Vấn đề công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài
Trang 1Trang 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 4
1 Vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài .5
1.1 Nguyên tắc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài 5
1.1.1 Theo các công ước và Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) giữa các nước 5
1.1.2 Theo Điều 343, Luật tố tụng dân sự Việt Nam 6
1.2 Thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài 7
1.2.1 Theo hệ thống luật chung 7
1.2.2 Theo hệ thống cấp phép 8
1.2.3 Thủ tục công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam 8
1.2.3.1 Thẩm quyền nhận và xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài 8
1.2.3.2 Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài 8
1.3 Các trường hợp bản án của Tòa án nước ngoài không được công nhận: 10
1.3.1 Ở Việt Nam: 10
1.3.2 Ở các nước khác: 11
2 Vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài 12
2.1 Nguyên tắc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 12 2.2 Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài và sự gia nhập của Việt Nam 13
2.3 Thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài 15
2.3.1 Thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài 15
2.3.2 Thủ tục hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài 16
2.4 Những trường hợp không được công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài 16
2.5 Vấn đề xem xét lại và hủy quyết định Trọng tài 17
2.5.1 Xem xét lại quyết định Trọng tài 17
2.5.1.1 Thỏa thuận Trọng tài vô hiệu 17
2.5.1.2 Thỏa thuận Trọng tài không thể thực hiện được 18
2.5.2 Hủy quyết định Trọng tài 19
CHƯƠNG 2 20
1 Thực tiễn các quy định của pháp luật Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và những kiến nghị .22
Trang 2Trang 2
1.1 Các điều ước quốc tế của Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài 22
1.2 Nguyên tắc “có đi có lại” trong việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài .22
1.3 Nguyên tắc “đương nhiên công nhận bản án, quyết định dân sự không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam” .23
1.4 Việc ký kết các điều ước quốc tế mới về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài 24
1.5 Vấn đề về thu phí và lệ phí .24
2 Thực tiễn hoạt động công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam .24
2.1 Những thuận lợi và khó khăn khi công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 26
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 27
2.2.1 Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài .28
2.2.1.1 Sửa đổi khái niệm “quyết định của trọng tài nước ngoài” 28
2.2.1.2 Hướng dẫn về nội dung nguyên tắc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam .29
2.2.1.3 Hướng dẫn quy định về việc xác định thẩm quyền của Tòa án đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài .29
2.2.2 Sửa đổi các điều ước quốc tế hiện hành, đồng thời tiếp tục nội luật hóa các điều ước quốc tế hiện hành về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam 29
2.2.3 Nâng cao trình độ nhân lực 31
2.2.3.1 Xóa bỏ rào cản “nước ngoài” 31
2.2.3.2 Giảm thiểu mâu thuẫn giữa Tòa án và Trọng tài 31
KẾT LUẬN 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 3Trang 3
LỜI MỞ ĐẦUTrong thời đại hiện nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập mà không quan hệ, giao lưu, hợp tác với quốc gia khác Do đó, quan hệ hợp tác quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia Nhưng song song với việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế, các nước đã và đang xuất hiện ngày một nhiều các vụ việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động với các công dân, pháp nhân của nước khác.Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động tương trợ tư pháp, một thủ tục đặc biệt của hoạt động tố tụng dân sự quốc tế Thực tiễn cho thấy, số lượng các bản án, quyết định của trọng tài và Tòa án nước ngoài cần được công nhận và thi hành tại Việt Nam ngày càng tăng, điều đó dẫn đến nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia để thỏa thuận công nhận và thi hành tại lãnh thổ của nhau các bàn án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài là một đòi hỏi tất yếu, khách quan Chính vì vậy, nhóm đã chọn đề tài: “Vấn đề công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài.”
Mặc dù nhóm đã cố gắng nghiên cứu thật kĩ đề tài này nhưng vẫn không tránh được những thiếu sót trong quá trình thực hiện Vì vậy, nhóm rất mong nhận được sự góp ý phê bình của cô để có thể hoàn thiện thêm đề tài này Nhóm xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của ThS Vương Tuyết Linh đã giúp nhóm hoàn thành
đề tài này!
Trang 4Trang 4
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
Trang 5Trang 5
1 Vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án, quyết định về dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án, quyết định khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật của Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự.1
1.1 Nguyên tắc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
1.1.1 Theo các công ước và Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) giữa các nước2
Theo Công ước Lay Haye (20/04/1966):
Việc công nhận và thi hành bản án được tiến hành nếu:
Bản án đó do Tòa án có thẩm quyền tuyên;
Bản án đã có hiệu lực và cần được thi hành;
Việc thi hành không trái với trật tự công cộng;
Trước đó tại nước phải thi hành án hoặc tại một nước thứ 3 đã không tuyên án về vụ tranh chấp cụ thể này;
Bị đơn đã được tạo cơ hội cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình, mặc
dù bản án được tuyên vắng mặt bị đơn
Theo các HĐTTTP và pháp lý ký kết giữa các nước Đông Âu với nhau, giữa các nước Đông Âu với Liên Bang Nga, giữa Việt Nam với nước ngoài
Các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ký kết này được công nhận và thi hành trên lãnh thổ của nước ký kết kia với điều kiện:
Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật nơi bản án, quyết định được tuyên;
Mọi quyền tố tụng dân sự của bị đơn được đảm bảo đầy đủ;
Tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án của nước nơi bản án, quyết định được tuyên;
Về cùng vụ tranh chấp đó, Tòa án của nước ký kết được yêu cầu chưa tiến hành tố tụng trước khi bắt đầu việc giải quyết vụ tranh chấp ở Tòa
án nước ký kết yêu cầu;
Trước đó ở nước ký kết được yêu cầu công nhận bản án, quyết định, chưa có một bản án, quyết định nào về cùng vụ tranh chấp đó;
1 Khoản 1, Điều 342, BLTTDS 2004
2 Sách Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường tòa án (Nguyễn Vũ Hoàng)
Trang 6Trang 6
Bản án, quyết đinh không có điều khoản nào phương hại đến chủ quyền, an ninh và trật tự công cộng của nước ký kết được yêu cầu công nhận
Ngoài ra các HĐTTTP còn quy định việc thi hành các bản án, quyết định dân
sự phải tuân theo pháp luật của nơi các bản án, quyết định dân sự được thi hành
Theo công ước Brucxen:
Theo điều 26 của công ước Brucxen đưa ra nguyên tắc chung cho việc thừa nhận phán quyết của nước ngoài, theo đó: “Một phán quyết nước ngoài của một nước kí kết sẽ được thừa nhận trong các nước ký kết khác mà không buộc phải có bất kì một thủ tục tố tụng đặc biệt nào Công ước này áp dụng đối với tất cả các vấn
đề dân sự và thương mại trừ các vấn đề doanh thu, thuế quan và các vấn đề hành chính như an toàn xã hội…”
1.1.2 Theo Điều 343, Luật tố tụng dân sự Việt Nam:
Nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài:
1 Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong các trường hợp sau đây:
a) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án của nước mà Việt Nam và nước đó đã
ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này;
b) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành
3 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước
đó phải ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó
4 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
5 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
6 Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam khi có đơn yêu cầu không công nhận
Trang 7 Xác minh xem Tòa án nước ngoài có tuân thủ pháp luật tố tụng của nước đó không
Ví dụ: Việc xét xử của Tòa án nước ngoài có đảm bảo sự ngang bằng về quyền lợi của các bên hay không, có đảm bảo hai bên được tự do tranh tụng tại phiên tòa không, các đương sự có được thông báo về việc mở phiên tòa không, có được tống đạt hợp pháp hay không
Bản án đó phải là bản án có hiệu lực pháp luật tại nước tuyên bản án, quyết định hay căn cứ vào pháp luật nước ngoài để xác định thẩm quyền của Tòa án đã tuyên bản án đó
Ví dụ: Khi nhận được yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài Tòa án Việt Nam sẽ xác định xem nếu mình ở địa vị Tòa án Pháp thì mình có thẩm quyền xét xử không Nếu Tòa án Việt Nam thấy mình không có thẩm quyền thì không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đó
1.2 Thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài:
1.2.1 Theo hệ thống luật chung:
Hệ thống này chủ yếu là theo pháp luật Hoa Kì (Common law) Theo pháp luật của hệ thống này, bán án của Tòa án nước ngoài là cơ sở pháp lý để tiến hành
mở một phiên tòa mới theo thủ tục rút gọn tại Tòa án các nước này để từ đó tìm ra
cơ sở suy đoán bản án mà Tòa án nước ngoài tuyên có lợi cho ai
Như vậy, theo quy định của pháp luật các nước này thì bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài tuyên có khả năng bị xem xét lại kể cả những tình tiết đã được các bên chứng minh và đã được Tòa án nước ngoài khẳng định là rất lớn, nhất
là trong trường hợp có sự kháng cáo của các bên đương sự Hình thức này chủ yếu được áp dụng ở Mỹ Trong khi theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế thì bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tuyên nhân danh nhà nước họ, bản án
đó mang tính chủ quyền quốc gia, như vậy về nguyên tắc nó không bị xét xử lại bởi Tòa án nước ngoài mà tòa án nước ngoài chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật nước mình để tiến hành công nhận và cho thi hành hoặc ngược lại
3
Sách Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế (Nguyễn Hữu Sâm)
Trang 8Trang 8
Theo pháp luật Anh, luật nước Anh năm 1933 về thi hành án nước ngoài quy
định rằng, các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài muốn được công nhận ở Anh phải đươc đăng kí tại Tòa án tối cao của Anh ở Luân Đôn và phải tuân theo nguyên tắc có đi có lại Sự tồn tại của quan hệ có đi có lại này phải được xác định trên cơ sở một lệnh của Hội đồng (Oder in Council)
1.2.2 Theo hệ thống cấp phép:
Hệ thống này tồn tại chủ yếu ở các nước như Pháp, Đức, các nước châu Mỹ la tinh, Nhật Bản, Việt Nam,… Ở những nước này bản án của Tòa án nước ngoài muốn được công nhận và thi hành phải theo chế độ cấp phép của nhà nước Giấy phép là cơ sở pháp lý để công nhận và cho thi hành bán án của Tòa án nước ngoài trên lãnh thổ nước mình
Ở Pháp, chỉ có tòa đại hình mới có thẩm quyền cho phép phán quyết của tòa
án nước ngoài được công nhận và thi hành ở Pháp
1.2.3 Thủ tục công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam:
1.2.3.1 Thẩm quyền nhận và xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài:
Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ yêu cầu công nhận và thi hành Sau khi nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ, giấy tờ, tài liệu kèm theo đồng thời hướng dẫn thu nộp lệ phí công nhận và chuyển hồ sơ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết và xử lý theo quy định
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc xét đơn công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài được xác định theo cấp và theo lãnh thổ Theo đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người phải thi hành cư trú, làm việc nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi
có trụ sở nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam có thẩm quyền thụ lý đơn theo thủ tục sơ thẩm
Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét lại quyết định công nhận hoặc không công nhận bị kháng cáo, kháng nghị
1.2.3.2 Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài:
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 355 BLTTDS, khi xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, Toà án Việt Nam không được xét xử lại vụ kiện mà chỉ xem xét xem các thủ tục về mặt tố tụng của việc tuyên bản án, quyết định đó có đảm bảo không so với quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có liên quan
để ra quyết định (chỉ xem xét các quy định của luật hình thức mà không xem xét các quy định của luật nội dung)
Thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài được thực hiện như sau:
Trang 9Trang 9
Bước 1: Xét đơn yêu cầu:
Việc xét đơn yêu cầu được thực hiện tại Bộ tư Pháp Trong đơn yêu cầu phải ghi rõ họ tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó, họ tên, địa chỉ, nơi cư trú, nơi làm việc của người phải thi hành Nếu người được thi hành là cơ quan tổ chức thì phải ghi rõ đầy
đủ tên, địa chỉ trụ sở chính của cơ quan đó.Việc nhận đơn chỉ được tiến hành trong trường hợp người phải thi hành đang cư trú hoặc làm việc tại Việt Nam, hay người
đó có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn.4
Bước 2: Chuyển hồ sơ cho tòa án:
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và các giấy tờ hợp lệ kèm theo, Bộ Tư pháp phải chuyển đơn cho Toà án có thẩm quyền.5
Bước 3: Thụ lý hồ sơ:
Trong 3 ngày làm việc từ ngày nhận đc hồ sơ do Bộ tư pháp chuyển đến tòa án
có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo cho VKS cùng cấp biết Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, nếu Toà án thấy có vấn đề gì chưa rõ trong bản án, quyết định của Toà án, thì Toà án có quyền yêu cầu Toà án đã
ra bản án, quyết định đó giải thích Bộ tư pháp sẽ trả lời lại cho Tòa sau 7 ngày kể
từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải thích.6
Bước 4: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu:
Sau 4 tháng kể từ ngày thụ lý, Toà án phải ra quyết định mở phiên toà xét đơn yêu cầu nếu không có căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ Trong giai đoạn này ngoài việc xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ việc, Toà án còn phải tiến hành một số công việc khác như: xác minh về nơi cư trú của người phải thi hành, tài sản liên quan đến việc thi hành.7
Bước 5: Phiên họp Xét đơn yêu cầu:
Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do một Hội đồng gồm ba thẩm phán tiến hành, trong đó có một thẩm phán do Chánh án chỉ định làm chủ toạ Trong phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên VKS cùng cấp, người có nghĩa vụ phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó Trường hợp kiểm sát viên vắng mặt, thì phải hoãn phiên toà Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó yêu cầu Toà án xét đơn vắng mặt không có lý do chính đáng Sau khi xem xét đơn và các giấy tờ kèm theo, nghe ý kiến của người triệu tập, của kiểm sát viên, Hội đồng xét đơn yêu cầu thảo luận và quyết định (theo đa số) công nhận và cho thi hành hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định của nước ngoài Sau phiên toà sơ thẩm, quyền kháng cáo của đương sự được đảm bảo theo quy định của pháp luật
Trang 10Trang 10
Việt Nam Các đơn kháng cáo, kháng nghị sẽ được Toà án nhân dân tối cao xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.8
Bước 6: Gửi quyết định của Tòa án:
Ngay sau khi ra quyết định công nhận hoặc không công nhận bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, Tòa án gửi cho các các đương sự và VKS cùng cấp quyết định đó, nếu đương sự ở nước ngoài thì quyết định đc gửi thông qua bộ tư pháp.9
Bước 7: Thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài:
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó phải chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành bản án cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm để thi hành Việc thi hành phải tuân theo pháp luật Việt Nam về thi hành bản án, quyết định dân sự
Theo điều 356 BLTTDS Việt Nam: Những bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có tòa án đã ra bản án, quyết định đó
Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ
Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam
Về cùng vụ án này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ án, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ án đó
Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật Việt Nam
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
8 Điều 355 BLTTDS năm 2004
9 Điều 357 BLTTDS năm 2004
Trang 11án bang California, Mỹ Trong thời gian hai người còn là vợ chồng, do ông An mang quốc tịch Mỹ nên phải nhờ vợ đứng tên sở hữu các tài sản ông mua tại Việt
hộ, lô đất, biệt thự tại các dự án lớn ở TP HCM và Phan Thiết, trị giá khoảng 288 tỉ đồng Tuy nhiên trong đơn kiện ông An khẳng định "đã dùng số tiền có được trước thời điểm kết hôn để mua những tài sản ở Việt Nam" và đòi Ngọc Thúy phải trả lại toàn bộ khi đã ly hôn Nguyên đơn cũng nêu rõ, sau khi ly hôn tại Mỹ vào tháng 3/2008, Tòa thượng thẩm bang California quyết định số tài sản đang thuộc quyền sở hữu của Ngọc Thúy phải được thu hồi trả cho mình vì được mua bằng tiền riêng
Vấn đề đặt ra là phải chăng bản án của Tòa án Hoa Kì đã vi phạm vào một trong những trường hợp không được công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài tại việt nam?
Theo Điều 411, BLTTDS, vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam Như vậy, phán quyết liên quan đến các tài sản là nhà đất tại Việt Nam giữa người mẫu Ngọc Thuý và ông Nguyễn Đức An (Việt kiều Mỹ) của toà án Hoa Kỳ
sẽ không thể được công nhận và thi hành vì những tài sản trên thuộc thẩm quyền xét
xử riêng biệt của toà án Việt Nam
Hơn nữa, theo quy định của pháp luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thế nên, nếu toà án Hoa Kỳ tuyên những tài sản ấy là sở hữu của ông Nguyễn Đức An thì bản án đó đã trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, tức là sẽ không được công nhận, thi hành
Đó có thể là lý do khiến ông An phải khởi kiện lại tại Tòa án Việt Nam dù bản
án của toà án Hoa Kỳ đã có phán quyết.10
1.3.2 Ở các nước khác11:
Đạo luật 1933 của Anh quy định cụ thể các trường hợp theo đó cơ quan có thẩm quyền có thể bác đơn đề nghị đăng kí bản án và thời điểm để bác đơn cụ thể là:
Bản án không thuộc loại được quy định trong Đạo luật năm 1933
10 Muon-thi-hanh-phai-duoc-cong-nhan.html
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/62794/Vu-sieu-mau-Ngoc-Thuy-bi-kien-11 Sách giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường tóa án – Ths Nguyễn Vũ Hoàng
Trang 12Trang 12
Tòa án nước ngoài đã tuyên bản án nằm ngoài phạm vi thẩm quyền của tòa
án đó
Bản án, quyết định nhận được bằng cách lừa đảo
Việc thi hành bản án trái với trật tự công cộng của Anh
Người bị kiện, khi vụ tranh chấp được đưa ra xét xử sơ thẩm ở tòa án đã không nhận được kịp thời giấy báo về việc triệu tập đến tòa án để có thể bảo
vệ quyền lợi của mình tại tòa khi tiến hành xét xử
Các quyền được nêu trong bản án không phải là quyền của người được thi hành án
Ở Đức, theo điều 328 BLTTDS (ZPO) về việc công nhận các phán quyết của nước ngoài, việc công nhận các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài sẽ bị loại trừ trong các trường hợp sau:
Các tòa án của nước có tòa án đã tuyên quyết định đó không có thẩm quyền xét xử bị án trên theo pháp luật Đức
Bị đơn là người Đức không tham gia vào việc xét xử vụ án tại tòa án với lý
do giấy triệu tập đến tòa án dự phiên tòa xét xử vụ án đó hoặc tong báo của tòa án về việc đó không được tống đạt trực tiếp tại nước tiến hành xét xử hoặc gián tiếp qua các cơ quan của Đức theo thể thức tương trợ tư pháp
Tòa án nước ngoài tuân theo những quy phạm xung đột có nội dung khác với nội dung các quy phạm xung đột nhất định của Đức và điều đó gây phương hại đến lợi ích của bên đương sự người Đức
Việc công nhận quyết định nước ngoài có thể mâu thuẫn với các phong tục hoặc mục đích của luật Đức
Nguyên tắc có đi có lại không được đảm bảo
2 Vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài 2.1 Nguyên tắc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động12 Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì căn cứ để xác định quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định đó được ban hành bởi Trọng tài của nước ngoài mà không phân biệt quyết định của Trọng tài đó ban hành tại Việt Nam hay tại nước ngoài Nhưng căn cứ để xác định thế nào là Trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cũng chưa rõ ràng Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam về Trọng tài thì có thể sử dụng
12 Khoản 2, Điều 342, Chương XXVI, Phần 6, BLTTDS
Trang 13Trang 13
phương pháp loại trừ để xác định những tổ chức Trọng tài mà không được thành lập theo pháp luật Trọng tài của Việt Nam thì Trọng tài đó không phải là Trọng tài Việt Nam
Trong bối cảnh của quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng thì vấn đề công nhận và cho thi hành các phán quyết của Trọng tài nước ngoài là vấn đề cần được quan tâm Để đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, việc công nhận, thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lý nhất định Ở Việt Nam việc công nhận và cho thi hành quyết định Trọng tài nước ngoài phải dựa trên các nguyên tắc sau13:
Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài trong trường hợp quyết định được tuyên tại nước hoặc Trọng tài của nước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này
Quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế
Người gửi đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài phải nộp một khoản lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam
2.2 Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài và sự gia nhập của Việt Nam
Để tạo điều kiện cho việc thi hành quyết định của các ủy ban trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế, ngày 10/6/1958, tại New York, Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về việc công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài Đây có thể coi là một trong những Công ước quan trọng và thành công nhất của Đại hội đồng Liên hợp
13 Điều 343, 346, 348, 349 BLTTDS 2004
Trang 14Trang 14
quốc về vấn đề này Tính đến 01/12/2012 có 148 nước tham gia Công ước14 và
có thể nói, hầu hết việc công nhận và cho thi hành các phán quyết của Trọng tài nước ngoài đều được thực hiện theo quy định của Công ước
Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu Mọi quốc gia thành viên có thể từ bỏ Công ước này bằng một văn bản thông báo gửi tới Tổng thư kí Liên hợp quốc Và việc từ bỏ sẽ có hiệu lực sau một năm kể từ ngày Tổng thư
kí nhận được thông báo Một quốc gia thành viên không có quyền lợi dụng Công ước này chống các quốc gia thành viên khác trừ khi trong phạm vi mà các quốc gia đó tự ràng buộc để áp dụng Công ước.15
Theo quy định của công ước thì mỗi quốc gia thành viên phải công nhận phán quyết của Trọng tài thuộc nước thành viên khác và quyết định của Trọng tài nước ngoài sẽ được pháp luật của các quốc gia thành viên tham gia quy định cụ thể trong pháp luật của nước mình Mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng Công ước đối với trường hợp quyết định của Trọng tài được tuyên ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia của các nước tham gia Công ước Công ước cũng qui định những trường hợp từ chối công nhận và cho thi hành ngay cả khi phán quyết đó được tuyên bởi trọng tài của nước thành viên Công ước Những trường hợp đó là:16
Các bên kí kết thỏa thuận Trọng tài không có năng lực hành vi hoặc thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực theo luật mà các bên bắt buộc trọng tài phải tuân thủ, hoặc nếu không có chỉ dẫn nào về luật này thì căn cứ theo luật của nước nơi phán quyết được tuyên
Khi bên phải thi hành phán quyết không được thông báo hợp thức về việc chỉ định trọng tài viên hay về tố tụng trọng tài hoặc do một nguyên nhân khác, không thể trình bày lý lẽ của mình
Phán quyết của Trọng tài đưa ra về một tranh chấp không được quy định hay không thuộc diện quy định của thỏa thuận Trọng tài hoặc phán quyết đó bao gồm những quyết định vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài Nhưng nếu các điều khoản của phán quyết liên quan đến những vấn đề được đưa ra trọng tài có thể tách biệt khỏi các điều khoản liên quan tới những vấn đề không được đưa ra trọng tài có thể được thừa nhận và thi hành
14
http://en.wikipedia.org/wiki/Convention_on_the_Recognition_and_Enforcement_of_Foreign_Ar bitral_Awards
15 Công ước New York ngày 10/6/1958 về vấn đề công nhận và cho thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài.
16 Giáo trình luật thương mại quốc tế, trường ĐH Luật Hà Nội, xuất bản năm 2008, chủ biên TS Nông Quốc Bình
Trang 15 Ngoài những trường hợp nêu trên, Công ước còn quy định việc công nhận và cho thi hành một phán quyết còn có thể bị khước từ nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nơi được yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết đó nhận thấy rằng khách thể của tranh chấp, chiếu theo luật của nước này, không phải là đối tượng của việc xét xử bằng trọng tài, hoặc là việc công nhận và cho thi hành phán quyết trái với trật tự công cộng của nước đó
Ngày 28/7/1995 Việt Nam đã gia nhập Công ước New York Khi gia nhập công ước này, Việt Nam đã giới hạn phạm vi áp dụng của Công ước New York tại Điều 2 Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày 28/7/1995 của Chủ tịch nước
về việc tham gia Công ước New York Nội dung cơ bản:17
Công ước này chỉ áp dụng đối với việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia là thành viên của Công ước này Đối với quyết định của Trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại
Công ước chỉ được áp dụng đối với các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại;
Mọi sự giải thích Công ước trước tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam
2.3 Thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài:
2.3.1 Thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài: Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài được quy định tại chương XXIX của BLTTDS, quy định tại công ước New York và các HĐTTTP mà Việt Nam là thành viên Các HĐTTTP
mà Việt Nam là thành viên hiện nay đều quy định dẫn chiếu việc công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tới Công ước New York về công nhận
và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài Tuy nhiên, trong phần này sẽ chủ yếu phân tích các quy định của BLTTDS
Cũng tương tự thủ thủ công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa
án, việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài cũng gồm các bước được quy định cụ thể tại chương XXIX BLTTDS:18
17 Giáo trình luật thương mại quốc tế, trường ĐH Luật Hà Nội, xuất bản năm 2008, chủ biên TS Nông Quốc Bình
18 Điều 364, 366, 367, 368, 369, 371 BLTTDS
Trang 16Trang 16
Bước 1: Xét đơn yêu cầu
Bước 2: Chuyển Hồ sơ cho tòa án
Bước 3: Thụ lý hồ sơ
Bước 4: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Bước 5: Mở phiên họp Xét đơn yêu cầu
Bước 6: Gửi quyết định của Tòa án
Bước 7: Thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
2.3.2 Thủ tục hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước
ngoài 19:
Trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp
về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đang xem xét việc hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có quyết định thi hành tại Việt Nam thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài và gửi quyết định đó cho Tòa
án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, nếu có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được thi hành
Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và gửi quyết định này cho cơ quan thi hành án
Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài
2.4 Những trường hợp không được công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài20:
Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận
đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên
Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi quyết định đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó
Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại
19 Điều 374 BLTTDS
20 Điều 370 – BLTTDS