1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng

107 606 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tuy nhiên, chất lượng các Trung tâm GDTX nhìn chung còn thấp về nội dung chương trình, về phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, về đội ngũ giáo viên, về cơ cấu tổ chức, … chưa đáp ứ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LỤC THỊ LÊ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CẤP THPT

Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LỤC THỊ LÊ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CẤP THPT

Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý hoạt động dạy học cấp THPT ở các

Trung tâm GDTX tỉnh cao Bằng” được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng

từng tại Việt Nam

Tôi xin cam đoan, luận văn có tham khảo, sử dụng thông tin từ nhiều nguồn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả luận văn

Lục Thị Lê

Trang 4

- Nhà giáo, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Hộ - Người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn chỉ bảo cặn kẽ trong việc viết đề cương, nội dung của đề tài, trong phương pháp nghiên cứu khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn này

- Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Cao Bằng

- Lãnh đạo, cán bộ chuyên viên phòng GDTX, Sở GD&ĐT Cao Bằng

- Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong việc cung cấp số liệu và

tư vấn khoa học trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã quan tâm, chia sẻ động viên, khích lệ

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dù tôi đã hết sức cố gắng trong học tập và đặc biệt trong quá trình thực hiện nghiên cứu hoàn thành luận văn, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu khuyết Bản thân tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy, cô giảng viên và các bạn đồng nghiệp

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả luận văn

Lục Thị Lê

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 6

1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 11

1.2.1 Quản lý và Quản lý giáo dục 11

1.2.2 Quản lý hoạt động dạy học 12

1.2.3 Chất lượng dạy học 14

1.2.4 Trung tâm GDTX 14

1.3 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc Trung tâm GDTX 26

1.3.1 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc Trung tâm GDTX theo chức năng 26 1.3.2 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc theo phương tiện 29

1.3.3 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc theo Quá trình 30

Trang 6

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học của giáo viên trong

các Trung tâm GDTX 36

1.4.1 Các yếu tố chủ quan 36

1.4.2 Các yếu tố khách quan 37

Kết luận chương 1 39

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CẤP THPT Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH CAO BẰNG 40

2.1 Phát triển GDTX của tỉnh Cao Bằng trong thời kỳ đổi mới 40

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, bối cảnh kinh tế, xã hội, giáo dục tỉnh Cao Bằng 40

2.1.2 Vài nét về phát triển GDTX tỉnh Cao Bằng 40

2.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng 42

2.2.1 Khảo sát thực trạng 45

2.2.2 Phân tích kết quả khảo sát 47

2.2.3 Hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng 52

2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý của các Giám đốc Trung tâm GDTX đối với hoạt động dạy học của Giáo viên 53

Kết luận chương 2 57

Chương 3 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CẤP THPT Ở CÁC TRUNG TÂM GDTX TỈNH CAO BẰNG 58

3.1 Cơ sở xuất phát xây dựng các biện pháp quản lý 58

3.1.1 Đảm bảo việc tuân thủ chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước 58

3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ 58

3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 58

3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 59

Trang 7

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc 59

3.2.1 Xây dựng hệ thống văn bản quản lý hoạt động dạy học của giáo viên 59

3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên 63

3.2.3 Xây dựng đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên 68

3.2.4 Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giảng dạy theo hướng xã hội hóa 74 3.3 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 84

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86

Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Khuyến nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cụm từ viết tắt Cụm từ viết đủ

CSVC-TBDH : Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đội ngũ Cán bộ quản lý giai đoạn 2010 - 2014 43

Bảng 2.2 Đội ngũ giáo viên giai đoạn 2010 - 2014 43

Bảng 2.3 Đội ngũ Nhân viên giai đoạn 2010 - 2014 43

Bảng 2.4 Học viên GDTX cấp THPT giai đoạn 2010 - 2014 45

Bảng 2.5 Thực trạng Quản lý tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên 47

Bảng 2.6 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên 48 Bảng 2.7 Thực trạng Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên 49

Bảng 2.8 Thực trạng xây dựng và bổ sung cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ HĐDH 50

Bảng 2.9 Thực trạng kích thích tạo động lực cho đội ngũ giáo viên 51

Bảng 2.10 Bảng chất lượng hạnh kiểm giai đoạn 2010 - 2014 52

Bảng 2.11 Bảng chất lượng học lực giai đoạn 2010-2014 53

Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cần thiết của 5 biện pháp được đề xuất 84

Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của 5 biện pháp được đề xuất 85

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Xu thế phát triển giáo dục thế giới: Đa dạng hóa các loại hình Giáo dục - Đào tạo, thực hiện việc xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người được học tập Bởi vì, tất cả mọi người chúng ta đều nhận thức rõ vai trò thiết yếu của giáo dục và học tập trong phát triển kinh tế, xã hội và con người

- Ở việt Nam, cùng với xu thế phát triển Giáo dục của Thế giới đã từ lâu việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo trong thực tế phát triển giáo dục:

+ Luật Giáo dục, điều 44 mục 5 đã nêu rõ: “ Giáo dục thường xuyên (GDTX) giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách,

mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” Nhà nước

đã có những chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập

Việt Nam đang dần chuyển từ một xã hội có nền kinh tế nông nghiệp sang một

xã hội có nền kinh tế sản xuất công nghiệp và dịch vụ, hướng tới một nền kinh tế tri thức, do vậy người dân Việt Nam đang rất cần được cung cấp những cơ hội và sự hỗ trợ để không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng, và từ đó người dân có thể tiếp tục đóng góp cho sự tiến bộ và gắn kết xã hội

+ Trong thực tế, ở Việt Nam đã thiết lập được một hệ thống các Trung tâm GDTX trên địa bàn cả nước (Tỉnh, Thành phố, Quận, Huyện) Các Trung tâm GDTX đã góp phần

to lớn trong việc thực hiện mục tiêu xã hội của Giáo dục: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực phù hợp với điều kiện của mỗi địa phương

- Tuy nhiên, chất lượng các Trung tâm GDTX nhìn chung còn thấp (về nội dung chương trình, về phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, về đội ngũ giáo viên,

về cơ cấu tổ chức, …) chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ

sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội:

Đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế về năng lực, chưa năng động trong việc tiếp cận đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của xã hội và yêu cầu của sự

Trang 11

nghiệp giáo dục - đào tạo Đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng

ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vừa hạn chế về năng lực sư phạm đã ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục Trong báo cáo của chính phủ trình Quốc hội (ngày 14/10/2004) về tình hình giáo dục đã nêu rõ: Nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục, Chính phủ coi đây là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản, lâu dài và sẽ tập trung chỉ đạo tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung Giáo dục, đặc biệt là cách dạy, cách học tập trong nhà trường, tăng cường các điều kiện về đội ngũ giáo viên, giảng viên, cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa…

- Thực tế những năm qua, việc tổ chức quản lý ở các Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã có nhiều thành tích, được Uỷ ban nhân dân các cấp cũng như ngành giáo dục đào tạo Cao Bằng công nhận Tuy nhiên chất lượng hoạt động dạy học (HĐDH) và giáo dục theo chương trình GDTX cấp Trung học phổ thông vẫn chưa đạt chất lượng như mong muốn Các Trung tâm cần tiếp tục lộ trình đổi mới các biện pháp quản lý phù hợp điều kiện thực tiễn, với đối tượng học viên, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng GDTX Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý HĐDH ở các Trung tâm GDTX là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách Xuất phát từ lý do và yêu cầu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề

“Quản lý HĐDH cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng” làm đề tài

của luận văn nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng GDTX cấp THPT của tỉnh Cao Bằng

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng Luận văn đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý HĐDH cấp THPT ở các Trung tâm GDTX trên địa bàn

Trang 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý HĐDH cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài

- Khảo sát và đánh giá thực trạng về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

- Đề xuất các biện pháp quản lý HĐDH cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

- Tổ chức khảo nghiệm tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp được

đề xuất

5 Giả thuyết khoa học

HĐDH chương trình GDTX cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những khó khăn, hạn chế cần được khắc phục Chất lượng dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở các Trung tâm GDTX sẽ được nâng cao nếu có được một hệ thống các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn trong việc tổ chức quản lý hoạt động dạy học của giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ, về tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên, về tạo động lực cho đội ngũ giáo viên

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng (13 Trung tâm GDTX cấp huyện, Thành phố: Thành Phố, Hòa An, Hà Quảng, Thông Nông, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm, Thạch An, Phục Hòa, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Trà Lĩnh; 01 Trung tâm GDTX cấp tỉnh)

- Chủ thể quản lý ở đây được xác định là Giám đốc các Trung tâm GDTX, những người giữ vai trò quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu các văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

Trang 13

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Mục đích điều tra: Thu thập số liệu về thực trạng dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng nhằm làm cơ sở minh chứng cho giả thuyết khoa học, cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý HĐDH chương trình GDTX cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

- Nội dung điều tra: Thực trạng Quản lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

- Mẫu nghiên cứu: Trong tổng số 183 người có 68 người có số năm công tác từ

10 - 20 năm; có 71 người có số năm công tác 5 - 9 năm; có 44 người có số năm công tác 1 - 4 năm

- Sử dụng hệ thống câu hỏi và phiếu hỏi phục vụ cho đề tài

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

- Nghiên cứu sản phẩm quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc Trung tâm (kế hoạch năm học, kế hoạch hoạt động chuyên môn, các quyết định quản lý hoạt động giáo dục, …)

* Phương pháp quan sát

Quan sát công tác tổ chức giảng dạy của giáo viên, hoạt động quản lý dạy học của cán bộ quản lý thông qua các buổi kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ năm học đối với các Trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

+ Mục đích là qua kết quả kiểm tra đánh giá độ tin cậy và bổ trợ cho phương pháp nghiên cứu chính; thu thập các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu quản

lý hoạt động dạy học chương trình GDTX cấp THPT

* Phương pháp khảo nghiệm

- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ

- Phương pháp thống kê

- Phần mềm tin học

Trang 14

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận và khuyến nghị, phụ lục

- Chương 1 Cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động dạy học cấp trung học phổ

thông ở Trung tâm GDTX

- Chương 2 Thực trạng Quản lý hoạt động dạy học cấp Trung học phổ thông

ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

- Chương 3 Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học cấp Trung học

phổ thông ở các Trung tâm GDTX tỉnh Cao Bằng

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CẤP TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Trên thế giới

Vào giữa thế kỷ XX, do khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, nhà trường không thể cung cấp đầy đủ cho người học những tri thức mới của nhân loại và càng không thể giữ vai trò độc tôn trong việc giáo dục thế hệ trẻ Lúc này, có nhiều nhà giáo dục đã thấy sự khủng hoảng trong giáo dục Người tiêu biểu nhất là Ph Combs đã công bố công trình nghiên cứu của mình: “Khủng hoảng của giáo dục trên phạm vi toàn thế giới” (1968) Trong tác phẩm này ông đã phân tích vai trò của giáo dục trong nhà trường, đồng thời đưa ra những nhược điểm mà nhà trường không thể khắc phục được như sự hạn chế về thời gian và không gian trong giáo dục, sự áp đặt trong quá trình dạy học, không cập nhật, không áp dụng được kiến thức vào cuộc sống và đặc biệt là không tạo điều kiện cho mọi người có thể tiếp tục học tập, học thường xuyên, học suốt đời Ông cũng đã chỉ ra GDTX sẽ là giải pháp duy nhất để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng đó Điều đó càng có nghĩa khi Edgar Faure đưa ra

bản báo cáo của Ủy ban quốc tế về phát triển giáo dục “Học để tồn tại: Giáo dục hôm

nay và ngày mai” (1972) Lần đầu tiên ý tưởng về một “xã hội học tập” được nêu ra,

trong đó mọi người đều học tập, học suốt đời, mọi tổ chức đều có trách nhiệm tạo các

cơ hội học tập đa dạng khác nhau cho mọi người thì không còn cách nào khác là phải phát triển GDTX

Về lý luận dạy học, các nhà nghiên cứu đã và đang tập trung vào hai vấn đề

quan trọng sau đây của dạy học cho học viên GDTX: Học cái gì và học như thế nào?

Và luôn tìm tòi những đổi mới, những cách tân trong nội dung và phương pháp dạy học Đây là hai vấn đề có liên quan mật thiết và không tách rời của dạy học cho học viên GDTX

Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm ở nhiều nước đã cho thấy GDTX không thể tách rời mà phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với hệ thống giáo dục chính quy,

nhưng phải giữ được “đặc thù riêng” của nó Bởi vì GDTX mời hình thành và phát

Trang 16

triển, trong khi giáo dục chính quy đã có truyền thống lâu dài, có lực lượng hùng mạnh cả về cơ sở vật chất lẫn đội ngũ giáo viên, cán bộ nghiên cứu GDTX phải kế thừa, phải tận dụng trường lớp, đội ngũ giáo viên, tài liệu, sách giáo khoa (có sự đầu

tư, cải tiến) Tất nhiên, do học viên GDTX có nhu cầu và đặc điểm khác biệt so với

học sinh phổ thông cho nên vấn đề tổ chức, nội dung và phương pháp học tập phải khác Mọi sự áp đặt về nội dung, tổ chức hay phương pháp của giáo dục chính quy

mà không xuất phát từ chính bản thân học viên GDTX đều thất bại Vì vậy, hội nghị GDTX Thế giới tại Tokyo, Nhật Bản đã kết luận về việc phối hợp với giáo dục chính

quy là cần thiết, nhưng không được làm mất đi “đặc thù riêng” của GDTX Nội

dung, phương pháp, hình thức tổ chức GDTX phải xuất phát trên đặc điểm đối tượng

là học viên GDTX Không thể áp đặt cho những đối tượng này những gì đã được dùng có kết quả ở các trường chính quy [20][15][8]

Về nội dung GDTX, người ta chú ý nhiều tới tính cơ bản, đơn giản, thiết thực, hành

dụng, tính liên môn, tích cực, học theo chuyên đề, vấn đề, …

Về phương pháp và hình thức tổ GDTX, đã có nhiều tìm tòi, áp dụng các

phương pháp mới nhưng không được đối lập cái mới với các phương pháp truyền thống Phương pháp mới không thể thay thế hoàn toàn với các phương pháp truyền thống Mỗi phương pháp đều cần thiết để thực hiện các mục tiêu dạy học và giáo dục

có liên quan đến GDTX

Nội dung và phương pháp dạy học GDTX thường được đổi mới theo phương hướng cơ bản sau:

Kết hợp học và hành, gắn lý thuyết với thực tiễn

- Luôn đặt học viên trong môi trường mà họ sống Học những vấn đề do chính môi trường và cộng đồng đặt ra

- Mở rộng khái niệm “ Kiến thức phổ thông” là kiến thức mà người dân cần

trong cuộc sống hàng ngày

Cần chú ý tới kinh nghiệm sống và sản xuất của học viên

-Phải tập trung vào “việc học” của học viên hơn là tập trung vào “việc dạy”

Thầy chỉ là người thiết kế, hướng dẫn viên Học viên được hướng dẫn tìm tòi để tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề

Trang 17

- Biện pháp tổ chức thực hiện phải linh hoạt, mềm dẻo, có sự khác biệt theo địa phương, theo đối tượng [21][17]

Những đổi mới quan trọng về phương pháp dạy học GDTX trong thời gian qua

có thể kể tới phương pháp học nhóm (Student team Learning) Với phương pháp này người học chủ yếu làm việc theo nhóm, trong đó mỗi cá nhân phải biết hoạt động độc lập trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, bên cạnh đó còn biết cách giúp đỡ nhau Các tác giả đại diện của phương pháp như Faulo Freire (Nhà xã hội học và nhà giáo dục học người Braxin), Robert J Marzano (Nhà giáo dục người Mỹ) [1][4]

Theo J.R.KIDD trong tác phẩm “Người lớn học như thế nào” (1978), khi giảng dạy cho học viên nên có hoạt động kiểu bài giảng , thảo luận, diễn đàn, hội thảo

sẽ thu hút và tạo được sự hứng thú cho người học

Các nhà nghiên cứu cũng nhất trí về việc cần thiết phải có một phương pháp dạy học (sư phạm) tích cực, học viên và giáo viên cùng tham gia, lấy học viên làm Trung tâm, có sự tương tác lẫn nhau giữa thầy và trò Đó là một phương pháp được đặc trưng bởi học tập hợp tác, tìm tòi, khám phá, bồi dưỡng sự hiểu biết về các khái niệm (critical thinking) và các kỹ năng giải quyết vấn đề (problem solving skills) Những cách dạy học này nằm chung trong thể loại giảng dạy “bỏ ngỏ” Trên một phổ

(spectrum) đi từ lối dạy học truyền thống “thầy giảng trò ghi” đến lối hướng dẫn “bỏ ngỏ” (open - ended), nhiều nhà giáo dục chủ trương phương pháp dạy học cấu trúc

hóa (structured teaching) Đó là sự kết hợp của sự giảng dạy/ hướng dẫn trực tiếp của

giáo viên, việc thực hành của học viên dưới sự hướng dẫn của thầy và việc học tập độc lập của học viên [24, tr154]

lý đối với trung tâm GDTX cũng khác với công tác quản lý trường học chính quy

Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã đề cập tới nhiều vấn đề trong GDTX từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến những thập niên của đầu thế kỷ 21 Các tác giả Nguyễn Đắc Tấn, Vũ Đình Ruyệt nghiên cứu về nội dung và phương thức hoạt động của giáo dục không chính quy mà thiết chế của nó được thể hiện bằng tên gọi Trung

Trang 18

tâm GDTX Một số tác giả như Tô Bá Trượng, Phạm Hoài Thủy, Nguyễn Bích Liên,

Lê Thuận Vượng, Nguyễn Quang Kính, nghiêm Xuân Lượng, Vũ Đình Ruyệt, Thái Xuân Đào, Đặng Thành Hưng, …có những nghiên cứu về các vấn đề chung của việc quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX như sau:

Xây dựng những định chuẩn, những yêu cầu về chất lượng trong quá trình giảng dạy của thầy, học tập của trò để hai hoạt động đó gắn bó nhịp nhàng với nhau

Xây dựng đội ngũ giáo viên thành một tập thể sư phạm, có ý thức kỷ luật, tôn trọng người học và hoạt động chuyên môn có nề nếp

Xây dựng và tiếp tục bổ sung các cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho hoạt động giảng dạy và học tập

Kiểm tra thường xuyên, nề nếp dạy và học của giáo viên và học viên Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ [7], [6], [12], [11], [22], [24]

Từ những vấn đề chung đó, các tác giả đã chỉ rõ một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở Trung tâm GDTX Tác giả Phạm Hoài Thủy trong “Tài liệu dùng trong Hội nghị Giám đốc Trung tâm GDTX quận, huyện, thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/02/2000” đã trình bày về mục tiêu, nội dung và biện pháp quản lý Trung tâm GDTX Tác giả cho rằng “Trong một thời gian dài nữa, việc học chương trình GDTX theo cấp lớp vẫn còn là nhiệm vụ trọng tâm quyết định sự tồn tại và phát triển của Trung tâm Nói một cách khác, nhiệm vụ giảng dạy chương trình GDTX theo cấp lớp vẫn là xương sống của Trung tâm GDTX quận, huyện” [25, tr.9] Vì vậy, khi đề cập đến biện pháp quản lý giảng dạy, tác giả Nghiêm Xuân Lượng cho rằng: “Giáo viên

là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục, vì vậy trước mắt cần có một chương trình chính thức để bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên các Trung tâm GDTX quận huyện, vì đó vừa là nhu cầu, nguyện vọng tha thiết của những người đang trực tiếp tham gia công tác trong lĩnh vực này” [13,tr.39]

Trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, các tác giả cho rằng nhiệm vụ của Giám đốc Trung tâm là phải xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, phát huy được tính sáng tạo trong lao động sư phạm của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm [18]

Trang 19

Tác giả Nguyễn Thị Ẩn đã đánh giá cao công tác thi đua và khen thưởng trong quá trình quản lý, bởi đó chính là tác động tạo động cho mọi thành viên phát huy hết khả năng, trí tuệ, động viên lẫn nhau, dạy tốt, học thật tốt làm cho hiệu quả hôm nay tốt hơn hôm qua và ngày mai tốt hơn hôm nay, Từ kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn công tác thi đua của ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ chí Minh, tác giả đã phân tích những hạn chế trong thời gian qua và đề xuất một số phương hướng cải tiến trong công tác thi đua để phát huy vai trò to lớn của nó trong công tác quản lý nhà trường [2,tr.16]

Trong những năm gần đây có nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã quan tâm đến chất lượng dạy học của GDTX Tác giả Tô Bá Trượng cho rằng GDTX

có chất lượng là giáo dục phải đảm bảo được mục tiêu giáo dục, đó là: Xác định việc học tập vừa là nhu cầu, vừa là điều kiện tồn tại của mỗi con người Giáo dục vì hòa bình, quyền con người và dân chủ bình đẳng, giáo dục vì sự phát triển bền vững Tạo

và đáp ứng được nhu cầu học tập của mỗi cá nhân và của cộng đồng theo 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để chung sống cùng nhau, học để tồn tại Đổi mới nội dung phương thức hoạt động của các Trung tâm GDTX Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục cho mọi người

Tác giả Tô Bá Trượng cùng các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng chương trình dạy bổ túc Trung học cơ sở và biên soạn tài liệu hướng dẫn dạy bổ túc Trung học cơ

sở Các tác giả: Nghiêm Xuân Lượng, Thái Xuân Đào, Tô Bá Trượng [12], [7] [23],

đã nghiên cứu triển vọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy và cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp giảng dạy vào việc dạy học ở Trung tâm GDTX

Tác giả Lê Thuận Vượng cho rằng do Học viên GDTX có đặc điểm về tâm lý (cá nhân, giới tính, xã hội), sinh lý nhóm đối tượng nên cần xây dựng một đội ngũ những người chuyên trách giảng dạy, hướng dẫn Các lực lượng này phải có “kiến thức cả về phương diện chuyên môn lẫn kiến thức về khoa học giáo dục tiếp tục cho người lớn như: Tìm hiểu nhu cầu học tập, phương pháp giảng dạy, hướng dẫn, động viên học viên học tập, biết cách tổ chức, quản lý các hình thức học đa dạng, linh hoạt”[26, tr.10]

Các tác giả Nguyễn Quang Kính, Phạm Hoài Thủy đã cho rằng hiện nay ở các Trung tâm GDTX, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học đều thiếu thốn,

Trang 20

phải bằng nhiều cách để xây dựng và tiếp tục bổ sung cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, cho hoạt động giảng dạy và học tập vì đó là một mặt quan trọng của công tác quản lý nâng cao chất lượng [11]

Tác giả Nguyễn Văn Đản phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy với hoạt động học trong quá trình dạy học và rút ra kết luận: Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thức của học viên có vai trò quyết định kết quả học tập Nhưng để hoạt động học có kết quả thì điều quan trọng là vai trò chỉ đạo tổ chức của giáo viên về mặt tổ chức giờ lên lớp [5]

Các tác giả Vũ Đình Ruyệt, Trần Kiều đều khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của người giám đốc, nhưng cùng với giám đốc còn có các phó giám đốc tham gia quản lý Trung tâm Để đảm bảo một sự chỉ đạo cao đối với quá trình sư phạm, cần có sự phân công rõ ràng giữa Giám đốc và Phó Giám đốc [18], [11]

Tóm lại: Các tác giả nước ngoài cũng như Việt Nam đã nêu lên các biện pháp

chung cho các Trung tâm GDTX Có một số tác giả đề cập tới chất lượng dạy học của GDTX nhưng lại nghiên cứu cải tiến nội dung phương pháp dạy học bộ môn, mà chưa đề cập tới biện pháp quản lý của Giám đốc nhằm giúp giáo viên thực hiện có hiệu quả các phương pháp đó

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Quản lý và Quản lý giáo dục

- Khái niệm Quản lý: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của

chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra

Hay nói một cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

+ Kế hoạch hoá: Là chức năng cơ bản nhất, chức năng này định hướng toàn

bộ các hoạt động của quá trình quản lý, là cơ sở để nhà quản lý huy động tối đa các nguồn lực phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu và căn cứ để kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu và là căn cứ để kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm

vụ của tổ chức của đơn vị mình

+ Tổ chức: Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu sao cho phù hợp với mục tiêu

Trang 21

+ Chỉ đạo: Là hướng dẫn cụ thể theo một định hướng nhất định, liên kết động viên người dưới quyền hoàn thành nhiệm vụ để đạt được mục tiêu của tổ chức

+ Kiểm tra: Nhằm theo dõi, giám sát quá trình hoạt động từ đó tiến hành đôn đốc, uốn nắn, điều chỉnh cho phù hợp để đạt được mục tiêu đã định

- Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ đó là góc độ vĩ mô và góc độ

vi mô

+ Tiếp cận dưới góc độ vĩ mô: Quản lý giáo dục là những hoạt động có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

+ Tiếp cận dưới góc độ vi mô: Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam, mà tiêu điểm Hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục, đưa nhà trường tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là hình thành, phát triển nhân cách của người học theo yêu cầu của xã hội

1.2.2 Quản lý hoạt động dạy học

* Khái niệm quản lý hoạt động dạy học: Quản lý các hoạt động dạy học là

những tác động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng (Giám đốc cơ sở giáo dục) đến tập thể giáo viên, học sinh (học viên trong cơ sở giáo dục), những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động giáo dục của nhà trường (của cơ sở giáo dục), giúp quá trình dạy học vận động tối ưu tới mục tiêu dự kiến

Từ khái niệm trên cần lưu ý một số điểm:

+ Quản lý các hoạt động dạy học là tác động có mục đích, có kế hoạch cụ thể của Hiệu trưởng (của Giám đốc Trung tâm GDTX)

Trang 22

+ Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý Giám đốc Trung tâm GDTX với đối tượng quản lý (Giáo viên, học viên và các lực lượng giáo dục khác), đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc hay cưỡng chế

+ Quản lý là sự tác động chủ quản, nhưng để đạt được hiệu quả phải phù hợp với quy luật khách quan của đối tượng quản lý

* Hoạt động dạy học cấp trung học phổ thông trong trung tâm giáo dục thường xuyên

- GDTX cấp THPT có vị trí, ý nghĩa như giáo dục THPT cùng cấp, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và có phẩm chất nhân cách Vì vậy, nhiệm vụ đạt ra ngành giáo dục nói chung, cho các trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng là cần nhanh chóng có giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học chương trình GDTX cấp THPT trong trung tâm GDTX để người học có đủ điều kiện, cơ hội tham gia học tập các chương trình, bậc học cao hơn

- GDTX cấp THPT là bậc học tiếp nối của cấp trung học cơ sở, nên cần phải tính đến sự nối kết liên tục chương trình giáo dục trung học cơ sở với chương trình GDTX cấp THPT mà học viên sẽ được học ở bậc học này

- GDTX cấp THPT là bậc học có nhiệm vụ đào tạo nguồn đáng kể cho đào tạo ở cấp trung học nghề, cao đẳng, đại học nhằm phục vụ cho CNH-HĐH đất nước, cần có sự tăng cường trong nội dung giáo dục, nội dung đào tạo và giáo dục hướng nghiệp

- Học viên GDTX cấp THPT đã có một lượng kiến thức cơ bản nhất định, tiếp tục sử dụng các phương pháp học đã có để chiếm lĩnh kiến thức các môn học cơ bản, các môn học này được xây dựng trên những cơ sở khoa học, được hình thành trong lịch sử loài người và của thế hệ đi trước, chúng được xây dựng phù hợp với đặc điểm của từng môn học, phát triển tâm lý và trí tuệ của từng lứa tuổi Vì vậy, GDTX cấp THPT có nhiệm vụ “ Giúp học viên củng cố và phát triển những kết quả của chương trình giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn GDTX cấp THPT và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học các bậc học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống”

Trang 23

Để đạt được những mục tiêu cơ bản của phát triển kinh tế - Xã hôi của đất nước, GDTX cấp THPT cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế quốc dân

GDTX cấp THPT cũng góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Trên nền tảng đã đạt được ở các bậc học, GDTX cấp THPT tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần nhân cách học viên lên một tầm cao mới theo hướng phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam Bởi vậy mục tiêu đào tạo ở cấp độ này phải được quan tâm đặc biệt là:

+ Hình thành ở học viên một hệ thống tri phổ thông toàn diện, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

+ Học viên hiểu biết thông thường về kỹ thuật – tổng hợp và những kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện đại

+ Hình thành động cơ học tập vì ngày mai lập nghiệp, vì dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Có như vậy, GDTX cấp THPT mới hoàn thành sứ mạng là trang bị một cách tốt nhất cho học viên bước vào đời, với đầy đủ bản lĩnh con người mới của xã hội hiện đại

1.2.3 Chất lượng dạy học

Chất lượng dạy học là mức độ mà kết quả dạy học đáp ứng mục tiêu dạy học, thoả mãn nhu cầu người học Chất lượng dạy học được hình thành thông qua chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học viên trên cơ sở đảm bảo chất lượng của các thành tố của quá trình dạy học

1.2.4 Trung tâm GDTX

1.2.4.1 Trung tâm GDTX được coi là đồng nghĩa với Trung tâm giáo dục

người lớn Hai thuật ngữ này được hiểu là diễn ra những hoạt động có tổ chức cho việc giáo dục người lớn

Tại hội nghị về Trung tâm GDTX được tổ chức tại SriLanca tháng 11 năm 1994

đã định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phương, ngoài hệ thống giáo dục chính quy, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành phố, thường được quản lý bởi nhân dân địa phương và việc học tập định hướng theo gia đình và cung cấp thông tin về

Trang 24

câu hỏi:Cái gì? Làm sao? Ở đâu? Khi nào? Các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học học tập khác nhau của GDTX”

Tại Hội nghị Giám đốc Trung tâm GDTX Quận, huyện, Thành phố được Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 01 năm 2000 thì Trung tâm GDTX là một loại hình cơ sở giáo dục chủ yếu của giáo dục không chính quy Vì thế, Trung tâm GDTX là nơi mà ai có nhu cầu học tập đều tìm thấy ở

đó có một tổ chức hoạt động giáo dục có nội dung học, hình thức học mà mình hài lòng nhất giúp mình thêm những hiểu biết cần thiết để hòa nhập với cộng đồng, vươn tới mưu cầu hạnh phúc Bởi vì:

- Là tổ chức các hoạt động đa dạng nhiều chức năng, nhiều hình thức học tập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học

- Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, có thể chuyển đổi dễ dàng để đáp ứng những nhiệm vụ mới trong quá trình phát triển

- Huy động được mọi nguồn lực sẵn có trong xã hội (cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên) tham gia vào các hoạt động của Trung tâm

Hiện nay tại Việt Nam hệ thống Trung tâm GDTX gồm: Trung tâm GDTX tỉnh (Thành phố), Trung tâm GDTX Quận (Huyện) và mối quan hệ giữa Trung tâm GDTX Tỉnh và Trung tâm GDTX Huyện là quan hệ hợp tác, bình đẳng nhằm giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ Việc đặt tên gọi Trung tâm GDTX Tỉnh hay Huyện là để phân biệt phạm vi cộng đồng dân cư mà các Trung tâm GDTX có trách nhiệm đáp ứng đáp ứng nhu cầu người học của họ Mặt khác Trung tâm GDTX là chiếc cầu nối giữa con người với nền văn minh nhân loại, là chiếc cầu nối giữa nhân dân lao động với các nhà trường

Giáo dục - Đào tạo cơ sở của việc phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, về năng lực, về phẩm chất, phải giúp cho người học có tri thức, kỹ năng và thái độ dễ thích nghi với những chuyển biến nhanh chóng của kinh tế thị trường, của thị trường việc làm, thị trường sức lao động

Theo hướng này, giáo dục đào tạo nói chung và GDTX nói riêng có vai trò hết sức cần thiết, quan trọng

Trang 25

Thuật ngữ “GDTX” được hiểu là sự giáo dục dành cho những người đã hoàn thành vòng giáo dục ban đầu trong thời niên thiếu Với ý nghĩa trên, thuật ngữ này được coi là đồng nghĩa với “ Giáo dục người lớn” Tuy nhiên, đây là một khái niệm mà nội hàm của nó đang phát triển và hoàn thiện dần Khái niệm này được hiểu khác nhau trong từng thời gian khác nhau và những nước khác nhau

Trong khuôn khổ của “Chương trình giáo dục cho mọi người” ở Châu Á Thái Bình Dương, GDTX được hiểu là: “Một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập và mọi người muốn hoặc cần có sau xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ cơ bản và giáo dục tiểu học”

Nội dung cụ thể của GDTX có thể hiểu:

Dành cho người lớn đã biết chữ;

Đáp ứng các nhu cầu mong muốn học tập;

Có thể bao gồm những hoạt động do các bộ phận giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy tiến hành

Là “Cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt đời sau khi học xong bậc tiểu học hoặc tương đương”

Tuy nhiên ở Việt Nam, khi sử dụng thuật ngữ “GDTX” ta chưa phân biệt rạch ròi như thế Cho đến nay GDTX được hiểu và quan niệm dựa trên các bình diện khác nhau

Tại Hội thảo về chiến lược phát triển GDTX đến năm 2020, báo cáo của Vụ GDTX - Bộ giáo dục và Đào tạo đã nêu: “GDTX được hiểu một cách khái quát là cung ứng cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên con người thông qua các chương trình XMC, chương trình tương đương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai”

Với quan niệm này, GDTX đồng nghĩa với giáo dục tiếp tục, tức là mở rộng chủ yếu của xóa mù chữ và phổ cập giáo dục Tiểu học nhằm thúc đẩy sự phát triển của tài nguyên con người

Trang 26

Do vậy, ta có thể nói GDTX, học tập thường xuyên sẽ mở rộng thành giáo dục suốt đời, học tập suốt đời, trở thành một nguyên tắc chi phối cả nền giáo dục, kết hợp hài hòa với nguyên tắc giáo dục cho mọi người Ai cũng được học thường xuyên suốt đời đó là lý tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục thế kỷ 21 của nước ta

1.2.4.2 Bản chất của Trung tâm GDTX

Hệ thống Trung tâm GDTX đã được xây dựng khắp nơi và được nhiều người nghiên cứu Nhưng bản chất Trung tâm GDTX là gì thì đến nay vẫn là một câu hỏi cần tìm hiểu

Theo chúng tôi, bản chất của một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nào đấy là nội dung bên trong của nó như vai trò, chức năng, nhiệm vụ, cấu trúc, các thuộc tính, Sau đây chúng tôi xin trình bày bản chất của Trung tâm GDTX qua việc tìm hiểu vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thuộc tính, các loại hình giáo dục:

a Vị trí, vai trò

Chúng ta đang đứng trước thềm của thế kỷ mới, thế kỷ mà “ Giáo dục là con bài thiết yếu để đưa nhân loại tiến lên” cho sự phát triển xã hội Cũng do thấy rõ vị trí, tầm quan trọng của việc giáo dục trong sự nghiệp phát triển đất nước mà Đảng ta luôn khẳng định “ Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu”

Từ xưa, phương thức giáo dục truyền thống mà ta quen dùng bằng thuật ngữ

“Giáo dục chính quy” với những quy định nghiêm ngặt về trình độ đầu vào, về độ tuổi, về thời gian đào tạo, về đặc điểm học tập, về sự hiện diện lớp học luôn coi trọng và ăn sâu vào tiềm thức con người Nếu có văn bằng ghi chữ “ Chính quy” thì

cơ hội xin việc làm sẽ dễ hơn, dễ có điều kiện thăng tiến trong công tác Song, trước

sự phát triển ngày càng cao của xã hội, nhu cầu được học của các tầng lớp nhân dân lao động ngày tăng thì phương thức “Giáo dục chính quy” trở thành con đường

“Vương giả” chỉ dành riêng cho một số ít người đáp ứng được yêu cầu có thể tham gia Để thực hiện công bằng trong giáo dục “Ai cũng được học hành”, đáp ứng nguyên lý “Giáo dục cho mọi người, mọi người cho giáo dục” cũng như “Học suốt đời” thì phương thức giáo dục truyền thống không đủ điều kiện về mọi nguồn lực để đáp ứng, mà bên cạnh nó phải có một phương thức giáo dục với các hình thức đào tạo

Trang 27

đa dạng, với cách thức tổ chức linh hoạt, mềm dẻo, với một cơ chế đào tạo “Mở” mới

đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đó của xã hội, đó là GDTX

GDTX còn mang ý nghĩa nhân văn và xã hội, nó là phương thức học tập hữu hiệu cho mọi người trong thời đại mới, nó trở thành con đường đào tạo không trùng lặp với những quy định của Giáo dục chính quy, nhằm tạo cơ hội cho những người không có điều kiện học chính quy khi còn trẻ tuổi hoặc đã ra khỏi giáo dục chính quy

mà còn muốn tiếp tục học tập

Tuy không tránh khỏi những mặt còn non yếu, song GDTX đã khẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiến tới tích hợp hai phương thức giáo dục này mới có thể đạt được mục đích lớn của giáo dục

Vì thế, GDTX phải là phương thức tồn tài đồng hành không thể thiếu bên cạnh phương thức Giáo dục chính quy, nó phải được thể chế hoá, đa dạng hoá và phải được thiết lập như một hệ thống mở và năng động

Để kết luận, có thể nói GDTX, học tập thường xuyên sẽ mở rộng suốt đời, trở thành một nguyên tắc chi phối cả nền giáo dục Ai cũng được học hành thường xuyên, suốt đời là lý tưởng, là nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục thế kỷ

21 của nước ta

GDTX quận, huyện có hai chức năng:

- Chức năng tổ chức các hoạt động giáo dục: tạo cơ hội học tập nhằm thoả mãn nhu cầu học tập đa dạng, phong phú của mọi người, trong đó có những người không

có điều kiện tiếp tục học ở các trường, lớp chính quy

- Chức năng tư vấn của GDTX: với chức năng này Trung tâm GDTX quận, huyện sẽ gợi ý cho các nhà quản lý giáo dục cấp quận, huyện để tổ chức một hệ thống giáo dục có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Trên cơ sở nghiên cứu các phương hướng, mục tiêu, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; điều tra, phát hiện các nhu cầu học tập của từng loại đối tượng

Trang 28

người học, Trung tâm GDTX đề xuất với cơ quan quản lý giáo dục về kế hoạch

tổ chức, phương pháp, nội dung, thời gian học đối với từng loại đối tượng

* Nhiệm vụ của Trung tâm GDTX quận, huyện được xác định như sau:

- Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục:

+ Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;

Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

+ Chương trình đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông; chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo

kế hoạch hằng năm của địa phương;

+ Chương trình GDTX cấp THCS và THPT;

- Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với

Sở Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng

- Tổ chức các lớp học theo các chương trình GDTX cấp THCS và THPT giành riêng cho đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn tật, khuyết tật theo năm của địa phương

- Tổ chức dạy và thực hành kỷ luật nghề nghiệp, các hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập

- Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống GDTX

Về đối tượng, Trung tâm GDTX mở rộng đối tượng đến tất cả những ai có nhu cầu và nguyện vọng học tập, bao gồm:

Những người mới thoát nạn mù chữ, mới biết đọc, biết viết

Những người không được học tập chung trong nhà trường chính quy hoặc học

dở dang các lớp, các cấp theo nội dung, chương trình chính quy (tiểu học, trung học, đại học) cần được tạo cơ hội để từng bước hoàn thiện theo chương trình chính quy hoặc tương đương

Những người đã học xong phổ thông rồi tham gia vào sản xuất và công tác cần được bồi dưỡng các kiến thức nghiệp vụ ngành nghề để hoàn thành các công việc được phân công

Trang 29

Những người cần được tiêu chuẩn hoá về nghề nghiệp, đặc biệt trong giáo dục (chuẩn hoá giáo viên Tiểu học), trong Y tế (tiêu chuẩn hoá y tá trưởng) trong các cấp hành chính từ xã, phường trở lên

Những người đã được đào tạo nghề, nay có xu hướng đổi nghề để xin việc làm hoặc đổi nghề nghiệp

Những người có hoàn cảnh khó khăn, đời sống thấp cần được học các kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, lao động thủ công, để tăng thu nhập, nâng cao mức sống gia đình

Những người đã có cuộc sống ổn định, mức sống tương đối cao có nhu cầu trang bị thêm các kiến thức về kinh tế - xã hội, về thể thao, văn hoá, để nâng cao thêm chất lượng cuộc sống của mình,

Như vậy, đối tượng của GDTX là hết sức đa dạng và ngày càng được mở rộng đối với những người có trình độ, có tiềm năng kinh tế

c Những thuộc tính của TTGDTX

Nhiệm vụ của Trung tâm GDTX là góp phần đảm bảo cho mọi người dân được học tập suốt đời Người dân chỉ có thể có các cơ hội học tập thược sự chỉ khi các cơ hội đó đảm bảo được yêu cầu: Có sẵn, đa dạng - phong phú, thuận tiện về địa điểm, linh hoạt về thời gian, dễ dàng trong thủ tục

Để thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình các Trung tâm GDTX phải có những tính chất sau:

Đa dạng hình thức tổ chức: Học tập trung theo kiểu cấp lớp, học tập tại chức, bán tập trung, học tập theo kiểu sinh hoạt câu lạc bộ, theo kiểu chuyên đề,

Đa dạng về không gian, thời gian: Bố trí thời gian học tập hợp lý, linh hoạt, học cả ngày, học nửa ngày, học ban ngày, học buổi tối, học vào vụ nông nhàn, ít việc, Địa điểm học có thể ở ngoài Trung tâm, có khi ở các cơ sở sản xuất, các cơ sở của tổ chức khác, ở thực địa (ruộng, đồng),

Trang 30

Trung tâm không thể hoàn thành được việc thực hiện tất cả các nội dung hoạt động, nếu không có sự liên kết, hợp tác với các lực lượng các tổ chức quần chúng cùng tham gia Vai trò Trung tâm ở đây vừa là trụ cột vừa là đầu mối tổ chức các mối liên kết Có chương trình học tập (như chương trình GDTX cấp THCS và THPT) thì Trung tâm phải là lực lượng quyết định; Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ có thể tổ chức hướng dẫn để Hội Phụ nữ, đoàn thanh niên thực hiện; các chương trình tạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống có thể phối hợp ngành nông - lâm nghiệp, ngành y tế cùng tổ chức thực hiện

- Tính mềm dẻo, linh hoạt

Tính mềm dẻo trong hoạt động giáo dục là một trong những nét đặc trưng của Trung tâm GDTX Mềm dẻo biểu hiện ở tính năng động, nhạy bén, linh hoạt tổ chức, đặc biệt là Trung tâm GDTX trong cơ chế thị trường Tính mềm dẻo còn cho phép Trung tâm hoạt đông theo cơ chế mới, không khép kín để thu hút và cung ứng được mọi cơ hội, mọi nhu cầu học tập cho mọi người với mọi điều kiện khác nhau

Mềm dẻo phải thể hiện đầy đủ các mặt: Nội dung, về chương trình, về tổ chức quản lý và có khi phải mềm dẻo cả về hiệu quả kinh tế Đặc biệt, phải hết sức mềm dẻo trong việc sử lý các mối quan hệ trong việc xác định nội dung và cách thức thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể của mình cho phù hợp với từng đối tượng phục vụ và đối tác phối hợp

- Tính khả thi

Tính khả thi nói lên sự đảm bảo tương đối có cơ sở của việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Trung tâm Mọi hoạt động của Trung tâm được xây dưng trên cơ

sở đã tính hết các điều kiện bên trong, bên ngoài, trên dưới Không nên đưa ra nhiệm

vụ vượt quá khả năng của mình Người quản lý Trung tâm phải lựa sức mình, sức cộng đồng và Nhà nước trong việc xây dựng và đóng góp, hoạch định được kế hoạch hoạt động và đồng thời cũng là điều kiện đảm bảo lòng tin của mọi người đối với Trung tâm

Như vậy, nét đặc trưng về tổ chức hoạt động của Trung tâm GDTX quận, huyện

là điều tra khảo sát nắm toàn bộ thông tin cần thiết cho việc tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ của Trung tâm, đồng thời phải biết tìm mọi cách liên kết với tất cả các tổ chức giáo dục, tổ chức quần chúng, các tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhằm hỗ trợ lẫn nhau cùng thực hiện mục đích giáo dục phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng

Các điều trên có thể tóm tắt trong bảng sau đây:

Trang 31

Bảng so sánh các thành tố của quá trình giáo dục chính quy và không chính quy:

GIÁO DỤC CHÍNH QUY GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH QUY

- Mục tiêu giáo dục:

+ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài

- Phương thức: - Phương thức:

Không chính quy, đa dạng, mềm dẻo, không bị ràng buộc bởi thiết chế chặt chẽ, khả thi

d Quản lý Trung tâm GDTX

Quản lý Trung tâm GDTX trong nền kinh tế thị trường, toàn cầu hoá khi Việt Nam đã ra nhập WTO có gì khác trước? Đó là một trong những vấn đề lý luận cần làm rõ để có thể đề xuất những biện pháp đúng đắn

- Những đặc điểm của giáo dục - dạy học trong xã hội hiện đại:

* Về đối tượng: Đối tượng dạy học ngày xưa chỉ có một số ít con em các tầng

lớp thượng lưu Họ học để làm quan, cai trị dân Số này không cần đông, nên thi cử

Trang 32

chỉ mang tính chất thải loại, có lúc thi sáu, bảy ngàn chỉ đỗ dăm mười người, vì nhu cầu xã hội chỉ có thế người ta gọi kiểu dạy học này là dạy học tinh hoa

Dạy học giáo dục ngày nay là giành cho mọi người, là làm cho “ai cũng được

học hành” nghĩa là giáo dục phục vụ trăm phần trăm dân cư, một nền giáo dục có

tính chất quần chúng

* Về nội dung: Nhà trường truyền thống nhìn chung là hướng vào các vấn đề

lý luận Đặc biệt, nhà trường nho giáo hầu như chỉ học khoa học xã hội, không học toán, khoa học tự nhiên và kỹ thuật Người ta thường nói nội dung dạy học nhà

trường truyền thống có tính chất hàn lâm

Nhà trường hiện đại trang bị cho người học những tri thức hành dụng, vì đối

tượng học tập đa số là người lao động, họ cần những hiểu biết, những kỹ năng gắn bó với đời sống thực tiễn, với công ăn việc làm của họ

Ngoài ra, trong nhà trường hiện đại, người học luôn có xu hướng muốn vượt ra khỏi nội dung do chương trình quy định

* Về nguồn lực: Nếu nguồn lực (mà chủ yếu là nguồn tài chính) cho nhà

trường truyền thống phần nhiều do nhà nước cung cấp, thì nguồn lực cho nhà trường hiện đại lại do xã hội đài thọ là chính

Sự chuyền nguồn lực tài chính từ nhà nước sang nhà nước và xã hội trong nhà trường hiện đại là một đặc điểm khác của giáo dục trong xã hội hiện đại Trong xã hội hiện đại, mọi người đều đi học, số lượng học viên rất đông, nhà nước không thể gánh vác nổi gánh nặng tài chính bằng nguồn kinh phí có giới hạn của mình Ngược lại, nguồn tài chính do xã hội đóng góp thì vô giới hạn, nếu biết khai thác hợp lý nhu cầu học tập của người dân

* Về chất lượng, quy mô, phạm vi phục vụ: Trong xã hội hiện đại, chất lượng giáo dục , quy mô, phạm vi phục vụ của giáo dục không giới hạn trong một quốc gia được toàn cầu hoá, mang tính chất toàn cầu Về chất lượng giáo dục chúng ta cần phấn đấu nhiều để đạt được trình độ quốc tế

Những điều trình bày trên có thể được tóm tắt trong bảng sau: (Bảng so sánh nhà trường truyền thống và nhà trường hiện đại)

Trang 33

Loại hình nhà trường Truyền thống Hiện đại

Chất lượng, phạm vi phục vụ Quốc gia Quốc tế

- Một số vấn đề chung của quản lý hoạt động các Trung tâm GDTX

Các hoạt động giáo dục của Trung tâm GDTX quận, huyện được quản lý theo ngành dọc từ Bộ đến Sở Giáo dục và Đào tạo và cuối cùng là sự quản lý của Giám đốc Trung tâm GDTX, cụ thể:

+ Bộ Giáo dục và Đào tạo:

Ban hành những văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản hướng dẫn về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp hoạt động của Trung tâm GDTX

Chỉ đạo, kiểm tra và tổng hợp tình hình hoạt động của các Trung tâm GDTX

Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nần cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Trung tâm GDTX

+ Sở Giáo dục và Đào tạo

Là cơ quan quản lý, chỉ đạo trực tiếp Trung tâm GDTX ở địa phương

Ban hành các văn bản quản lý, xây dựng các kế hoạch chiến lược về sự phát triển của Trung tâm GDTX hàng năm

+ Giám đốc Trung tâm GDTX

Giám đốc là một chức danh của Trung tâm GDTX, là người lãnh đạo cao nhất, điều hành mọi hoạt động của Trung tâm GDTX và chịu trách nhiệm trước cấp trên quản lý về sự điều hành đó

Giám đốc có nhiệm vụ:

Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện hiện kế hoạch nhằm hoàn thành các nhiệm

vụ của Trung tâm

Tổ chức quản lý lao động, đồng thời chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, giáo viên và nhân viên

Trang 34

Thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân ngoài Trung tâm để tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ về mọi mặt đối với Trung tâm

Theo phạm vi được phân cấp, Giám đốc có quyền:

Quyết định kế hoạch giáo dục đào tạo hàng năm và những biện pháp để thực hiện kế hoạch đó

Quyết định các việc về tổ chức và nhân sự của Trung tâm

Quyết định thu chi và phân phối các thành quả lao động, thực hành, kỹ thuật, dịch vụ (nếu có)

Làm chủ tài khoản của Trung tâm

Trung tâm GDTX ra đời từ sự mở rộng chức năng, nhiệm vụ của trường Bổ túc Văn hoá nên nó vừa bao hàm chức năng của các loại trường Bổ túc văn hoá, vừa

có chức năng cung cấp cơ hội học tập cho mọi người ở mọi lĩnh vực, mọi trình độ Trung tâm GDTX sở dĩ tồn tại và phát triển vì nó mang những đặc điểm khác biệt về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động, tính chất, phù hợp với những yêu cầu mới của xã hội

Từ những đặc điểm trên có thể hiểu Trung tâm GDTX có mục tiêu chung là tạo cơ hội học tập, giúp cho người học có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để lao động, sản xuất, công tác tốt hơn; hoà nhập vào cộng đồng đang phát triển, mưu cầu hạnh phúc, đồng thời cũng tạo cơ sở để những người học có nhu cầu có thể tiếp tục học lên bậc học cao hơn

Quán triệt những đặc điểm đó, người quản lý Trung tâm phải chú trọng tổ chức các hình thức học tập, bảo đảm được chất lượng dạy học Giám đốc Trung tâm GDTX ngoài những năng lực, phẩm chất của người lãnh đạo cao nhất của một cơ sở giáo dục phải nắm vững những công việc của đội ngũ giáo viên trên cơ sở có tri thức

về lý luận dạy học, lý luận quản lý, nghiệp vụ quản lý, tâm lý học quản lý Điều quan trọng nữa là người Giám đốc phải am hiểu sâu sắc những đặc điểm của giáo dục không chính quy thì mới xác định rõ các nguyên tắc, các phương pháp quản lý phù hợp hiệu quả

Trang 35

1.3 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc Trung tâm GDTX

1.3.1 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc Trung tâm GDTX theo chức năng

Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng quản lý Chức năng quản lý là là các dạng hoạt động tương đối độc lập được tách ra từ hoạt động quản lý Có nhiều quan điểm phân định các chức năng quản lý; đa số các giáo trình quản lý giáo dục gần đây thống nhất các chức năng quản lý là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

- Kế hoạch hoá

Kế hoạch hoá là một khâu quan trọng trong quản lý Lập kế hoạch là hoạt động thiết lập các mục tiêu cần thiết, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và những điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu Giám đốc không những lập kế hoạch

mà còn huấn luyện, yêu cầu thực hiện và kiểm tra việc lập kế hoạch dạy học của các

tổ bộ môn và giáo viên

Quản lý quá trình dạy học là quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức, kết quả của giáo viên và học viên Để nâng cao chất lượng các thành tố của quá trình dạy học, quản lý kế hoạch dạy học cần quản lý các kế hoạch: Quản lý bồi dưỡng và nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên; quản lý dạy học của giáo viên (phân công giảng dạy và công tác, thực hiện chương trình, soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp, kiểm tra và đánh giá học viên); quản lý đổi mới phương pháp dạy học; quản lý hoạt động học tập của học viên; quản lý các điều kiện hỗ trợ dạy học

Giám đốc chủ động tiến hành công tác kế hoạch quản lý dạy học của năm học

Để có cơ sở lập kế hoạch quản lý dạy học, Giám đốc phải nghiên cứu nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhiệm vụ năm học, các chỉ thị và hướng dẫn các cơ quản quản lý giáo dục cấp trên, xem xét các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), những thuận lợi và khó khăn, những thành công, tồn tại và nguyên nhân của năm học trước; lấy ý kiến của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong Trung tâm Quá trình thực hiện chức năng kế hoạch hoá của Giám đốc gồm các bước: dự thảo kế hoạch, lấy ý kiến, quyết định kế hoạch, xây dựng văn bản pháp quy, các tổ chuyên môn và cá nhân tiến hành lập kế hoạch, Giám đốc trình kế hoạch cho phòng chuyên

Trang 36

môn GDTX Sở Giáo dục và Đào tạo duyệt, duyệt kế hoạch của các tổ chuyên môn, giáo viên và triển khai thực hiện kế hoạch

- Tổ chức

Tổ chức là một quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các bộ phận và giáo viên để đạt được mục tiêu Nhờ tổ chức hiệu quả mà người quản lý có thể điều hoà, phối hợp để phát huy năng lực nội sinh và có ý nghĩa quan trọng chuyển kế hoạch thành thực hiện

Khi sắp xếp bố trí cán bộ giáo viên, Giám đốc cần chú ý đến năng lực, thế mạnh, yếu của mỗi người để bố trí đúng người, đúng việc; điều hoà chất lượng giữa các khối lớp, giữa các mặt công tác, ưu tiên công tác trọng tâm, phát huy sức mạnh tổng hợp, phát huy tiềm năng trí tuệ của đội ngũ, tạo nên động lực, phát huy nội lực, đánh thức tiềm năng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng dạy học

Một vấn đề quan trọng trong công tác tổ chức cán bộ là xây dựng quy chế làm việc, trách nhiệm, quyền hạn và mối quan hệ cộng tác giữa các thành viên , giữa các

bộ phận trọng Trung tâm, thực hiện sự phân cấp trong quản lý; sức mạnh của công tác

tổ chức là quan điểm đánh giá con người khách quan, trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của các nhà quản lý

Quản lý tổ chức dạy học bao gồm tổ chức hợp lý hệ thống phòng học, lớp học, phòng bộ môn, phòng thực hành thí nghiệm, giờ học và các phương tiện kỹ thuật; tổ chức lao động sư phạm của các giáo viên và học viên trong và ngoài giờ lên lớp, tổ chức bồi dưỡng và nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên, tổ chức hướng dẫn phương pháp học tập trên lớp và tự học ở nhà của học viên, xây dựng cơ chế phối hợp các tổ chức trong và ngoài Trung tâm trong việc giáo dục, dạy học

- Chỉ đạo

Chỉ đạo là quá trình dùng ảnh hưởng của mình tác động đến thành viên để họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu Người Giám đốc phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người vào mục tiêu chung để thực hiện được kế hoạch

Đây là chức năng thể hiện được năng lực của người quản lý sử dụng quyền lực để tác động đến các đối tượng quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào tổ chức thực hiện kế hoạch Để thực hiện chức

Trang 37

năng này đòi hỏi người quản lý phải có chi thức, kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định

Giám đốc chia sẻ ảnh hưởng của sự chỉ đạo với các thành viên nòng cốt trong Trung tâm; việc phân quyền sẽ thoả đáng những nhu cầu cơ bản của con người về sự thành đạt, ý thức về sự công nhận, sự tôn trọng và tạo điều kiện, sức kích thích để các thành viên phát huy hết tiềm năng của mình

Chỉ đạo dạy học là hướng dẫn, giải thích, thuyết phục cán bộ giáo viên nhiệt tình,

tự giác, nỗ lực phấn đấu hoàn thành các kế hoạch dạy học Chú trọng chỉ đạo xây dựng

nề nếp dạy học, bồi dưỡng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giáo viên, chỉ đạo đầu tư trang bị và sử dụng cơ sở vật chất - thiết bị dạy học kết hợp với chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy học

- Kiểm tra - đánh giá

Kiểm tra là chức năng quan trọng của quản lý Nhờ có kiểm tra mà giám đốc đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo tiếp theo

Quản lý kiểm tra dạy học là quản lý sự vận hành của các thành tố dạy học so với kế hoạch dạy học; các bước của quá trình kiểm tra là: Xác định tiêu chuẩn và phương pháp đo lường thành tựu, xác định mức độ đáp ứng của thành tựu so với tiêu chuẩn và tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa Trong kiểm tra đòi hỏi phải được tiến hành một cách bài bản theo một quy trình khoa học đảm bảo cho việc đánh giá khách quan, chính xác, trung thực và công khai; phải kịp thời động viên khen thưởng hay nhắc nhở, phê phán Xác định kiểm tra vì việc vì người

Ngoài bốn chức năng công cụ nêu trên đây (kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo

và kiểm tra - đánh giá), một chức năng không kém phần quan trọng trong hoạt động quản lý đó là: Chức năng kích thích, động viên tạo động lực Một Giám đốc

có thể là người xây dựng kế hoạch giỏi, một người biết tổ chức chỉ đạo một cách khoa học, một người luôn coi trọng kiểm tra, đánh giá theo chuẩn mực, nhưng người đó cũng có thể thất bại trong hoạt động quản lý của mình, nếu không biết khuyến khích, động viên, tạo động lực cho mọi thành viên cùng hoạt động

Trang 38

- Động lực

Động lực chính là động cơ, là nhân tố thúc đẩy, định hướng và và duy trì hoạt động của mỗi người Vì vậy để tạo động lực cho hoạt động quản lý dạy học Giám đốc cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ dạy học của thầy, động cơ học tập của Học viên

Với giáo viên, để tạo nên động lực của việc dạy học, Giám đốc cần tác động đến nhu cầu được tôn trọng, được khẳng định mình, đồng thời có sự động viên về tinh thần và bồi dưỡng bằng vật chất thích đáng, tương xứng với khả năng và sự cống hiến của mỗi người

Với Học viên, để xây dựng động cơ học tập đúng đắn, trước hết là xây dựng nhu cầu, hứng thú học tập Hứng thú học tập có thể được xuất phát từ nội dung học tập, từ phương pháp dạy học và mối mối quan hệ giữa Giáo viên và Học viên trong dạy học có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng trong việc hình thành và phát triển động cơ học tập của Học viên Vì vậy, việc xây dựng động cơ học tập có mối quan hệ biện chứng với phương pháp dạy học của Giáo viên

1.3.2 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc theo phương tiện

Giám đốc là người đại diện Trung tâm về mặt pháp lý và chịu trách nhiệm với cấp trên quản lý về tổ chức hoạt động của Trung tâm Giám đốc được nhà nước giao trách nhiệm quyền hành và điều kiện thực thi công tác lãnh đạo

Giám đốc có trong tay các văn bản, chỉ thị, công văn của Đảng, Nhà nước, của Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn quản lý các hoạt động của Trung tâm nhưng cần cụ thể hoá chúng thành để phù hợp với thực tiễn Trung tâm Bên cạnh đó, tại Trung tâm Giám đốc có quyền ban hành các quy định nội bộ cụ thể để quản lý nâng cao chất lượng dạy học

Giám đốc có bộ máy từ các Phó Giám đốc, tổ trưởng chuyên môn, hành chính, tài vụ, văn phòng, giáo viên, nhân viên giúp việc và thực thi nhiệm vụ Giám đốc, thông thường là Bí thư hay Phó Bí thư Chi bộ, Đảng bộ của Trung tâm nên lãnh đạo các tổ chức Chi bộ, Công đoàn và Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cùng các tổ chức, cá nhân trong Trung tâm thực hiện nhiệm vụ giáo dục và dạy học

Trang 39

Giám đốc là người quản lý, phân công, sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) Phân công giảng dạy, công tác, trách nhiệm, quyền hạn và mối quan hệ cộng tác giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong Trung tâm, thực hiện sự phân cấp trong quản lý; giám đốc giữ vai trò chủ tài khoản trong công tác tài chính, chịu trách nhiệm chính về trang bị, sử dụng, bảo quản, giữ gìn CSVC-TBDH Điều đó, đòi hỏi giám đốc phải hiểu biết sâu sắc từng công việc, từng cán bộ nhân viên; quản lý phân công, sử dụng khoa học, hợp lý nhằm phát huy tối ưu các nguồn lực, yếu tố quyết định chất lượng dạy học

Giám đốc phải hình thành một mạng lưới các quan hệ, tiếp xúc Những mối quan hệ, tiếp xúc đó thực hiện vai trò đại diện Trung tâm hay cá nhân sẽ giúp giám đốc có được những thông tin quý báu Hơn nữa giám đốc có điều kiện để nhận các văn bản, truy cập Internet, giao tiếp với nhiều đối tượng nhằm có thông tin phục vụ dạy học Giám đốc vừa là hiệu thính viên, vừa là phát thanh viên, vừa là phát ngôn nhận các thông tin phục vụ dạy học [3 tr.6,7]

1.3.3 Quản lý hoạt động dạy học của Giám đốc theo Quá trình

1.3.3.1 Quản lý kế hoạch, chương trình dạy học

Xây dựng kế hoạch giảng dạy là việc xác định mục tiêu công tác giảng dạy của mỗi giáo viên, trên cơ sở trình độ tay nghề và kết quả phân tích tình hình học tập của học viên

Giám đốc phải hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết cách xác định mục tiêu đúng đắn và biết cách tìm ra các biện pháp để đạt các mục tiêu đã đề ra

Trong công tác quản lý Trung tâm, giám đốc phải coi việc giáo viên thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy là quan trọng nhất để đảm bảo chất lượng công tác Vì vậy, giám đốc phải biết sử dụng nhiều biện pháp quản lý phù hợp với tình hình đội ngũ giáo viên của Trung tâm, giúp họ hoàn thành kế hoạch [9]

Chương trình dạy học là văn kiện do nhà nước ban hành, trong đó quy định một cách cụ thể: Mục đích, nội dung, phương pháp, các nhiệm vụ của môn học; phạm

vi và hệ thống nội dung môn học; số tiết dành cho môn học nói chung cũng như từng phần, từng chương, từng bài

Trang 40

Chương trình dạy học là một căn cứ pháp lý để nhà nước tiến hành chỉ đạo và giám sát hoạt động dạy học của Trung tâm Đồng thời, nó cũng là căn cứ pháp lý để giám đốc quản lý giáo viên giảng dạy theo đúng chương trình [10, tr.31] Giám đốc phải nắm vững và làm cho toàn thể giáo viên nắm vững chương trình dạy học

Quản lý giáo viên dạy đúng và đủ chương trình dạy học nằm trong toàn bộ hoạt động dạy học của giáo viên: Soạn bài, lên lớp, ôn tập, kiểm tra, tổ chức các hình thức học tập ngoài lớp

Để quản lý giáo viên thực hiện đúng và đủ chương trình dạy, giám đốc cần thực hiện các việc sau:

Yêu cầu giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học môn học do mình phụ trách, trong đó phần thực hiện chương trình dạy học phải thể hiện rõ

Giám đốc cùng với phó giám đốc và các tổ chuyên môn, phân công nhau theo dõi nắm bắt tình hình thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng Điều quan trọng

là giám đốc phải tiến hành phân tích tình hình thực hiện chương trình sau mỗi lần tổng hợp, để có những biện pháp, những quyết định quản lý tốt chương trình dạy học

Sử dụng các bảng biểu, sổ sách như: Sổ báo bài giảng, sổ ghi đầu bài, lịch kiểm tra học tập, sổ dự giờ, để nắm tình hình có liên quan đến sự thực hiện chương trình hàng ngày

Dùng thời khóa biểu để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học của tất cả các môn, các lớp sao cho đồng đều, cân đối, tránh sự so le, thiếu

giờ, thiếu bài tập Kịp thời sử lý hàng ngày các “sự cố” ảnh hưởng đến việc thực hiện

chương trình dạy học

1.3.3.2 Phân công công tác giảng dạy của giáo viên

Khả năng giảng dạy là căn cứ chủ yếu để phân công giáo viên Nên xem xét đến triển vọng của khả năng cũng như sự non yếu phải chấp nhận trong điều kiện hiện nay của đội ngũ mà lựa chọn phương án tối ưu

Nên phân công tất cả giáo viên ngoài số giờ giảng dạy đều tham gia các hoạt động khác để gắn bó trong tập thể sư phạm và tiếp xúc rộng rãi với học viên

Phân công theo khả năng mỗi giáo viên sẽ mang lại kết quả to lớn, ngược lại

sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, tình cảm và sẽ ảnh hưởng không tốt

Ngày đăng: 25/11/2014, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Antoine prost (2005), Ecole abligatoire: maitre ou juge il faut choisir, Le monde Íéducation (décembrc 2005), Pais Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecole abligatoire: maitre ou juge il faut choisir
Tác giả: Antoine prost
Năm: 2005
2. Nguyễn Thị Ẩn (1997), “Công tác thi đua và khen thưởng trong quá trình quản lý giáo dục”, Báo Giáo dục - Sáng tạo, số 11, tr16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thi đua và khen thưởng trong quá trình quản lý giáo dục”," Báo Giáo dục - Sáng tạo
Tác giả: Nguyễn Thị Ẩn
Năm: 1997
3. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1977), Bài giảng lý luận đại cương về quản lý, trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý luận đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1977
5. Nguyễn Văn Đản (1977), “Mối quan hệ giữa hoạt động dạy với hoạt động học trong quá trình dạy học”, thông tin khoa học giáo dục, số 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa hoạt động dạy với hoạt động học trong quá trình dạy học”, "thông tin khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Đản
Năm: 1977
6. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), căn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: căn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1997
7. Thái Xuân Đào (2003), “Đổi mới phương pháp dạy học người lớn ở cộng đồng”, thông tin khoa học giáo dục, số 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học người lớn ở cộng đồng”", thông tin khoa học giáo dục
Tác giả: Thái Xuân Đào
Năm: 2003
8. Higius james M. (Grummen school Rollins college) (1990), The management chalenge An Introduction to management. Macmillan publishing Company New York, colljer Macmillan Canada torouto Sách, tạp chí
Tiêu đề: The management chalenge An Introduction to management. Macmillan publishing Company New York
Tác giả: Higius james M. (Grummen school Rollins college)
Năm: 1990
9. Hà Sỹ Hồ, Lê Tuấn (1987), Những bài giảng về Quản lý giáo dục, tập 3, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về Quản lý giáo dục
Tác giả: Hà Sỹ Hồ, Lê Tuấn
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1987
10. Phó Đức Hòa (1995), Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phó Đức Hòa
Năm: 1995
11. Trần Kiều (2005), Về chất lượng Giáo dục, UNESCO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chất lượng Giáo dục
Tác giả: Trần Kiều
Năm: 2005
12. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2000), Những tư tưởng chủ yếu về giáo dục học, Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số B98.53.11, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng chủ yếu về giáo dục học, Đề tài khoa học cấp Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2000
13. Nghiêm Xuân Lượng (1998), “Về nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các Trung tâm GDTX”, Thông tin khoa học giáo dục, số 66, tr9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhu cầu bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các Trung tâm GDTX”, "Thông tin khoa học giáo dục
Tác giả: Nghiêm Xuân Lượng
Năm: 1998
14. Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo dục, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 2005
15. Preedy M. (1993), Manging the effective school, doul chafman publication Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manging the effective school
Tác giả: Preedy M
Năm: 1993
16. Ram Robbnucs Harrey B. Alvy (2004), Cẩm nang dành cho hiệu trưởng, nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang dành cho hiệu trưởng
Tác giả: Ram Robbnucs Harrey B. Alvy
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2004
17. Ramsay.W. and Clark. E. E. (1990), New Ideas for Effective School Iprovement, london: Falmer Press, chapter 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New Ideas for Effective School Iprovement
Tác giả: Ramsay.W. and Clark. E. E
Năm: 1990
18. Vũ Đình Ruyệt (1990), “Một số vấn đề thuộc loại hình dạy - học theo quy trình cấp lớp trong ngành giáo dục bổ túc”, Thông tin khoa học giáo dục, số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề thuộc loại hình dạy - học theo quy trình cấp lớp trong ngành giáo dục bổ túc”, "Thông tin khoa học giáo dục
Tác giả: Vũ Đình Ruyệt
Năm: 1990
20. Trung tâm từ điển ngôn ngữ (1992), Từ điển tiếng việt, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Trung tâm từ điển ngôn ngữ
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1992
21. Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý(1999), Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: oa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
Năm: 1999
22. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh các thành tố của quá trình giáo dục chính quy và không chính quy: - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng so sánh các thành tố của quá trình giáo dục chính quy và không chính quy: (Trang 31)
Bảng 2.1. Đội ngũ Cán bộ quản lý giai đoạn 2010 - 2014 - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.1. Đội ngũ Cán bộ quản lý giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 52)
Bảng 2.2. Đội ngũ giáo viên giai đoạn 2010 - 2014 - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.2. Đội ngũ giáo viên giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 52)
Bảng 2.6. Thực trạng tổ chức bồi dƣỡng chuyên môn,   nghiệp vụ cho giáo viên - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.6. Thực trạng tổ chức bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên (Trang 57)
Bảng 2.8. Thực trạng xây dựng và bổ sung cơ sở vật chất,  thiết bị dạy học phục vụ HĐDH - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.8. Thực trạng xây dựng và bổ sung cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ HĐDH (Trang 59)
Bảng 2.9. Thực trạng kích thích tạo động lực cho đội ngũ giáo viên - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.9. Thực trạng kích thích tạo động lực cho đội ngũ giáo viên (Trang 60)
Bảng tổng hợp kết khảo sát thực trạng về các nội dung quản lý khuyến khích,  tạo động lực cho đội ngũ giáo viên trong các Trung tâm GDTX ở mức đạt yêu cầu  với tổng điểm trung bình 1.72; cụ thể với nội dung quản lý kế hoạch và tổ chức phân  công giảng dạy - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng t ổng hợp kết khảo sát thực trạng về các nội dung quản lý khuyến khích, tạo động lực cho đội ngũ giáo viên trong các Trung tâm GDTX ở mức đạt yêu cầu với tổng điểm trung bình 1.72; cụ thể với nội dung quản lý kế hoạch và tổ chức phân công giảng dạy (Trang 61)
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá tính khả thi của 5 biện pháp đƣợc đề xuất  STT  Tên biện pháp - quản lý hoạt động dạy học cấp thpt ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá tính khả thi của 5 biện pháp đƣợc đề xuất STT Tên biện pháp (Trang 94)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w