ngô khác thời gian đó Năm 1914, chính Shull đã đưa vào tài liệu khoa học thuật ngữ “Heterosis” để chỉ ưu thế lai của các giống lai dị hợp tử, những công trình nghiên cứu về ngô lai của Shull đã đánh dấu sự bắt đầu của chương trình chọn tạo giống ngô (Hallauer, 1988) [46]
Ưu thế lai là hiện tượng tăng sức sống qua lai đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới Tuy nhiên, để giải thích cơ sở di truyền của
ưu thế lai ngày nay trên thế giới đang tồn tại nhiều thuyết khác nhau song các thuyết trội (Bruce, 1910; Collins, 1921; Jones, 1917) và thuyết siêu trội (East, 1912; Hull, 1945) nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học Các nhà khoa học đã nhất quán rằng ưu thế lai là hiện tượng tổ hợp lai có sức sống mạnh hơn bố mẹ, sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, cho năng suất và phẩm chất cao hơn bố mẹ của chúng (Taktajan, 1977) [22]
Trang 32Trong khi cặp lai giữa hai dòng không họ hàng rất khỏe và năng suất cao thì bản thân các dòng vừa nhỏ bé, yếu, năng suất thấp Các dòng như vậy rất khó sản xuất hạt giống Vì vậy, Jones đã nghiên cứu và phát triển kỹ thuật mới để ngô lai có thể áp dụng được vào sản xuất Sau ba năm (vào năm 1917), ông đã phát minh ra phương pháp lai kép Đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc cải tạo giống ngô, nhờ phát minh này giá thành hạt giống giảm, việc áp dụng ưu thế lai vào trồng trọt và chăn nuôi được phát triển nhanh chóng
Các giống ngô lai ngày càng được trồng rộng rãi và phổ biến, trong đó các giống ngô lai đơn có ưu thế lai cao nhất nhưng do quá trình sản xuất hạt giống cho năng suất thấp nên giá thành hạt giống lai đơn rất cao Vì vậy, người
ta tiến hành tạo các giống ngô lai 3, lai kép cho năng suất hạt giống cao, giá thành hạt giống rẻ, ưu thế lai cao (Nguyễn Thế Hùng và cs, 1997) [14]
Vào những năm 60 của thế kỷ 20 các nhà khoa học nghiên cứu ngô trên thế giới đã phát triển được nhiều dòng thuần ưu tú, tạo cơ hội cho việc sử dụng giống lai đơn vào sản xuất thay thế cho lai kép vì lai đơn đồng đều hơn
và cho năng suất cao hơn lai kép Chỉ trong vòng 10 năm lai kép đã bị thay thế gần như hoàn toàn bởi lai đơn và lai đơn cải tiến
Tiến bộ khoa học về ngô lai được phổ biến và mở rộng nhanh chóng ở
Mỹ và các nước tiên tiến khác Năm 1933, ngô lai ở vùng vành đai ngô ở Mỹ chỉ chưa đầy 1%, nhưng 10 năm sau đã đạt 78% Đến năm 1965, 100% diện tích ngô vùng vành đai và 95% diện tích ngô toàn nước Mỹ đã trồng ngô lai Chính nhờ thay thế các giống thụ phấn tự do bằng các giống ngô lai mà năng suất ngô của Mỹ năm 1981 đã đạt 68,8 tạ/ha, tăng 4,6 lần so với năm 1933
Kế tục sự nghiệp vẻ vang và sáng tạo của thế hệ cha anh đi trước, các nhà khoa học Hoa Kỳ đương đại như Sprague, Duvick, Hallauer đã có nhiều thành tích được cả thế giới ghi nhận Hallauer đã tạo và chuyển giao hơn 30
Trang 33dòng thuần Dòng thuần của Hallauer được sử dụng nhiều nhất trong các giống lai thương mại ở phía Bắc vùng vành đai ngô Hoa Kỳ, ở vùng ôn đới Châu Âu và Trung Quốc (Ngô Hữu Tình, 2009) [32]
Năm 1966, Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại Mêxicô Từ khi thành lập đến nay, CIMMYT đã xây dựng, cải thiện và phát triển khối lượng lớn nguồn nguyên liệu, vốn gen, các giống thí nghiệm, cung cấp cho khoảng hơn 80 nước trên thế giới thông qua mạng lưới khảo nghiệm giống Quốc tế Các nguồn nguyên liệu mà chương trình ngô CIMMYT cung cấp cho các nước là cơ sở cho chương trình tạo dòng và giống lai Trung tâm này đã nghiên cứu đưa ra giải pháp, tạo giống ngô thụ phấn tự
do (OPV) làm bước chuyển tiếp giữa giống địa phương và ngô lai Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trong chọn tạo giống ngô lai cũng được chú trọng Theo điều tra của Bauman năm 1981, ở Mỹ các nhà tạo giống đã
sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyền rộng, 16% từ quần thể có nền di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng ưu tú, 39% từ tổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% từ quần thể hồi giao để tạo dòng (Bauman, 1981) [40]
Bên cạnh đó các nhà chọn tạo giống ngô tại CIMMYT còn nghiên cứu phát triển các giống ngô hàm lượng protein cao QPM (Quality Protein Maize) Cách đây hơn 3 thế kỷ, những nghiên cứu về ngô QPM đã được tiến hành sau khi khám phá ra đột biến gen lặn Opaque 2 và gen trội không hoàn toàn Floury 2 ở ngô Những gen này quy định hàm lượng đạm và đặc biệt là hàm lượng Lisine và Tryptophan, đã giải quyết đòi hỏi của thị trường ngô ngày càng cao theo hướng tăng diện tích ở mức độ nhất định đi đôi với năng suất và tăng hàm lượng, chất lượng đạm Lúc đầu, nhiều chương trình quốc gia với sự tài trợ về tài chính to lớn của nhà nước, các tổ chức quốc tế và tư nhân đã tập trung nghiên cứu giống ngô giàu đạm nội nhũ mềm (còn gọi là nội nhũ xốp) Chương trình này đã thất bại vì không nâng cao được tỷ lệ và
Trang 34chất lượng đạm, sâu bệnh nhiều, bắp dễ bị thối, bảo quản trong kho dễ bị sâu mọt phá hoại và hạt dễ bị mất sức nẩy mầm và lâu khô Cuộc cách mạng về ngô QPM, nội nhũ cứng chính thức mới được bắt đầu cách đây 20 năm Các nhà khoa học ở Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) và một số nhà tạo giống trên thế giới đã phải tìm ra những hướng đi khác Các nhà khoa học bằng phương pháp tạo giống đặc biệt đã khắc phục những nhược điểm của các giống ngô QPM nội nhũ mềm và xác định được gen sử dụng có hiệu quả nhất là Opaque 2 Các giống ngô QPM có ưu điểm đặc biệt
là hàm lượng Triptophan (0,11%), Lysine (0,475%) và Protein (11%) cao hơn rất nhiều so với ngô thường (tỷ lệ này ở ngô thường là 0,05; 0,225 và 9,0%)
Từ năm 1997, ngô QPM đã được chuyển giao đến hàng triệu người nông dân
và những người tiêu dùng Ngô chất lượng protein cao đem lại hiệu quả lớn khi sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi và làm lương thực chống suy dinh dưỡng cho người nghèo, góp phần tích cực vào việc xoá đói giảm nghèo cho các nước đang phát triển [47]
Có thể nói, ngô lai là một trong những thành tựu khoa học nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới, nó đã làm thay đổi không những bức tranh về ngô của quá khứ mà làm thay đổi cả quan niệm của các nhà hoạch định chiến lược, các nhà quản lý kinh tế và với từng người dân Ngô lai là “một cuộc cách mạng xanh” của nửa thế kỷ 20, tạo ra bước nhảy vọt về sản lượng lương thực, sang thế kỷ 21 ngô sẽ là cây lương thực đầy triển vọng trong chiến lược sản xuất lương thực và thực phẩm (Ngô Hữu Tình, 2009) [32]
Nhờ ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong công tác chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác mà ngành sản xuất ngô trên thế giới có được những thành tựu đáng ghi nhận Đặc biệt, những năm gần đây với sự phát triển của khoa học công nghệ, công tác chọn tạo giống cây trồng thế kỷ 21 được trợ giúp bởi nhiều kỹ thuật mới Một số lượng lớn các
Trang 35phương pháp công nghệ sinh học hiện đại ra đời, nhanh chóng trở thành công
cụ hữu hiệu để cải tạo năng suất cây trồng Những kỹ thuật mới này tập trung vào hai lĩnh vực: nuôi cấy mô tế bào và tái tổ hợp ADN Hai kỹ thuật trên đã
mở ra tiềm năng ứng dụng rộng lớn trong cải tạo giống cây trồng
Vấn đề cải tạo giống cây trồng dựa trên kỹ thuật nuôi cấy các bộ phận cây đã được đề cập đến cách đây 3 thế kỷ Công trình nghiên cứu nuôi cấy mô đầu tiên là của Haberlant (1902), ông cho rằng tế bào là một nhân tố không thể thiếu của cơ thể, nó có thể cung cấp những thông tin về mối tương tác, quan hệ giữa chúng cũng như bổ sung những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành cơ thể đa bào, tuy nhiên nghiên cứu của ông chỉ dừng lại ở cơ sở lý luận Đến năm 1922, Kotte và các sinh sinh viên của Haberlant ở Đức đã công
bố những thành công trong nuôi cấy mô đỉnh chồi
Việc lựa chọn các bộ phận của cây và kỹ thuật nuôi cấy mô phụ thuộc vào đối tượng, mục đích của các nhà nghiên cứu Việc ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại vào công tác chọn tạo giống ngô của các nhà khoa học trên thế giới đã đạt được những thành công lớn đó là tạo dòng thuần bằng phương pháp nuôi cấy bao phấn Thụ tinh trong ống nghiệm đã thành công trong việc khôi phục nguồn gen tự nhiên Hiện nay kỹ thuật nuôi cấy bao phấn là một trong những hướng nghiên cứu tạo dòng thuần invitro có nhiều triển vọng (Trần Thị Thêm, 2006) [24]
Với mục đích chống sâu bệnh, tăng năng suất, các nhà nghiên cứu chọn tạo giống đã thực hiện quá trình chuyển đổi di truyền Ví dụ như loại ngô Novartis, mang thêm gen lấy từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis, có khả năng sản sinh một độc tố Độc tố này là một chất sát trùng sinh hóa học, có tính chất tiêu diệt bướm ống (pyrale) là một loại sâu cánh phấn (lepidoptere) mà
ấu trùng phá hại bắp Lợi ích loại bắp này là tự nó chống lại sâu bọ, không cần dùng thuốc hóa học
Trang 36Hiện nay, đã có hơn 29 quốc gia trên thế giới với 14 triệu nông hộ trồng cây biến đổi gen với diện tích 130 triệu ha Nhờ sử dụng các cây trồng biến đổi gen thế giới đã cắt giảm khoảng 0,39 triệu tấn thuốc trừ sâu và giảm khoảng 17,1% các độc hại ra môi trường liên quan đến sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật (Graham Brookes, 2011) [44]
Hiện nay công nghệ sinh học hiện đại được áp dụng vào công tác chọn giống ngô nên các giống ngô mới ngày càng được trồng rộng rãi và phổ biến Gần 80% diện tích trồng ngô trên thế giới hiện nay được trồng với giống ngô cải tiến Trong đó cây ngô biến đổi gen (Bt) có khả năng phát triển rất mạnh trong khu vực phát triển ngô lai Ngô Bt được đưa vào canh tác đại trà từ năm
1996, mang lại lợi ích ổn định, đã đóng góp một sản lượng ngô đáng kể làm lương thực, nhiên liệu sinh học và thức ăn gia súc ở Mỹ Đặc biệt ở giai đoạn hiện nay khi diện tích canh tác bị thu hẹp, việc sử dụng ngô biến đổi gen sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu ngô toàn cầu Graham Brookes (2011) [44], cho rằng nếu không sử dụng giống ngô biến đổi gen thì diện tích trồng ngô thế giới phải tăng thêm 5,63 triệu ha mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội, đây là bài toán
vô cùng khó khăn đối với các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý
Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen trên thế giới đã đạt 35,2
triệu ha, riêng ở Mỹ đã lên đến 27,4 triệu ha (Phan Xuân Hào, 2008) [12]
Trong những năm gần đây, ngô biến đổi gen có mức tăng đáng kể ở các thị trường truyền thống như: Mỹ, Canada, Achentina, Nam Phi, Tây Ban Nha, Philippin và Honduras Ngoài ra còn thị trường quan trọng khác gồm: Braxin, Mêxico, Ai Cập, Kenia, Nigeria, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan
Ngô là loại cây trồng đầy triển vọng của loài người trong thế kỷ 21 Hiện nay công tác nghiên cứu và chọn tạo giống ngô lai trên thế giới vẫn đang được chú ý phát triển để tạo ra những giống ngô mới có những đặc điểm mong muốn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Trang 371.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam ngô là cây trồng nhập nội nên nguồn gen hạn hẹp, công tác nghiên cứu về ngô của nước ta cũng chậm hơn nhiều so với các nước trên thế giới Giai đoạn 1955 - 1970 các nhà khoa học cũng đã bước đầu điều tra về thành phần loài và giống ngô địa phương Các chuyên gia Việt Nam trong một thời gian dài đã nỗ lực thu thập nguồn vật liệu khởi đầu trong nước, hợp tác với trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) trong việc thu thập đánh giá, phân loại nguồn nguyên liệu cũng như đào tạo cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu ngô, đặt nền tảng cho mọi hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ sản xuất ngô ở Việt Nam
Theo các nghiên cứu phân loại ngô cho thấy ở Việt Nam ngô chủ yếu
có hai loài phụ là ngô đá rắn và ngô nếp Trên cơ sở đánh giá các giống địa phương, các nhà khoa học đã chọn ra những giống tốt và tiến hành chọn lọc phục vụ cho sản xuất (Cao Đắc Điểm, 1988) [5]
Ở nước ta chương trình chọn tạo giống ngô lai được tiến hành song song với chương trình chọn tạo giống ngô thụ phấn tự do Quá trình nghiên cứu, chọn tạo giống có thể chia làm 3 giai đoạn như sau:
* Giai đoạn từ sau giải phóng miền Nam đến trước năm 1990: Trên cơ
sở tập đoàn nguyên liệu thu thập trong nước kết hợp với nguồn nhập nội chủ yếu từ CIMMYT, chúng ta đã chọn tạo và đưa ra sản xuất một loạt các giống thụ phấn tự do như MSB49 công nhận giống năm 1987, TSB2 công nhận giống năm 1987, TSB1 (1990), HLS (1987), Nhờ thay đổi cơ cấu giống nên năng suất ngô năm 1990 đạt 1,55 tấn/ha
* Giai đoạn 1990 - 1995: Các nhà nghiên cứu ngô nước ta đã chú trọng
hơn vào việc phát triển các dòng thuần để tạo giống ngô lai Ở Việt Nam, chương trình chọn tạo giống ngô lai đã được bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 60 (Trần Hồng Uy, 1999) [35] Tuy nhiên, các nghiên cứu thử nghiệm
Trang 38đã không đạt kết quả mong muốn do nguồn vật liệu không thích hợp trong điều kiện nhiệt đới ẩm, ngày ngắn của Việt Nam
Những năm đầu của thập kỷ 90, với chính sách mở cửa, ngô lai ở Việt Nam là một trong những cây hội nhập sớm nhất Cuộc cách mạng về ngô lai ở nước ta đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm Năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt do áp dụng thành tựu về ngô lai vào sản xuất Do cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng được một số khâu trong quá trình sản xuất giống lai, nên ngô lai chưa phát huy được hết vai trò của nó Vì vậy, để chương trình ngô lai phát triển các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra các định hướng rất rõ ràng.:
+ Thu thập, bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu ngô trong nước, đặc biệt là những nguồn nguyên nhiên liệu quý về tính chống chịu, chín sớm, chất lượng cao làm lương thực
+ Nhập nội những nguồn nguyên liệu ngô nhiệt đới, quan tâm đến tính chống chịu của các giống này Chú trọng các nguồn nguyên liệu chín sớm, ngô thực phẩm như: ngô nếp, ngô đường, ngô rau, ngô có hàm lượng protein cao (Trần Hồng Uy, 1999) [35]
Ở giai đoạn này, sử dụng các giống lai không quy ước Những giống lai không quy ước được sử dụng trong sản xuất là giống LS6, LS8 thuộc loại lai đỉnh kép không những cho năng suất cao mà quá trình sản xuất hạt giống cũng dễ dàng, giá thành hạt giống rẻ, mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất Việc sử dụng giống lai không quy ước như cuộc diễn tập cho các nhà tạo giống và nông dân sản xuất giống lai quy ước - những giống đòi hỏi có điều kiện sản xuất cao hơn
* Từ 1995 đến nay
Cây ngô ở Việt Nam thực sự phát triển khi các công ty nước ngoài xâm nhập thị trường ngô Việt Nam, họ là đối tác để nông dân Việt Nam lựa chọn
Trang 39hướng hoạt động, nghiên cứu, sản xuất Dưới sức ép của kinh tế thị trường đòi hỏi các đơn vị nghiên cứu sản xuất, cung ứng giống Việt Nam muốn tồn tại phải nhanh chóng hòa nhập, thúc đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và sản xuất
Vì vậy, các nhà nghiên cứu ngô nước ta đã nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất các giống ngô lai quy ước (Viện nghiên cứu ngô, 1996) [38]
Các nhà khoa học đã xây dựng quỹ gen ngô Việt Nam bằng cách thu thập các quần thể địa phương nhưng quan tâm chủ yếu đến việc nhập các vật liệu ngô từ các nước, các cơ quan nghiên cứu quốc tế như CIMMYT dưới dạng vốn gen, quần thể và giống lai
Trong tập đoàn giống của Viện nghiên cứu ngô đang bảo tồn hơn 3000 dòng tự phối từ đời F6 trở lên, 470 mẫu giống thụ phấn tự do, trong đó nguồn nhập nội là 293, nguồn địa phương là 150 và các quần thể tự tạo theo các chương trình chọn tạo giống, số lượng các quần thể tự tạo đang được khai thác là 27 (Ngô Hữu Tình, 1999) [29]
Các nhà khoa học Việt Nam đã điều tra, thu thập, bảo tồn và phân loại
584 nguồn nguyên liệu ngô Duy trì nghiên cứu khoảng 6000 hàng dòng/năm
từ 580 nguồn dòng hiện có
Nhờ làm chủ được công nghệ lai tạo, nhiều giống ngô lai mới năng suất cao, chất lượng tốt đã được công nhận phục vụ cho sản xuất ngô ở các vùng trong cả nước với giá thành thấp chỉ bằng 70% giá giống của các công ty nước ngoài
- Các giống ngô lai mới do Việt Nam chọn tạo rất phong phú, bao gồm: + Nhóm giống dài ngày: T6 (2000), LVN98 (2002),
+ Nhóm giống trung ngày: LVN12 (1995), LVN17 (1999), T9 (2004), VN8960 (2004), LHC9 (2004), LVN145 (2007),.
+ Nhóm giống ngắn ngày: LVN20 (1998), LVN25 (2000), LVN99 (2004), V98 (2004), VN6 (2005), HN45,
Trang 40- Nhóm giống ngô lai mới có có tiềm năng năng suất hơn 10 tấn/ha đang được thử nghiệm như: SC184, TB61, TB66, VN885, SX2017, SX2004, TT04-B1, LVN66, MB069, (Nguyễn Khôi, 2008) [16]
- Ngoài việc quan tâm đến cải thiện năng suất, các nhà khoa học còn
đầu tư vào chương trình nghiên cứu và phát triển ngô chất lượng protein cao QPM (Quality Protein Maize) Viện Nghiên cứu ngô đã hợp tác với CIMMYT trong chương trình nghiên cứu và phát triển ngô QPM, tháng 8 năm 2001 giống ngô lai chất lượng đạm cao HQ2000 đã được Hội đồng Khoa học công nghệ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép khu vực hoá, có năng suất cao hơn ngô thường, hàm lượng protein là 11% (ngô thường
là 8,5 - 9%), trong đó hàm lượng Lysine là 4,0% và Triptophan là 0,82% (còn ngô thường là 2,0% và 0,5%) (Trần Hồng Uy, 1999) [36]
- Viện nghiên cứu ngô đã ứng dụng các kỹ thuật RAPD, SSR để phân tích đa dạng di truyền của 230 dòng ngô Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tuy chỉ mới bắt đầu 10 năm trở lại đây nhưng đã thu được kết quả bước đầu đáng khích lệ Viện nghiên cứu ngô đang ngày càng hoàn thiện
kỹ thuật nuôi cấy bao phấn và đã cho ra đời hơn 10 dòng đơn bội kép, được đánh giá là rất có triển vọng trong công tác tạo giống lai
Phan Xuân Hào và cs (2004) [11] đã tiến hành phân tích đa dạng di truyền tập đoàn dòng bằng kỹ thuật SSR
Ngô Thị Minh Tâm, (2004) [23] đã phối hợp chỉ thị phân tử đánh giá đặc điểm năng suất của một số tổ hợp ngô lai… Trong tương lai gần, các kỹ thuật mới này ngày càng có vai trò quan trọng hơn, kết hợp với phương pháp chọn tạo giống truyền thống để tạo ra những giống ngô lai tốt
Sự phát triển sản xuất ngô ở Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học mà là mối quan tâm của cả xã hội Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách tích cực khuyến khích các nhà khoa học và hỗ trợ cho nông