Tiểu luận đề tài: So sánh Incoterms 2000 và Incoterms 2010 Thực trạng và Rủi ro.1.Khái niệm IncotermHiện nay, việc giao thương giữa các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng. Trong quá trình đó, thương mại quốc tế thường sử dụng những ngôn ngữ khác nhau, luật lệ địa phương khác nhau dẫn đến sự hiểu lầm, gây mâu thuẫn tranh chấp giữa hai bên tham gia. Để hạn chế bất đồng và thúc đẩy thương mại quốc tế, Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã soạn thảo INCOTERMS Điều kiện thương mại quốc tế .Incoterms (viết tắt của International Comerce Terms – Các điều khoản thương mại quốc tế) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Incoterm quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiêm của các bên (bên bán và bên mua) trong một loại hợp đồng thương mại quốc tế.Bộ Incoterms bao gồm những nội dung gì?Bộ quy tắc này quy định những ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển..., thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá.2.Mục đích sử dụngIncoterms là một bộ các quy tắc nhằm hệ thống hóa các tập quánTM quốc tế được áp dụng phổ biến bởi các doanh nhân trên khắp thế giớiIncoterms là phương tiện quan trọng để đẩy nhanh tốc độ đàm phán, xây dựng và tổ chức thực hiện hợp đồng ngoại thương. Tránh những hiểu lầm và tranh chấp giữa các bên trong việc phân chia chi phí và chuyển gia rủi ro về hàng hóaIncoterms là cơ sở quan trọng để xác định giá cả mua bán hàng hóa.Incoterms là căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện khiếu nại và giải quyết tranh chấp (nếu có) giữa người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương.
Trang 1Tiểu luận
So sánh Incoterms 2000 và Incoterms 2010
Thực trạng và Rủi ro
Trang 2Mục Lục
Mục Lục 2
I.TỔNG QUAN VỀ INCOTERMS 2
2.Mục đích sử dụng 3
3.Lịch sử hình thành và phát triển của INCOTERMS: 4
4.Phạm vi điều chỉnh Incoterms và tính chất pháp lý của Incoterms 6
4.1 Phạm vi điều chỉnh 6
4.2 Tính chất pháp lý tùy ý của INCOTERMS: 7
5.Một số lưu ý khi sử dụng INCOTERMS: 8
II.SO SÁNH GIỮA INCOTERMS 2000 VÀ INCOTERMS 2010 10
1.Điểm giống nhau: 10
2.Điểm khác nhau: 11
2.1 Bảng tóm tắt: 11
II.2.Những điểm khác nhau cụ thể: 12
III.THỰC TRẠNG SỬ DỤNG INCOTERMS Ở VIỆT NAM: 19
1.Thực trạng và rủi ro 19
2.Nguyên nhân 25
IV.GIẢI PHÁP SỬ DỤNG INCOTERMS Ở VIỆT NAM: 26
Tài liệu tham khảo 28
1 Khái niệm Incoterm
Trang 3Hiện nay, việc giao thương giữa các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng Trong quá trình đó, thương mại quốc tế thường sử dụng những ngôn ngữ khác nhau, luật lệ địa phương khác nhau dẫn đến sự hiểu lầm, gây mâu thuẫn tranh chấp giữa hai bên tham gia Để hạn chế bất đồng và thúc đẩy thương mại quốc tế, Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã soạn thảo INCOTERMS - Điều kiện thương mại quốc tế
Incoterms (viết tắt của International Comerce Terms – Các điều khoản thương mại quốc tế) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Incoterm quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiêm của các bên (bên bán và bên mua) trong một loại hợp đồng thương mại quốc tế
Bộ Incoterms bao gồm những nội dung gì?
Bộ quy tắc này quy định những ai sẽ trả tiền vận tải, ai sẽ đảm trách các chi phí về thủ tục hải quan, bảo hiểm hàng hoá, ai chịu trách nhiệm về những tổn thất và rủi ro của hàng hoá trong quá trình vận chuyển , thời điểm chuyển giao trách nhiệm về hàng hoá
- Incoterms là cơ sở quan trọng để xác định giá cả mua bán hàng hóa
- Incoterms là căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện khiếu nại và giải quyết tranh chấp (nếu có) giữa người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương
Theo nguyên tắc chung, Incoterms được áp dụng trong trường hợp khi các bên trực tiếp thỏa thuận việc áp dụng nó trong chính hợp đồng và chỉ ra điều kiện được áp dụng tương ứng Incoterms cũng có thể được áp dụng trong trường hợp khi mà các bên không trực tiếp thỏa thuận việc á dụng chúng trong hợp đồng nhưng xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong
Trang 4đó hợp đồng được ký kết và thực hiện, Tòa án hay trọng tài cho rằng các bên có sự thỏa thuận ngầm việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế.
3 Lịch sử hình thành và phát triển của INCOTERMS:
Bộ Incoterms đầu tiên được ICC ban hành vào năm 1936 dưới tên gọi INCOTERMS
1936 Ðể phù hợp với thực tế thương mại INCOTERMS đã được sửa đổi bổ sung vào các năm
1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và lần gần đây nhất đã cho ra đời bộ INCOTERMS 2010
Tên phiên bản Nội dung ban hành/ sửa đổi
Incoterms 1936
Ban hành với 07 điều kiện giao hàng:
• EXW (: Ex Works) - Giao tại xưởng
• FCA (: Free Carrier) - Giao cho người chuyên chở
• FOT/FOR (:Free on Rail/Free on Truck) - Giao lên tàu hỏa
• FAS (: Free Alongside Ship) - Giao dọc mạn tàu
• FOB (: Free On Board) - Giao lên tàu
• C&F (:Cost and Freight) - Tiền hàng và cước phí
• CIF (: Cost, Insurance, Freight) - Tiền hàng, bảo hiểm và cước phíIncoterms 1936 chủ yếu giải thích những điều kiện sử dụng phương thức vận tải đường bộ và đường thuỷ Trên thực tế, Incoterms 1936 không được các nhà kinh doanh thừa nhận và sử dụng rộng rãi vì không giải thích hết được những tập quán thương mại quan trọng
Incoterms 1953
Ban hành với 09 điều kiện giao hàng:
• 07 điều kiện giao hàng tương tự như Incoterms 1936
• Bổ sung thêm 02 điều kiện: DES (: Delivered Ex Ship) – Giao tại tàu; DEQ (: Delivered Ex Quay) – Giao trên cầu cảng, sử dụng cho phương thức vận tải đường biển và đường thủy nội bộ
Trang 5Incoterms 1953
(sửa đổi lần 1
vào năm 1967)
Incoterms 1953 trong lần sửa đổi thứ nhất đã thay đổi như sau:
• 09 điều kiện giao hàng tương tự như Incoterms 1953
• Bổ sung thêm 02 điều kiện: DAF (Delivered: At Frontier) – Giao tại biên giới; DDP (: Delivered Duty Paid) - Giao hàng đã nộp thuế), sử dụng cho mọi phương thức vận tải, kể cả vận tải kết hợp nhiều phương thức vận tải khác nhau
Incoterms 1953
(sửa đổi lần 2
vào năm 1976)
Incoterms 1953 trong lần sửa đổi thứ hai đã thay đổi như sau:
• 11 điều kiện giao hàng tương tự như Incoterms 1953 (sửa đổi lần 1)
• Bổ sung thêm 01 điều kiện: FOA (: FOB Airport) – Giao lên máy bay, để giải quyết các vấn đề giao hàng tại sân bay
Incoterms 1980
Ban hành với 14 điều kiện giao hàng:
• 12 điều kiện giao hàng tương tự như Incoterms 1953 (sửa đổi lần 2)
• Bổ sung thêm 02 điều kiện CIP (: Carriage and Insurance Paid to)
- Cước phí và bảo hiểm trả tới địa điểm đích quy định và CPT (: Carriage Paid to) - Cước phí trả tới địa điểm đích quy định, nhằm thay thế cho CIF và CFR khi không chuyên chở hàng hoá bằng đường biển
Incoterms 1990
Ban hành với 13 điều kiện giao hàng So với Incoterms 1980, có những thay đổi như sau:
• Bỏ 2 điều kiện FOA và FOT, vì bản chất của chúng giống FCA
• Bổ sung điều kiện DDU (: Delivered Duty Unpaid) - Giao hàng tại đích chưa nộp thuế
Incoterms 2000 Incoterms 2000 giữ nguyên 13 điều kiện như Incoterms 1990 nhưng sửa
Trang 6đổi nội dung 3 điều kiện FCA, FAS và DEQ.
Incoterms 2010
Incoterms 2010 gồm 11 điều kiện, trong đó:
• Thay thế 04 điều kiện DAF, DES, DEQ, DDU trong Incoterms
2000 bằng 02 điều kiện mới có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải là DAT (: Delivered At Terminal) – Giao hàng tại bến và DAP (: Delivered At Place) – Giao tại nơi đến
Tại sao phải sửa đổi INCOTERMS:
Nhằm tương thích với những thay đổi về môi trường và điều kiện thương mại quốc tế, đặc biệt là:Trong bối cảnh ngoại thương phát triển ngày càng sôi động và phức tạp dẫn đến nhiều khả năng hiểu lầm và tranh chấp, khi hợp đồng không được soạn thảo chặt chẽ
Sự phát triển các khu ngoại quan, miễn trừ thủ tục hải quan, việc gia tăng sử dụng các phương tiện thông tin điện tử trong giao dịch thương mai cùng những thay đổi tập quán vận tải.Do đó, cho đến nay INCOTERMS đã được tu chỉnh 7 lần vào các năm 1953, 1967, 1976,
1980, 1990, 2000 và 2010 Điểm đặc biệt cần lưu ý là, INCOTERMS được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, lần sau hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn hơn, nhưng không vì thế mà phủ nhận tính hiệu lực của các lần trước đó Điều này có nghĩa là, tất cả các INCOTERMS do ICC phát hành ( bao gồm 8 INCOTERMS) đều còn nguyên hiệu lực thi hành, do đó trong hợp đồng thương mại, các bên tham gia có quyền chọn bất kì INCOTERMS nào, và phải dẫn chiếu rõ ràng INCOTERMS mà các bên muốn sử dụng
Ví dụ: các bên muốn áp dụng INCOTERMS 2010, thì trong hợp đồng mua bán phải có dẫn
chiếu: “The contract is governed by INCOTERMS 2010”
4 Phạm vi điều chỉnh Incoterms và tính chất pháp lý của Incoterms
4.1 Phạm vi điều chỉnh
Trong những vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng mua bán lien quan đến việc giao hàng ( với nghĩa là hàng hữu hình, mà không bao gồm hàng “vô hình” ví dụ như các phần mềm máy tính…)
Trang 7INCOTERMS chỉ giải quyết mối quan hệ giữa người mua và người bán theo hợp đồng mua bán và chỉ điều chỉnh một số khía cạnh cụ thể trong hợp đồng này Một thương vụ hoàn thành cần liên quan đến nhiều hợp đồng khác nhau: như hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng tài trợ thương mại, trong khi đó INCOTERMS chỉ liên quan đến một hợp đồng đó là hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, khi đã thỏa thuận áp dụng INCOTERMS, thì INCOTERMS cũng được áp dụng cho các hợp đồng có iên quan Ví dụ: với điều kiện CFR hoặc CIF thì người bán không thể thực iện nghĩa vụ bằng các phương thức vận tải khác với vận tải bằng đường biển Hơn nữa, tính phù hợp của bộ chứng từ thanh toán theo L/C (Thư tín dụng) phụ thuộc vào chứng từ vận tải quy định trong L/C, nên không thể tùy ý lựa chọn phương thức vận tải khác.
Cho dù INCOTERMS là cực kì quan trọng cho việc thực hiện hợp đồng mua bán, tuy nhiên có rất nhiều vấn đề mà INCOTERMS lại không điều chỉnh, như việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc các quyền về tài sản khác, hành vi vi phạm hợp đồng và hậu quả của những vi phạm đó cũng như quyền miễn trách trong một số trường hợp Những điều như vậy phải được điều chỉnh bằng các quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán và theo luật áp dụng
Về bản chất, INCOTERMS được áp dụng khi mua bán hàng hóa qua biên giới, do đó, nó bao gồm các điều kiện thương mại quốc tế Nhưng vì INCOTERMS là văn bản quy phạm pháp luật tùy ý, nên đôi khi người ta lại dùng nó cho thương mai nội địa, điều này là không khuyến khích và phải thận trọng khi áp dụng các điều khoản INCOTERMS cho thích hợp
Trong thực tế, có hai cách hiểu sai lầm phổ biến về INCOTERMS Thứ nhất, NCOTERMS thường bị hiểu lầm là áp dụng cho hợp đồng vận tải mà không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa Thứ hai, đôi lúc INCOTERMS bị coi là bộ quy tắc về mọi nghĩa vụ mà các bên muốn đưa vào hợp đồng.Ngoài ra, thuật ngữ INCOTERMS còn được gọi bằng các thuật ngữ khác đan xen như “Shipment Terms”, “Terms of Delivery” hay “Trade Terms”
4.2 Tính chất pháp lý tùy ý của INCOTERMS:
INCOTERMS là văn bản do ICC phát hành, mà ICC là một tổ chức mang tính xã hội (phi chính phủ) chứ không phải là một tổ chức liên chính phủ, do đó, INCOTERMS không
Trang 8mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các hội viên cũng như các bên liên quan Tính chất pháp lý tùy ý của INCOTERMS thể hiện ở các điểm chính:
Tất cả các phiên bản INCOTERMS đều còn hiệu lực, nghĩa là phiên bản sau không phủ nhận phiên bản trước Do đó, khi dẫn chiếu INCOTERMS trong hợp đồng mua bán phải nói rõ là áp dụng INCOTERMS nào
Chỉ khi trong hợp đồng mua bán có dẫn chiếu áp dụng INCOTERMS, thì nó mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bên liên quan
Các bên có thể thỏa thuận trong các hợp đồng mua bán:
Không thực hiện, hoặc thực hiện khác đi một hoặc một số điều không quy định trong INCOTERMS
Bổ sung những điều khoản trong hợp đồng mà INCOTERMS không đề cập
Nếu nội dung INCOTERMS có xung đột với luật quốc gia, thì luật quốc gia vượt lên trên về mặt pháp lý Điều này hàm ý, phán quyết của tòa án địa phương có thể phủ nhận các điều khoản của INCOTERMS.Do là văn bản pháp lý tùy ý, nên ICC sẽ được miễn trách khi có sai sót, tổn thất phát sinh trong quá trình áp dụng Các bên liên quan khi áp dụng INCOTERMS cần phải hiểu thấu đáo nội dung, sử dụng thành thạo kĩ năng nghiệp vụ có liên quan
Do các mẫu hợp đồng mua bán thường được in sẵn, trong đó có điều khoản áp dụng INCOTERMS, nên để tránh sự hiểu lầm, khi kí hợp đồng mua bán các bên phải đặc biệt chú ý đến điều khoản áp dụng INCOTERMS Nếu điều khoản INCOTERMS in sẵn không thích hợp (phiên bản cũ), thì phải sửa lại theo ý chí của các bên
5 Một số lưu ý khi sử dụng INCOTERMS:
Thực tiễn hoạt động thương mai quốc tế và Phòng thương mại quốc tế có đưa ra các khuyến cáo sau đây cho các bên khi sử dụng INCOTERMS:- INCOTERMS chỉ nên áp dụng đối với hợp đồng ngoại thương mà không áp dụng cho hợp đồng nội thương
Trang 9INCOTERMS chỉ áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa dạng vật chất (hữu hình), không áp dụng cho hàng hóa phi vật chất (vô hình: vd công nghệ, phần mềm máy tính…)
Các điều kiện INCOTERMS chỉ đề cập những nghĩa vụ chủ yếu có liên quan hàng hóa như: giao nhận hàng, nghĩa vụ về vận tải hàng hóa, về chuyển và nhận các chứng từ, thủ tục xuất nhập khẩu, chuyển rủi ro về hàng hóa… Nên INCOTERMS không phải là hợp đồng vận tải, và cũng không thể thay (Hợp đồng ngoại thương còn phải bao gồm các điều kiện như: giá cả hàng hóa, bao bì, chất lượng, số lượng, điều kiện thanh toán…)
Không nên sử dụng các tập quán, thói quen thương mại hình thành tự phát trong hoạt động buôn bán có tính chất địa phương hay khu vực, mà nên sử dụng thống nhất INCOTERMS Trường hợp, nếu các bên muốn áp dụng khác đi so với quy định của INCOTERMS, thì phải quy định rõ ràng những điểm khác đó trong hợp đồng ngoại thương, ví dụ như về chi phí bốc, dỡ, san, xếp hàng, thuê tàu, địa điểm chuyển rủi ro
Xét từ lợi ích kinh tế vĩ mô và vi mô (tiết kiệm hoặc tăng thu ngoại tệ), khi tham gia xuất nhập khẩu, chúng ta nên giành được quyền thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm hàng hóa Hiện nay, ở Việt Nam, khoảng trên 80% các thương vụ, doanh nghiệp khi xuất khẩu lựa chọn điều kiện FOB, còn nhập khẩu thì lựa chọn điều kiện CFR hoặc CIF là điều không có lợi Các doanh nghiệp thường cho rằng: xuất khẩu theo FOB mau chuyển rủi ro sang cho người mua, nhập khẩu hàng hóa theo CFR hoặc CIF an toàn hơn vì người bán nước ngoài phải chịu rủi ro đến tận cảng nhập khẩu Nhưng theo quy tắc của INCOTERMS 2000, thì nơi chuyển rủi
ro của cả 3 điều kiện FOB, CFR và CIP đều là lan can tàu tại cảng bốc hàng.Vì những lí do bất lợi do không giành được quyền thuê phương tiện vận tải khi lựa chọn điều kiện thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi khi xuất khẩu nên chọn nhóm điều kiện C còn khi nhập khẩu nên chọn nhóm điều kiện F
Trang 10II SO SÁNH GIỮA INCOTERMS 2000 VÀ INCOTERMS 2010
1 Điểm giống nhau:
• Có 07 điều kiện thương mại: EXW, FAS, FOB, CFR, CIF, CPT, CIP Khuyến cáo áp dụng phương tiện thủy đối với các điều kiện: FAS, FOB, CFR, CIF
• Áp dụng với các loại phương tiện vận tải và vận tải đa phương thức đối với các điều kiện: CPT, CIP, DDP
• Cả Incoterms 2000 và Incoterms 2010 đều không phải là luật Các bên có thể áp dụng hoàn toàn, hoặc có thể áp dụng một phần, nhưng khi áp dụng ghi rõ trong hợp đồng, những điều áp dụng khác đi nhất thiết phải mô tả kỹ trong hợp đồng
Trang 11và đường thủy nội địa
Điều kiện Có 13 điều kiện Có 11 điều kiện: hai điều kiện mới
DAT thay thế cho điều kiện DEQ DAP thay thế cho DAF, DES, DDU
Thông tin điện tử Chỉ rõ những chứng từ có thể được
thay thế bằng thông điệp dữ liệu điện tử
Cho phép trao đổi thông tin bằng điện tử có hiệu lực tương đương với trao đổi thông tin bằng giấy, miễn là
2 bên chấp nhận Bán hàng theo chuỗi Không đề cập Đề cập đến “bán hàng theo chuỗi”
Đưa thêm nghĩa vụ “ mua hàng đã gửi”
Địa điểm giao hàng FOB, CFR, CIF đề cập đến lan can
tàu như 1 địa điểm giao hàng để phân chia trách nhiệm, nghĩa vụ của 2 bên
Loại bỏ mọi cách xem lan can tàu như một địa điểm giao hàng
Phạm vi áp dụng
Chỉ đề cập và áp dụng cho ngoại thương
Đề cập và áp dụng incoterms cho việc buôn bán ngoại thương và cả nội địa
Trang 12Bảo hiểm Điều kiện bảo hiểm còn chung
chung, chưa rõ ràng
Điều kiện bảo hiểm được thể hiện rõ ràng, cụ thể ở các mục B3/B10 Thủ tục an ninh Không qui định hay đề cập đến Qui định về nghĩa vụ làm thủ tục an
ninh và các thông tin để thực hiện nghĩa vụ giữa các bên
Cấu trúc trình bày A1 cung cấp hàng theo hợp
đồng và hóa đơn thương mại theo
hợp đồng
B1 thanh toán tiền hàng
A1 nghĩa vụ chung của ng bán
B1 nghĩa vụ chung của người mua
A2/b2 giấy phép và các thủ tục A2/B2 giấy phép, kiểm tra an ninh
và các thủ tục khác A10/B10 các nghĩa vụ khác A10/B10 hỗ trợ thông tin và chi phí liên quan
II.2 Những điểm khác nhau cụ thể:
2.2.1 Incoterms 2011 bỏ 4 điều khoản trong Incoterms 2000
Xu hướng container hóa và giao hàng từ điểm này đến điểm khác ngày càng nhiều
dường như đã khiến cho ICC phải có những sửa đổi quan trọng và đưa ra hai điều khoản mới
“đã giao hàng”:
• Delivered At Place (DAP) được sử dụng thay cho DAF, DES và DDU
Delivered At Terminal (DAT) thay thế cho DEQ
Những điều khoản này có thể được sử dụng với bất kì phương thức vận tải nào Một lí
do có ít điều khoản hơn đơn giản là các bên thường chọn “nhầm” điều khoản hoặc lẫn lộn các điều khoản, dẫn đến các hợp đồng có nội dung mẫu thuẫn hoặc không rõ ràng
Đối với cả hai điều khoản mới – Delivered At Place (DAP) và Delivery at Terminal
(DAT) – việc giao hàng diễn ra tại điểm đích đã xác định
Trang 13Qui tắc mới DAP trong Incoterms 2010 bao gồm tất cả các trường hợp người bán giao hàng cho người mua trên phương tiện vận tải đến mà chưa dỡ hàng xuống, là những trường hợp trước đó được qui định bởi các điều khoản DAF, DES cũng như tất cả các trường hợp giao hàng tại cơ sở của người mua hay điểm đích nào khác tại nước của người mua mà trước đó được qui định bởi điều khoản DDU
Đối với điều khoản DAP, “phương tiện vận tải đến” cũng có thể là một con tàu, và
Incoterms 2000 không có giải pháp thỏa đáng cho các điều khoản “D” đối với trường hợp hàng hóa được giao mà chưa dỡ xuống khỏi phương tiện vận tải đến tại trạm/ga Điều khoản mới DAT của Incoterms 2010 (Delivered at Terminal) đã giải quyết được vấn đề này và bao gồm tất cả các trường hợp trước đó được qui định bởi điều khoản DEQ “Trạm xác định” trong điều khoản DAT có thể là cầu cảng tại cảng dỡ hoặc trạm container tại cảng dỡ
II.2.2 Incoterms 2010 đưa ra hai loại điều khoản thay vì bốn loại như trước kia 11
điều khoản được chia thành hai loại:
Giao hàng bằng bất kì phương thức vận tải nào (vận tải biển, đường bộ, hàng không, đường sắt,
đa phương thức) – EXW, FCA, CPT, CIP, DAP, DAT và DDP
Giao hàng bằng vận tải đường biển/đường thủy nội địa – FAS, FOB, CFR và CIF
II.2.3 Các quy tắc được điều chỉnh
Bộ qui tắc Incoterms mới được nêu rõ là có thể sử dụng “cả cho thương mại quốc tế và thương mại nội địa” Điều này là nhờ những câu trong các qui tắc rằng nghĩa vụ thực hiện các thủ tục hải quan xuất nhập khẩu chỉ tồn tại trong trường hợp có liên quan đến xuất nhập khẩu
Trang 14II.2.4 Các ghi chép điện tử
Các nghĩa vụ của người bán và người mua trong việc cung cấp các chứng từ hợp đồng giờ đây có thể được thực hiện bằng “bản điện tử nếu các bên đồng ý hoặc đó là tập quán”, phản ánh sự thừa nhận của ICC về tầm quan trọng ngày càng tăng và tính chắc chắn về hợp đồng (nhờ tốc độ chuyển thông tin nhanh chóng) mà giao tiếp bằng điện tử mang lại Điều này cũng đảm bảo sự phù hợp của INCOTERMS 2010 trong tương lai khi các giao tiếp/thủ tục điện tử ngày càng phát triển
INCOTERMS 2000 yêu cầu người bán và người mua phải thống nhất rõ ràng là sẽ giao tiếp với nhau bằng đường điện tử để trao đổi dữ liệu điện tử tương đương và chấp nhận chúng như bằng chứng về chứng từ giao hàng/vận tải
II.2.5 Các điều khoản bảo hiểm hàng hóa chuẩn
Khi một điều khoản trong Incoterms 2010 yêu cầu người bán phải mua bảo hiểm, thì các yêu cầu bảo hiểm đều đã được sửa đổi để phản ánh những sửa đổi trong các điều khoản bảo hiểm hàng hóa chuẩn Nghĩa vụ của các bên về bảo hiểm cũng đã được làm rõ: chỉ theo CIF và CIP thì người bán mới có nghĩa vụ mua bảo hiểm vì quyền lợi của người mua, tuy nhiên trong tất cả các điều khoản giao hàng, các bên đều có nghĩa vụ cung cấp cho bên kia, nếu có yêu cầu, những thông tin cần thiết để mua bảo hiểm hay mua them bảo hiểm cho hàng hóa (hoặc tự mua hoặc nhờ bên kia mua hộ vì lợi ích của mình) Các qui tắc Incoterms 2010 qui định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong các Điều A3/B3, là những điều nói về kí kết hợp đồng vận tải và bảo hiểm Những điều này giờ đây đã được tách khỏi những điều qui định chung trong phần
A10/B10 của các qui tắc Incoterms 2000 Ngôn ngữ trong các điều A3/B3 liên quan đến bảo hiểm cũng đã được sửa đổi để làm rõ nghĩa vụ của các bên về vấn đề này
II.2.6 An ninh
Vấn đề an ninh hàng hóa/tàu biển, v.v giờ đây là mối quan tâm hàng đầu của mọi người khi nói đến thương mại quốc tế Vì ngày nay hầu hết các nước đều yêu cầu kiểm tra an ninh nghiêm ngặt nên các qui tắc thương mại quốc tế cũng yêu cầu cả hai bên đều phải cung cấp tất
cả những thông tin cần thiết (như thông tin về những người cầm giữ hàng hóa trong quá trình