Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta về việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất trong quá trình phát triển các khu công nghiệp.. Một
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo
vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trang 3Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của UBND huyện Quế Võ, phòng Lao động - TBXH, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng Công Thương, văn phòng HĐND&UBND huyện, Chi cục Thống kê, UBND các xã và các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu đã giúp đỡ, cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Ngoài ra, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên và tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần của đồng nghiệp đơn vị công tác, gia đình, bạn bè, người thân
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Quế Võ, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trần Đình Phái
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined 1.1.2 Khu công nghiệp, vai trò của khu công nghiệp đến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn 4
1.1.3 Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp ở vùng nông thôn 13
1.1.4 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta về việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất trong quá trình phát triển các khu công nghiệp 15
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của hộ nông dân trong quá trình phát triển các KCN 19
Trang 51.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân sau khi thực hiện CNH-HĐH phục vụ cho sự phát triển các khu CN 23
1.2.2 Một số kinh nghiệm giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất phục vụ cho sự phát triển các khu CN ở một số địa phương của Việt Nam 28
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Bắc Ninh trong quá trình giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất phục vụ cho sự phát triển các khu CN 34
1.2.4 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 34
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Các câu hỏi đặt ra 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 38
1.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 38
1.2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp (tài liệu đã được công bố sẵn) 38
1.2.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 39
1.2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 42
1.2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 42
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
1.2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh quá trình công nghiệp hoá 43
1.2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu thể hiện thực trạng thu hồi đất nông nghiệp 43
1.2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu thể hiện đặc điểm của các hộ nông dân bị thu hồi đất 43 1.2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng việc làm của hộ bị thu hồi đất 44
1.2.3.5 Nhóm chỉ tiêu thể hiện thu nhập và chênh lệch thu nhập của hộ nông dân 44
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ – TỈNH BẮC NINH 45
Trang 63.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu của huyện Quế Võ 45
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 45
3.1.1.1 Vị trí địa lý 45
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình 45
3.1.1.3 Đặc điểm điều kiện đất đai 46
3.1.1.4 Đặc điểm điều kiện khí hậu - thuỷ văn 46
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 46
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động 46
3.1.2.2 Hạ tầng cơ sở 47
3.1.2.3 Kết quả sản xuất 48
3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 49
3.1.3.1 Những thuận lợi 49
3.1.3.2 Những khó khăn 50
3.2 Thực trạng việc làm và thu nhập của hộ nông dân huyện Quế Võ trước và sau khi có khu công nghiệp 51
3.2.1 Thực trạng phát triển các KCN của huyện Quế Võ 51
3.2.1.1 Khái quát chung về các khu công nghiệp của huyện Quế Võ 51
3.2.1.2 Chính sách ưu đãi đầu tư để phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh 51
3.2.1.3 Các chính sách giải phóng mặt bằng và ổn định đời sống người dân vùng ảnh hưởng 52
3.2.2 Thực trạng giải phóng mặt bằng và ổn định đời sống người dân vùng ảnh hưởng 54
3.2.3 Thực trạng việc làm và thu nhập của hộ nông dân toàn huyện 56
3.2.4.1 Khái quát chung về các hộ điều tra 58
3.2.4.2 Biến động việc làm của hộ nông dân sau khi có KCN 63
3.2.4.3 Biến đổi thu nhập của hộ nông dân sau khi có KCN 74
3.2.5 Đánh giá chung về thực trạng việc làm và thu nhập cho hộ nông dân bị thu hồi đất 86 3.2.5.1 Một số tồn tại trong giải quyết việc làm cho hộ nông dân bị thu hồi đất 86
Trang 73.2.5.2 Nguyên nhân 87
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐA DẠNG HÓA VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KCN TẠI HUYỆN QUẾ VÕ – BẮC NINH 91
4.1 Mục tiêu, quan điểm và định hướng đề xuất giải pháp 91
4.1.1 Quan điểm 91
4.1.2 Định hướng 92
4.1.3 Mục tiêu 93
4.2 Một số giải pháp nhằm đa dạng hóa việc làm và thu nhập cho hộ nông dân 93 4.2.1 Nhóm giải pháp đối với các hộ gia đình 94
4.2.2 Nhóm giải pháp thuộc về cơ chế chính sách 95
4.2.2.1 Hoàn thiện việc quy hoạch đất đai và quản lý tốt kinh phí trong đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng 95
4.2.2.2 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 96
4.2.2.3 Tổ chức đào tạo nghề cho hộ nông dân 99
4.2.2.4 Tăng cường các hoạt động hỗ trợ để khuyến khích người lao động tìm kiếm việc làm và phát triển sản xuất 100
4.2.2.5 Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, tăng cơ hội việc làm ngoài nước cho người lao động 102
4.2.2.6 Phát triển thông tin thị trường lao động, tổ chức hiệu quả sàn giao dịch việc làm vệ tinh Error! Bookmark not defined 4.2.2.7 Thành lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, dạy nghề cho các hộ nông dân Error! Bookmark not defined 4.3 Kiến nghị và kết luận 103
4.3.1 Kiến nghị 103
4.3.1.1 Huyện Quế Võ 105
4.3.1.2 Người lao động 105
4.3.2 Kết luận Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thực trạng việc làm và thu nhập của hộ nông dân toàn
huyện
55
Bảng 3.2 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra 57 Bảng 3.3 Điều kiện sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 59 Bảng 3.4 Tình hình dân số, lao động của các nhóm hộ điều tra 59 Bảng 3.5 Trình độ văn hóa của nhóm hộ điều tra trong độ tuổi 61 Bảng 3.6 Phân bổ sử dụng lao động trước và sau khi có KCN của
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 Kết quả điều tra ý kiến của người dân về chính sách đền bù 52 3.2 Kết quả điều tra ý kiến của người dân về chính sách hỗ trợ
3.7 Biến động thu nhập thực tế trong nhóm hộ điều tra 86
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy Công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) là nhân tố quyết định thay đổi phương thức sản xuất, chuyển từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới hiện đại, từ đó, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam gắn liền với thực trạng đất nông nghiệp bị thu hồi để sử dụng vào những mục đích khác, nh thành lập các khu công nghiệp, xây dựng đường xá, chợ, trường học, trung tâm thương mại dịch vụ
Hiện nay, quá trình CNH – HĐH ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ Tính đến thời điểm tháng 3/2012 huyện đã thành lập được 3 khu công nghiệp (Khu công Quế
Võ số 1, 2 và 3) Quá trình thu hồi đất nông nghiệp để hình thành khu công nghiệp, dịch vụ và hình thành cơ sở hạ tầng địa phương đã tác động không nhỏ đến đời sống vật chất, tinh thần cho người dân huyện Quế Võ nói chung và các
hộ nông nghiệp của Bắc Ninh nói riêng Lực lượng lao động trong nông nghiệp
dư thừa do bị thu hồi đất hoặc là tìm được việc làm trong khu công nghiệp, hoặc
là phải chuyển đổi sang ngành nghề dịch vụ khác hay đi ra các thành phố tìm kiếm việc làm, hoặc là bị thất nghiệp Thực tế đó đã gây không ít khó khăn cho người nông dân mất đất, những người mà trước kia họ chỉ quen với nghề nông với ruộng đồng Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng lực lượng lao động trong nông thôn của Việt nam còn nhiều hạn chế - trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn tay nghề còn thấp, chưa có thói quen làm việc nghiêm túc, tác phong công nghiệp chưa cao, một số khác đã quá độ tuổi mà các doanh nghiệp trong khu công nghiệp yêu cầu Tình trạng lao động trong vùng thu hồi đất không tìm được việc làm, hoặc tìm được việc làm không ổn định, tình trạng các doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động theo cam kết đã sa thải lao động hoặc trả lương quá thấp khiến người lao động tự bỏ việc không phải là hiện tượng cá biệt Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp giải quyết việc làm ổn định, tăng thu nhập cho hộ nông dân nhất là ở vùng bị thu hồi đất phục vụ cho sự phát triển KCN là vấn đề cấp
Trang 12thiết không phải chỉ của riêng huyện Quế Võ mà là vấn đề có tính thời sự cho tất
cả các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Xuất phát từ thực
trạng trên, tôi đã chọn đề tài “Việc làm và thu nhập của hộ nông dân trong quá
trình phát triển các khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” làm
chủ đề luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng về việc làm và thu nhập của các hộ gia đình ở Quế
Võ, Bắc Ninh sau khi bị thu hồi đất, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình liên quan tại địa phương trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề công nghiệp hóa và tác động của công nghiệp hoá tới đời sống của các hộ nông dân vùng chịu ảnh hưởng
- Nghiên cứu thực trạng về việc làm và thu nhập của hộ nông dân của huyện Quế Võ từ khi hình thành các khu công nghiệp số 1, 2 và 3
- Đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các khu công nghiệp (quá trình công nghiệp hoá) tới đời sống của hộ nông dân trong vùng chịu ảnh hưởng
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần ổn định việc làm và nâng cao mức sống của hộ nông dân vùng chịu ảnh hưởng của các khu công nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc làm và thu nhập của hộ nông dân trong quá trình phát triển các khu công nghiệp ở huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn khu công nghiệp Quế
Võ thuộc các xã: Phượng Mao, Phương Liễu, Ngọc Xá, Châu Phong, Việt Hùng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
* Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các số liệu thứ cấp giai đoạn 2008 - 2012; số liệu sơ cấp năm 2013
Trang 13* Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu biến động việc làm và thu nhập của các hộ nông dân trong vùng ảnh hưởng của các khu công nghiệp, từ đó
đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần ổn định và nâng cao đời sống của các hộ nông dân vùng chịu ảnh hưởng
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài
Một là, đề tài thực hiện hoàn thành sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ các vùng nông thôn Việt Nam và tác động của nó Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên
Hai là, đề tài sẽ góp phần tìm ra cho các cấp chính quyền và cho chính những hộ nông dân những giải pháp cơ bản nhằm tạo việc làm, ổn định và nâng cao đời sống của hộ, qua đó góp phần vào thành công của quá trình công nghiệp hoá của địa phương
Ba là, thông qua thực hiện đề tài sẽ giúp cho những nhà hoạch định chích sách, các nhà quản lý địa phương và các doanh nghiệp thấy được những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá tới đời sống của hộ nông dân chịu ảnh hưởng, qua đó có những giải pháp và những hỗ trợ thích hợp nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nông dân
Bốn là, đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của các hộ nông dân trước và sau khi hình thành các khu công nghiệp Từ đó đưa ra các giải pháp giúp cho hộ nông dân ổn định việc làm và nâng cao thu nhập
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn về việc làm và thu nhập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng việc làm và thu nhập của hộ nông dân trong quá
trình phát triển các khu công nghiệp ở huyện Quế Võ
Chương 4: Một số giải pháp cơ bản nhằm ổn định việc làm và thu nhập
của hộ nông dân ở các khu công nghiệp huyện Quế Võ – Bắc Ninh
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về việc làm và thu nhập của hộ nông dân
Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở
nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp Cho đến gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn tranh luận
Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao" (Ellis - 1988)
Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
tự cấp, tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
- Phương thức tổ chức sản xuất của hộ hông dân mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ gia đình với nhau
- Hộ nông dân ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất khác nhau
Trang 15Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau
Khái niệm về việc làm của hộ nông dân
Việc làm có rất nhiều khái niệm khác nhau, tuy nhiên vẫn có một quan điểm chung nhất, đó là việc làm là các hoạt động của con người để tạo ra của cải vật chất
Theo từ điển “Kinh tế khoa học xã hội”, xuất bản tại Paris năm 1996 thì
khái niệm việc làm được định nghĩa là: “Công việc mà người lao động tiến hành
nhằm có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật”
Khái niệm việc làm có thể được hiểu ở hai trạng thái “tĩnh” và “động” Ở trạng thái “tĩnh”, việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật chất - kỹ thuật khác nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích cho cá nhân, cộng đồng Theo cách hiểu này, việc làm là khả năng làm tăng của cải xã hội, tăng lợi ích cho dân cư và cộng đồng, là khả năng sử dụng nguồn lực và là các hoạt động có ích Theo nghĩa “động” thì việc làm là hoạt động của dân cư nhằm tạo ra thu nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng trong khuôn khổ pháp luật cho phép Việc làm là hình thức vận dụng sức lao động, là hoạt động có chủ đích của con người, được tiến hành trong một không gian và thời gian nhất định với sự kết hợp các yếu tố giữa vật chất và kỹ thuật
Từ khái niệm trên có thể hiểu việc làm là tác động qua lại giữa hành động của con người với những điều kiện vật chất - kỹ thuật và môi trường tự nhiên, tạo ra giá trị vật chất và tinh thần mới cho bản thân và xã hội, đồng thời những hoạt động phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép Theo tác giả Đặng Xuân Thao trong cuốn sách “Mối quan hệ giữa dân số và việc làm”, “Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho người thân, cho gia đình hoặc cộng đồng”
Tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung trong cuốn “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” đã đưa ra khái niệm như sau: “Người có việc làm là người đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, đang hoạt động
có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp một phần cho xã hội”
Trang 16Khái niệm này phù hợp với quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO)
về người có việc làm như sau: “Người có việc làm là những người đang làm việc
gì đó được trả tiền công hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thỏa mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình”
Khái niệm về người có việc làm của ILO được áp dụng ở nhiều nước khi tiến hành các cuộc điều tra thống kê về lao động việc làm, nhưng được cụ thể hóa thêm bằng một số tiêu thức khác tùy thuộc vào mỗi nước Các nước thường phân chia thành hai nhóm người trong độ tuổi lao động có việc làm và đang làm việc, đó là những người làm bất kể công việc gì được trả công hoặc mang lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân và gia đình Nhóm thứ hai là nhóm người có việc làm nhưng tạm thời nhất định nào đó lại không làm việc hoặc tạm nghỉ việc
Ở Việt Nam, tại điều 13 của Bộ luật lao động của quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có ghi: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm, đều thừa nhận là việc làm” Bao gồm: Các công việc được trả công dưới hình thức bằng tiền hoặc hiện vật, những công việc tự làm để tạo thu nhập và thu lợi nhuận cho bản thân hoặc chỉ cho gia đình mình nhưng không được trả công (bằng tiền, hiện vật) cho công việc đó
Trong điều kiện hiện nay có thể hiểu việc làm như sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó
Phân loại việc làm và thất nghiệp
Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc thì ILO phân chia việc làm thành các loại:
- Việc làm ổn định và việc làm tạm thời: Căn cứ vào số thời gian có việc làm thường xuyên trong một năm
- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số thời gian thực hiện trong một tuần
- Việc làm chính và việc làm phụ: Căn cứ vào khối lượng thời gian hoặc mức độ thu nhập trong thực hiện một công việc nào đó
Sự phân chia trên đã diễn tả đầy đủ hơn các trạng thái của việc làm theo không gian và thời gian trên một địa bàn ứng với một thời điểm nào đó Người
Trang 17có việc làm ổn định là người có việc từ 6 tháng trở lên trong một năm hoặc việc làm dưới 6 tháng trong một năm nhưng vẫn tiếp tục làm việc đó trong nhiều năm tiếp theo Người không có việc làm hay nói cách khác là thất nghiệp thì được hiểu theo cách phân loại như sau:
- Người không có việc làm (thất nghiệp): Là người đang tiếp tục tìm việc làm hoặc đang trở lại làm việc
Tổ chức ILO đưa ra nhận xét như sau: Xét trong một khoảng thời gian nhất định những người thất nghiệp là những người có khả năng làm việc nhưng không có việc làm
Phần lớn các nước đều sử dụng khái niệm trên để xác định người thất nghiệp, song cũng có sai lệch khi xác định khoảng thời gian không có việc làm
- Thất nghiệp tự nhiên: Trong nền kinh tế quốc dân luôn tồn tại một lượng thất nghiệp nhất định gọi là thất nghiệp tự nhiên Thất nghiệp tự nhiên là lượng thất nghiệp trong điều kiện thị trường lao động chung của nền kinh tế đã được cân bằng Quy mô thất nghiệp tự nhiên lớn hay nhỏ tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng của lao động
- Những người không thuộc lưc lượng lao động: Bao gồm các đối tượng
là học sinh, những người mất khả năng lao động, nội trợ và những người đã nghỉ làm việc vì lý do sức khỏe, tuổi tác cao…
Khái niệm về thu nhập của hộ nông dân
Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương ) và phần có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận) Tuy nhiên, ở các cấp độ khác nhau - toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân - biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng biệt Sau đây là một số khái niệm về thu nhập của lao động:
- Theo từ điển kinh tế thị trường thì “Thu nhập cá nhân là tổng số thu
nhập đạt được từ các nguồn thu khác nhau của cá nhân trong thời gian nhất định, thu nhập cá nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc doanh”
- Theo Robert Gorden thì “Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia
đình nhận được từ mọi người bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển
Trang 18nhượng Thu nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế
- Công việc đang làm: Là những việc hiện tại của người lao động đang và tiếp tục làm có được thuận lợi hay không? Công việc đó có thể đem lại thu nhập
để đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình hay không cũng là yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động
- Mức thu nhập hàng tháng: Là các khoản mà người lao động được hưởng
từ việc trả lương hay từ quá trình sản xuất của cải vật chất
- Chính sách của chính phủ: Bao gồm các chính sách về tiền lương, chính sách thuế thu nhập có tác động không nhỏ đến thu nhập của người lao động
- Trình độ người lao động: Trình độ người lao động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến công việc đang làm, nơi làm việc và thu nhập của lao động Trong sản xuất nông nghiệp thì trình độ kỹ thuật của người lao động quyết định đến năng suất và sản lượng cây trồng vật nuôi Trong sản xuất công nghiệp
Trang 19và dịch vụ thì trình độ của người lao động quyết định đến năng suất lao động, chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Do đó trình độ người lao động sẽ gắn liền với thu nhập của người lao động nhận được
Đặc điểm của ngành nông nghiệp là sản xuất phụ thuộc vào đất đai
Trong công nghiệp, đất đai là nơi làm nền móng nhà xưởng, thì địa hình, chất lượng đất không ảnh hưởng nhiều đến năng suất và hiệu quả của ngành Còn trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Thường thì không có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt là vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, vì đất đai chịu sự tác động của con người như cày, xới để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động, vì nó phát huy như một công cụ lao động Con người dùng đất đai để trồng cây và chăn nuôi Không
có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Vì thế số lượng và chất lượng đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng, cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và cả vùng Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Chỉ có thông qua đất đai, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng, việc sử dụng đất đai đúng hướng còn quyết định đến hiệu quả sản xuất
Từ đây, cần sử dụng đầy đủ và hợp lý để vừa làm tăng năng suất đất đai, vừa giữ gìn và bảo vệ đất đai Quỹ đất đai phải được bảo tồn cho lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài
Trong nền sản xuất xã hội, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người ngày càng tăng lên dựa trên cơ sở của nền tảng phát triển sản xuất và tiến
bộ xã hội Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm của xã hội ngày càng tăng cao Tuy nhiên, nguồn lực để đáp ứng những nhu cầu đó thì không phải là vô hạn Do đó, phải tìm mọi cách phân chia và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của xã hội và tài nguyên thiên nhiên Các ngành Nông nghiệp, Công nghiệp và Xây dựng là những ngành sản xuất sản phẩm vật chất cho xã hội, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của nền kinh tế đất nước Nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh trong các ngành sản xuất vật chất là yêu cầu mang tính cấp bách trong xã hội hiện nay
Trang 20Bề mặt Trái đất là nơi con người dùng để trú ngụ, sinh sống và diễn ra nhiều hoạt động khác nhau Không có mặt đất thì con người cũng như các sinh vật khác không thể tồn tại được Đất chính là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài người Từ xa xưa, đất đã gắn chặt với cuộc sống của người dân, của đất nước Đất là nơi làm nhà, là nơi con người tạo ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân mình Người dựa vào đất, lấy đất là điểm tựa tinh thần Ông cha ta đã có câu “Tấc đất tấc vàng” Đất quý như vàng, đất quý hơn vàng Đất gắn liền với lòng tự trọng của dân tộc và là niềm tự hào của đất nước Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với con người vì đất
là môi trường sống trên cạn và con người Cùng với sản xuất nông nghiệp, đất cung cấp lương thực, thực phẩm một nhu cầu không thể thiếu được đối với cuộc sống con người Theo luật: “Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”
Đất là nguồn lực quan trọng để con người tiến hành được các hoạt động sản xuất vật chất Do đó, mọi chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm giảm đất đai, sẽ làm giảm khả năng sinh kế của hộ nông dân Vì vậy, Nhà nước phải có nhiều chính sách quan tâm đến hộ nông dân để tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp và làm tăng thu nhập cho hộ nông dân
1.1.2 Khu công nghiệp, vai trò của khu công nghiệp đến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Năm 1991, khu chế xuất Tân Thuận được thành lập “khai sinh” ra mô hình các KCN trong chiến lược xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Từ đó đến nay với nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến việc thành lập, hoạt động của các KCN và khu chế xuât (KCX) được ban hành, điều chỉnh đã tạo ra hành lang pháp lý cho sự ra đời và phát triển các KCN, KCX trên địa bàn cả nước Đến năm 2013, cả nước đã có 289 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 72.000 ha Trong đó, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên Các KCN đã
Trang 21thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng của 289 KCN vào khoảng 9 tỷ USD, trong đó 31 KCN do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư với tổng số vốn đăng ký khoảng 2 tỷ USD Các KCN còn lại do DN trong nước làm chủ đầu tư, với tổng vốn đầu tư 7 tỷ USD Trong số 289 KCN được thành lập, 184 KCN đã
đi vào hoạt động có tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng ký là 5 tỷ USD; còn lại
105 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản Một số KCN đã xây dựng mô hình hiện đại gắn với phát triển khu đô thị, khu dịch vụ, giáo dục như KCN Tân Tạo (Long An), KCN Quế Võ (Bắc Ninh)
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Khu công nghiệp là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng Những khu công nghiệp có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp
Trong thời kỳ CNH, HĐH, việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích Qua hơn 20 năm hình thành
và phát triển KCN ở Việt Nam, nhiều KCN đã và đang đóng vai trò quan trọng
và tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế cả nước Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh, mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển
Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Yên Phong, Tiên Sơn
Trang 22(Bắc Ninh)… Cùng với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của Nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy
mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo
vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và
cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN
Quá trình phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng Các KCN, KCX đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu,
Trang 23nâng cao trình độ và hiện đại hóa công nghệ, tăng cường khả năng tổ chức quản
lý sản xuất và quản lý nhà nước, từ đó làm giảm chi phí sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong quá trình hội nhập Các KCN, KCX cũng thể hiện vai trò không thể thiếu trong việc xây dựng và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN, KCX nhằm thích ứng với nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại, nó cũng đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước những mục tiêu khắc phục các yếu kém, hạn chế, nâng cao hơn nữa hiệu quả và vai trò của KCN, KCX trong các giai đoạn tới, góp phần tích cực hơn nữa vào
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
1.1.3 Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp ở vùng nông thôn
Trong những năm qua, các KCN tập trung trong vùng là nhân tố động lực đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng, biến vùng thuần nông thành vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phổ biến trên 10%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP với tốc độ khá nhanh Nhiều tỉnh thuần nông trước đây nhờ phát triển KCN đã trở thành những tỉnh công nghiệp như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương Bộ mặt nông thôn đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại Nhiều nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quy trình sản xuất công nghiệp hiện đại, công nghệ cao được xây dựng và phát triển thu hút hàng chục tỉ USD và hàng nghìn tỉ đồng của các nhà đầu tư trong nước Các KCN đã và đang thu hút hàng trăm nghìn lao động nông thôn, tạo ra thị trường sức lao động mới để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội trong vùng Hệ thống kết cấu
hạ tầng được xây dựng mới và nâng cấp, nhất là khu vực nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo giảm
Tại sao phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn?
Vì nông nghiệp, nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìnchung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% đến 27% GDP của cả nước…
Trang 24Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn 7 triệu ha đất canh tác, 10 triệu ha đất canh tác chưa sử dụng; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu ) Nông nghiệp, nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển cụm công nghiệp - dịch vụ
Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới,
từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 11% - 12% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao (chi phí cho sản xuất 1ha lúa tăng từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng), trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lại giảm Trong khi đó, các chính sách và biện pháp
mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn Trong bối cảnh như vậy, ở Việt Nam lại đang có một khoảng cách rất lớn về đời sống giữa người giàu và người nghèo, cũng như giữa nông thôn và thành thị Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, nếu như khoảng cách thu nhập trung bình giữa người giàu và người nghèo ở Việt Nam là 8,9 lần trong năm 2008 thì đến năm 2011 mức này là 9,2 lần Sự khác biệt về mức sống giữa nông thôn và thành thị là điều hiển nhiên và có thể thấy ngay lập tức Các số liệu chính thức cho thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ruộng đất phì nhiêu nơi cung cấp 90% lượng gạo xuất khẩu 7,7 triệu tấn gạo trong năm 2012, nhưng hộ nông dân
Trang 25trồng lúa chỉ có diện tích trung bình khoảng 0,6 héc-ta Dựa trên giá lúa bảo đảm nông dân có lãi 30%, thì thu nhập bình quân của nông dân theo đầu người chỉ vào khoảng 316.000 đ/tháng Tức là nông dân đồng bằng sông Cửu Long nói chung dư tiêu chuẩn nghèo hiện hành được qui định 400.000 đ/tháng/người
Tóm lại, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chính là từng bước để phát triển nông thôn Việt Nam theo hướng hiện đại, xóa dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn Để làm được điều này, cần rất nhiều giải pháp, trong đó một giải pháp quan trọng là phải phát triển dịch vụ và
du lịch Với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng
và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hiện nay tỷ lệ hộ kinh tế làm dịch vụ trong nông thôn mới chỉ chiếm 11,2% Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.4 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta về việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất trong quá trình phát triển các khu công nghiệp
Liên quan đến giải quyết việc làm cho người dân bị mất đất do việc thu hồi, giải phóng mặt bằng cho xây dựng các KCN, thời gian qua Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm hỗ trợ người lao động như:
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 quy định nông dân khu vực bị thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ trực tiếp kinh phí dạy nghề để chuyển đổi nghề; Đồng thời, theo điều 25 của Nghị định này, cam kết quan trọng nhất của các doanh nghiệp là tuyển dụng lao động địa phương
- Quyết định số 126/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000,
- Nghị quyết của Chính phủ số 09/2000/NQ-CP ngày /2000 về một số chủ
Trang 26trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
- Quyết định số 032/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
- Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Điều 29 của Nghị định này ghi rõ: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi đất trên 30% diện tích thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động; Mức hỗ trợ và số lao động cụ thể được hỗ trợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp thực tế ở địa phương Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề
- Quyết định số 81/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn…
- Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/01/2006 của Liên bộ Bộ
- Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn
Trang 27lượng nguồn nhân lực, sức cạnh tranh của người nông dân và lao động nông thôn; (4) Tạo việc làm đầy đủ cho nông dân, lao động nông thôn, nhất là nông dân và lao động nông thôn vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất; nâng cao giá trị việc làm cho lao động nông thôn, nông dân; (5) Nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp/ các nhà đầu tư trong giải quyết việc làm cho người lao động
Các chính sách này là những căn cứ pháp lý quan trọng, sẽ được cụ thể hóa để triển khai thực hiện cho phù hợp với thực tế phát triển của các địa phương Trên thực tế, các chính sách này trong thời gian qua đã góp phần quan trọng, tạo thế chủ động, tích cực cho các địa phương trong quá trình vận dụng thực hiện nhằm giải quyết vấn đề thu nhập, đời sống và việc làm cho lao động nông nghiệp khi bị thu hồi đất nói riêng, cho lao động nông thôn nói chung
Việt Nam là nước có gần 80% số dân sống bằng nông nghiệp và sống ở nông thôn, do vậy, các chính sách về đất đai của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ, tâm trạng, tính tích cực hoạt động của nông dân
Về vấn đề đất đai, giải pháp đối với hộ nông dân không còn đất sản xuất, cần giải quyết một số chính sách, biện pháp cụ thể sau đây:
Một là, trước tình trạng nông dân thiếu đất sản xuất ngày càng có xu
hướng tăng, việc giao đất không chỉ dừng lại ở việc ưu tiên cho người hộ khẩu trong vùng, khu vực, địa phương, mà có thể mở rộng cho các đối tượng nghèo không có ruộng trong cả nước với những biện pháp quản lý chặt chẽ về mặt pháp lý Đối với vùng đất rừng, đồi núi, tiện đường giao thông, có kết cấu hạ tầng tương đối tốt, nên giao cho hộ nông dân chưa có ruộng đất Hội nông dân các cấp tiếp tục vận động hội viên, nông dân nâng cao nhận thức và thi hành luật pháp nói chung và luật đất đai nói riêng Hội chủ động phối hợp với chính quyền
và các đoàn thể nhân dân ở địa phương để hoà giải, giải quyết các vấn đề mâu thuẫn phát sinh trong nông thôn, nhất là những vấn đề về đất đai
Hai là, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không sinh sôi nảy nở thêm Vì
vậy, phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả, nâng cao độ phì của đất, bồi bổ đất, để đất ngày càng có hiệu quả kinh tế cao Phải sử dụng đất tiết kiệm, hạn chế sử dụng đất 2 vụ lúa vào xây dựng khu công nghiệp, đô thị Quy hoạch khu công nghiệp và đô thị vào đất đồi, bãi đầm lầy (đất địa tô chênh lệch
Trang 28thấp), nơi xa đô thị, xa trung tâm thì mở đường giao thông và chuyển các dịch
vụ về gần với nông thôn, nông dân hơn Thật cần thiết mới sử dụng đến đất tốt, đất trồng cây lương thực
Quy hoạch sử dụng đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới cần thông báo sớm, một cách công khai để cho nhân dân được biết Các cấp uỷ, chính quyền, các đơn vị nhận đất cần phối hợp với các đoàn thể nhân dân, trong
đó Hội Nông dân các cấp là nòng cốt để tiến hành các thủ tục cần thiết và tuyên truyền các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đất đai, nhằm hạn chế việc khiếu kiện trong nhân dân Việc thu hồi đất nên theo nguyên tắc: nhu cầu đất đến đâu thì thu hồi đất đến đó Đền bù, giải phóng mặt bằng theo giá của Nhà nước quy định và tính đến yếu tố giá cả thị trường trong từng thời điểm nhất định, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân, cho người có đất bị thu hồi
Ba là, tổ chức tốt việc tái định cư cho hộ nông dân sau khi thu hồi đất đến
ở các vùng xen kẽ với các hộ dân trong làng, xã (nếu còn quỹ đất sản xuất), tạo
cơ hội cho họ có đất đồi rừng hoặc một phần đất sản xuất của nông dân khác nhường lại, giúp họ yên tâm sản xuất Các khu tái định cư cũng nên gần làng quê, dòng họ của các hộ nông dân đã sống, gắn bó nhiều đời
Bốn là, Đối với hộ nông dân không còn đất sản xuất, hoặc ít đất, không đủ
để sản xuất ra các sản phẩm bảo đảm cho cuộc sống gia đình, các cấp uỷ, chính quyền các cấp, các đoàn thể nhân dân cần quan tâm, chăm lo, tạo điều kiện cho
họ có việc làm mới để có thu nhập ngay trên địa bàn như: chuyển nghề mới, cho
họ vào làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp ngay trên mảnh đất họ đã giao cho Nhà nước hoặc trong vùng với phương châm: “Ly nông bất ly hương” Nhà nước giao cho Hội Nông dân chủ trì phối hợp với các ngành để đào tạo nghề mới miễn phí cho nông dân, để họ có thể chuyển sang lao dộng trong lĩnh vực khác Cải cách chính sách cho vay vốn ưu đãi để họ chuyển nghề ưu tiên con cái
họ về học tập, công ăn, việc làm sau khi ra trường Hội nông dân cấn phối hợp với chính quyền, các doanh nghiệp được giao đất vận động nông dân dùng tiền đền bù đất tham gia đóng góp cổ phần vào xí nghiệp, nhà máy trên vùng đất của họ trước đây hoặc giúp đỡ, hỗ trợ họ sử dụng vốn hiệu quả, đầu tư sản xuất vào nghề mới Các hộ nông dân có nhu cầu tới các vùng quê khác, cần có chính sách hỗ trợ trong
Trang 29việc di dân, định canh, định cư Hội Nông dân Việt Nam, đại diện lợi ích thiết thực của giai cấp nông dân cần tham gia tích cực để vận động, tư vấn, giúp đỡ hội viên, nông dân nói chung và hộ nông dân thiếu đất hoặc không còn đất nói riêng, nhằm tạo cơ hội tốt cho nông dân tham gia tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của hộ nông dân trong quá trình phát triển các KCN
Trên thực tế, đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia chủ yếu
là đất nông nghiệp Những người bị mất đất chủ yếu là nông dân Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân, không thể thay thế được Vì thế, khi mất tư liệu sản xuất, người nông dân mặc nhiên trở thành người thất nghiệp Việc làm và giải quyết việc làm cho người nông dân trở thành vấn đề bức xúc nhất của vấn đề thu hồi đất Trong các nhân tố ảnh hưởng thì có hai nhân tố chủ yếu là do: nhân tố thuộc về chủ thể và các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố thuộc về chủ thể
Việc chuyển những người nông dân bị thu hồi đất sang làm công nghiệp
và dịch vụ dường như là một tất yếu của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song điều hết sức khó khăn là đ a số những người nông dân bị thu hồi đất là những người lao động giản đơn theo kiểu cha truyền con nối, trình độ văn hóa thấp lại không được đào tạo về nghề nghiệp, chuyện môn, vốn lại không có Do đó, họ rất khó kiếm được việc làm tốt
+ Trình độ văn hóa – chuyên môn
Trong điều kiện sản xuất như hiện nay, trình độ văn hóa – chuyên môn có tác động rất lớn đến khả năng tìm kiếm việc làm và nâng cao thu nhập của hộ nông dân Ông Nguyễn Lương Trào, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Lao động Thương binh xã hội nêu, nguyên nhân phổ biến của người nông dân trong việc chuyển nghề và tìm kiếm việc làm mới là do không đáp ứng được yêu cầu
về tay nghề, nhiều địa bàn có tới hàng ngàn lao động mất việc làm nhưng chỉ có
10 – 20 người là đã qua đào tạo nghề Một nguyên nhân thường gặp ở các vùng
Trang 30chuyển đổi đất là nhận thức của người nông dân còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vào tiền đền bù giải phóng mà chưa tự mình tìm kiếm việc làm
+ Độ tuổi
Tuổi của các hộ nông dân ảnh hưởng nhất định đến tìm kiếm việc làm và thu nhập của họ Những đối tượng lao động có độ tuổi từ 15 đến 35 tuổi, đây là những lao động trẻ, khỏe, khả năng tiếp cận nhanh với những công việc mới, những công việc nặng nhọc, khả năng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật rất lớn Do đó khả năng chuyển đổi ngành nghề, tìm kiếm việc làm cao; những đối tượng này ít có kinh nghiệm trong công việc Ngược lại, những lao động trên 35 tuổi có kinh nghiệm trong công việc nhưng họ lại khó có khả năng chuyển đổi ngành nghề và tìm kiếm việc làm
Thu hồi đất diễn ra, các lao động có đất bị thu hồi mất việc làm Trong số những người lao động bị mất việc này, nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là từ 35 tuổi trở lên (chiếm khoảng 50%) Đây là số người lao động quá tuổi tuyển dụng,
độ tuổi khó thích nghi với môi trường lao động mới Tuy nhiên, theo bà Phan Lệ Xiêm, Phó ban Kinh tế (Hội nông dân Việt Nam), nhiều nông dân thiếu việc làm
là do sự thất hứa của các chủ sử dụng lao động trước và sau khi đầu tư tại địa phương, khiến tỷ lệ sử dụng lao động rất thấp
+ Đối với vấn đề về vốn
Vốn là một yếu tố quyết định đến quy mô cũng như khả năng sản xuất của
hộ gia đình Đối với các hộ nông dân thì vốn đầu tư lại càng quan trọng vì người dân ít có khả năng đi vay vốn ở nhiều nơi, đồng thời mức vay của hộ nông dân không nhiều nên mở rộng quy mô là rất khó khăn Nguồn vốn của các hộ nông dân thường có được từ nguồn tiết kiệm chi tiêu, vay ngân hàng và một phần nhận được từ tiền đền bù đất thu hồi Việc sử dụng vốn hợp lý và hiệu quả là điều rất cần thiết đối với các hộ gia đình Với các mục đích sử dụng vốn như đào tạo nghề, kinh doanh, mua sắm hoặc học tập của con cái; tất cả các mục đích sử dụng đó đều có ảnh hưởng đến việc làm
Các nhân tố bên ngoài
+ Chính sách đào tạo nguồn nhân lực
Trang 31Xã hội càng phát triển, trình độ của người lao động đòi hỏi càng cao, người lao động có trình độ, cơ hội tìm kiếm việc làm thuận lợi hơn Để thực hiện tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đề ra giải pháp trong thời gian tới là sẽ hỗ trợ đào tạo dạy nghề cho người lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Theo đó, lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề; tăng cường tư vấn dịch vụ hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là đối tượng 15-30 tuổi, đồng thời đào tạo tại chỗ chuyển đổi nghề đối với lao động trên 35 tuổi với những công việc không đòi hỏi kỹ năng phúc tạp Giải pháp khác là đào tạo phương pháp quản lý tiếp cận thị trường cho đội ngũ kinh doanh vừa và nhỏ, tạo
cơ hội mở rộng sản xuất, thu hút thêm lao động
Chính sách này sẽ góp phần cải thiện và nâng cao trình độ tay nghề cho các hộ nông dân, giúp cho họ có thể làm việc tại các lĩnh vực nghề nghề có trình
độ chuyên môn khác nhau Nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghệp trên cơ sở biết được những thông tin và nhu cầu làm vệc để tránh được một số lao động dư thừa tại các lĩnh vực không phát triển còn các lĩnh vực phát triển lại thiếu lao động UBND các xã cũng cần chủ động liên kết với các trung tâm dạy nghề nhằm tăng cường công tác tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghế nhất là đối với thanh niên – lao động ở độ tuổi từ 15-30 nhằm chuẩn bị cho họ các điều kiện về tay nghề để chuyển đổi ngành nghề Hỗ trợ đào tạo lại đối với những lao động tuổi cao nhưng vẫn có khả năng chuyển đổi
+ Chính sách thu hút vốn đầu tư
Tạo điều kiện để người dân được góp vốn vào các dự án bằng giá trị đất bị thu hồi Chủ trương này đã được nêu ra từ Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5 khóa IX, phù hợp với luật đất đai hiện hành, nhưng đến nay vẫn chưa được nhiều địa phương và các dự án thực hiện Các hướng dẫn cụ thể để thực hiện chủ trương này cần được triển khai để người dân có đất bị thu hồi có điều kiện tiếp tục duy trì vị thế làm chủ đối với một tư liệu sản xuất mới là các dự án mới được đưa vào hoạt động Thông thường người dân bị thu hồi đất, sau khi nhận tiền đền bù, thường tiêu dùng cho nhiều mục đích khác nhau, ít người nghĩ đến việc phải tìm cho mình một công việc mới, sau khi không còn đất để canh tác nông
Trang 32nghiệp Giải pháp này nếu được thực hiện, sẽ tạo điều kiện cho người dân góp vốn vào những dự án có triển vọng đạt hiệu quả cao, từ đó có điều kiện đảm bảo cuộc sống ổn định một cách tương đối cùng với các hoạt động của các dự án Mặt khác, nhà đầu tư (người sử dụng đất) không phải bỏ ra nhiều tiền để đền bù
mà lại phát hành được cổ phiếu cho các hộ có đất bị thu hồi Còn đối với những người không có nguyện vọng góp vốn bằng giá trị đát bị thu hồi, họ vẫn nhận được tiền đền bù theo quy định của từng dự án để có phương án đầu tư phù hợp
+ Sự phát triển các doanh nghiệp, nhà máy trên địa bàn
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như vũ bão, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc ngày một nâng cao, các doanh nghiệp và nhà máy ngày càng được hình thành và phát triển mạnh mẽ Sự phát triển các doanh nghiệp, nhà máy trên địa bàn càng nhiều thì cơ hội tạo việc làm cho người lao động càng cao Tuy nhiên, do lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất chưa được đào tạo lại về trình độ chuyên môn Do đó, không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, nhà máy trên địa bàn
Để giải quyết tốt công tác thu hút lao động vào làm việc trong các doanh nghiệp, nhà máy; điều quan trọng nhất là cần chính sách yêu cầu các doanh nghiệp, nhà máy thu hút chính lao động trên địa bàn tỉnh, thành phố, ưu tiên lao động ở vùng bị thu hồi đất Thực tế, lực lượng lao động được thu hút vào các doanh nghiệp, nhà máy còn rất ít do không đáp ứng được nhu cầu công việc của các doanh nghiệp Đó là do phần nhiều lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất chưa được đào tạo lại về trình độ chuyên môn
Hiện nay hầu hết các địa phương đều yêu cầu hoạc khuyến khích các doanh nghiệp đóng tại địa phương, đặc biệt là doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi
ưu tiên tuyển dụng lao động tại chỗ Chẳng hạn, Hà Nội quy định mỗi hecta đất thu hồi phục vụ cho dự án, chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng ít nhất
10 lao động địa phương; Hưng Yên quy định doanh nghiệp thuê 100m2
sẽ phải 1 lao động tại địa phương; Hải Dương quy định hỗ trợ cho doanh nghiệp kinh phí đào tạo lao động nếu tuyển dụng lao động khu vực thu hồi đất nông nghiệp
Theo nguyên Bộ trưởng Bộ tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, để xử
lý vấn đề tồn tại trong giải quyết việc làm cho người nông dân thuộc diện thu
Trang 33hồi đất phục vụ cho sự phát triển các khu công nghiệp, Nhà nước phải có chính sách vĩ mô để xử lý chung cho cả nước Phải gắn chiến lược về phát triển kinh tế
xã hội với việc bố trí lực lượng sản xuất hợp lý giữa các vùng, đồng thời có quy hoạch kế hoạch sử dụng đất một cách hợp lý, để trên cơ sở đó địa phương chủ động đề ra các kế hoạch giải quyết việc làm đối với người nông dân vùng bị thu hồi đất
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân sau khi thực hiện CNH-HĐH phục vụ cho
sự phát triển các khu CN
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện về tự nhiên và nhân văn tương đối giống Việt Nam Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1,3 tỷ người nhưng gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến độ tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải quyết việc làm trở nên gây gắt Trước đòi hỏi bức bách của thực tế, ngay từ năm 1978, sau khi cải cách và mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc thực hiện phương châm: “ Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương Trấn nhằm phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động
ở nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường để giải quyết vấn đề việc làm và sinh
kế cho người dân Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá Chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã có đến 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương Ở những vùng phát triển hơn, tỷ lệ này lên tới trên 50%
Mặt khác Nhà nước đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng khuyến khích các thành phần kinh tế bình đẳng tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng
Trang 34hoá bằng cách thu mua bảo trợ hàng hoá nông nghiệp, mở rộng các hình thức tín dụng bằng cách cho người nông dân tiếp cận với thị trường
Từ năm 1978 đến năm 1991, Trung Quốc có tới 19 triệu xí nghiệp Hương Trấn, thu hút 96 triệu lao động bằng 13,8% lực lượng lao động ở nông thôn, tạo
ra giá trị tổng sản lượng 1.162 tỷ Nhân Dân Tệ chiếm 60% giá trị sản phẩm khu vực nông thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp, 1/4 GDP cả nước Nhờ phát triển công nghiệp nông thôn mà tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm từ trên 70% năm 1978 xuống dưới 50% năm 1991
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết sinh kế ở nông thôn Trung Quốc thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
– Thực hiện chính sách đa dạng hoá và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, khuyến khích nông dân đầu
tư dài hạn phát triển sản xuất nông nghiệp và mở mang các hoạt động phi nông nghiệp Đây là nhân tố quan trọng nhất tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế và làm
đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút lao động vào các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp khác nhau ở nông thôn
– Tạo môi trường thuận lợi để công nghiệp nông thôn phát triển Vào giai đoạn đầu của quá trình CNH – HĐH nông thôn, nhà nước thực hiện bảo
hộ sản xuất hàng trong nước, hạn chế ưu đãi đối với doanh nghiệp công nghiệp nhà nước, qua đó tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho doanh nghiệp nông thôn Từ đó giải quyết vấn đề lao động việc làm nông thôn, sinh kế người dân cũng được cải thiện
– Nhà nước thực hiện chính sách hạn chế di chuyển lao động giữa các vùng nên lao động bị bó chặt ở nông thôn Việc hạn chế di chuyển lao động giữa các vùng đã làm cho các doanh nghiệp ở nông thôn có vị trí độc quyền trong việc trả lương, khai thác về lương giữa nông thôn và thành thị cũng như những chênh lệch về năng suất lao động giữa sản xuất nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp nông thôn Đây cũng là một yếu tố làm hạn chế sinh kế của người dân nông thôn Trung Quốc
Kinh nghiệm của Nhật Bản
Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài
Trang 35tăng trưởng trong nông nghiệp Nhật Bản là nước luôn bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai ít và dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân của 1 hộ nông dân khoảng 0,8ha Nhật Bản thực hiện chính sách đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn Chính điều nay đã làm cơ cấu nông thôn thay đổi, các ngành phi nông nghiệp đã đóng góp ngày càng tăng vào thu nhập của người dân nông thôn (năm
1950 tỷ lệ này là 29% đã tăng lên 85% năm 1990) Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác ngày càng giảm Sau này khi công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng Ngoài ra, Nhật bản còn phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn
Chính phủ Nhật Bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi dưỡng những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục – đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới hoặc đang phát triển
Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người lao động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện tại hoặc từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: Những năm 40, 50 của thế kỉ
Trang 36XX, đời sống của nông dân Nhật Bản gặp rất nhiều khó khăn, ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, nông dân thiếu nguồn lực sản xuất làm cho vấn đề việc làm trở nên trầm trọng Để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành:
- Cải cách ruộng đất và thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp Cải cách ruộng đất đã khuyến khích người nông dân đầu tư thêm nhiều lao động vào ruộng đất chính họ sở hữu Để tăng sản lượng, số ngày làm việc bình quân một vụ trên diện tích gieo trồng được tăng lên Bên cạnh đó, thâm canh tăng vụ, hợp lý hoá cơ cấu cây trồng đã hạn chế được tình trạng thiếu việc làm theo thời vụ
- Các chính sách và chương trình hỗ trợ nông thôn khác nhau như: chương trình tưới tiêu, cung cấp tín dụng và trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dục nông học vào trường phổ thông, hình thành các trung tâm nghiên cứu và trạm ứng dụng thử nghiệm phục vụ nông dân Những chương trình này đã tạo thêm nhiều chiến lược sinh kế mới và làm tăng thu nhập cho nông dân Sức mua ở các khu vực nông thôn tăng lên, tạo điều kiện để phát triển kinh tế phi nông nghiệp, từ đó thu nhập của các hộ nông dân tiếp tục tăng lên Một nguyên nhân thành công của Nhật Bản trong việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp là mở rộng các dịch vụ ngành nông nghiệp, bán lẻ và phân phối các lĩnh vực, nền kinh tế thoát khỏi áp lực của di dân và cạnh tranh quốc tế
Như vậy, từ cách làm của Nhật Bản ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hay nói cách khác là giúp đỡ người dân tăng cường chất lượng nguồn vốn con người
Thứ hai, phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học - cộng nghệ và những ngành nghề sử dụng nhiều lao động
Thứ ba, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động Thứ tư, thực hiện cải cách chế độ tiền lương, thu nhập của người lao động Thứ năm, xây dựng nhiều chính sách nhằm làm có lợi cho chiến lược sinh
kế của người dân, đặc biệt ở vùng nông thôn
Trang 37Thứ sáu, với nguồn lực đất đai có hạn, Nhật Bản đã mở rộng diện tích gieo trồng, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, hợp lý hoá cơ cấu cây trồng nhằm tăng năng suất và sản lượng cây trồng
Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một nước thuộc khu vực Đông Nam á, đây là một nước có nền kinh tế mạnh trong khu vực Từ những năm 50, Thái Lan đã chủ trương phát triển công nghiệp mạnh mẽ trước hết là ở các thành phố lớn, nhất là thủ đô Băngkok Điều đó đã dẫn đến những ngoại ứng kể cả tiêu cực lẫn tích cực như sau:
Một là, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhanh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, mặc dù ở thủ đô Băngkok có xu hướng phát triển công nghiệp hóa mạnh như các nước phương tây, nhưng Thái Lan vẫn là một nước mà nông nghiệp chiếm địa vị chi phối, dân số nông thôn vẫn chiếm khoảng 80% dân số
cả nước
Hai là, không có lợi cho việc nâng cao mức sống cho cư dân nông thôn
Ba là, dẫn đến sự suy thoái của các thành phố, thị trấn nhỏ, không những tạo thêm việc làm mới cho lao động mang tính thời vụ ở nông thôn, mà cho những người này tràn vào thủ đô Băngkok ngày càng nhiều để kiếm việc làm
Do sớm nhận ra sai lầm Thái Lan đã kịp thời chuyển hướng chiến lược Thay vì chỉ tập trung vào công nghiệp hóa, đô thị hóa, Thái Lan đã tiến hành công nghiệp hóa song song cả đô thị và nông thôn theo hướng xuất khẩu Quá trình công nghiệp hóa nông thôn cũng đồng thời với chuyển đổi cơ cấu đất đai Đất nông nghiệp bị cắt sang các loại đất khác nên ngày càng bị thu hẹp diện tích đất sản xuất Để đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước, Thái Lan vừa chủ trương mở mang xây dựng các khu công nghiệp, vừa tập trung vào phát triển một một nền nông nghiệp hàng hóa xuất khẩu, vừa phát triển các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Kết quả là trên lĩnh vực nông nghiệp sản xuất lúa được cơ giới hóa 90% khâu làm đất, 90% khâu đập lúa, tuốt lúa và 10% khâu sấy hạt Những chủ trương đúng đắn đó đã đưa Thái Lan thành nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Bên cạnh việc tập trung cho sản xuất lúa hàng hóa, Thái Lan còn chú trọng một số cây công nghiệp ngắn ngày, tiêu biểu là cây mía nguyên liệu Diện tích sản xuất mía nguyên liệu được
Trang 38cơ giới hóa 100%, khâu trồng mía được cơ giới hóa 75% 100% công nghệ chế biến đường được chuyển giao và ứng dụng trong khâu chế biến Máy móc phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp tăng nhanh, làm chi phí lao động giảm, năng suất lao động tăng cao
Đồng thời với quá trình chuyển giao, áp dụng máy móc công nghệ vào nông nghiệp, Thái Lan cũng rất chú trọng đến những chính sách, biện pháp hỗ trợ, cung cấp vốn tín dụng, bồi dưỡng tay nghề, đào tạo cho công nghiệp, tạo hợp đồng giữa công nghiệp và nông nghiệp Nhờ đó, nông nghiệp Thái Lan mặc
dù có giảm về diện tích nhưng lại đi vào chiều sâu khiến cho cả năng suất, sản lượng nông nghiệp của Thái Lan đều tăng Quá trình công nghiệp hóa nông thôn
ở Thái Lan kéo theo quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh và tác động mạnh mẽ đến đời sống của nông dân Thái Lan, đời sống của người nông dân ngày càng được cải thiện
Tóm lại: Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới,
chúng ta rút ra một số kinh nghiệm giải quyết sinh kế cho nông dân trong phát triển các KCN như sau:
- Thực hiện đa dạng hoá và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá với việc ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Phát triển các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
ở nông thôn, quan tâm tới các ngành nghề sử dụng nhiều lao động
- Phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động Nhà nước quan tâm đến các chính sách hỗ trợ giáo dục, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chính sách ổn định việc làm, chế độ tiền lương và thu nhập cho người lao động; chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông thôn
1.2.2 Một số kinh nghiệm giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất phục vụ cho sự phát triển các khu CN ở một số địa phương của Việt Nam
Kinh nghiệm của Hà Nội
Trang 39Theo thống kê của Bộ Lao động – TBXH trong 5 năm (2001 - 2004) số người mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng KCN, khu chế xuất, khu đô thị ở Hà Nội là gần 800.000 người Trong 8 năm (từ 2001 đến 2007), Hà nội đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất Thành phố đã bàn giao cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha đất, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giải phóng mặt bằng gần 1000 ha
Trong những năm qua, mặc dù Trung Ương và Thành phố đã có những chính sách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn đến nguy cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn Bởi họ khó học nghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hoá hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao Một bộ phận nông dân khi
bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo Ở 5 quận, huyện bị thu hồi nhiều nhất, có 1223 hộ nghèo với 4389 nhân khẩu
Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có được Hà Nội chỉ
ra là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi (tức là mới chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất) dẫn đến tình trạng người dân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề để có thể đảm bảo cuộc sống ổn định khi Nhà nước thu hồi đất
Mới đây Hà Nội đã đưa ra các chủ trương tìm cách hỗ trợ nông dân bị thu hồi đất như sau:
- Một là, UBND thành phố đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống,
phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ nông dân bị mất trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao theo NĐ64/CP của Chính phủ Quỹ này sẽ
có vốn ban đầu là 40 tỷ đồng từ ngân sách thành phố cấp, tiếp theo sẽ trích nguồn kinh phí của các nhà đầu tư khi được giao đất
- Hai là, trẻ em của các gia đình bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ học phí phổ
thông trong 3 năm Người lao động có nhu cầu học nghề sẽ được cấp thẻ học nghề có giá trị tối đa 6 triệu đồng, ưu tiên những người này tham gia kinh doanh các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và KCN Hỗ trợ 100% kinh phí BHYT cho người trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ
Trang 40Ngoài ra các giải pháp khác được UBND Thành phố quan tâm đó là xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN mới hình thành, xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị, KCN xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp Cho người dân có đất bị thu hồi tham gia kinh doanh, đặc biệt sẽ ưu tiên cho lao động của hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất Có cơ chế về đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nông nghiệp để tạo điều kiện kinh doanh dịch
vụ phục vụ các KCN, khu đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị và KCN với vùng dân cư
Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân mất đất tại Hà Nội ta thấy:
Thứ nhất, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng thẻ học nghề sẽ tránh
được việc người dân sử dụng tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề vào việc khác mà không phải là việc học nghề Tuy vậy, Hà Nội chưa quan tâm rõ đến từng đối tượng, chưa có chính sách cho những người lao động đã qua độ tuổi lao động hoặc gần hết tuổi lao động Họ không có điều kiện chuyển đổi nghề mới
Thứ hai, Hà Nội đã có chính sách hỗ trợ học phí cho con em những hộ bị
mất đất Lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống
Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ
1997 đến 2007) nhờ phát triển các KCN tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 17.1% Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, KCN… Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân bị mất việc làm Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sau 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000 hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện