tìm hiểu về “khắp” của người thái ở huyện mường la
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
TÌM HIỂU VỀ “KHẮP”
CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MƯỜNG LA
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCChuyên ngành: Văn hoá các dân tộc thiểu số Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga Người hướng dẫn: Tiến sĩ Vi Văn An Chỉnh lý: Tiến sĩ Phạm Việt Long
Hà Nội, năm 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn sâusắc đến T.S Vi Văn An, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viếtkhóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Văn hóa dân tộc thiểu
số, đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học tập vànghiên cứu tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Văn hóa huyện Mường La, các chuyêngia, các nghệ nhân, đã giúp đỡ tôi thu thập những thông tin cần thiết để hoànthành khóa luận này
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những ngườithương yêu tôi, luôn bên tôi, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trongsuốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài khó tránh khỏi sự thiếusót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và mọi người để đềtài của tôi được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa cả trong lý luận và thực tiễn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội ngày 18 tháng 5 năm 2011
Sinh viên Nguyễn Thị Thanh Nga
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Là một thành tố của văn hóa phi vật thể, dân ca đóng vai trò hết sứcquan trọng trong đời sống tinh thần của người Thái Tây Bắc nói chung, củangười Thái ở Mường La nói riêng
Nhờ sự phong phú, đa dạng về thể loại, nên dân ca đã góp phần tạo nênbản sắc văn hóa riêng của người Thái, góp phần không nhỏ vào kho tàngvăn hóa văn hóa nghệ thuật của cả nước
Thật vậy, người ta đã tìm thấy trong dòng chảy văn hóa Thái nhiều bộ
trường ca có giá trị như Táy Pú Xớc (kể về bước đường chinh chiến của ông cha), Quam tô mương (Kể chuyện bản mường), Phanh mường; những tác phẩm thơ khuyết danh như: Xống chụ xôn xao (tiễn dặn người yêu), Khun
Lu nang Ủa (Chàng Lú-Nàng Ủa); nhiều điệu múa Thái nhịp nhàng uyển
chuyển qua hình ảnh những cô gái trẻ trong bộ y phục tuyệt đẹp và các điệu
“múa xòe” nổi tiếng Các điệu dân vũ đã đạt tới trình độ nghệ thuật điêuluyện như: múa khăn, “múa nón, múa chèo thuyền, v.v Đặc biệt, là nhữnglàn điệu dân ca như “Khắp báo xao”, “Khắp chiêu”…luôn có mặt trong cáccuộc vui hội hè và giữ vai trò chủ đạo tạo nên bầu không khí thanh bình,náo nhiệt của sinh hoạt cộng đồng Từ lâu, “khắp” Thái đã gắn chặt vớicuộc sống của người lao động Dòng đời con người từ khi sinh ra, lớn lêncho đến khi nằm xuống, luôn có một dòng chảy dân ca như suối nguồn tướimát Dường như mỗi chặng đời người đều được đánh dấu bằng những thểloại dân ca riêng, hát trao vòng cho trẻ sơ sinh, hát đồng dao cho các em nhiđồng, thiếu niên, hát giao duyên nam nữ, hát đám cưới cho các lứa đôi, hátlên nhà mới cho những gia đình hạnh phúc Vào lứa tuổi trung niên conngười phải biết hát dân ca để tham gia sinh hoạt trong các ngày hội, ngày lễcầu cúng của cả bản làng Những người già thường yêu thích những buổi
Trang 4hát kể chuyện cổ tích hay các anh hùng ca dân tộc Và khi con người xếchiều mãn bóng thì được cả cộng đồng ca hát tiễn tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Có thể thấy hát Thái không còn là khu rừng biệt lập xa cách nữa mà đã gầngũi, quen thuộc từ lâu
Tuy nhiên, sự hiểu biết của chúng ta về các làn điệu dân ca Thái vẫn
có không ít những làn điệu “khắp” của người Thái chỉ còn tồn tại trong ký
ức của những người già
Mặc dù đã có một số công trình, bài viết đề cập đến dân ca Thái, songhầu như chưa có một công trình sưu tầm, nghiên cứu một cách có hệ thống,chuyên sâu về dân ca “khắp” của người Thái nói chung, người Thái ởMường La nói riêng Vì vậy, việc nghiên cứu về khắp Thái ở Mường Lanhằm phát huy giá trị của loại hình dân ca này là hết sức cần thiết
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu về “khắp” của người
Thái ở huyện Mường La” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề văn nghệ dân gian của người Thái đã được đề cập đến trongmột số công trình, nhưng do yêu cầu của công việc, mỗi người đã đứng ởmỗi góc độ, nên thành quả thu lại cũng khác nhau, mỗi công trình nghiêncứu có thể đề cập toàn diện văn hóa của người Thái, có những công trìnhchỉ đề cập đến một lĩnh vực trong văn hóa
Riêng về hát dân ca Thái, cho đến nay dường như mới chỉ được đề cậpđến trong một số công trình nghiên cứu, nhưng chưa từng được giới thiệu
trọn vẹn Những bài dưới tên chung là Tản chụ xiết xương mới chỉ được
trích in không nhiều Hợp tuyển thơ văn Việt Nam phần văn học dân tộc
thiểu số giới thiệu các bài Lành đồn xa, Ướm hỏi, Chung lứa chung nôi,
Đời thanh xuân, Dặn dò trong số hơn một trăm bài ghi trong lời dẫn của
Trang 5nhà xuất bản Hợp tuyển còn in một số bài hát thách và một số bài Nam nữđối ca… Gộp lại phần lời hát được giới thiệu trong Hợp tuyển tất cả khoảng
500 câu Trước khi hợp tuyển ra đời, trên tạp chí văn nghệ có lần in vài ba
bài Tản chụ xiết xương Ngoài ra, không còn ấn bản nào khác công bố về
thể tài này Về mặt âm nhạc, ngược lại, giáo sư, tiến sĩ khoa học Tô NgọcThanh đã in hàng loạt bài nghiên cứu giới thiệu có giá trị Tô Ngọc Thanh
còn là người đầu tiên giới thiệu về đồng dao Thái Tạp chí Văn nghệ Tây
Bắc năm 1974 còn công bố một số bài viết ngắn về Văn Hoan, một nhân vật
đượm vẻ truyền thuyết, gắn với những hành trình dân ca đầy màu sắc vàđậm dấu ấn tập quán dân tộc Tuy nhiên, chúng ta thiếu hẳn những sưu tậphoàn chỉnh cần thiết về lời ca và sinh hoạt dân ca
Hạn khuống là một hình thức tổng hợp của văn nghệ dân gian Thái.
Các tác giả Cầm Biêu, Sa Phong, Lò Văn Sĩ đều góp phần giới thiệu hìnhthức văn nghệ này Đó là tất cả những gì nói về sinh hoạt văn nghệ dân gianThái trong trạng thái nguyên hợp của nó Tình hình giới thiệu, xuất bản vừađược điểm qua trên đây cho thấy cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách thấu đáo và hệ thống về “khắp” Thái Đó vừa là thuận
lợi nhưng cũng là khó khăn, thách thức đối với tôi khi nghiên cứu đề tàinày
3 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu về “khắp” của người Thái ở huyện Mường La trướchết nhằm hệ thống lại các làn điệu khắp của người Thái, từ đó có cái nhìntương đối đầy đủ, toàn diện về những đặc điểm nổi bật, độc đáo của những
điệu“khắp” Thái Đồng thời luận văn đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm
bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của người Thái
ở huyện Mường La cùng hòa chung vào nền văn hóa Việt Nam “Tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc”.
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nói đến “khắp” là nói đến lĩnh vực văn hóa tinh thần, do vậy phạm vikhá rộng, song do khả năng có hạn, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu một số lànđiệu “khắp” phổ biến của người Thái đen ở huyện Mường La
5 Phương pháp nghiên cứu
là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về “khắp”của ngườiThái ở Mường La
Trong quá trình nghiên cứu, qua khảo sát điền dã, tác giả đề tài đã thuthập được một số lượng những điệu “khắp” còn đang lưu truyền trong đờisống dân gian ở Mường La
Kết quả khảo sát thực tế trên là cơ sở khoa học để tác giả luận văn bướcđầu đề xuất hướng bảo tồn và phát huy giữ gìn nét đẹp, bản sắc văn hoá dântộc các dân tộc thiểu số Việt Nam đang bị mai một dần, bởi đây là một côngviệc cụ thể, có ý nghĩa cho những người có ý thức về sự hiện diện và vai tròcủa “khắp”
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương
Trang 7Chương 1 Khái quát về người Thái ở Mường La
Chương 2 “Khắp” và các điệu “Khắp” của người Thái ở huyện MườngLa
Chương 3 “Khắp” trong đời sống xã hội của người Thái ở huyệnMường La
Trang 8Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI THÁI Ở MƯỜNG LA
1.1 Điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Mường La là huyện miền núi của Sơn La, cách Thành phố Sơn La 41
Bái; phía Đông Nam giáp huyện Bắc Yên; Phía Tây giáp huyện QuỳnhNhai và huyện Thuận Châu; Phía Nam giáp huyện Mai Sơn và Thành phốSơn La
Do vị trí địa lý như vậy, Mường La có nhiều điều kiện thuận lợi tronggiao lưu văn hoá, trao đổi hàng hoá với các địa phương khác Đây là nhữngthế mạnh mà Đảng bộ, chính quyền địa phương đã xác định tập trung khaithác lợi thế trong thời gian tới
- Địa hình
Huyện Mường La nằm ở độ cao trung bình từ 500- 700m so với mặtnước biển, phía Đông và phía Đông Bắc của huyện là những dãy núi cao,địa hình thấp dần về phía Nam và dọc theo 2 bờ sông Đà Sông Đà là sônglớn nhất chảy qua huyện Một số sông suối lớn khác là Nậm Mu, NậmChiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia Khi đập thủy điện Sơn La được hoànthành, hồ thủy điện Sơn La sẽ chiếm một phần không nhỏ diện tích toànhuyện
- Khí hậu
Mường La có khí hậu nhiệt độ gió mùa, khí hậu trong năm chia làm 2mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa mưa thường
Trang 9kèm theo lốc và lũ quét tại các sông suối đầu nguồn Mùa khô chịu ảnhhưởng của gió Tây Nam, gió mùa Đông Bắc và khí hậu tiểu vùng sông Đà,mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng
là 85%
- Đất đai
Huyện Mường La có tổng diện tích đất tự nhiên là 142,205.00 ha (theotống kiểm kê đất đai năm 2005), hầu hết là rừng núi (chiếm hơn 90% diệntích) Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 89.792 ha, chiếm 63,14% tổngdiện tích đất tự nhiên của huyện; diện tích đất phi nông nghiệp (đất ở và đấtchuyên dùng) là 3.725 ha chiếm 2,6%; diện tích đất chưa sử dụng là 48.844
ha chiếm 34,34%, diện tích này chủ yếu là đối núi chưa sử dụng với 38.154
ha, trên diện tích này chủ yếu là thảm thực vật xen cây lùn, còn lại 10.69 ha
là núi đá không rừng cây
- Hệ thống thủy văn
Trên địa bàn có sông Đà chảy qua theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, vớitổng chiều dài 50km Có 5 con suối lớn là suối Nậm Mu, Nậm Chiến, NậmTrai, Nậm Pàn, Nậm Pia chảy qua với chiều dài 200km và nhiều con suổinhỏ rải rác trong toàn huyện Hệ thống sông suối ở đây nhiều thác ghềnhđều chảy trên các sườn dốc, dồn nước vào các thung lũng hẹp, đổ ra sôngsuối lớn, nên chế độ dòng chảy rất thất thường gây khó khăn cho thuyền bè
đi lại trên sông, nhất là vào mùa nước lũ Nhưng cũng vì thế mà chúng đãtạo ra một nguồn năng lượng sức nước vô tận phát triển thủy điện Hiệnnay, trên địa bàn huyện đã và đang xây dựng 13 công trình thuỷ điện lớn,vừa và nhỏ Tổng công suất khoảng 3.200MW, trong đó thuỷ điện Sơn La
là công trình thuỷ điện lớn nhất nước ta
- Giao thông
Trang 10Đến nay huyện đã có 16/16 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, nhưng
do địa hình hơn 90% là đồi núi nên việc đi lại còn gặp rất nhiều khó khăn.Đường giao thông liên bản hầu như chưa có, việc đi lại giữa các bản chủyếu là dùng ngựa hoặc đi bộ trên những con đường mòn nhỏ Vào mùa mưaviệc đi lại của bà con còn gặp nhiều khó khăn hơn, nhiều khi không đi được
vì đường bị sạt lở, các rãnh nước từ khe núi chảy ra làm chia cắt, ngậpđường Riêng hệ thống giao thông khu trung tâm huyện khá phát triển, baogồm đường thủy, đường hàng không, đặc biệt là mạng lưới giao thôngđường bộ bao gồm các tuyến đường vào nhà máy, đường vào các khu mỏkhai thác, tuyến đường 106, các tuyến nội thị…đều được hoàn thiện theotiêu chuẩn, chủ yếu là đường nhựa, đường bê tông và cấp phối phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương Với phương châm “Nhà nước và nhândân cùng làm” các tuyến đường liên xã, liên bản, đến các điểm tái định cưthủy điện Sơn La được đầu tư xây dựng, góp phần thúc đẩy phát triển nôngnghiệp, nông thôn
Có thế thấy, với địa hình núi cao, sông rộng, nhiều suối, có đường thuỷ,đường bộ và đường không nên Mường La có vị trí chiến lược về kinh tế,chính trị, quân sự quan trọng trong khu vực Tây Bắc nói chung Được đánhgiá là huyện giàu tiềm năng về đất đai, môi trường, tài nguyên, trong đó cóthế mạnh là phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện Tuy có nhiều tiềm năng nhưngMường La vẫn có tên trong danh sách 5 huyện nghèo của tỉnh Sơn La dophải đối mặt với những khó khăn như: địa bàn rộng, giao thông đi lại khókhăn, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp; tập quán canh tác lạc hậu, các tệnạn xã hội diễn biến phức tạp, nhất là khi tiếp nhận thêm gần 1 vạn côngnhân đến làm việc trên công trường Nhà máy thuỷ điện Sơn La
1.1.2 Điều kiện văn hóa xã hội
- Các đơn vị hành chính
Trang 11Toàn huyện có 16 đơn vị hành chính, gồm 01 thị trấn là thị trấn Ít Ong
và các xã: Chiềng Hoa, Tạ Bú, Mường Chùm, Chiềng San, Nậm Păm, PiToong, Mường Bú, Hua Trai, Chiềng Lao, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng
xã đặc biệt khó khăn, nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II là các xã:Chiềng Lao, Nậm Giôn, Mường Trai, Chiềng Muôn, Chiềng Ân, Chiềng
- Dân số, dân tộc
Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2009, dân số toàn huyện là16.449 hộ với 85.974 nhân khẩu Trong đó số dân của huyện là 79.779người, còn lại là công nhân phục vụ thủy điện Sơn La Mật độ dân số bìnhquân 60 người/km2 với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,86%
Về dân tộc, toàn huyện có 6 dân tộc anh em cùng chung sống, bao gồm:dân tộc Thái chiếm 63,21%; Mông 16,98%; Kinh 12,65%; La Ha 5,91%;Kháng 0,93%; Khơ Mú 0,32%
Cũng như nhiều vùng khác của Tây Bắc, các dân tộc ở Mường La chủyếu phân bố như sau:
Người Thái tập trung tại vùng thấp, dọc sông suối, có cánh đồng rộng.Sinh sông chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, cây hoa màu trên nương vàđánh bắt thuỷ sản Người La Ha, Kháng, Khơ Mú sinh sống ở rẻo giữa bằngnghề làm nương, thu hái lâm sản Người Mông sống ở vùng cao bằng nghềtrồng cây trên nương là chủ yếu
Người La Ha không dệt vải mà chỉ trồng bông đem đổi với người Thái
để lấy quần áo mặc nên trang phục của người La Ha tương tự như trangphục của người Thái đen
- Giáo dục, y tế
Trang 12Về giáo dục, huyện luôn giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở và xây dựng 13 trườnghọc đạt chuẩn quốc gia.
Trong công tác y tế tương tự như nhiều vùng núi, dân tộc trong cảnước, hệ thống y tế của huyện Mường La bao gồm: bệnh viện huyện, bácsĩ Đối với từng xã trong huyện đã có đủ trạm y tế xã, nhân viên y tế thôn
và y tế tư nhân (rất ít) Trong đó bệnh viện huyện à đơn vị có vai trò chínhtrong việc quản lý và chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong huyện
- Các đặc điểm văn hóa
Là huyện miền núi có nhiều dân tộc anh em sinh sống (trong đó ngườiThái chiếm đa số nhưng chủ yếu là Thái đen) Mỗi dân tộc đều có những
(trong cái chung có cái riêng) mà hoà quyện, bổ trợ lẫn nhau tạo nên mộtvăn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc
Nhìn chung đồng bào các dân tộc trong huyện đều có chung truyềnthống: dũng cảm, cần cù, sáng tạo trong lao động, có tinh thần yêu nước,ngoan cường đấu tranh chống áp bức, bóc lột, tính tình thật thà, chất phác,
ưa phóng khoáng, rộng lượng và rất mến khách Không những vậy, nhândân trong huyện còn có tinh thần đoàn kết và tính cộng đồng cao : “Tuykhác bản nhưng chung mường; ở khác phương nhưng chung vùng; ở mỗingười một khe suối nhưng chung một vận mệnh” (ca dao Thái)
1.2 Khát quát về người Thái ở huyện Mường La
1.2.1 Tên gọi, dân số và sự phân bố
Người Thái Mường La tự gọi mình là Phủ Tay hay Côn Tay đều có
nghĩa là người Người Thái ở Mường La thuộc ngành Thái Đen
Trang 13Huyện Mường La trước đây rộng: 1.421,0 km2, dân số: 67,294 người,trong đó: Thái: 48,969 người (1999) Hiện nay, người Thái ở huyện Mường
La có 54.344 người, chiếm 63,21% dân số toàn huyện
Tên Mường La xuất hiện từ thế kỷ XII Đó là tên đông nghĩa với tên
Mường Lò Theo Quam tô mương (Kể chuyện bản mường) của người
Mường La nói: khi Lạng Chượng đưa người Thái tới Mường La, đã dựngnhà để cúng tổ tiên tại nơi trung tâm “ mường”.Ngày cúng tổ tiên họ Lò( họ quý tộc) là ngày “hài” ( tức ngày bính) nên đặt địa điểm dựng nhà cúng
đó là bản hài Nay xác định đó là bản Hài thuộc xã Chiềng An huyệnMường La Xưa kia vì bản Hài là trung tâm châu Mường nên gọi là “Viềnghài”
Trung tâm châu mường gọi là Chiềng An nên tên châu mường cũng gọi
là Chiềng An Những “ mường nhỏ” thuộc phạm vi châu mường có: MườngTrai hay Chiêng Nghiêm, Mường Bú hay Chiềng Biên, Mường Chùm,
Mường Chiến Theo Quam tô mương, khoảng thế kỷ XV sau đời Ta Ngần ở
Mường La có Duông Căm làm thủ lĩnh, Mường La bắt đầu dần dần pháttriển thế lực đên khoảng thế kỷ XVII đời thủ lĩnh Bun Pành, Mường Latách hẳn khỏi Mường Muội thành châu mường lớn mạnh Bước sang thế kỷXVIII đời thủ lĩnh Bun Phanh, Mường La đã trở thành châu mường có ảnhhưởng khắp vùng “ Mười sáu châu Thái”
Khoảng thời Lê mạt, Mường La được Trinh Sâm đặt là châu Sơn La.Như vậy thế kỷ XVIII triều đinh cũng xác nhận Mường La là một châumường tách khỏi ảnh hưởng của Mường Muổi (Thuận Châu)
Hiện nay, Mường la vẫn là huyện thuộc tỉnh Sơn La Tại huyện có thị
1.2.2 Nguồn gốc của người Thái
Trang 14Theo Quam tô mương Mường La: người Thái đã có mặt ở Mường La từ
ngàn năm nay Họ là người Thái đen, có nguồn gốc xa xưa từ Mường Ôm,Mường Ai (thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc), từ thời ông Lạng Chượngdẫn đoàn người Thái đen từ Mường Lò đi mở mang bờ cõi Khi ông vượtqua đèo Khâu Pha, (có nghĩa là sừng trời, thuộc huyện Mù Cang Chải, YênBái), ngược theo con suối, thấy một vùng đất rộng và tốt, sơn thuỷ hữu tình.Ông cho xây bản lập mường ở đây Nhưng không thấy một người bản địanào sống ở đây cả, nên ông mới gọi mường này là Mường Lạ (mường trốngkhông), những người đời sau gọi chệch thành Mường La Sau này ông mớibiết những người dân bản địa đã chốn vào một khu rừng rậm rạp gọi làĐông Mệt (gần nghĩa với rừng bí mật, nay vẫn còn địa danh này) Ông cho
Hài và Viềng Giảng Sau đó ông tiếp tục dẫn đoàn quân lên Mường Muổi,giao cho Khun Dãng làm chủ Mường La Từ Mường La, một số thủ lĩnh đã
mở thêm một số mường mới là Mường Bú, Mường Chùm, Mường Trai…Mỗi mường có một thủ lĩnh làm chủ đất gọi là phìa, các mường này gọi làmường phìa Đến thế kỷ thứ XV (thời Lê), một số mường lân cận sáp nhậpthành một mường lớn, gọi là mường chu hay châu mường Đứng đầu châumường là An nha Châu Mường La gồm có: Mường La là mường trungtâm, có bộ máy thống trị của Châu Mường; các mường khác gọi là mườngngoài gồm: Mường Bú, Mường Chùm, Mường Trai, Mường Chiến và lộngMường Pia (lộng là mường nhỏ) Sau khi hoà bình lập lại, Châu Mường Latrở thành huyện Mường La Năm 1961, vùng mường phìa Mường La cũchuyển thành Thị xã, các mường còn lại vẫn thuộc huyện Mường La
1 () Chiềng là trung tâm của một mường
( )
Trang 15Người Thái đen ở huyện Mường La ngày nay, cơ bản thống nhất vớingười Thái đen ở Thành phố Sơn La về các đặc điểm văn hoá (ăn mặc, nóinăng, chữ viết, tập quán…) vì Thành phố Sơn La ngày nay chính là trungtâm của cả vùng Châu Mường La ngày trước Vì vậy, các điệu hát ở Thànhphố Sơn La cũng chính là điệu hát của Mường La Tuy vậy mỗi vùng tronghuyện lại có những làn điệu riêng nữa, như Mường Trai có điệu “hua colôm” mà buồn và cô đơn, người ta thường hát hát một mình với gió, PiTong có điệu hát riêng phù hợp với đời sống văn hóa của họ.
1.2.3 Hoạt động kinh tế
- Canh tác ruộng nước và nương rẫy
Người Thái ở Mường La là cư dân nông nghiệp trồng trọt, trong đócanh tác ruộng nước là chính, nương rẫy chỉ phổ biến ở một số bộ phận cưdân Với bộ nông cụ làm ruộng như cày, mai, xẻng; các biện pháp kỹ thuậtliên hoàn (làm đất, làm mạ và gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch); đặc biệt là
hệ thống thủy lợi “dẫn thủy nhập điền” mương, phai, lái, lin và cọn nước,
cùng với các nghi lễ tín ngưỡng liên quan, qua nhiều thế hệ, họ đã đúc kết
và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất Hiện nay, người Thái đãchuyển sang làm 2 vụ lúa Vụ mùa cấy tháng 2, thu hoạch tháng 5; vụchiêm cấy tháng 7 thu hoạch thnág 10 Việc thu hoạch được làm gọn vànhanh hơn gồm: gặt - đập - quạt - nhập kho
Tại các xã vùng cao, vùng sâu, người Thái chủ yếu sinh sống bằng canhtác nương rẫy Đó là lối canh tác “phát đốt, gieo trồng”, theo chu kỳ vòngquay khép kín từ 4-6 năm Rẫy được phân loại theo địa thế đất (rẫy dốc, rẫybằng), theo kỹ thuật sử dụng (dùng cuốc, dùng cày) và thời gian canh tác(rẫy vụ một, rẫy vụ 2) Bộ công cụ làm rẫy gồm nhiều loại với chức năng sửdụng khác nhau Công cụ phát có dao, rìu, móc, khều; công cụ gieo hạt gồmgậy chọc lỗ bịt sắt hoặc không bịt sắt; công cụ làm cỏ có nạo, cuốc; và nhíp
Trang 16dùng để gặt Hiện nay, nhiều mô hình trình diễn khuyến nông làm vườnrừng xuất hiện ở nhiều nơi.
- Chăn nuôi
Trước đây người Thái có tập quán nuôi trâu thả rông trong những Púngrào giậu kín, tự chúng sống, sinh đẻ, đến mùa mới bắt trâu về kéo cày Naythì họ đã nuôi trâu theo gia đình, có chuồng trại riêng Còn chăn nuôi lợn,
gà, vịt, ngan, ngỗng thì rất phát triển Vật nuôi vừa trở thành sản phẩm hànghóa, vừa sử dụng trong lễ tết Trong những năm gần đây, ở huyện Mường
La nghề chăn nuôi đã có bước phát triển mạnh theo hướng hàng hóa, nhất làchăn nuôi đàn gia súc ăn cỏ Nhiều vùng các hộ chăn nuôi đã đầu tư xâydựng chuồng trại, chuyển hướng nuôi nhốt và chú trọng tiêm phòng bệnhcho gia súc, vì thế đàn gia súc phát triển cả về số lượng và chất lượng
- Săn bắt, hái lượm
Nhờ ruộng đất, đời sống của người Thái có phần sung túc hơn các cưdân quanh vùng Nhưng họ vẫn chưa thoát được cảnh tháng ba, ngày tám,những năm đói kém do lũ lụt, hạn hán gây ra Họ không bị chết đói là nhờ
có rừng bao quanh có khả năng cung cấp cho họ các thứ củ quả hay thâncây có chất bột Lại thêm, từng mùa rừng cung cấp các loại rau quả, hạt dại,nấm, mộc nhĩ, măng, rêu đá, các loại côn trùng Dưới khe suối có cá, tôm,cua, ốc, cá nhỏ…Những thứ đó thường xuyên tham gia vào hai bữa ănchính hàng ngày của đồng bào Nên hái lượm vẫn đóng một vị trí nhất địnhtrong đời sống kinh tế của người Thái ở Mường La
Rừng còn cung cấp cho đồng bào nguyên vật liệu để làm nhà, đan látnhững gia cụ, cung cấp củi đun, dầu thắp sáng, những cây thuốc và nhữnglâm thổ sản quý Trong rừng các loại chim, thú là đối tượng để đồng bàosăn bắt
Trang 17Trái với săn bắt, nghề đánh cá phát triển hơn Người Thái có câu “Páy
hin pá, má kin lẩu” (đi ăn cá về uống rượu) nói lên việc ăn cá là một thú vui
ở người Thái
- Ngành nghề thủ công
Nghề thủ công của người Thái ở Mường La rất phong phú, phát triểnđạt trình độ cao Có thể nói phụ nữ Thái là những thợ dệt chăm chỉ, lànhnghề, sản xuất không những đủ chăn, màn , quần áo cho gia đình mà cònđem trao đổi Sản phẩm nổi tiếng của người Thái Mường La là vải thổ cẩm,với những hoa văn đặc sắc, màu sắc tươi hài hoà, bền đẹp Nghề đan lát làcông việc của đàn ông Họ thường đan những vật dụng hàng ngày (nong,nia, dần, sang ) Ngoài ra còn có những nghề thủ công mang tính chuyênnghiệp như nghề rèn nông cụ xẻng, cuốc, lưỡi cày, dao, kéo…Họ còn biếtdùng bàn xoay, độ nung cao trong nghề làm gốm tạo thành những chum,
vò, nồi, chõ đất, bát đĩa đạt trình độ kĩ thuật và mĩ thuật
-Trao đổi, mua bán
Trong một xã hội hầu như không có chợ búa, việc trao đổi hàng hóathường chỉ hạn chế vào một số nhu yếu phẩm và chủ yếu vẫn là hình thứchàng đổi hàng với những cư dân khác tộc ở rẻo giữa và rẻo cao Thỉnhthoảng, có những chuyến hàng ngược sông hay những đoàn ngựa, bò củacác thương nhân người Lào, người Miến đem các nhu yếu phẩm đến bánhoặc trao đổi lấy những sản phẩm của địa phương
1.3 Các đặc trưng văn hóa
1.3.1 Về văn hóa vật chất
Văn hoá vật chất là một trong những trụ cột nâng đỡ thiết chế bảnmường Ăn, ở, mặc là những giá trị văn hoá vật chất tiêu biểu cơ bản củanền kinh tế nông nghiệp lúa nước thung lũng nói chung trong đó có đồngbào Thái
Trang 18- Nhà ở
Từ lâu người Thái ở Mường La đã quần cư thành bản Mỗi bản baogồm đất ở, đất canh tác (ruộng, nương), bãi cỏ chăn nuôi, khu rừng, khunghĩa địa và nguồn nước sông suối riêng Bản lớn có tới hàng trăm nóc nhà,nơi ít ruộng bản chỉ có mười nóc nhà Các bản người Thái ở chân sườn núitrông xuống cánh đồng Mỗi bản có tên gọi riêng theo truyền thuyết địaphương, theo chức vụ của người trưởng bản
Người Thái đều ở nhà sàn làm bằng gỗ, rất đẹp, chắc, dựng theo nhữngquy định được đặt ra từ đời này qua đời khác Nhà của người Thái ở Mường
La thường tạo dáng mái nhà hình mai rùa, trang trí trên hai đầu nóc nhàbằng những khau cút theo phong tục từ xưa truyền lại
Nói đến nhà sàn của người Thái là người ta thường nghĩ ngay đến nhàsàn truyền thống của người Thái với kiểu liên kết khớp bằng mộng và buộccác hệ thống kết cấu chịu lực: hệ thống dầm, sàn, bao che…mà không cầndùng đến kim loại (đinh, ốc, vít… ) Mái nhà thường được lợp bằng cỏgianh đan thành phên
Trong nhà, rất ít vách ngăn, cột lại lẩn nên rất thoáng đãng, rộng rãi
Đồ đạc trong nhà xưa rất đơn giản, thường chỉ thấy ghế mây để ngồi, phêngiải sàn, màn, đệm, chăn, hòm đựng quần áo Ngày nay nhà sàn của ngườiThái ở Mường La cũng đã có nhiều nét được cải tiến Do đời sống của đồngbào ngày càng được nâng cao, ở một số nơi đã đưa khoa học tân tiến như:mái lợp, sàn, nền của tầng trệt có sử dụng gạch, xi măng hệ thống khungcột, dầm sàn có được cải tiến về kết cấu và phương pháp lắp dựng theo kiểucủa người Kinh với mục đích cải thiện về công năng và thẩm mỹ của ngôinhà, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy vậy, ngôi nhà sàn của ngườiThái vẫn giữ nguyên được dáng vẻ cũng như giá trị văn hóa truyền thốngvốn có của nó
Trang 19- Trang phục
Tất cả các ngành, các nhóm địa phương Thái đều có trang phục cơ bảngiống nhau về đường nét tạo dáng đến cách ăn mặc; khác nhau ở chỗ mỗingành, mỗi nơi có một kiểu cách trang trí các chi tiết hoặc chọn màu sắckhác nhau
Trong trang phục Thái ở Mường La, đặc sắc hơn cả là trang phục nữ,vừa đẹp, gọn nhưng không cầu kỳ, vừa làm nổi bật những đường nét củathân hình phụ nữ Màu sắc được sử dụng rất khéo Trên nền đen hay trắng,
áo điểm hàng khuy bạc đơn giản nhưng trạm chổ tinh vi Nó đã trở thànhniềm tự hào không chỉ của riêng người Thái mà còn là một nét văn hoá rấtđặc sắc trong kho tàng văn hoá vật thể của dân tộc Việt Về cơ bản trangphục nữ của dân tộc Thái gồm:
Váy: (xỉu hoặc nôổng): Váy Thái được tạo từ 4 tấm vải khổ 0,4 m, dài
từ ngang thắt lưng tới chấm gót Phía trên có cạp váy hay đầu váy (hua nịu)cao khoảng 10 cm bằng vải xanh hoặc đỏ Gấu váy cũng khâu nẹp, thường
là màu đỏ cao khoảng 3 cm Váy có lót bên trong, thường là màu trắng,may ngắn hơn váy ngoài độ 15 cm Váy phổ biến là màu đen, đôi khi màuchàm Khi mặc váy có thể gấp trước bụng hay bên sườn Ở nhà họ thườngmặc váy để dài, lao động trên ruộng nương thì xắn váy lên theo cách túmmột góc gấu váy nâng ngược lên cài vài cạp váy một cách khéo léo, váy ômkhép kín từ hai đầu gối trở lên Ngày nay nhiều phụ nữ Thái có thói quenmặc váy ngắn ngang bọng chân để tiện dụng khi lao động, sinh hoạt, nghỉngơi Váy mặc lao động thường ngày bằng vải thường Váy mặc ngày lễ tết,váy cưới may bằng lụa, lanh, sa tanh, nhung
Thắt lưng: (xai ẻo) thường bằng lụa tơ tằm nhuộm màu xanh lá cây, hai đầu can thêm hai mảnh vải đỏ thêu thùa có rua ba phía Khi xai ẻo quấn vào
Trang 20giữ chặt cạp váy, hai miếng vải để hai đầu được giắt vào trước bụng hoặclệch sang bên hông Thắt lưng không có trang trí trừ hai đầu có tua.
Áo: (xửa) gồm có:
Xửa hổm nôm là cái áo lót bên trong, may bằng một tấm vải khoét lỗ
chui đầu, phủ trùm hai vai xuống ngang ngực, đính khuy hai bên sườn.Ngày nay họ đã bỏ kiểu áo này, dùng áo lót như phụ nữ Kinh
Xứa cỏm là cái áo ngắn Áo may dài tay hẹp, thân cũng hẹp, bó sát
người Áo chỉ ngắn đến thắt lưng Khi mặc gấu áo giấu trong thắt lưng Áophụ nữ Thái nổi bật là hàng khuy dọc trước bụng Khuy có thể tết bằng vảihoặc bằng bạc, hình con bướm, ve sầu gọi là măk pém Ngày nay hiếmbạc thì làm bằng nhôm Giải thích về Măk pém có nhiều cách: măk là quả,nghĩa bóng là nhành cây, bông hoa mà phụ nữ là đại diện cho sự sinh nởnên Măk là khai hoa kết quả Còn pém là bám vào, mà theo quan niệm củangười Thái chiếc áo là nơi trú ngụ của hồn người, cho nên sự sinh sôi bámvào áo người phụ nữ Măk pém còn được giải thích như sau: bên khuyết làgiống cái (nữ), bên khuy là giống đực (nam), con gái chưa chồng hàng cúcmang số lẻ như còn chờ đợi cặp đôi ; có chồng, hàng cúc mang số chẵn như
vải thường; áo lễ hội, cưới xin may bằng lụa, sa tanh Áo thường màu trắng,màu đen,màu xanh lam hoặc màu lá câu Bộ váy áo thắt lưng của phụ nữThái vừa kín đáo vừa phô bày những đường cong tuyệt mỹ làm nên nétquyến rũ
Đối với đàn ông thì mặc quần dài màu đen hoặc trắng bằng vải dệt của
Thái, được may theo kiểu quần ống “chân què” của người Kinh Áo chon
am giới ngắn, xẻ ngực cài bằng nút vải (thắt nút), có hai túi dưới và túingực, đầu chít khăn mỏ rìu
Trang 21Mấy chục năm gần đây, nam giới người Thái Mường La mặc Âu phụckhá phổ biến, nhưng phụ nữ vấn gắn bó với bộ áo, váy, khăn cùng lối trangsức theo truyền thống dân tộc
Khăn piêu: phụ nữ chưa chồng thì búi tóc thả xuống sau gáy, khi cóchồng búi tóc chổng ngược đỉnh đầu sau đó đầu đội chiếc khăn piêu Piêu làmột tấm vải bông nhuộm tràm hai đầu có nhiều hoa văn, chỉ màu phối hợpsặc sỡ Dân ca Thái có câu:
Em se sợi thành vóc hoa dâu
Em dệt cửi thành gấm vân chéo
Em dệt tơ thành đóa hoa vàngNgười các bản các mường muốn khócĐều ước ao được em thêu khănKhăn piêu có tác dụng che đầu khi nắng gió, làm ấm đầu khi mùa đônggiá lạnh Khăn piêu không những là vật trang sức quan trọng trong lúc đichơi hay trong lễ hội mà còn là tín vật của tình yêu: khi người con gái tặngpiêu cho người yêu là đã trao cả tấm tình
Xà cạp (pe păn kha) là miếng vải như cờ đuôi nheo nhuộm chàm Phụ
nữ Thái quấn xà cạp quanh bắp chân khi đi làm đồng, vừa để chống giálạnh vừa để bảo vệ da ở bắp chân
Trang sức của phụ nữ Thái có: trâm cài tóc (may khắt cẩu), đôi hoa tai(cóng ku), vòng cổ (pok cô), đôi vòng đeo hai cổ tay (pok khẻn), bộ xà tích(pua sỏoi) đều được làm bằng bạc, chạm trổ đẹp, công phu Đó là những đồtrang sức quý giá nhất
- Ẩm thực
Lương thực chính của người Thái ở Mường La là gạo nếp Người Thái
có cách nấu xôi (đồ xôi) rất là ngon Trước khi nấu, gạo nếp được đemngâm qua một thời gian nhất định (thường là qua một đêm) Sau đó gạo
Trang 22được đem ra đãi sạch và cho vào “chõ” để đồ xôi.Tới khi mùi cơm nếp tỏa
ra khắp nhà thì lúc đó là xôi đã chín “Chõ”đồ xôi của người Thái ở Mường
La được làm bằng gỗ đặc biệt (mạy sọ) rất tốt cho việc đồ xôi Cơm nếpthơm ngon ăn cùng với các món ăn được chế biến từ thịt thú rừng., hay cácmón cá và các loại rau rừng là các bữa ngon và thú vị của người Thái ở đây.Các món ăn Thái được chế biến rất ngon Họ thường thích ăn luộc, đồ,nướng, ăn sống hoặc tái chín cùng các loại gia vị nhiều chất chua, cay,
rừng họ săn bắt được có thể chế biến ra nhiều món đặc sản Đặc biệt từ cácloại cá tươi, người Thái có những món cá đặc sản như món cá gỏi, món cá
hấp, cá pỉnh tộp Món nặm pịa là nước sữa đắng ở ruột non trâu, bò, hươu,
nai…là món không thể thiếu được trong các bữa tiệc long trọng của ngườiThái đen ở Mường La Trong ăn uống người Thái thích uống rượu Rượu là
đồ uống phổ biến của người Thái bao gồm những loại như: rượu nếp, rượucần và đặc biệt là có lẩu vạng (rượu không cất) của Mường Chiến
Đồng bào ưa hút thuốc lào và phụ nữ thường thích ăn trầu
- Phương tiện vận chuyển
Người Thái ở Mường La vận chuyển bằng gánh đôi dậu đựng các thứ,
đi rừng đi núi thì đeo gùi, dùng ngựa cưỡi, thồ hàng Dọc các dòng sông nổitiếng xuôi ngược bằng thuyền đuôi én
1.3.2 Về văn hóa xã hội
- Quan hệ xã hội
Dân tộc Thái ở Mường La mới chỉ phát triển đến chế độ xã hội bảnmường (tương đương với giai đoạn phát triển tiền dân tộc quốc gia so vớicác dân tộc khác trên thế giới) Với nguyện vẹn bộ máy Phìa-Tạo quản lý
và điều hòa xã hội Bản Mường có từ hàng ngàn năm cho đến trước tháng 8năm 1945
Trang 23Về phương thức sản xuất, kinh tế-văn hóa xã hội người Thái ở Mường
La đã phát triển đến trình độ phát triển chung của cộng đồng cùng ngữ hệ
Họ đã khai phá và canh tác trên vùng đất mà hiện nay họ đang cư trú, lậpnên Bản nên Mường của mình trên cơ sở nên kinh tế nông nghiệp lúa nướckết hợp với nương rẫy Ruộng của họ đều là ruộng công của Mường Tùytheo chức vị của các thành viên trong Mường mà họ nhận được một số
ruộng để canh tác và có nghĩa vụ đóng góp nông sản cho Chảu Mường
(Chủ Mường).
Theo nhiều tài liệu còn lưu lại ở Mường La cũng giống như cácMường khác mỗi Mường có "Án Nha" (Chúa Mường) đứng đầu và cai
quản chung, dưới Chảu Mường là các Phìa, Tạo đứng đầu và cai quản các
các mường phìa và Bản Xã hội Thái chia làm hai tầng lớp chính: tầng lớptrên là quan lại và quý tộc, tầng lớp dưới là dân
- Quan hệ dòng họ gia đình
Trong một mường, một bản của người Thái có nhiều dòng họ cùng cưtrú Có dòng họ quý tộc như Cầm, Bạc, Sa, Đèo… có dòng họ dân gốc Tháinhư Lò, Lộc, Lự, Cà… Quan hệ dòng họ của người Thái được biểu hiện ởhai khía cạnh:
Khía cạnh tô tem giáo: Tức những dòng họ gốc Thái thường có mộthèm liên quan đến một sinh vật, một vật vô tri hay một hành động trùng tênvới dòng họ Ví dụ: họ Lò không ăn thịt chim táng Lò, không ăn măng lò;
Họ Quàng kiêng giết, ăn thịt hổ; họ Cà kiêng giết, ăn chim cốt ca (bìm bịp)
… …
Khía cạnh quan hệ dòng họ liên minh biểu hiện ra:
Quan hệ Ải nọng là anh em cùng dòng họ, có "ải nọng huôm po" (anh
em cùng cha), "ải nọng huôm pú" (anh em cùng ông), "ải nọng huôm pẩu"(anh em cùng cụ)
Trang 24Quan hệ Lúng ta là các thành viên nam bên vợ (gọi là "lung ta phạ
bóm"), các thành viên nam bên mẹ (gọi "lung ta me"), các thành viên nambên bà nội (gọi là "lung ta da")
hay "nhinh xao chảu"), các thành viên nam bên con rể ("nhinh xao manglụk") Quan giữa "lung ta" và "nhinh xao" là quan hệ thông gia, nhưngđược phân cấp rõ ràng
Ba quan hệ này xuất phát từ hình thái hôn nhân thuận chiều, tàn tích
của liên minh thị tộc Trong ba quan hệ đó, quan hệ giữa những người Ải
noọng là cơ bản, quan hệ của những người có trách nhiệm duy trì sự trường
tồn của dòng họ, chăm lo đến sự phát triển của dòng họ ngày thêm hưng
thịnh Quan hệ lúng ta rất quan trọng biểu thị chủ yếu là vị trí của ông cậu
đối với cháu ngoại
Trong xã hội Thái, gia đình là một tế bào xã hội quan trọng với tínhchất phụ quyền rõ rệt Biểu hiện ở việc mỗi nóc nhà được tượng trưng bằng
một chiếc cột chính (sâu hẹ hay sâu cốc), ở đầu cột treo các vật thiêng như
hình thần Rùa bằng lông gà, xương thú, xương cá to Ông chủ nằm bên cộtchính, cạnh bàn thờ ma nhà như để khẳng định tính chất phụ quyền của giađình Con gái như người ngoài Con dâu phải đổi theo họ chồng Họ khôngbao giờ được tự quyết định một việc gì ngoài việc sinh con và công việc nộitrợ Tuy vậy, người Thái rất tôn trọng phụ nữ và quý con gái, trước đây ởMường La đàn ông khi lấy vợ phải ở rể vài năm khi đôi vợ chồng đã có conmới về ở bên nhà chồng
- Hôn nhân và cưới xin
Ngày xưa, do xã hội Thái là một xã hội khá phát triển vì vậy việc hônnhân của con cái là do bố mẹ định đoạt và có mang tính chất mua bán
Trang 25Ngày nay trai gái yêu nhau và đi đến hôn nhân là do tự nguyện sau khi đãxin phép sự đồng ý của gia đình.
Trong cưới xin của người Thái, có nhiều điều thú vị và trải qua các trình tự:
Ôm chóm (đánh tiếng), mai (đặt dấu), vay (ăn hỏi), duông vịa (thử thách
hươn (dâu mới đến thăm nhà chồng), cưới đong(cưới xin dâu về nhà
chồng), tỏn pạư (đón dâu về nhà chồng).
- Sinh đẻ và nuôi dạy con cái
Sinh đẻ và nuôi dạy con cái là bổn phận tự nhiên của con người Bất cứ
ai, dân tộc nào cũng đều chú trọng đến tập quán này Nhưng mỗi dân tộc sẽ
có cách thức sinh đẻ và nuôi dạy con cái khác nhau Với người Thái ởMường La khi biết con dâu có thai, cả gia đình có trách nhiệm và tìm mọicách để cho người có thai mạnh khỏe và thoải mái nhất Việc tiếp theo làngười có thai phải ăn kiêng một số thức ăn nhất là thịt, cá và một số việclàm có thể gây hại cho mẹ và cái thai trong bụng
Người Thái có tập quán đẻ ngồi ngay cạnh bếp lửa, lúc này ngườichồng không được rời vợ một bước Người chồng phải ngồi sau lưng bà vợ
để vừa làm chỗ tựa vừa cùng chia sẻ sự đau đớn của người vợ lúc vượt cạn.Đây là một tập quán đầy tính nhân văn của người Thái
Người Thái rất chú ý đến việc dạy dỗ con cái và việc dạy dỗ cũng đượcthực hiện theo một quan niệm rất nhân văn và rất cụ thể Đồng bào có câu:
Trang 26Con gái theo mẹ làm nghề của phụ nữ từ lúc lên 8-10 tuổi Cũng ở tuổinày bắt đầu tập lao động, làm nương, dệt vải…Con trai làm các công việcđồng áng để khi lớn lên các em vững chãi trong cuộc sống Đặc biệt, saukhi lấy vợ, trong thời gian ở rể, bố vợ có trách nhiệm dạy dỗ con rể laođộng, làm những việc từ mài dao, đan gùi…đến các tập quán, lễ nghi trongứng xử hàng ngày.
- Tang ma
Tang ma của người Thái ở Mường La được thực hiện theo quy trìnhtuân thủ nghiêm túc những tục lệ đã hình thành từ lâu đời Họ quan niệmchết đi là sống ở thế giới bên kia nên người chết khi đem chôn được chiacủa như người sống Người ta làm nhà mồ ngay trên mộ người chết vàtrong nhà (nhà sàn) có cả các dụng cụ sinh hoạt như chăn, đệm, cuốc, dao…thậm chí còn thả gà, lợn cho người chết một cách tượng trưng sau đó lại bắt
về Ở Mường La người Thái thường thực hiện thực hiện hỏa táng
1.3.3 Về văn hóa tinh thần
- Ngôn ngữ và chữ viết
Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày-Thái, cùng hệ ngôn ngữ với tiếngTày, Nùng Gần với tiếng Lào và Thái Lan và là thứ tiếng phổ biến ở vùngthấp Tây Bắc nói chung và Mường La nói riêng Tiếng Thái là thứ tiếng đãphát triển đến trình độ có chữ viết Chữ Thái có nguồn gốc từ chữ Phạn-vănhóa Ấn Độ cổ đại Từ nhiều thế kỷ trước, chữ Thái cổ đã được dùng đểsáng tác văn học, ghi chép văn học dân gian
- Tôn giáo, tín ngưỡng
Người Thái ở Mường La có tín ngưỡng theo cách riêng của mình vàtrải qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc vẫn nguyên vẹn như thưở banđầu Tín ngưỡng của người Thái chưa phát triển thành tôn giáo riêng và họ
Trang 27cũng không chịu ảnh hưởng hay du nhập vào mình các tôn giáo khác nhưĐạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Hinđu, Đạo Thiên Chúa v v
Từ lâu họ đã tìm cách giải thích những hiện tượng khách quan của trời,đất và con người Ở thời đó, họ thường biểu hiện hai loại nhân sinh quan.Bao trùm lên cuộc sống của họ là nhân sinh quan mang tính hiện thực, đó là
cơ sở nhận thức và hành động với đúng với thực tế khách quan, trong cuộcđấu tranh để cải tạo thiên nhiên và xã hoi Bên cạnh đó là nhân sinh quantồn tại trong ý niệm tín ngưỡng, biểu hiện trên các mặt phong tục tập quáncủa họ
Họ cho rằng trên trái đất này vốn tồn tại hai thế giới-thế giới của sựsống và thế giới của hư vô Thế giới của sự sống là sự tồn tại của con người
và những vật chất khác-từ thể trạng sống mà người ta có thể trực giác được.Thế giới của cõi hư vô là của thần linh, ma quỷ, là một cõi sống ngự trị
trong ý niệm của họ và được gọi chung là Phi và phân ra là: Then, đẳm, phi,
khon…nhưng thế giới Phi lại quyết định sự sống thực trạng trên thế gian
này Chẳng hạn người ta sống được là nhờ có “hồn”; núi sừng sững cùngvới tất cả hình thù kỳ lạ của nó-cây cối mọc chen chúc, cành lá sum suê,con sông chảy xiết, âm thanh vang động đều có hồn của nó Và tất cả cáchồn đều có hình thù kỳ lạ, biến hóa tài tình Mọi vật lúc ở thể trạng sống thìhồn lúc ẩn, lúc hiện quanh vật đó Khi vật đó chết thì hồn bay lơ lửng hoặc
ẩn nấp trong những xó tối, hốc cây
Từ quan niệm như vậy nên người Thái có những nghi thức và tập tụccúng riêng theo cách của mình Thông qua các lễ hội trong năm, họ tổ chức
lễ cúng Bản (xên bản), cúng Mường (xên mường), cúng nhà (xênhươn) Hoặc cúng tế về một cái gì đó rất cụ thể như một hòn núi thiêng,một tảng đá lớn, một khúc sông…mà họ cảm thấy ở đó xuất hiện sự linh
Trang 28thiêng, thần bí để cầu mong được sự bao dung che chở của các đấng siêunhiên.
Cũng từ quan niệm về cái thực và cái hư như vậy, nên khi có ngườichết, ông Mo sẽ dẫn hồn về nhập “Đẳm” tức là tổ tiên ở thế giới bên kia, vàđược mang theo một số của cải Bởi vậy chết đi đối với họ là tiếp tục
“sống” ở cõi hư vô, về với sự vĩnh hằng nơi “Mường trời”
- Lễ hội truyền thống
Cũng giống như người Thái vùng Tây Bắc, người Thái ở Mường La
trong một năm có nhiều ngày lễ, tết khác nhau như: Xên bản, xên mường (cúng thần bản, thần mường), lễ tỏn cộ (lễ đón cỗ), Xến Xó Phốn (lễ cầu
mưa), “Kin khảu maứ” (lễ cơm mới)…
Trong các dịp lễ tết, người Thái ở Mường La thường tổ chức múa hát:Xòe, múa khăn, múa nón, hay trai gái “Khắp báo xao” (hát trai gái giao
duyên) Các trò chơi đầy thú vị như Tót cón (ném còn), Tót én cáy (chơi cầu lông gà bằng tay), Tó mak Lẹ (chơi trò chơi bằng quả Lẹ) v.v… Đó là các
sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa vui chơi, vừa mang ý nghĩagiáo dục truyền thống
- Văn nghệ dân gian
Sinh sống hàng ngàn năm trên dải đất Việt Nam, thừa hưởng một nềnvăn minh cổ truyền lớn lao của cha ông, người Thái ở Tây Bắc nói chung
và Mường La nói riêng đã góp phần cống hiến không nhỏ vào kho tàng vănhóa chung của cả dân tộc Việt Nam Nhờ có văn tự, cư dân Thái đã lưu lạicho đến nay nhiều sách, truyện ghi lại trên giấy bản, trên lá cây Đó lànhững cuốn sách sử chép tay dài hàng trăm trang, những bộ luật hay nhữngtập quán pháp tương đối hoàn chỉnh, phản ánh tình hình xã hội đương thời,những bản trường ca đọc cả hai, ba đêm dòng thúc động lòng người, nhữngtruyện thơ tuy khuyết danh nhưng đầy chất trữ tình nói lên cảm xúc mãnh
Trang 29liệt của cả dân tộc với thiên nhiên tươi đẹp, với con người, với tình yêu lứađôi, nói lên khát vọng của cả dân tộc hướng tới cái thiện, cái đẹp; những tậptục ngữ dân ca Thái phản ánh quá trình chinh phục thiên nhiên, tích lũykinh nghiệm của cuộc sống nhưng qua đó ta cũng thấy tính cách, tâm hồn
và nghệ thuật phong phú, đặc sắc
Trong kho tàng văn học dân gian, thần thoại Thái đóng một vị trò quantrọng vì tính phong phú và độc đáo của nó Theo các truyện kể được hệthống lại, người Thái xưa quan niệm vũ trụ có năm tầng Tầng trên cùng lànơi hỗn mang, là thế giới của những người “ăn sương, ăn gió” sống nay đâymai đó, đeo dao ở cổ Tầng tiếp theo là thế giới của các vị thần và tổ tiêncác dòng họ Thái xây dựng trên vòm trời mà mắt người không trông thấy,
do Then Luông cai quản Tầng thứ ba là thế giới của tầng mây, ở vòm trời,
ở đó có các vị trăng sao Đó là thế giới của những người khổng lồ, đượcThen cử ra để xây dựng trần gian vào buổi sơ khai Tầng thứ tư ở mặt đất làthế giới của loài người, muôn vật (thế giới thực) và thế giới của ma quỷ (thếgiới ảo tức mường ma) Tầng cuối cùng là thế giới dưới mặt đất, ở đó cóloài người tí hon chuyên chỉ ăn đất Trong những thế giới tưởng tượng đó,các ma, quỷ, thần thánh cũng sinh sống, làm ăn, cũng biết yêu biết ghét,cũng sinh con, đẻ cái, cũng tranh chấp Quan niệm về sự cấu tạo những thếgiới đó nhằm củng cố nhân sinh quan phong kiến, nhưng đồng thời cũngphản ánh một cách trừu tượng cuộc sống lao động dưới trần
Phổ biến những câu chuyện về sự hình thành trời đất, loài người vàmuôn vật, truyện nạn hồng thủy, truyện quả bầu, truyện người đàn bà góacắt dây nối trời với đất… Những câu chuyện nhằm giải thích những hiệntượng vũ trụ, trong thiên nhiên cũng lý thú không kém những huyền thoạitôn giáo nhằm giải thích nguồn gốc tiếng nói, câu ca, lúa, nước, màu sắccủa chim muôn, thú vật
Trang 30Loại truyền thuyết, dã sử liên quan đến những nhân vật lịch sử được thểhiện dưới dạng nửa có thực, nửa huyền thoại cũng không hiếm Ngoàinhững truyện liên quan đến Lò Lẹt, Lạng Chương, Tà Ngần là nhữngnhân vật lịch sử có thật, phổ biến là truyện kể lại sự di chuyển của ngườiThái đen từ Mường Lò đi mở mang bờ cõi.
Tất nhiên, loại truyện cổ tích vẫn là nhiều hơn cả, bao gồm nhiều thểloại từ ngụ ngôn, truyện cười đến truyện kể…Truyện thường mang ý nghĩa
xã hội, bênh vực người nghèo, lẽ phải và đượm màu sắc dân tộc
Thơ ca dân gian chiếm một vị trí rất lớn bao gồm những câu ca dao,những tập thơ tình yêu, thơ ca hát trong hội hè, đám cưới, mừng lên nhàmới, trong những dịp lao động sản xuất, cho đến những bản trường ca,những truyện thơ lịch sử
Đặc biệt những tác phẩm thơ ca khuyết danh khó đặt vào phạm trù dângian Ở đây, có thể cùng quy luật với văn học một số dân tộc ở ĐôngDương, nhiều tác phẩm đã diễn đạt khá điêu luyện, có giá trị nghệ thuật cao
mà tác giả hoặc vì không muốn lưu tên tuổi cho đời sau và dành vinh dự đócho cả dân tộc hoặc cả tập thể, đã xây dựng những tác phẩm hay kết tinh từ
những tinh hoa của kho tàng thơ ca dân gian Truyện thơ Xống chụ xon xao (tiễn dặn người yêu) và Khun Lú Nàng Ủa (Chàng Lú-nàng Ủa) phổ biến ở
vùng Mường La trước đây đã được giới thiệu và hoan nghênh trong cả nước
là một ví dụ
Lại thêm, đặt chân vào đất Thái ở Mường La có cảm giác như đặt chânvào thế giới ca múa nhạc độc đáo, phong phú và đa dạng, mang nhiều sắcthái tâm lý, tình cảm của dân tộc Nói đến nghệ thuật Thái không thể khôngnói tới múa, mà xòe là một trong những điệu múa nồi tiếng của người Thái,cũng là điệu múa phổ thông của mọi người dân không phân biệt…Vào cácdịp Tết, lễ hội, sau một vài tuần uống rượu vui, mọi người tay cầm tay cùng
Trang 31múa vui say sưa trong không khi nhộn nhịp của tiếng trống, tiếng cồngchiêng Cuộc xòe vui không biết bắt đầu từ bao giờ và khi nào kết thúc, chỉbiết là hơi men của rượu, hơi ấm của bàn ta cùng âm vang thôi thúc giòn giãcủa tiếng cồng chiêng làm ấm lòng người, mọi người gần gũi nhau hơn vànhư muốn cùng nhau hòa trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ NgườiThái có mấy chục điệu xòe Ban đầu xòe có hình thức đơn giản và có tínhphổ thông Có điệu xòe vòng dùng cho cả cộng đồng, sôi nổi, múa theonhịp đàn hay theo điệu hát khi vui chơi dưới ánh trăng hay lúc nghỉ giữa haithời gian sản xuất Sau cách mạng, nghệ nhân dân gian mới phát triển thànhnhững điệu xòe tinh tế và đa dạng mang biểu diễn lên sân khấu như điệu
phần nào cũng tự hào với những điệu xòe của người Thái nói chung vàngười Thái đen ở Mường La nói riêng đã chinh phục trái tim mình và đượchoan nghênh trong các hội diễn văn nghệ trên thế giới
Về âm nhạc, người Thái nổi tiếng với những làn điệu khắp hồn nhiên,thiết tha “Khắp” Thái có nhiều thể loại theo nội dung và trường hợp hát mà
có tên khác nhau Điệu hát trai gái gọi là “khắp báo xao”, điệu hát ngoàiđồng ruộng là “khắp loong tông”, khi ru em là “khắp ú u nọi”… Điệu hátđồng dao gọi là “khắp xư đếch nọi” Đặc biệt có loại “khắp Chương” dongười già kể chuyện Chương Han “Khắp Chương” với lời lẽ mạnh mẽ đầykhí thế chiến đấu, với nhạc điệu dồn dập là vũ khí văn học sắc bén thúc đẩyngười nghe trút căm giận vào bọn thống trị và kích thích lòng yêu dân tộc,yêu nhân dân Vì vậy, trước đây, bọn chúa đất Thái đã ra lệnh cấm loại
“khắp” này
Nhạc cụ quen thuộc đệm cho “khắp” là tính tẩu (đàn tính), khèn Thái,đàn nhị… trong đó khèn với năm cung và một quãng tám như thường dùngđệm cho các làn điệu dân ca và thể hiện các bài hát hiện đại, điều này chắp
Trang 32cánh cho các điệu “khắp” thêm bay bổng, diễn tả sâu sắc nội tâm nhân vật,làm tăng giá trị biểu cảm…Cùng lời ca, tiếng hát họ hát về tình yêu, cuộcsống, đạo làm người, ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi Bản Mường Chính dựatrên truyền thống của ca, vũ, nhạc dân gian, ngành ca vũ nhạc Thái đangđược phát triển, từ đó xuất hiện những tác phẩm thơ ca Thái mà chất thơcòn lưu giữ được nhiều hương sắc dân tộc.
- Tri thức dân gian
Nói đến kho tàng tri thức dân gian đầu tiên phải kể đến lịch pháp vì đó
là tri thức quan trọng nhất của một dân tộc về sự vận hành của vũ trụ, nókhông chỉ là cơ sở tính thời gian mà còn là cơ sở để nhận biết các chu kỳsinh hoạt văn hóa, hoạt động kinh tế… của cộng đồng
Hiện nay, dân tộc Thái ở Mường La đang dùng rất phổ biến lịch Tháitrong đời sống hàng ngày Hầu hết những người từ trung niên đến cao tuổiđều nắm chắc lịch Thái Người Thái ở đây vẫn thờ cũng theo ngày Can củalịch Thái, nên cứ 10 ngày cúng một lần (gọi là pạt tông, ngày pạt tông gọi là
mự vên tông) Ở mỗi bản đều có các ông mo hoặc po mự để xem ngày tốt
xấu cho những ai có nhu cầu, như ngày cưới vợ gả chồng, khởi công hoặclên nhà mới… Các ông này thường có cuốn Sổ cổ làm căn cứ cho việc tínhtoán và chọn ngày, chọn giờ, đồng thời họ tự soạn ra những nội dung lịchhàng năm để cung cấp cho nhân dân trong vùng
Trang 33Chương 2
“KHẮP” VÀ CÁC LÀN ĐIỆU “KHẮP”
CỦA NGƯỜI THÁI MƯỜNG LA
2.1 Giới thiệu chung về “khắp” của người Thái
2.1.1 “Khắp” là gì?
Dân tộc Thái có những hình thức sinh hoạt văn hoá rất phong phú như:
“Xến Xó Phốn” (lễ cầu mưa), “Kin khảu maứ” (lễ cơm mới), “Xên lẩu nó”(lễ tạ ơn thầy cúng (một lao) của các con bệnh (lụ liệng), “Kin lảu nó”(mừng mùa măng mọc), lễ “Tỏn cộ” (lễ đón cỗ)… Trong đó "khắp" là mộthình thức sinh hoạt tinh thần không thể thiếu được Trong đám cưới, người
ta có thể khắp với nhau kéo dài hết ngày này qua ngày khác, có khi kéo dài
ba bốn ngày Ở các ngày lễ, Tết, lớp trai gái trẻ “khắp” với nhau thâu đêmsuốt sáng Cả người hát và người nghe đều say xưa thán thưởng Qua lànđiệu khắp, mọi người không chỉ thưởng thức thi vị của ý thơ mà còn gửigắm tâm tư, tình cảm vào những âm thanh trầm bổng của giọng hát hay
“Khắp” nghĩa thực là hát, nhưng có thể đồng nghĩa với hát, hò, ngâm
“Khắp” cũng có nghĩa là thơ ca, làn điệu dân ca, cách trình diễn thơ ca Những lời khắp có vần vè như thơ nhưng hơn nữa nó còn có nhạc điệu vàtiết tấu rất cao
Có lẽ ngay từ thời kỳ hái lượm, săn bắt, người Thái đã có những từ
"thút phắc" (ngọn rau), "đuông nó" (cái măng), "cản bon" (bẹ khoai nước) Khi chuyển sang thời kỳ nông nghiệp lúa nước định hình thì đã có các từ
"pết" (vịt), "cáy" (gà), "sáy" (trứng), "xuân" (vườn) Đó là những từ sinhhoạt đơn giản rời rạc Đến khi hình thành xã hội bản mường, người ta cóthể ghép những từ đơn lẻ đó thành các cụm từ như: "thút phắc, đuông nó";
"cản bon, hon nó"; "pết sáy, cáy khăn"; "pết sáy, cáy xuân" Những cụm từ
Trang 34như vậy càng ngày càng xuất hiện nhiều và dần dà phát triển thành các câuthành ngữ, tục ngữ (quãm khống khái)
Khi xã hội bản mường phát triển thì xuất hiện những cụm từ gồm nhiềuchữ hơn và có vế, có vần như:
Khan pên pết nọi hã chí xo ép sáy
Khan pên cáy nọi hã chí xo ép khăn
Khan pên xao pun lan chí xo ép vãy tặc tuộng
(Là vịt con ta xin học đẻ trứng
Là gà con ta xin học gáy te te
Là gái lứa cháu xin học nói học chào)
Phẵng quãm pết mẵn chí xia sáy
Phẵng quãm cáy mẵn chí xia xuôn
Nhẵng quãm nhuỗn năm chí xia pi nọng
(Nghe lời vịt sẽ mất trứng
Nghe lời gà sẽ mất vườn
Nghe lời xúc xiểm sẽ mất tình anh em)
Tộc té nọi kin khảu bái nó
Khó té nọi kin khảu bái bon
(Cực từ nhỏ ăn cơm trộn măng
Nghèo từ nhỏ ăn cơm trộn lá khoai nước)
Cùng với những câu có vế có vần đó người ta đã tạo cho nó những nhịp
bao buồn, vui, thăng trầm trong tiến trình phát triển là điều kiện chín muồi
để phát triển và định hình các thể loại “khắp”, đồng thời phát triển mạnh thểloại kể truyện dân gian bằng “khắp”
2.1.2 Môi trường và phương thức diễn xướng của “khắp”
Trang 35Diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân gian bằnglời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ, là tổng thể các phương thức nghệ thuật,cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiềuthẩm mỹ
Diễn xướng gồm hai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia là: Diễn(hành động xảy ra) và Xướng (hát lên, ca lên) Thuật ngữ diễn xướng dângian có thể hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau Với nghĩa rộng, diễnxướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn (hay diễn xướng) và íthoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên (hay tính chất nguyênhợp) mà lâu nay ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp chỉ baogồm các thể loại diễn (như trò diễn, trò tế lễ dân gian )
“Khắp” là hình thức diễn xướng của các bài thơ, các tác phẩm văn học,trong đó có cả tác phẩm tự sự, như tác phẩm thuộc thể loại sử thi, truyện cổtích và các tác phẩm trữ tình Bằng phương thức diễn xướng, đời sốngnghệ thuật dân gian truyền thống được tiếp nối không ngừng Khởi sinhcách đây hàng ngàn năm, “ khắp” mãi mãi trường tồn, bởi tất cả thế hệngười người Thái đều ý thức trao lại cho muôn đời sau cách diễn xướngnhững làn điệu dân ca đậm đà bản sắc văn hóa, tượng trưng cho giá trị tinh
thần, tính cách của dân tộc Sinh hoạt “khắp” đã gắn bó chặt chẽ với đời
sống nhân dân, là cơ sở quan trọng hình thành nên diễn xướng các tác phẩmdân gian, diễn xướng một bộ phận thơ ca dân gian đậm chất trữ tình trongkho tàng thơ ca dân tộc
Phương thức diễn xướng của “khắp” Thái chủ yếu là hát thơ, có nhạcđệm hoặc không có nhạc đệm, trong môi trường sinh hoạt vui chơi, hoặcđám cưới, hoặc tín ngưỡng Song, mỗi làn điệu “khắp” có cách diễn xướngkhác nhau Và ngay cả mỗi làn điệu cũng có những mức độ biểu hiện khácnhau Bởi vậy, cần phải hiểu hình thức diễn xướng “khắp” một cách linh
Trang 36hoạt, gắn với mỗi môi trường sinh hoạt văn hóa, ứng với mỗi nội dung sinhhoạt, gắn với mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội
Diễn xướng “khắp” là yếu tố ngoài văn bản nghệ thuật ngôn từ Nhưng
nó là yếu tố không thể bỏ qua nếu muốn hiểu đúng, hiểu sâu sắc về nghệthuật này Tuy vậy, ở những công trình sưu tầm văn học dân gian Thái,trong đó có “khắp”, yếu tố này chưa thực sự được lưu tâm ghi chép miêu tả
cụ thể Điều đó gây khó khăn cho người nghiên cứu khi tìm hiểu về nhữngtác phẩm dân gian trong quá khứ Qua quá trình tiếp cận thực tế, nghe phântích diễn giải của các nghệ nhân, xin được nêu một số nhận xét về phươngthức diễn xướng của “khắp” Thái như sau
- Các làn điệu khắp xư (hát thơ)
Bình thường, “khắp xư” chỉ "xướng" chứ không "diễn", mục đích củakhắp xư là để biết và hiểu nội dung tác phẩm, nên phải thể hiện cảm xúcbằng giọng đọc Nhưng khi “khắp Chương”, “khắp Páo khuôn ” trong nghi
lễ thì khác, sẽ có một người “khắp” chính và đoàn người phụ hoạ, với trangphục nghi lễ trang nghiêm Người “khắp” chính phải đứng ở tư thế ngẩngmặt lên cao, hướng về phía mâm thờ và cất giọng “khắp” nghiêm trang,hùng tráng Đoàn phụ hoạ sẽ đứng thành hàng sử dụng các nhạc cụ truyềnthống như: Cồng, chiêng, chũm choẹ và các ống tre đệm phụ hoạ đúng bàibản, nhịp nhàng “Khắp” lễ nghi chỉ được “khắp” khi xên tra (tế lễ các anhhùng) và Xên mường (cúng mường)
- Khắp báo xao (hát trai gái, hát giao duyên)
“Khắp báo xao” là điệu hát thiết tha, đằm thắm, bồn chồn, hồi hộp làđiệu hát của tình yêu nam nữ trong sáng lành mạnh Bối cảnh của “khắpbáo xao” là trên sàn khuống, trong các hội xuân, trong các dịp hội họp đôngvui, trên một mảnh nương, bên một đoạn suối, trong lúc đi hái bông lau,hoặc trong khi đi tìm bông vải Những buổi hát có tổ chức ở quy mô nhất
Trang 37định thường diễn ra qua các bước: hát chào mời, hát thăm hỏi, hát thử tài và
trở lên và trong không khí vui tươi lành mạnh
- Khắp pan lảu pan khảu (hát trên mâm cơm)
Trên mâm cơm có thể “khắp chiêu” và “khắp báo xao” Diễn xướng ở
đây là cách diễn xướng tự do, tức là hát không cần động tác hoặc động tácđơn giản, không kèm tập tục hay một quy định nào cả Người hát ngồi bình
thường trong mâm, mắt nhìn đối phương, hát hết một đoạn au hang thì mọi
người vừa vỗ tay vừa "xương" tán thưởng Hát hết bài cần có lời “khắp”chuyển cho người khác (có thể là đối phương hoặc một người nào đó là dongười vừa hát có quyền chỉ định)
Ha chí kẻ xửa pạt xum pháy
Tháy xửa pạt nga bông
Xo pông quăm hảư pay cón
Lả côn chạ chí coi dón năm lăng.
Lời dịch:
Ta xin cởi áo vắt khóm tre
Thay áo vắt cành luồng
Xin buông lời nhường đi tiếp
Ta khờ dại xin nhẹ bước theo sau
Người sau hát xong bài lại có quyền chuyền cho người nào đó tuỳ mìnhlựa chọn Cứ như thế, mọi người sẽ thay nhau hát, ai cũng phải hát một sốlần Nhưng về sau sẽ dừng lại ở hai đối thủ hát hay nhất (thường là một côgái và một chàng trai bản khác), và cuộc “khắp” đối đáp sẽ diễn ra Hai bên
sẽ trổ tài vận dụng kiến thức “khắp” của mình để "thi" với đối phương Mộtngười nêu ra câu hỏi, người kia đáp lời và hỏi lại, cứ như vậy với điều kiện
Trang 38không được lặp lại các lời “khắp” Trong mâm cơm người Thái còn “khắpmơi lảu mơi khảu” rất vui vẻ, lời có thể có trước hoặc ứng tác nhưng khihai chị em gái ở xa đến thăm nhau, họ khắp rất buồn.
- Khắp trên hạn khuống (hát trên sàn sân)
Hạn khuống là sân chơi cho lớp trẻ giao lưu, nơi người già dạy con
vài hạn khuống Đó là một cái sàn dựng ngoài sân cao khoảng 1,2m, muốnlên phải trèo bằng thang Buổi tối các cô gái sẽ mang củi xuống đốt lửasáng rực và ngồi quay sa, kéo sợi Cái thang đã bị các cô cất đi Các chàngtrai bản lân cận sẽ đến chơi, mỗi đoàn cử một hai người hát hay đàn giỏi đểđại diện xin được lên hạn khuống Cuộc khắp đối đáp bắt đầu:
- Trai hát xin thang
- Gái đáp, chưa có thang vì không có ai làm
Hai bên cò cưa mãi, các cô mới lấy thang cho lên
- Trai lại xin ghế ngồi
- Gái thoái thác mãi mới cho ghế ngồi
- Trai lại xin ống điếu hút thuốc
- Gái từ chối không có người làm ống điếu
Hai bên đối đáp rất lâu thì mới được các cô cho ống điếu và “khắp”mời hút thuốc rất lịch sự Đó là thử thách bước đầu Sau khi vượt qua thửthách này, các chàng trai và cô gái sẽ được giao lưu một cách "tự do" Cóthể từng nhóm trai gái hay từng đôi trai gái sẽ ngồi tâm sự bằng nhiều hìnhthức, phần lớn là đối đáp bằng nghệ thuật ”khắp”
Cách diễn xướng “khắp hạn khuống” có thể chia làm ba loại:
- Giai đoạn đầu (xin thang, xin ghế, xin điếu ): Phía nam, mỗi đoàn sẽ
có một hai người thay nhau hát, một vài người đệm nhạc cụ (tính tẩu, nhị,pí ) Những người còn lại (đôi khi có cả các cô gái) sẽ "xương" theo Bên
Trang 39nữ, các cô cũng thay nhau hát đáp ("nhạc công" bên trai có thể đệm cùng).Các cô khác (đôi khi cả các chàng trai) sẽ "xương" theo.
- Khắp nhóm: Ở những nhóm tâm sự, bên nam bên nữ sẽ “khắp” đốiđáp theo điệu báo xao có phụ hoạ "xương" Diễn xướng tự do, đơn giản, haibên ngồi đối diện hoặc ngồi xen kẽ (các cô gái vừa ngồi tham gia vừa quay
sa, kéo sợi)
- Tâm sự riêng: Nếu có chàng trai và cô gái nào có tình ý riêng, họ cóthể dẫn nhau ra góc sàn tâm sự riêng Cách tâm sự ở đây gọi là "vay", làcách đọc những lời “khắp” đối đáp nhau thay cho việc cất lên giọng “khắp”(tương tự như đọc thơ) Vì trong sàn ồn ào do nhiều nhóm “khắp” với nhau,nên đôi tâm sự sẽ ngồi sát bên nhau để nghe được lời nói của nhau
- Khắp xe (hát trong vòng xoè)
Trong ngày vui (cưới, lên nhà mới, tết, xên hươn ), trong khi đangdiễn ra cuộc khắp đối đáp trong nhà thì các cô gái sẽ mời các chàng traisang múa xoè Trên vòng xoè thường là các cô sẽ chủ động sắp xếp sao chogái trai xen kẽ Mọi người bước đi nhịp nhàng treo điệu múa truyền thống.Một cô gái sẽ mở đầu bằng những lời “khắp” mời mọi người cùng chơi vui,cùng múa hát cho nhau nghe
Khắp ý ủa khính ý
Tói tính hảư po me hau phăng
Xan tưa ủa mưa lang xan lang
Xan tưa phay mảy pá chắng hên nả nhên
Po me xên phon chắng hên nả chụ
Lời dịch:
Hát đi cùng vui đi
Cất tiếng nhạc cho cha mẹ cùng vui
Chẳng mấy khi
Trang 40Lửa cháy rừng mới nhìn thấy mặt cáo
Cha mẹ có cuộc vui ta mới được thấy nhau
Cô gái hát xong sẽ chuyển lời mời các chàng trai hát tiếp Và thế làcuộc hát đối đáp sẽ diễn ra mới đầu là với chủ đề phân tán như: hỏi thămtên tuổi, quê quán, hỏi về gia đình, người thương ở nhà Sau đó là nhữnglời hát "kháy" nhau (tản chụ xiết xương), rồi đến tỏ tình với nhau (tản ổ tảnmặc)
Cách diễn xướng ở đây là vừa bước đi theo vòng xoè vừa hát Ngườihát sẽ hát theo cấu trúc: Au hua - nội dung - au hang và mọi người sẽ cùng
"xương"
- Khắp khảm pá qua đông (khắp trong rừng núi )
Khi đi chặt cây, lấy củi, hái măng trên rừng, các chàng trai và cô gáicũng hay “khắp” với nhau từ xa (gọi là khắp lót xáư căn) Người này hátxong, người kia sẽ đáp lại Chủ đề chủ yếu là những lời tán tỉnh rất bạo dạn(vì không nhìn thấy nhau nên mạnh dạn hơn đồng thời cũng không có thờigian nhiều)
Lót ma hi lót may lịnh ha ơi
Kỉnh ma hi lót may căn ha ơi.
Dịch:
Vọng về đây cuộn chỉ hồng ta ơi
Lăn đến đây cuộn chỉ vàng ta ơi
- Khắp loong tông (hát đi trên cánh đồng)
Trên đường đi làm về, hay đang đi trên đường khi đi chơi vào ban đêm,các chàng trai thường hay hát điệu “khắp loong tông” Với không gian yêntĩnh, điệu hát này cất lên mang tính buồn man mác Nhiều khi được đệmbằng "pí tam lay" Nội dung bài hát cũng phải chọn những bài phù hợp vàhơi buồn Nếu ban ngày có thể là: