TIỂU LUẬN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VẤN NẠN HỐI LỘ ĐỐI VỚI CƠ QUAN THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách quốc gia và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và chi tiêu cho chính bộ máy nhà nước đó.
Trang 1VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
VẤN NẠN HỐI LỘ ĐỐI VỚI CƠ QUAN THUẾ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
Lớp: K22 Ngày 2
Nhóm thực hiện: 2 Tiểu nhóm: Cơ quan quản lý
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
VẤN NẠN HỐI LỘ ĐỐI VỚI CƠ QUAN THUẾ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
GVHD: TS Huỳnh Thanh Tú
Lớp: K22 Ngày 2 Nhóm thực hiện: 2 Tiểu nhóm: Cơ quan quản lý
Trang 3DANH SÁCH TIỂU NHÓM “CƠ QUAN QUẢN LÝ” - NHÓM 3
Số thứ tự Họ và tên Mã số học viên
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỘI “HỐI LỘ” 2
1.1 Khái niệm hối lộ 2
1.2 Pháp luật quy định về hối lộ 2
1.2.1 Pháp luật quy định về tội “nhận hối lộ” 2
1.2.2 Pháp luật quy định về tội “đưa hối lộ” 3
1.2.3 Pháp luật quy định về tội “môi giới hối lộ” 4
1.2.4 Các dấu hiệu của tội phạm 5
Chương 2: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ VỀ
HỐI LỘ ĐỐI VỚI CƠ QUAN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 7
2.1 Giới thiệu về cơ quan Thuế 7
2.2 Giới thiệu về bộ phận của cơ quan Thuế kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của công chức thuế 8
2.2.1 Đội Kiểm tra nội bộ 8
2.2.2 Phòng Kiểm tra nội bộ 9
2.2.3 Vụ Kiểm tra nội bộ 10
2.3 Quan điểm phản đối của cơ quan quản lý về việc đưa và nhận hối lộ đối với cơ quan thuế của doanh nghiệp 10
2.4 Thuận lợi và khó khăn của cơ quan quản lý trong việc phát hiện và ngăn chặn hối lộ 12
2.4.1 Thuận lợi 12
2.4.2 Khó khăn 13
Trang 5CƠ QUAN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 14
3.1 Mục tiêu của giải pháp 143.2 Giải pháp hạn chế việc đưa và nhận hối lộ đối với cơ quan thuế
của doanh nghiệp 14
KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
Thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách quốc gia và đápứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội và chitiêu cho chính bộ máy nhà nước đó Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hệthống chính sách pháp luật thuế luôn có sự thay đổi nhằm góp phần tăng thu cho ngânsách nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng, từng bướcthực hiện bình đẳng, công bằng xã hội, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăngcủa nhà nước
Do vị trí quan trọng của thuế, đòi hỏi phải thu đúng, thu đủ, chống thất thu cóhiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn phức tạp, nhưng cũng là yêu cầu cấp bách vừanhằm tăng thu cho ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích sản xuất kinh doanh pháttriển Từ thực tế vụ việc một cán bộ thuế của Chi cục Thuế quận 1 bị bắt quả tang vềhành vi “nhận hối lộ” vào đầu năm 2014, cho thấy công tác quản lý, giáo dục tư tưởng
có vai trò quan trọng trong quá trình thực thi công vụ của cán bộ thuế Chính vì thếnhóm chúng tôi chọn đề tài “Vấn nạn hối lộ đối với cơ quan thuế của các doanhnghiệp” dưới quan điểm của cơ quan quản lý nhằm có cái nhìn khái quát về nhiệm vụ,quan điểm, thuận lợi và khó khăn của cơ quan quản lý về thuế và công an đối với vấnnạn hối lộ
Trang 7Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỘI “HỐI LỘ”
1.1 Khái niệm hối lộ
Ở Việt Nam, hối lộ không phải là một hành vi độc lập mà bao gồm các hành viđộc lập: đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ Trong đó có hai hành vi thuộc nhóm
Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 hiện hành (đã được sửa đổi, bổ sung năm2009) cũng không định nghĩa thế nào là hối lộ Theo đó, các phạm trù “hối lộ”, “đưahối lộ” và “làm môi giới hối lộ” chỉ được hiểu thông qua khái niệm “nhận hối lộ” đãghi nhận tại Điều 279 Bộ luật Hình sự về tội nhận hối lộ Theo đó, nhận hối lộ là hành
vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận
Trang 8tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào… để làm hoặc khônglàm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”
Như vậy, hành vi thuộc nhóm “hối lộ” ở Việt Nam trước hết là hành vi vi phạmpháp luật, còn nó có trở thành tội phạm hình sự hay không thì còn phụ thuộc vào tínhchất và mức độ nguy hiểm của hành vi cụ thể Trong nhóm hành vi “hối lộ” khôngphải mọi hành vi đều thuộc nhóm hành vi tham nhũng (chẳng hạn hành vi đưa hối lộ
và môi giới hối lộ)
1.2 Pháp luật quy định về hối lộ
1.2.1 Pháp luật quy định về tội “nhận hối lộ”
Để răn đe và trừng phạt hành vi nhận hối lộ, Điều 279 Bộ luật Hình sự hiệnhành quy định về tội nhận hối lộ như sau:
“1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận
hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giátrị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộcmột trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặctheo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Gây hậu quả nghiêm trọng;
b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưađược xoá án tích mà còn vi phạm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến
mười lăm năm:
a) Có tổ chức;
b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội nhiều lần;
d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm
đến hai mươi năm:
Trang 9a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù
chung thân hoặc tử hình:
a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
5 Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm
năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phầnhoặc toàn bộ tài sản.”
1.2.2 Pháp luật quy định về tội “đưa hối lộ”
Theo Điều 289 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung ngày19/06/2009 thì tội đưa hối lộ được quy định như sau:
“1 Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệuđồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiềulần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đếnmười ba năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
Trang 105 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.
6 Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì đượccoi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi
bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặctoàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”
1.2.3 Pháp luật quy định về tội “môi giới hối lộ”
Theo Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung ngày19/06/2009 thì tội môi giới hối lộ được quy định như sau:
“1 Người nào làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dướimười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc viphạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đếnmười năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
c) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ
6 Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể đượcmiễn trách nhiệm hình sự
Trang 111.2.4 Các dấu hiệu của tội phạm
Chủ thể: Chủ thể của tội nhận hối hộ là người có chức vụ, quyền hạn và đã sử
dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận hối lộ Như vậy, chức vụ, quyền hạn làđiều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vậtchất khác của người đưa hối lộ
Người có chức vụ theo Điều 277 Bộ luật Hình sự hiện hành “là người do bổnhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặckhông hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhấtđịnh trong khi thực hiện công vụ” Bên cạnh đó, những đối tượng cụ thể được coi làngười có chức vụ, quyền hạn còn được xác định theo Khoản 3 Điều 1 Luật Phòng,chống tham nhũng năm 2005 bao gồm:
“a) Cán bộ, công chức, viên chức;
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan,đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, cán bộ lãnhđạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thựchiện nhiệm vụ, công vụ đó.”
Dấu hiệu hành vi: Có sự thỏa thuận trước về việc đưa và nhận hối lộ (trực tiếp
hoặc qua trung gian) giữa người đưa hối lộ và người có chức vụ, quyền hạn để thựchiện hoặc không thực hiện một hành vi vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối
lộ Người có chức vụ, quyền hạn đã đồng ý nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất đó màkhông phụ thuộc vào việc trên thực tế đã có việc giao hay nhận hay chưa
Hậu quả của hành vi nhận hối lộ không phải là dấu hiệu bắt buộc Tức là dùhậu quả chưa xảy ra thì hành vi của người phạm tội vẫn cấu thành tội phạm
Hình thức của hối lộ: Có thể là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác (vàng,
ngọc, ô tô, nhà đất …) Như vậy, trong khi Công ước quốc tế chống tham nhũng của
Trang 12Liên hợp quốc xác định hối lộ bao gồm lợi ích vật chất và phi vật chất thì quy địnhpháp luật của nước ta mới chỉ dừng lại ở đối tượng hối lộ là vật chất.
Để cấu thành tội phạm, giá trị lợi ích vật chất dùng để hối lộ tối thiểu phải là
hai triệu đồng, trường hợp dưới 2 triệu đồng thì phải có thêm một trong những điềukiện như: Gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn viphạm; đã bị kết án về một trong các tội phạm tham nhũng, chưa được xóa án tích màcòn vi phạm
Chương 2: PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ VỀ HỐI LỘ ĐỐI VỚI CƠ QUAN THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP
Căn cứ Điều 279, 289, 290 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sungngày 19/06/2009, khi của hối lộ có giá trị dưới hai triệu đồng và không nằm trong cáctrường hợp quy định theo luật thì người vi phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự mà bị xem xét xử lý kỷ luật tại cơ quan đang công tác, khi đó cơ quan quản lý baogồm: Đội Kiểm tra nội bộ (Chi cục Thuế), Phòng Kiểm tra nội bộ (Cục Thuế), VụKiểm tra nội bộ (Tổng cục Thuế) Trong trường hợp người vi phạm bị truy cứu tráchnhiệm hình sự thì cơ quan quản lý là công an
Trang 132.1 Giới thiệu về cơ quan Thuế
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của cơ quan Thuế
Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng thammưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trongphạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhànước (sau đây gọi chung là thuế); tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật
Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là CụcThuế) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tácquản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (sau đây gọi
Trang 14chung là thuế) thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn theo quy định củapháp luật.
Chi cục Thuế ở các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương (gọi chung là Chi cục Thuế) là tổ chức trực thuộc Cục Thuế,
có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu kháccủa ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) thuộc phạm vi nhiệm vụ củangành thuế trên địa bàn theo quy định của pháp luật
2.2 Giới thiệu về bộ phận của cơ quan Thuế kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của công chức thuế
2.2.1 Đội Kiểm tra nội bộ
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của Chi cục Thuế
Trang 15Theo Quyết định số 504/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổngcục Thuế: “Đội Kiểm tra nội bộ: (Đối với những Chi cục nhỏ thì giao nhiệm vụ kiểmtra nội bộ cho Đội Kiểm tra thuế thực hiện) Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế thựchiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, côngchức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuếcủa cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tốcáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế,công chức thuế thuộc thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Thuế.”
2.2.2 Phòng Kiểm tra nội bộ
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức của Cục Thuế
Theo Quyết định số 502/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổngcục Thuế: “Phòng Kiểm tra nội bộ: Giúp Cục trưởng Cục Thuế tổ chức chỉ đạo, triển
Trang 16khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quanthuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý
về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chứcthuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơquan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục Thuế.”
2.2.3 Vụ Kiểm tra nội bộ
Vụ Kiểm tra nội bộ trực thuộc Tổng cục Thuế:
Tổ chức kiểm tra, xác minh, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đếnviệc thực thi công vụ của tổ chức, cá nhân thuộc cơ quan thuế các cấp theo thẩmquyền
Đề xuất, kiến nghị biện pháp xử lý đối với cán bộ, công chức thuế vi phạmpháp luật, nội quy, quy chế, quy trình nghiệp vụ của ngành phát hiện qua kiểm tra nội
bộ và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Nghiên cứu các dấu hiệu tham nhũng của cán bộ, công chức thuế trong việcthực hiện chính sách, pháp luật, và nhiệm vụ, công vụ được giao, đề xuất các biệnpháp phòng ngừa và chống tham nhũng trong ngành thuế
2.3 Quan điểm phản đối của cơ quan quản lý về việc đưa và nhận hối lộ đối với
cơ quan thuế của doanh nghiệp
Xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp không đưa hối
lộ: Bất cứ doanh nghiệp nào (trong nước hay nước ngoài) thực hiện hoạt động sản
xuất, kinh doanh trên lãnh thổ Việt nam đều phải chịu sự điều tiết và giám sát của Nhànước Việt Nam Bên cạnh những quyền hạn thì các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà nước Nộp thuế là nghĩa vụ quan trọng của các doanh nghiệp Bởi lẽ,thông qua việc nộp thuế, các doanh nghiệp đã góp phần cho việc xây dựng và pháttriển đất nước
Trang 17Nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là tự nguyệnđóng góp xây dựng đất nước, mà nó còn là chế tài phải thi hành và được quy định rất
rõ ràng trong Bộ luật Doanh nghiệp Việc doanh nghiệp không thực hiện đúng nghĩa
vụ này thì được coi như vi phạm pháp luật nếu bị phát hiện
Các doanh nghiệp thực hiện gian lận trong việc khai báo thuế, Cơ quan Thuếlại đứng đằng sau đồng thuận chính là tạo ra sự bất công đối với những doanh nghiệpcòn lại Doanh nghiệp nộp thuế phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của mình Cácdoanh nghiệp sai phạm, ăn nên làm ra thì lại không phải nộp thuế, trong khi đó nhữngdoanh nghiệp làm ăn chân chính thì phải nộp thuế theo đúng quy định cho dù kết quảsản xuất kinh doanh không được tốt Suy cho cùng, người bị thiệt thòi lại chính lànhững người lao động trong các công ty chân chính này
Và việc trốn thuế này thực chất chỉ mang lại lợi ích cho một vài cá nhân màthôi Từ đó tạo ra sự bất công cho đa số nhân viên, người lao động trong chính doanhnghiệp trốn thuế này Thực chất, họ không hề được tăng lương hoặc được lợi ích gìthêm khi doanh nghiệp trốn thuế cả Thậm chí, họ cũng không hề biết được nhữngviệc này, bởi vì quyết định nằm ở ban lãnh đạo cấp cao của công ty
Thoái hóa về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống: Việc đưa – nhận hối lộ đi
ngược lại quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam Điều đáng nói là các cơ quanthuế lại góp phần cho việc thực hiện những hoạt động gian trá này, dẫn đến rất nhiều
vụ việc vi phạm pháp luật do cán bộ thuế nhận hối lộ, thông đồng với doanh nghiệp
Một người cán bộ chân chính phải là người “Cần – kiệm – liêm – chính – chícông vô tư” Nhận hối lộ của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp khai gian thuế là mộthành vi làm mất đi nhân cách của một con người
Cán bộ phải đặt lợi ích của nhân dân, của xã hội lên trên hết Người nhận hối lộchỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình mà quên đi lợi ích tập thể, xã hội Việc nhận hối
lộ làm cho tổng thu ngân sách của Nhà nước bị hao hụt, mà đáng ra những khoản tiềnnày có thể giúp đỡ được rất nhiều mảnh đời khó khăn, bất hạnh trong xã hội
Không hoàn thành đúng nhiệm vụ Nhà nước, nhân dân giao phó: Cán bộ là
những người thay mặt nhân dân, được nhân dân tin tưởng giao phó thi hành công vụ.Mục đích cuối cùng là mọi việc được hoàn thành tốt, mang lại lợi ích cho toàn dân.Cán bộ nhận hối lộ của doanh nghiệp tức là đã vi phạm nguyên tắc “Công, tư phân