1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán Giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội nhập quốc tế

97 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 610,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2.Khái niệm Theo công ước về bao thanh toán quốc tế của UNIDROIT 1988 đã đưa ra định nghĩa về nghiệp vụ như sau : Bao thanh toán factoring là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS,TS LÊ V N T

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan nội dung và số liệu trong công trình này do tôi tự

nghiên cứu, sưu tầm và thực hiên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS,TS Lê Văn Tư ,

trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô ở khoa Quản trị kinh doanh, Phòng

Quản lý khoa học-Sau Đại học thuộc trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, và

các thầy cô giảng dạy lớp MBA4 … đã tận tình giảng dạy và hỗ trợ trong suốt

khóa học

Xin chân thành cảm ơn Anh Chị học viên cùng khóa MBA4 và các đồng

nghiệp đã ủng hộ, động viên trong suốt khóa học và quá trình thực hiện luận văn

TP Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 03 năm 2007

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Thị Tới

Trang 4

M C L C

PH N1: M U ……… Trang 1

1 Lý do nghiên cứu ………Trang 1

2 Mục đích nghiên cứu ………Trang 1

3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu ………Trang 2

4 Phương pháp nghiên cứu ………Trang 2

5 Kết cấu của luận văn ………Trang 2

1.2 Quy định luật quốc tế về bao thanh toán và quy chế bao thanh toán của

1.2.1 Quy định về nghiệp vụ bao thanh toán trong luật quốc tế … Trang 10

1.2.2 Quy định về nghiệp vụ bao thanh toán của Ngân hàng Nhà Nước

1.2.3 Các loại bao thanh toán ……… Trang 19

1.3 Kinh nghiệm thực hiện bao thanh toán ở một số nước ……… Trang 24

Trang 5

1.3.10 Kinh nghiệm của Hàn Quốc ………Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BAO THANH TOÁN Ở Ngân hàng THƯƠNG

2.1 Việc thực hiện bao thanh toán ở một số nước trên thế giới và lợi ích,

hạn chế , rủi ro cần tham khảo đối với các Ngân hàng thương mại trên

2.1.1 Việc thực hiện bao thanh toán ở một số nước trên thế giới …Trang 30

2.1.2 Lợi ích hạn chế , rủi ro trong hoạt động bao thanh toán ……Trang 35

2.1.2.1 Lợi ích của dịch vụ bao thanh toán ……… Trang 35

2.1.2.2 Hạn chế của dịch vụ bao thanh toán ………Trang 40

2.2 Tình hình thực hiện bao thanh toán trong thời gian vừa qua ở các

Ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh ………Trang 44

2.3 Những khó khăn và nguyên nhân thực hiện bao thanh toán …Trang 46

2.3.2 Những nguyên nhân chủ yếu ……… Trang 49

2.3.3 Triển vọng áp dụng bao thanh toán xuất khẩu ở Việt Nam….Trang 53

2.3.4 So sánh bao thanh toán với các phương thức tài trợ và quản lý tín

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BAO THANH TOÁN Ở CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 2006-2010 …Trang 60

3.1 Phương hướng hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn

3.1.1 Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng của NHNN VN giai

Trang 6

3.1.2 Phương hướng hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên

3.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ để phát triển dịch vụ bao thanh toán …… Trang 64

3.2.1 Các giải pháp về môi trường pháp lý ………Trang 64

3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách ……… Trang 65

3.2.2.2 Đối với Bộ Tài Chính ……… Trang 65

3.2.2.3 Đối với Ngân hàng Nhà Nước ………Trang 66

3.3 Giải pháp phát triển nghiệp vụ bao thanh toán đối với Ngân hàng

3.3.1 Giải pháp về nâng cao khả năng tài chính ……… Trang 70

3.3.2 Đầu tư phát triển công nghệ hạ tầng kỹ thuật ………Trang 71

3.3.3 Xây dựng chiến lược kinh doanh ……… Trang 71

3.3.4 Tăng cường hoạt động hỗ trợ phi tài chính đối với doanh nghiệp … Trang 72

3.3.5 Nhóm giải pháp về Marketing ………Trang 72

3.3.6 Các giải pháp về nguồn nhân lực ………Trang74

3.3.7 Giải pháp nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động bao thanh

toán ………Trang 75

3.3.8 Các giải pháp khác ………Trang 81

PHẦN 2: KẾT LUẬN ………Trang 83

PHỤ LỤC ……… Trang 85

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu

BTTNK Bao thanh toán nhập khẩu

BTTXK Bao thanh toán xuất khẩu

CIC Trung tâm thông tin tín dụng

D/A Documents againts acceptance

D/P Documents againts payment

FENB Ngân hàng Far East National bank

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FCI Hiệp hội Factor Chain International

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

IFG Hiệp hội International Factor Group

L/C Tín dụng chứng từ

MSB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải

NFC Công Ty tài chính dầu khí

NHVN Ngân hàng Việt nam

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

OCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông

TCB Ngân hàng thương mại kỹ thương Việt Nam

SACOMBANK Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương

Tín TCB Ngân hàng thương mại kỹ thương Việt Nam

TCTD Tổ chức tín dụng

TTCK Thị trường chứng khoán

UFJ Bank Ngân hàng Nhật UFJ

UNIDROIT Cơ quan quốc tế và thống nhất tư pháp

WB Ngân hàng thế giới

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Ký hiệu đồng tiền của một số quốc gia

BATH Đồng Bath Thái Lan

EURO Đồng tiền chung Châu Âu

Trang 8

PHẦN 1 : MỞ ĐẦU

1.Giới thiệu

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan

đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển Xu hướng này ngày càng

hình thành rõ nét, đặc biệt là nền kinh tế thị trường đang trở thành một sân chơi

chung cho tất cả các nước, thị trường tài chính đang mở rộng phạm vi hoạt động

gần như không biên giới, vừa tạo điều kiện tăng cường hợp tác, vừa làm sâu sắc,

gay gắt thêm quá trình cạnh tranh Trước những thách thức nảy sinh do thực hiện

mở cửa và hội nhập về lĩnh vực dịch vụ tài chính – Ngân hàng, khuynh hướng các

tổ chức tín dụng trong nước đẩy mạnh quá trình hoạt động của mình ngày càng

trở nên rõ nét Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và xu thế toàn

cầu hóa hiện nay luôn đặt các doanh nghiệp tự động sẽ có những phản ứng cần

thiết để đương đầu với những thách thức này

Tuy nhiên, bản thân hệ thống các Ngân hàng thương mại phải tự mình

chuyển đổi mới là điều quan trọng và cốt yếu Các ngân hàng thương mại Việt

Nam bắt buộc phải chuyên môn hóa sâu hơn nghiệp vụ, nâng cao hiệu qủa sử

dụng nguồn vốn, nhanh chóng tiếp cận và phát triển các dịch vụ mới Vì vây tác

giả đã chọn đề tài “ Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán – giải pháp hũu hiệu mở

rộng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp.Hồ Chí

Minh trong điều kiện hội nhập quốc tế

2 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Trong quá trình hội nhập, lợi thế tiềm tàng sẽ thuộc vào nhóm ngân hàng

nước ngoài và sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng lớn đối với các ngân hàng thương

mại trong nước Các Ngân hàng nước ngoài sẽ nhanh chóng phát triển các loại

hình dịch vụ và cạnh tranh mạnh mẽ với các Ngân hàng Việt Nam Vì vậy đa

dạng hóa các sản phẩm dịch vụ là một vấn đề mang tính chiến lược dài hạn và

cần phải có sự chuẩn bị ngay từ bây giờ Để thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ,

Trang 9

đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp phát triển nghiệp vụ bao thanh toán góp

phần mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thuơng mại trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội nhập

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt chuyên cung ứng các sản

phẩm dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng cho công chúng và cho nền kinh tế

Dịch vụ ngân hàng thì nhiều và đa dạng nhưng do trình độ và thời gian có hạn

nên trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về phát triển

nghiệp vụ bao thanh toán-giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động kinh doanh của

ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội

nhập

4 Phương pháp nghiên cứu:

Là sản phẩm nghiên cứu khoa học mang tính ưng dụng vào thực tiễn hoạt

động ngân hàng nên trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các

phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tổng hợp và so sánh, đối chiếu

khái quát hóa, hệ thống hóa Quá trình nghiên cứu có kết hợp lý luận và thực

tiễn, lý luận của bản thân kết hợp vợi kinh nghiệm, thành tựu nghiên cứu của các

bậc tiền bối Xem xét sản phẩm bao thanh toán trong tác động tương tác qua lại

với tiện ích cung cấp cho các doanh nghiệp, cho nền kinh tế

5 Về mặt cấu trúc đề tài được chia làm 3 phần:

Chương 1: Hệ thống hóa về lý luận bao thanh toán và các qui phạm pháp

luật trên thế giới và Việt Nam Kinh nghiệm thực hiện bao thanh toán ở một số

nước

Chương 2:Thực tế áp dụng bao thanh toán của các nước trên thế giới và

của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Qua đó rút ra những

Trang 10

tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân vì sao dịch vụ bao thanh toán chưa áp dụng rộng

rãi ở các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh

Chương 3: Những giải pháp và đề xuất cho sự phát triển dịch vụ bao thanh

toán ở Việt Nam phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế Việt Nam trong thời hội

nhập

Trang 11

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN

1.1 Khái quát về bao thanh toán

Nghiệp vụ bao thanh toán có lịch sử phát triển lâu dài, xuất phát từ hoạt

động đại lý hưởng hoa hồng khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã, phát

triển ở Anh vào thế kỷ 15 dưới hình thức ứng trả trước một phần cho người ủy

nhiệm (nhà cung ứng sản phẩm), và phát triển mạnh từ thế kỷ 19 thông qua các

nhà đại lý thanh toán ngành dệt may của Mỹ, ngành công nghiệp điện, hóa chất,

sợi tổng hợp… Với lịch sử lâu đời nên định nghĩa nghiệp vụ bao thanh toán cũng

hết sức đa dạng

1.1.1.Bản chất

đ c thi t l p châu M , nh ng th ng gia Anh buơn bán nhi u lo i hàng hố

khác nhau, h đã khơng quen v i nh ng th t c mua bán đ a ph ng và đi thu n

hàng… đ l y ti n hoa h ng

Theo truy n th ng, cơng vi c c a nh ng ngân hàng t p trung vào vi c tài tr

th ng m i và các giao d ch nh : mua bán ngo i t , chuy n ti n, m L/C, qu n lí tài

kho n… H th ng ngân hàng c ng cung ng các h n m c tin d ng v v n l u

đ ng, v n c đ nh, b o lãnh… Th nh ng m t ngân hàng th ng m i ít khi cho

th u chi cho phép Các cơng ty tài chính v n khơng giúp đ đ c gì h n b i vì h

chính đ i v i nhu c u v n c đ nh Nhi u doanh nhân đã tìm l i ra b ng cách vay

Trang 12

ti n t nh ng ng i cho vay, r i chuy n d n sang bao thanh tốn khi h phát hi n ra

s đ i m i c a th th c này Và c nh th , bao thanh tốn d n d n phát tri n ngày

càng m nh

1.1.2.Khái niệm

Theo công ước về bao thanh toán quốc tế của UNIDROIT 1988 đã đưa ra

định nghĩa về nghiệp vụ như sau : Bao thanh toán (factoring) là một dạng tài trợ

bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ

chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong

số các chức năng sau : Tài trợ bên cung ứng (gồm cho vay và ứng trước tiền),

quản lí sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, đảm

bảo rủi ro không thanh toán của bên mua hàng

Còn hiệp hội bao thanh toán thế giới (FCI) thì định nghĩa bao thanh toán

là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn

hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu

hộ Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ bao thanh toán (factor)

với người cung ứng hàng hoá dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan

hệ mua bán hàng hoá (seller) Theo như thảo thuận, factor sẽ mua lại các khoản

phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ

mua bán hàng hoá (buyer) hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng (debtor)

Ngoài ra, theo một số tổ chức cung cấp dịch vụ bao thanh toán khác thì

nghiệp vụ bao thanh toán được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu, hay

việc cung cấp tài trợ tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu

ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng (clients)

đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lí nợ, quản lí

sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín dụng và thu hộ

Trong một nghiệp vụ bao thanh toán thông thường sẽ có sự xuất hiện của

ít nhất ba bên: tổ chức bao thanh toán (factor), khách hàng của tổ chức bao thanh

Trang 13

toán (client hay seller) và con nợ của tổ chức bao thanh toán (debtors hay

buyers) Đối với các loại bao thanh toán xuất nhập khẩu thì sẽ có hai đơn vị bao

thanh toán, một đơn vị ở nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị ở nước của nhà

nhập khẩu Ngoài ra, khi một khách hàng ký kết hợp đồng thực hiện nghiệp vụ

bao thanh toán đối với factor, họ sẽ bán không phải là một mà một số các khoản

phải thu từ nhiều khách hàng khác nhau, cho nên trong một nghiệp vụ bao thanh

toán có thể có rất nhiều con nợ của factor

Trong quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng , NHNN

đã đưa ra định nghĩa về bao thanh toán : “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín

dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản

phải thu phát sinh từ việc mua , bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua

hàng thoả thuận trong hợp đồng mua bán hàng hoá “ (QĐ số

1096/2004/QĐ-NHNN)

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau cho khái niệm về nghiệp vụ bao

thanh toán, nhưng nói chung có thể hiểu nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình

thức tài trợ cho những khoản thanh toán từ các hoạt động sản xuất kinh doanh,

cung ứng hàng hoá và dịch vu,ï đó chính là hoạt động mua bán nợ

1.1.3.Chức năng của Bao thanh toán

1.1.3.1 Chức năng dịch vụ thanh toán

Bên nợ (Bên mua)

Bên bán Hợp đồng Bao thanh toán Bên bao thanh toán (Factor)

Hợp đồng mua bán

HH.DV Thanh toán

Trang 14

Tổ chức bao thanh toán xuất khẩu (Tổ chức BTTXK) đảm nhiệm mọi

nhiệm vụ thanh toán cho nhà xuất khẩu về những khoản thanh toán

chuyển nhượng , đảm nhiệm nghiệp vụ nhờ thu hoặc thông báo cho nhà

nhập khẩu, giải quyết những vướng mắc trong hoạt động thanh toán Do

đó, với chức năng này, Tổ chức BTTXK thực hiện tất cả những nghiệp vụ

Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu Mặt khác Tổ chức BTTXK còn thực

hiện chức năng kiểm tra và giám sát khả năng thanh toán của nhà nhập

khẩu, thống kê kế hoạch sản xuất và doanh thu cho nhà xuất khẩu, xác

định các khoản thuế, lệ phí…qua đó chúng ta có thể xem công ty bao thanh

toán như là một nhà tài chánh, Ngân hàng phục vụ đắc lực cho nhà xuất

khẩu Với mối quan hệ giao dịch với các các Tổ chức bao thanh toán nhập

khẩu (Tổ chức BTTNK), Tổ chức BTTXK đã đảm bảo khâu thanh toán

cho nhà xuất khẩu và đảm bảo thanh toán đúng hạn thông qua Tổ chức

BTTNK tại nước nhập khẩu Đây là một đặc tính ưu việt của bao thanh

toán, điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với những hợp đồng dài

hạn và cung ứng theo định kỳ Trong khi đó, hệ số an toàn cao hơn tất cả

các phương thức thanh toán khác, vì thực chất các công ty đại lý là những

công ty con của Tổ chức Bao thanh toán (hoặc Ngân hàng), ngoài chức

năng thanh toán nó còn kiêm thêm nhiệm vụ có quyền kiểm tra, giám sát

khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu

1.1.3.2 Chức năng tài chính

Để hiểu rõ chức năng tài chính của bao thanh toán, trước hết chúng ta

thống nhất rằng: Cho dù Bao thanh toán là việc mua bán các khoản thanh

toán, nhưng thỏa thuận mua bán các hóa đơn và khi người mua thanh toán

thường diễn ra ở hai thời điểm tương đối xa nhau chứ không phải kiểu

“tiền trao, cháo múc”

Thực chất, đây là việc chuyển giao sỡ hữu trong lòng tin Tổ chức bao

Trang 15

thanh toán…Và mọi tất toán nghiệp vụ chỉ chấm dứt sau khi nhà nhập khẩu

thanh toán

Tổ chức BTTXK đảm nhiệm chức năng cung ứng tài chính cho nhà

xuất khẩu và cơ sở để Tổ chức BTTXK đảm nhiệm việc này là mối quan

hệ giao dịch giữa Tổ chức BTTXK và Tổ chức BTTNK Trên thực tế Tổ

chức BTTXK sẽ thực hiện hai nghiệp vụ tài chính như sau:

- Nghiệp vụ ứng trước tài chính:

Cho dù hợp đồng Bao thanh toán được ký kết từ trước, nhưng ngày

có hiệu lực là ngày thanh toán theo định kỳ của nhà nhập khẩu Do đó, khi

nhà xuất khẩu muốn sử dụng vốn trước, anh ta có thể vay tín dụng của Tổ

chức bao thanh toán Tổng mức tín dụng này phụ thuộc vào khả năng

thanh toán của nhà nhập khẩu, trung bình từ 70-90% giá trị của khoản

thanh toán

Khi nhà nhập khẩu thanh toán và Tổ chức BTTXK nhận được khoản thanh toán này thì Tổ chức BTTXK sẽ thu hồi khoản tín dụng ứng trước

cộng với lệ phí Bao thanh toán (phí dịch vụ, phí hoa hồng, phí rủi ro) và lãi

tín dụng ứng trước nếu có Số còn lại cộng với lãi suất tiền gửi tài khoản

khống chế sẽ được trả cho nhà xuất khẩu

Qua đó ta thấy, bao thanh toán đã thể hiện ưu thế của nó hơn các khoản tín dụng khác Nó tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu trong

việc tái cơ cấu vốn Phần lãi suất tài khoản khống chế đã giảm bớt lãi suất

vốn vay Một số dư tiền gửi nhưng chưa có nguồn Xem ra có vẻ vô lý,

nhưng không có nó thì không có phạm trù mua bán các khoản nợ thanh

toán nữa Phải chăng đây là một nghệ thuật kinh doanh của Ngân hàng

Hơn thế nữa, tài khoản khống chế bảo đảm phần nào rủi ro cho tổ chức

bao thanh toán

- Nghiệp vụ chiết khấu:

Trang 16

Đây là hình thức thứ hai của hoạt động tái tài chính xuất khẩu Với hình thức này, nhà xuất khẩu có thể bán tất cả các chứng từ thanh toán cho

Tổ chức BTTXK và nhận tiền ngay tức khắc nhưng với tỷ lệ chiết khấu

khá cao (10%-30%) và phụ thuộc khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu

Hay nói cách khác tỷ lệ này bao hàm cả lệ phí rủi ro và lãi tín dụng kể từ ngày mua cho đến ngày định kỳ thanh toán Nhưng để được chiết

khấu các khoản thanh toán, nhà nhập khẩu phải hợp đồng dịch vụ chống

rủi ro và phải nộp lệ phí cho dịch vụ này Do đó nghiệp vụ chiết khấu

không ưu việt như nghiệp vụ ứng trước tài chính và không thông dụng

trong hoạt động bao thanh toán Đối với bao thanh toán thì việc mua lại

các khoản thanh toán không có tính truy đòi trong khi chiết khấu hối phiếu

cho phép Ngân hàng và người chiết khấu hối phiếu được truy hoàn người

phát hành

1.1.3.3 Chức năng chống rủi ro

Với chức năng này, các tổ chức bao thanh toán đảm nhiệm những rủi ro do khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu Những rủi ro này xảy ra

một khi nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán trong một thời hạn

quy định và khi đó nhà Tổ chức BTTXK không có quyền truy đòi đối với

nhà xuất khẩu

Trong trường hợp miễn truy đòi, Tổ chức BTTXK chỉ gánh chịu những rủi ro do nhà nhập khẩu gây ra, không gánh chịu những rủi ro về

chính trị cũng như rủi ro do nguyên nhân chủ quan của nước nhập khẩu

gây nên Chẳng hạn lý do khống chế ngoại tệ, các chính sách phong tỏa

kinh tế của chính phủ, nhà nhập khẩu không thể thanh toán hoặc làm thủ

tục nhận hàng được, cũng như nhà nhập khẩu từ chối nhận hàng khi hàng

hóa giao không đúng số lượng, chất lượng theo hợp đồng đã ký kết Do

đó, để khắc phục những rủi ro này, Tổ chức BTTXK đòi hỏi nhà xuất khẩu

Trang 17

phải có bảo hiểm và để lại tỷ lệ 10%-30% vào tài khoản khống chế và đây

là một trong các yếu tố làm cơ sở an toàn cho các việc thực hiện các

nghiệp vụ nêu ở trên

Lệ phí chống rủi ro thông thường từ 0,3%-1% giá trị khoản thanh toán được chuyển nhượng Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho khả năng

thanh toán và trên kết quả thẩm định của các Tổ chức bao thanh toán nhập

khẩu, các nhà bao thanh toán xuất khẩu còn qui định rõ hạn mức thanh

toán cho từng nhà nhập khẩu, từng đối tượng mặt hàng, từng thị trường

hàng hóa, từng nước nhập khẩu

1.2 Quy định luật quốc tế về bao thanh toán và quy chế bao thanh

toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.2.1 Quy định về nghiệp vụ Bao thanh toán trong luật quốc tế:

Trên thế giới hoạt động bao thanh toán đã xuất hiện khá lâu và phát trriển

mạnh mẽ Nhận thấy các giao dịch bao thanh toán đang đóng một vai trò rất lớn

trong sự phát triển của thương mại quốc tế, xuất phát từ nhu cầu về xây dưng một

chuẩn mực thống nhất nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý hỗ trợ các giao dịch

bao thanh toán quốc tế nhằm đạt được sự bình đẳng lợi ích giữa các bên

UNIDROIT ( Cơ quan quốc tế về thống nhất tư pháp) đã ban hành Công ước về

Bao thanh toán quốc tế vào ngày 28/05/1988, Công ước đã đưa các khái niệm

chuẩn mực về nghiệp vụ Bao thanh toán quốc tế, các yếu tố cơ bản của hơp đồng

cũng như các quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các bên trong loại giao dịch tài

chính này trong thương mại quốc tế

Công ước đã xác định Hợp đồng bao thanh toán là hợp đồng được ký kết

giữa một bên là Bên bán và một bên là Bên bao thanh toán (Factor) với các điều

kiện sau:

- Bên bán sẽ chuyển nhượng cho Bên bao thanh toán các khoản nợ phát sinh

từ Hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa Bên bán và khách hàng

Trang 18

(Bên nợ) ( trừ các hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích

tiêu dùng gia đình)

- Bên bao thanh toán sẽ phải:

+ Trả Bên bán các khoản thanh toán trước + Duy trì tài khoản cho các khoản nợ này (sổ cái) + Thu các khoản nợ

- Thông báo cho Bên nợ việc chuyển nhượng các khoản nợ

1.2.1.1 Phạm vi áp dụng của Công ước

Các hợp đồng Bao thanh toán quốc tế đuợc xác định như sau:

- Áp dụng đối với các Hợp đồng Bao thanh toán cho các khoản nợ phát sinh

từ hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa Bên bán và Bên nợ có

trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau ( với điều kiện các nước này có

tham gia Công ước hoặc cả Hợp đồng Bao thanh toán và Hợp đồng mua

bán hàng hóa hoặc dịch vụ được điều chỉnh bởi cùng một hệ thống pháp

luật quốc gia tham gia Công ước) Trong trường hợp một bên nào đó có

nhiều trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau thì trụ sở kinh doanh được

xác định là nơi có quan hệ mật thiết nhất tới hợp đồng có liên quan và nơi

thực hiện hợp đồng

- Một khoản nợ quốc tế là khoản nợ phát sinh từ hợp đồng giữa Bên bán và

Bên nợ có trụ sở khác nhau

1.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Bao thanh toán

quốc tế:

Vào thời điểm ký kết hợp đồng, Bên bán phải chứng minh được rằng :

- Họ là chủ sỡ hữu hợp pháp và có quyền chuyển nhượng khoản nợ này;

Họ chưa chuyển nhượng khoản nợ này cho ai khác

Trang 19

- Bên nợ sẽ không có căn cứ nào để thoái thác việc trả nợ này

Sau khi nhận được thông báo chuyển nhượng và thông báo thanh toán, Bên nợ có quyền yêu cầu Bên bao thanh toán đưa ra bằng chứng

chứng minh việc chuyển nhượng này trong một khoảng thời gian hợp lý

Các thông báo chuyển nhượng này chỉ có giá trị nếu nó được soạn thảo trong ngôn ngữ mà Bên nợ có thể hiểu được ( một cách hợp lý) hoặc

bằng ngôn ngữ của hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ

-Việc chuyển nhượng các khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa Bên bán và Bên nợ sẽ không làm thay đổi

quyền và nghĩa vụ các bên trong Hợp đồng này, có chăng chỉ là đối tượng,

địa chỉ người được thanh toán sau khi thông báo hướng dẫn thanh toán

được gửi cho bên nợ

- Bên nợ có nghĩa vụ thanh toán cho Bên bao thanh toán các khoản nợ đã được chuyển nhượng khi và chỉ khi Bên nợ biết rằng Bên bao thanh

toán là chủ nợ tối cao đối với các khoản nợ này và được thông báo bằng

văn bản từ bên bán hoặc từ Bên bao thanh toán (Bên bán ủy quyền) về chi

tiết các khoản nợ đã được chuyển nhượng, Bên bao thanh toán là ai, địa

chỉ để thực hiện thanh toán và các khoản nợ này phải phát sinh từ chính

Hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ đã được ký kết giữa Bên bán và

Bên nợ cùng vào thời điểm đó hoặc trước khi thông báo được đưa ra Dù

Bên nợ, đã được thông báo việc chuyển nhượng hay chưa thì Bên bao

thanh toán vẫn có quyền tối cao đối với các khoản thanh toán cho các

khoản nợ đã chuyển nhượng dù nó đã được thanh toán cho Bên bán hoặc

bên nào khác Tuy nhiên Bên bao thanh toán chỉ có quyền trong phạm vi

giá trị của các khoản nợ đã chuyển nhượng

Trang 20

- Việc chuyển nhượng các khỏan nợ trong tương lai sẽ được tự động chuyển cho Bên bao thanh toán khi chúng phát sinh, nếu đã được xác định

trước trong hợp đồng mà không cần phải thực hiện gì nữa

- Việc chuyển nhượng các khoản nợ từ Bên bán cho Bên bao thanh toán sẽ có hiệu lực bất kể có hay không thỏa thuận giữa Bên bán và Bên

nợ ngăn cấm việc chuyển nhượng này, tuy nhiên việc chuyển nhượng như

thế sẽ không có hiệu lực nếu quốc gia nơi mà Bên nợ đặt trụ sở kinh doanh

khi tham gia Công ước có tuyên bố trước rằng việc chuyển nhượng như thế

sẽ là vô hiệu

- Trong trường hợp Bên bán không thực hiện, vi phạm hoặc chậm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ, Bên nợ không có quyền

yêu cầu Bên Bao thanh toán bồi hoàn mà chỉ, có quyền yêu cầu Bên bán

thực hiện việc bồi hoàn đó Tuy nhiên Bên nợ có thể yêu cầu Bên bao

thanh toán bồi hoàn các khoản nợ mà Bên nợ đã thanh toán trong các

đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ mà Bên nợ đã thanh toán cho Bên

bao thanh toán các khỏan nợ theo Hợp đồng đó

+ Bên nợ có quyền từ chối yêu cầu thanh toán của Bên bao thanh toán nếu họ không biết về việc chuyển nhượng và Bên bán đã yêu cầu

thanh toán trước

+ Việc sửa đổi Hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ có ảnh hưởng tới quyền của Bên bao thanh toán sẽ vô hiệu nếu chúng được thực

Trang 21

hiện sau khi thông báo chuyển nhượng đã được đưa ra trừ khi Bên bao

thanh toán đồng ý việc sửa đổi này

1.2.1.3.Chuyển nhượng tiếp:

Các khái niệm và nguyên tắc của Công ước này cũng sẽ được áp dụng cho

việc chuyển nhượng tiếp theo ( sau khi đã chuyển nhượng lần thứ nhất) trong

trường hợp việc chuyển nhượng tiếp theo đó không bị cấm bởi hợp đồng bao

thanh toán gốc (Hợp đồng bao thanh toán lần trước)

1.2.1.4.Diễn giải và hiệu lực của Công ước

Việc diễn giải Công ước phải dựa trên mục tiêu của Công ước, đặc tính

quốc tế của vấn đề tính thống nhất của áp dụng luật và nguyên tắc trung thực

trong thương mại quốc tế Các vấn đề liên quan đến Bao thanh toán chưa

được Công ước quy định sẽ được điều chỉnh bởi các quy tắc chung của tư

pháp quốc tế

Nếu một quốc gia có nhiều đơn vị lãnh thổ khác nhau với các hệ thống

pháp luật khác nhau điều chỉnh về Bao thanh toán, nếu không có tuyên bố

cụ thể về lãnh thổ được áp dụng Công ước thì Công ước sẽ có hiệu lực trên

toàn bộ các đơn vị lãnh thổ Công ước chỉ áp dụng cho các giao dịch bao

thanh toán các khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch

vụ được ký kết vào hoặc sau ngày Công ước có hiệu lực đối với các quốc gia

tham gia nơi mà các bên đặt trụ sở kinh doanh

1.2.2 Quy định về nghiệp vụ Bao thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam

Nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại trong nước và quốc tế, bằng

đa dạng hóa hình thức cấp tín dung cho các doanh nghiệp, ngày 06 tháng

09 năm 2004 Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quy chế hoạt

động Bao thanh toán của các tổ chức tín dụng kèm theo quyết định

Trang 22

1096/2004/QĐ-NHNN Đây là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh nghiệp

vụ Ngân hàng này

1.2.2.1 Các khoản phải thu không được bao thanh toán

- Phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa bị pháp luật cấm;

- Phát sinh từ các giao dịch, thỏa thuận bất hợp pháp;

- Phát sinh từ các giao dịch, thỏa thuận đang có tranh chấp;

- Phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng có thời hạn thanh toán còn lại dài hơn 180 ngày

- Các khoản phải thu đã được gán nợ hoặc cầm cố, thế chấp

- Các khoản phải thu đã quá hạn thanh toán theo hợp đồng mua, bán hàng

1.2.2.2 Quy định về an toàn

- Hoạt động bao thanh toán phải bảo đảm các quy định về an toàn tại Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng

Nhà nước;

-Tổng số dư bao thanh toán cho một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của đơn vị bao thanh toán Đối với chi nhánh Ngân

hàng nước ngoài, tổng số dư bao thanh toán cho một khách hàng không

được vượt quá 15% vốn tự có của Ngân hàng nước ngoài

- Số dư các khoản phải thu mà đơn vị bao thanh toán nhập khẩu bảo lãnh thanh toán cho 01 bên nhập khẩu phải nằm trong giới hạn tổng số dư

bảo lãnh của Tổ chức tín dụng cho 01 khách hàng theo quy định tại Quy

chế Bão lãnh Ngân hàng

- Trường hợp nhu cầu bao thanh toán của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của đơn vị bao thanh toán thì các đơn vị bao thanh toán

Trang 23

được thực hiện đồng bao thanh toán cho khách hàng theo quy định của

Ngân hàng Nhà nước

- Tổng số dư bao thanh toán không được vượt quá vốn tự có của đơn

vị bao thanh toán

1.2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên 1.2.2.3.1.Quyền và nghĩa vụ của đơn vị bao thanh toán

a) Quyền của đơn vị bao thanh toán:

- Được yêu cầu bên bán hàng cung cấp các thông tin và tài liệu liên quan đến khoản phải thu, khả năng tài chính và tình hình hoạt động của

bên bán hàng;

- Được yêu cầu bên bán hàng chuyển giao toàn bộ bản gốc hợp đồng mua, bán hàng, chứng từ bán hàng, quyền, lợi ích và các giấy tờ có

liên quan đến khoản phải thu được bao thanh toán

- Có quyền đòi nợ đối với bên mua hàng theo giá trị khoản phải thu được bao thanh toán và được hưởng các quyền và lợi ích khác mà người

bán hàng được hưởng theo quy định tại hợp đồng mua, bán hàng

- Được chuyển quyền đòi nợ, trừ trường hợp các bên trong hợp đồng bao thanh toán có thỏa thuận không được chuyển giao quyền đòi nợ

b) Nghĩa vụ của đơn vị bao thanh toán:

- Thông báo cho bên mua hàng và các bên có liên quan theo quy đinh : Đơn vị bao thanh toán và Bên bán hàng đồng ký gửi văn bản thông

báo về Hợp đồng bao thanh toán cho Bên mua hàng và các bên có liên

quan, trong đó nêu rõ việc Bên bán hàng chuyển giao quyền đòi nợ cho

đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng thanh toán trực tiếp cho

đơn vị bao thanh toán;

Trang 24

- Thanh toán cho Bên bán hàng theo giá mua khoản phải thu đã được thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán;

- Chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu trong trường hợp thực hiện bao

thanh toán không có quyền truy đòi;

- Thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán

1.2.2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên bán hàng a) Quyền của Bên bán hàng:

Nhận tiền thanh toán của đơn vị bao thanh toán theo giá mua, bán khoản phải thu đã thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán;

b) Nghĩa vụ của Bên bán hàng:

- Cung cấp đầy đủ, chính xác và trung thực thông tin, tài liệu báo cáo theo yêu cầu của đơn vị bao thanh toán;

- Thông báo cho bên mua hàng và các bên có liên quan theo quy định: Đơn vị bao thanh toán và Bên bán hàng đồng ký gửi văn bản thông

báo về Hợp đồng bao thanh toán cho Bên mua hàng và các bên có liên

quan, trong đó nêu rõ việc Bên bán hàng chuyển giao quyền đòi nợ cho

đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng thanh toán trực tiếp cho

đơn vị bao thanh toán

- Chịu rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu trong trường hợp bao thanh toán có

quyền truy đòi

- Chuyển giao đầy đủ và đúng hạn cho đơn vị bao thanh toán hợp đồng mua, bán hàng, chứng từ bán hàng, quyền, lợi ích và các giấy tờ khác

Trang 25

có liên quan đến khoản phải thu được bao thanh toán theo thỏa thuận

trong hợp đồng bao thanh toán;

- Thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng Đơn vị bao thanh toán và Bên bán hàng đồng ký gửi văn bản thông

báo về Hợp đồng bao thanh toán cho Bên mua hàng và các bên có liên

quan, trong đó nêu rõ việc Bên bán hàng chuyển giao quyền đòi nợ cho

đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng thanh toán trực tiếp cho

đơn vị bao thanh toán và hợp đồng mua, bán hàng

1.2.2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của bên mua hàng a) Quyền của bên mua hàng:

- Được thông báo về việc bao thanh toán

- Không thay đổi về quyền lợi và nghĩa vụ quy định tại hợp đồng mua, bán hàng, ngoại trừ bên nhận tiền thanh toán khoản phải thu Việc

điều chỉnh các điều khoản quy định tại hợp đồng mua, bán hàng phải được

bên mua hàng chấp thuận bằng văn bản

b) Nghĩa vụ của bên mua hàng:

- Xác nhận bằng văn bản về việc đã nhận được thông báo và cam kết thanh toán theo quy định : Đơn vị bao thanh toán và Bên bán hàng

đồng ký gửi văn bản thông báo về Hợp đồng bao thanh toán cho Bên mua

hàng và các bên có liên quan, trong đó nêu rõ việc Bên bán hàng chuyển

giao quyền đòi nợ cho đơn vị bao thanh toán và hướng dẫn bên mua hàng

thanh toán trực tiếp cho đơn vị bao thanh toán Thanh toán cho đơn vị bao

thanh toán theo đúng các điều khoản quy định tại hợp đồng mua, bán hàng

- Không được đòi lại số tiên đã thanh toán cho đơn vị bao thanh toán trong trường hợp bên bán hàng không thực hiện, hoặc thực hiện

không đúng, đầy đủ các điều khoản quy định tại hợp đồng mua, bán hàng,

Trang 26

trừ trường hợp đơn vị bao thanh toán cố tình thanh toán khoản chi trả của

bên mua hàng cho bên bán hàng sau khi đã được bên mua hàng thông báo

về việc bên bán hàng có hành vi vi phạm hợp đồng mua, bán hàng

1.2.3.Từ luật quốc tế và quy chế Ngân hàng Nhà nước về bao thanh

toán ta có các loại bao thanh toán

1.2.3.1.Căn cứ theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro thanh toán , bao thanh toán có

thể chia thành bao thanh toán có quyền truy đòi và bao thanh toán miễn truy đòi:

- Bao thanh toán có quyền truy đòi (recourse factoring) là loại nghiệp vụ

bao thanh toán theo đó nếu người mua hàng không trả được nợ hoặc không thực

hiện nghĩa vụ trả nợ thì người bán hàng có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền đã

được ứng trước cho đơn vị bao thanh toán

-Bao thanh toán không có quyền truy đòi (Non- recourse factoring) là loại

nghiệp vụ bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán phải chịu mọi rủi ro về tín

dụng và không được đòi lại khoản tiền đã ứng cho người bán hàng trong trường

hợp người mua hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ

1.2.3.2 Căn cứ theo thời hạn, bao thanh toán có thể chia thành bao thanh

toán ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu và bao thanh toán khi đáo hạn:

- Bao thanh toán ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu là loại bao thanh

toán theo đó đơn vị bao thanh toán chiết khấu các khoản phải thu trước ngày đáo

hạn và ứng trước tiền cho đơn vị bán hàng (có thể đến 80% giá trị hoá đơn)

- Bao thanh toán khi đến hạn là loại bao thanh toán theo đó đơn vị bao

thanh toán sẽ trả cho các khách hàng của mình (người bán hàng) số tiền bằng giá

mua của các khoản bao thanh toán khi đáo hạn

1.2.3.3 Căn cứ phạm vi hoạt động địa lý:

- Bao thanh toán quốc tế: là việc bao thanh toán dựa trên Hợp đồng xuất

nhập khẩu

Trang 27

-Qui trình thực hiện bao thanh toán quốc tế:

(1) Đơn vị xuất khẩu và nhập khẩu kí hợp đồng mua bán hàng hoá

(2) Đơn vị xuất khẩu yêu cầu tín dụng đối với đơn vị bao thanh toán

(3) Đơn vị bao thanh toán tại nước xuất khẩu yêu cầu tín dụng từ đơn vị bao

thanh toán tại nước nhập khẩu

(4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu, kiểm tra uy tín bề mặt tín dụng của nhà

nhập khẩu

(5) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu trả lời tín dụng cho đơn vị bao thanh toán

xuất khẩu

(6) Đơn vị bao thanh toán ký hợp đồng bao thanh toán với đơn vị xuất khẩu

(7) Đơn vị xuất khẩu giao hàng

(8) Đơn vị xuất khẩu chuyển nhượng hoá đơn cho đơn vị bao thanh toán xuất

khẩu và đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng hoá đơn cho đơn

vị bao thanh toán nhập khẩu

Importer (Client)

Import Factor

3 Yêu cầu tín dụng

5 Trả lời tín dụng

Trang 28

(9) Đơn vị bao thanh toán ứng trước tiền cho đơn vị xuất khẩu

(10) Vào ngày đáo hạn hoặc sau ngày đáo hạn một thời gian đơn vị bao thanh

toán đòi nợ đơn vị nhập khẩu

(11) Đơn vị nhập khẩu thanh toán tiền cho đơn vị bao thanh toán

(12) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thanh toán tiền cho đơn vị bao thanh

toán xuất khẩu

(13) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu thanh toán phần còn lại cho đơn vị xuất

khẩu

- Bao thanh toán nội địa( Domestic factoring): Là nghiệp vụ bao thanh

toán dựa trên hợp đồng mua bán hàng hoá trong đó bên bán hàng và bên mua

hàng là những đơn vị cư trú trong một nước

Qui trình thực hiện bao thanh toán nội địa:

* S giống và khác nhau giữa bao thanh toán nội địa và bao thanh toán quốc tế:

Người mua (con nợ)

Trang 29

Có rất nhiều điểm giống nhau cùng cấu thành nên bao thanh toán nội địa và bao

thanh toán quốc tế, chẳng hạn như là:

o Tài trợ về tài chính trên cơ sở các khoản phải thu

o Kiểm soát tín dụng và chấp nhận rủi ro tín dụng

o Theo dõi sổ cái bán hàng

o Thu nợ các hoá đơn bán hàng chưa thanh toán

Tuy nhiên ngoài một số điểm giống nhau thì giữa bao thanh toán nội địa và bao

thanh toán quốc tế cũng có những điểm khác nhau đáng chú ý Những sự khác

nhau này được nhận xét theo cách vận hành của bao thanh toán theo tập quán

quốc tế và sẽ có sự khác biệt nhất định khi áp dụng theo thị trường của mỗi nước

BAO THANH TOÁN NỘI ĐỊA BAO THANH TOÁN QUỐC TẾ

Đơn vị bao thanh toán theo dõi và quản lý

sổ cái bán hàng theo một đơn vị tiền tệ

duy nhất, cùng loại với loại tiền đã ứng

trước

Đơn vị bao thanh toán có thể phải quản lý với nhiều loại tiền khác nhau, nếu có sự khác nhau giữa các loại tiền thanh toán trong các hợp đồng mua bán hàng hoá của người bán Thông thường thì khoản ứng trước sẽ theo đơn vị tiền tệ thanh toán trong hoá đơn

Đơn vị bao thanh toán chịu trách nhiệm

đồng thời về việc kiểm soát tín dụng và

chấp nhận rủi ro tín dụng

Dưới hệ thống 02 đơn vị bao thanh toán thì trong đơn vị bao thanh toán xuất khẩu cung cấp sự bảo vệ khỏi rủi ro tín dụng cho người bán hàng theo sự đề nghị của đơn vị bao thanh toán nhập khẩu, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chịu trách nhiệm kiểm soát tín dụng của nhà nhập khẩu địa phương

Thông thường được thực hiện trên cơ sở

bao thanh toán có truy đòi, đơn vị bao

Hầu hết các giao dịch đều thực hiện trên

cơ sở không truy đòi, đơn vị bao thanh

Trang 30

thanh toán không phải chịu rủi ro tín dụng toán phải chấp nhận rủi ro tín dụng thay

cho nhà xuất khẩu Đơn vị bao thanh toán, người bán, người

mua đều bị chi phối chung bởi một hệ

thống luật pháp trong nước

Có ít nhất là 02 hệ thống luật pháp chi phối mối quan hệ của các bên

Đơn vị bao thanh toán, người mua đều

cảm thấy tiện lợi về ngôn ngữ và tập quán

kinh doanh

Tập quán kinh doanh và ngôn ngữ khác nhau ở mỗi quốc gia, hệ thống 02 đơn vị bao thanh toán cho phép nhà xuất khẩu sử dụng được kỹ năng thị trường bản xứ của đơn vị bao thanh toán nhập khẩu

Đơn vị bao thanh toán chịu trách nhiệm

thu tiền từ người mua

Trong hệ thống bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu chịu trách nhiệm này

1.3.Kinh nghiệm một số nước:(nguồn từ Hiệp hội FCI)

Sau đây là kinh nghiệm về thành công và thất bại của một số nước và vùng

lãnh thổ trong quá trình hơn một thế kỉ xây dựng và phát triển bao thanh toán

hiện đại

1.3.1 Kinh nghiệm của Pháp: Các công ty bao thanh toán là công ty con của

các Ngân hàng thì có lợi thế lớn trên thị trường Các công ty con của các tập đoàn

Ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài cũng đang dần dần chiếm lĩnh thị

phần Bao thanh toán ở Pháp chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của các tập đoàn lớn và

các công ty vừa và nhỏ trong kinh doanh với các nước châu Aâu khác Trước đây

bao thanh toán tập trung chủ yếu vào các công ty có số nhân công từ 50 đến 200

người, nhưng bây giờ đã mở rộng áp dụng cho tất cả các phân đoạn khác của thị

trường Khách hàng Pháp thích loại bao thanh toán kín hơn Các công ty vừa và

nhỏ là khách hàng mục tiêu của bao thanh toán, đặc biệt là bao thanh toán trong

nước (domestic factoring) Tuy nhiên, chiến lược của các công ty bao thanh toán

Pháp bây giờ chuyển hướng sang những công ty lớn có khối lượng xuất khẩu lớn

Hệ thống hai đại lí bị cạnh tranh bởi dịch vụ bao thanh toán xuất khẩu trực tiếp

Trang 31

Các ngành hàng ưa thích dịch vụ bao thanh toán là sản xuất (45%), thương mại

(22%) và dịch vụ (14%) Phí bao thanh toán bao gồm lãi suất tài trợ cộng với phí

tính theo phần trăm của giá trị hoá đơn (khoảng từ 0,25%-1,5% tuỳ theo loại hình

bao thanh toán áp dụng)

1.3.2 Kinh nghiệm của Nga: Vào giữa những năm 1980, Ngân hàng Trung

ương Soviet đã từng đưa bao thanh toán ra áp dụng để đẩy mạnh thanh toán,

nhưng không thành công Năm 1998, một số Ngân hàng có tiếng của Nga bước

đầu thâm nhập vào thị trường này Tuy nhiên họ đã thất bại vì hai lí do sau: một

là, các Ngân hàng này đã coi bao thanh toán như một thay thế cho phương thức

tín dụng thư hoặc một cơ chế tài trợ ngoại thương bất kì; hai là, vào thời điểm đó,

nền kinh tế Nga giữ chính sách đồng rúp giá trị cao, khiến cho dầu khí là ngành

duy nhất còn có thể chịu dựng được tỷ giá như vậy và duy trì xuất khẩu có lãi

Hiện nay, mặc dù bao thanh toán nhập khẩu có cơ hội phát triển nhưng các Ngân

hàng lại không dám chấp nhận một phương thức có vẻ kém phần bảo đảm hơn

các phương thức truyền thống

1.3.3 Kinh nghiệm của Tây Ban Nha: Luật pháp nước này hỗ trợ các đơn vị

bao thanh toán bằng cách quy định khi người chuyển nhượng khoản phải thu hoặc

con nợ phá sản, người được chuyển nhượng được đưa vào danh sách các chủ nợ

để phân chia tài sản phát mãi

1.3.4 Kinh nghiệm của Mỹ: Để tồn tại và phát triển, phải đáp ứng các yêu

cầu của thị trường, do đó nhiều công ty bao thanh toán của Mĩ cung cấp tất cả các

dịch vụ, truyền thống cũng như không truyền thống Các dịch vụ truyền thống

gồm: bao thanh toán, bảo đảm tín dụng, kế toán các khoản phải thu, dịch vụ nhờ

thu, tài trợ trên cơ sở các khoản phải thu và kho thành phẩm Các dịch vụ không

truyền thống bao gồm: bảo đảm tín dụng khách hàng chọn lọc (select customer),

quản lí các khoản phải thu (bulk sale), bao thanh toán xuất/nhập khẩu, bảo đảm

vốn lưu động xuất khẩu (đối với hàng sẽ được xuất khẩu), tài trợ các đơn vị mua

hàng (purchase order financing), L/C

Trang 32

1.3.5.Kinh nghiệm của Trung Quốc: Bao thanh toán quốc tế được thực hiện

trên cơ sở miễn truy đòi, trong khi bao thanh toán nội địa chủ yếu có truy đòi

Các ngành thép, xe đạp, dệt may hiện đang là những khách hàng lớn nhất của

bao thanh toán Trung Quốc Các Ngân hàng đang trăn trở để tìm ra một cách thức

tốt nhất để phát triển bao thanh toán trong mô hình tổ chức của mình Theo ông

Jiang Xu, Tổng giảm đốc Bank of China, cách thức tốt nhất có lẽ là một phòng

bao thanh toán độc lập (semi-independent) trong Ngân hàng hoặc một công ty

con trực thuộc Ngân hàng với điều kiện tiên quyết là có quyền độc lập tiến hành

các hoạt động marketing và công tác đánh giá tín dụng khách hàng

1.3.6.Kinh nghiệm của Hongkong: Bao thanh toán thường được coi là

phương thức tài trợ cuối cùng (last resort) Tuy nhiên, bao thanh toán đang dần

được coi là một dịch vụ Ngân hàng bình thường vì có nhiều Ngân hàng cung cấp

dịch vụ này Khách hàng của bao thanh toán Hongkong là các ngành điện tử, đồ

chơi, sản phẩm viễn thông liên lạc, máy tính, thực phẩm, in và giấy, điện lực,

giao thông vận tải và tư vấn Các loại bao thanh toán được cung cấp là: bao thanh

toán trong nước miễn hoặc có truy đòi, chiết khấu hoá đơn, bao thanh toán kín,

bao thanh toán xuất/nhập khẩu và bao thanh toán giáp lưng

1.3.7 Kinh nghiệm của Aán Độ: Đạo luật về bao thanh toán các khoản nợ

theo hoá đơn thương mại và công nghiệp của Aán Độ được ban hành, quy định

quyền của đơn vị bao thanh toán là người được chuyển nhượng khoản nợ và được

pháp luật bảo vệ Các ngành phụ tùng ô tô, hoá chất, giấy và bao bì, dệt may,

thương mại, phần cứng máy tính, điện/ điện tử … là khách hàng sử dụng bao thanh

toán Những lý do khiến bao thanh toán Aán Độ chưa phát triển mạnh là: Đơn vị

bao thanh toán chưa tiếp cận được với bảo hiểm tín dụng để dựa vào đó cung cấp

bao thanh toán miễn truy đòi cho khách hàng; khuôn khổ luật Aán Độ chưa buộc

được người mua phải thanh toán tiền hàng cho công ty bao thanh toán (chứ không

phải cho người bán); các Ngân hàng có thái độ coi các đơn vị bao thanh toán là

Trang 33

đối thủ cạnh tranh của họ; các đơn vị bao thanh toán phải vay vốn của Ngân hàng

để tài trợ nên chi phí bao thanh toán cao hơn phí các dịch vụ Ngân hàng khác

1.3.8 Kinh nghiệm Nhật Bản: Nhiều năm nay, bao thanh toán ở Nhật Bản

được coi là một sản phẩm được cung cấp bởi các công ty con của các Ngân hàng,

hoạt động theo các quy định của luật pháp về Ngân hàng Qua những cuộc sáp

nhập mới đây của các Ngân hàng lơn ở Nhật Bản, các công ty bao thanh toán

cũng được tái cơ cấu lại và sẽ trở nên tập trung hơn Mỹ là thị trường bao thanh

toán xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản (31%) Thị trường lơn nhất của các công ty

bao thanh toán Nhật Bản ở Châu Á là Hàn Quốc (8%) và Đài Loan (4%) Tuy

nhiên, tỷ trọng trong bao thanh toán nhập khẩu lại ngược lại: Đài Loan chiếm tới

62% trong khi Mỹ chỉ có 14% Sự chuyển đổi từ các điều kiện thanh toán thương

mại trên cơ sở chứng từ truyền thống như L/C, D/A, D/P sang ghi sổ là một dấu

hiệu đáng mừng Hiệp hội bao thanh toán Nhật Bản mới chỉ giới hạn ở chỗ trao

đổi kinh nghiệm chuyên môn chứ chưa thực sự phát huy vai trò của nó

1.3.9.Kinh nghiệm của Malaysia: khách hàng mục tiêu của công ty bao

thanh toán Malaysia là các SMEs Dịch vụ bao thanh toán miễn truy đòi không

được áp dụng Các khách hàng thuộc khu vực sản xuất được quan tâm nhiều hơn

Các đơn vị bao thanh toán chủ yếu là các công ty con của các Ngân hàng Ở

Malaysia, vẫn tồn tại sự cạnh tranh của bao thanh toán với các phương thức tài

trợ truyền thống của Ngân hàng

1.3.10.Kinh nghiệm của Hàn Quốc: sau một vài năm sử dụng bao thanh toán

xuất khẩu, nhận thấy người nhập khẩu thanh toán tốt, các nhà xuất khẩu Hàn

Quốc đã từ bỏ dịch vụ bao thanh toán để giảm bớt chi phí hoa hồng Vì thế tình

hình bao thanh toán quốc tế của Hàn Quốc giảm sút một cách trầm trọng

1.3.11.Kinh nghiệm của Đài Loan: Ở Đài Loan, phương thức thanh toán ghi

sổ trở nên phổ biến Đây là tiền đề tốt để phát triển bao thanh toán Đặc biệt với

Trang 34

một vùng lãnh thổ chuyên xuất ở Đài Loan, bao thanh toán quốc tế có điều kiện

phát triển rất vững chắc

1.3.12.Kinh nghiệm của Thái Lan: Bao thanh toán của Thái Lan được hỗ trợ

bởi luật pháp sở tại Bao thanh toán ở đây được điều chỉnh bởi Đạo luật Bao

thanh toán (Factoring Bill), trong đó quy định cho phép thông báo về việc chuyển

nhượng dưới bất kì hình thức nào thay cho quy định phải bằng văn bản như trước

đây Các đơn vị bao thanh toán cũng được tính phí như các tổ chức tài chính khác

Vốn tối thiểu của đơn vị bao thanh toán của Thái Lan là 30 triệu baht Bao thanh

toán Thái Lan phát triển một phần nhờ thái độ cẩn trọng của các Ngân hàng trong

nghiệp vụ cho vay Doanh nghiệp quy mô vừa đã nhìn nhận bao thanh toán như

một nguồn tài trợ linh hoạt Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu Thái Lan vẫn quen với

các phương thức tín dụng chứng từ truyền thống hơn

Từ những kinh nghiệm trên, chúng ta có thể tóm tắt thành những bài học

kinh nghiệm sau:

Bài học 1: Phải Marketing để tất cả các thành phần trong nền kinh tế nhận

thức được lợi ích của bao thanh toán Phương thức thanh toán ghi sổ càng trở nên

phổ biến thì bao thanh toán sẽ càng phát triển

Bài học 2: Luật pháp cho phép chuyển nhượng nợ và người được chuyển

nhượng nợ có quyền đối với tài sản phát mãi khi người chuyển nhượng nợ và con

nợ bị phá sản Ngoài ra, luật cần buộc người mua phải thanh toán tiền hàng cho

công ty bao thanh toán, chứ không phải trực tiếp cho người bán

Bài học 3: Khi các Ngân hàng quá cẩn trọng trong xét duyệt cấp tín dụng

hoặc thậm chí không cấp tín dụng cho một bộ phận nào đó của nền kinh tế thì

đây là cơ hội tốt cho phát triển bao thanh toán

Bài học 4: Các đơn vị bao thanh toán không nên chỉ chú trọng lợi nhuận cá

nhân mà phải luôn chú ý mở rộng kinh doanh

Trang 35

Bài học 5: Các đơn vị bao thanh toán phải cung cấp loại hình bao thanh toán

đầy đủ (full factoring) để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng

Bài học 6: Tư nhân có thể mở công ty bao thanh toán Bao thanh toán

không nhất thiết phải gắn với Ngân hàng Nếu Ngân hàng mở một phòng bao

thanh toán trong khuôn khổ của tổ chức mình thì phải tạo điều kiện cho phòng

đó được độc lập về hoạt động marketing và công tác đánh giá tín dụng khách

hàng

Bài học 7: Các đơn vị bao thanh toán phải thường xuyên nâng cao nghiệp

vụ để tránh bị lừa Không nên tách rời chức năng bảo hiểm hoặc tài trợ với

chức năng theo dõi và thu nợ Không nên sử dụng loại hình bao thanh toán

kín

Bài học 8: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những khách hàng trọng tâm

của bao thanh toán, trong khi vẫn quan tâm đến những doanh nghiệp có khối

lượng hàng bán/xuất khẩu lớn

Bài học 9: Các đơn vị bao thanh toán cần áp dụng triệt để công nghệ hiện

đại để tăng khả năng cạnh trạnh E-invoice sẽ là tương lai của bao thanh toán

Bài học 10: Cần có nguồn vốn hỗ trợ đơn vị bao thanh toán Ví dụ: quỹ

bảo hiểm tín dụng

Bài học 11: Cần tìm giải pháp để tránh bài học của Hàn Quốc

Bài học 12: Cần xây dựng Hiệp hội bao thanh toán quốc gia.

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này tác giả đã hệ thống hóa về mặt lý luận trên cơ sở tiếp

thu các sách báo và công trình khoa học về đề tài này trên thế giới và ở Việt

Nam Trong chương này tác giả đã lần lượt đề cập đến:

- Bản chất bao thanh toán và chức năng bao thanh toán

- Quy định về nghiệp vụ bao thanh toán trong luật quốc tế và của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG BAO THANH TOÁN Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Việc thực hiện bao thanh toán ở một số nước trên thế giới và

những lợi ích, hạn chế va rủi ro trong hoạt động bao thanh toán:

2.1.1 Việc thực hiện bao thanh toán ở một số nước trên thế giới

Hiện nay, việc thanh toán xuất nhập khẩu vẫn được thực hiện dưới nhiều

hình thức truyền thống khác nhau: thư tín dụng (L/C), nhờ thu (collection), ghi sổ

(open account)….Song qua thực tiễn hàng chục năm áp dụng, đến giữa những năm

90 của thập niên trước, các phương thức thanh toán trên đã bộc lộ những hạn chế,

những nhược điểm, phát sinh những bất hợp lý trong trình tự thực hiện , từ đó dẫn

đến một xu thế thanh toán theo một hình thức mới đang phát triển với tốc độ

nhanh trên toàn thế giới, đó là Factoring Ngày nay, dịch vụ bao thanh toán đã

được áp dụng rộng rãi tại1 60 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, cụ thể là ở 29

quốc gia Châu Âu, 10 quốc gia Châu Mỹ, 3 quốc gia Châu Phi, 2 quốc gia Châu

Đại Dương và 16 quốc gia, vùng lãnh thổ Châu Á Riêng khối ASEAN đã có 4

nước tham gia cung ứng dịch vụ này là Malaysia, Indonesia, Singapore và Thái

Lan

Nguyên nhân chính cho sự phát triển của dịch vụ bao thanh toán tại các

nước Châu Á là nhu cầu đẩy mạnh xuất khẩu của các nước trong khu vực và sức

ép từ các đối tác nhập khẩu quốc tế mong muốn có một phương thức thanh toán

cởi mở hơn, ví dụ như phương thức thanh toán ghi sổ Do đó, theo dự đoán của

nhiều chuyên gia, bao thanh toán-một phương thức hỗn hợp của thanh toán, tín

dụng và bảo hiểm – sẽ trở thành một xu thế tất yếu trong thương mại quốc tế bởi

vì dịch vụ này cho phép người bán tuy chấp nhận để người mua trả chậm (tương

tự ghi sổ – open account hay còn gọi là thanh toán trả sau) nhưng vẫn được nhận

Trang 38

tiền thanh toán ngay sau khi giao hàng (tương tự thanh toán tiền mặt ngay khi

giao hàng – cash on delivery) Ngoài ra người bán còn được đảm bảo rủi ro tín

dụng khi người mua không thanh toán (với điều kiện không có tranh chấp giữa

người mua và người bán) và được giảm bớt gánh nặng khi không phải theo dõi và

đòi tiền các khoản phải thu Người mua thì được lợi vì không phải thanh toán tiền

hàng ngay và chỉ thanh toán khi hàng hóa/dịch vụ thực sự đáp ứng các yêu cầu

của hợp đồng mua bán đã ký kết giữa hai bên mua và bán

Trên thế giới đến tháng 5.2005 đã có hơn 1.003 đơn vị bao thanh toán và

hoạt động đạt doanh số hơn 800 tỷ EUR bao thanh toán trong nước, 80 tỷ EUR

bao thanh toán xuất – nhập khẩu, và đã có khoảng 60 quốc gia tham gia vào hiệp

hội bao thanh toán thế giới với tổng số thành viên là 196 thành viên Theo số liệu

vừa được cập nhật của FCI (Factors Chain International), năm 2005 doanh số bao

thanh toán trên thế giới đạt 1.016.547 triệu Euro, tăng 18% so năm 2004

Bảng 2.1: Doanh số bao thanh toán trên thế giới

Đơn vị tính: Triệu Euro

429.834 523.485 578.997 644.659 681.281 712.657 791.950 857.098

456.506 556.877 623.840 685.682 724.197 760.392 860.215 936.938

Trang 39

Các thị trường bao thanh toán lớn nhất gồm có thị trường Anh (doanh số 184 tỷ

EUR), thứ hai là thị trường Ý (121 tỷ EUR), thị trường Mỹ xếp thứ 3 (81.8 tỷ

EUR), tiếp theo là Pháp (81.6 tỷ EUR) và Nhật (72 tỷ EUR)

Bảng 2.2: 5 thị trường đứng đầu trong lĩnh vực bao thanh toán

Đơn vị tính: Triệu Euro

Bảng 2.3: Doanh thu về bao thanh toán của các châu lục trên thế giới

Đơn vị tính: Triệu Euro

Trang 40

Từ những số liệu trên có thể thấy khu vực châu Âu là thị trường hoạt động

mạnh nhất về lĩnh vực này với doanh số gấp 6 lần khu vực đứng thứ 2 (châu Á)

và có 3 đại diện là Anh, Ý, Pháp trong số 5 thị trường có doanh số cao nhất thế

giới, 2 vị trí còn lại giành cho châu Á và châu Mỹ Điều này thực ra cũng dễ hiểu

bởi vì mặc dù nguồn gốc sử dụng nghiệp vụ bao thanh toán theo một số tài liệu là

bắt đầu từ châu Mỹ, cụ thể là ở Mỹ, nhưng những thương nhân đầu tiên nghĩ ra

và sử dụng nghiệp vụ này chính là các thương nhân châu Âu trong quá trình họ

thực hiện các giao dịch buôn bán từ châu Âu sang Mỹ sau khi C Columbus tìm ra

vùng lục địa mới này Vì một số khó khăn nhất định khi buôn bán như khoảng

cách địa lý quá xa, phương tiện di chuyển bằng đường biển lại mất nhiều thời

gian nên một số thương nhân châu Âu đã đứng ra nhận nhiệm vụ của một người

môi giới (mà sau này được gọi là Factors) để đi thu giúp các khoản nợ cho các

thương nhân khác và được hưởng hoa hồng Khi những khó khăn nhất định trong

việc giao thương được giải quyết thì họ phát triển nghiệp vụ này theo một hướng

mới và gần với hình thức hiện đại của nghiệp vụ bao thanh toán ngày nay hơn

5 thị trường đứng đầu trong lĩnh vực bao thanh toán

Ý Anh

Nhat

My

Pháp

0 50 100 150 200

N m

Anh  Ý  Mỹ  Pháp  Nhật 

Ngày đăng: 24/11/2014, 02:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Doanh số bao thanh toán trên thế giới - Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán Giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Bảng 2.1 Doanh số bao thanh toán trên thế giới (Trang 38)
Bảng 2.3: Doanh thu về bao thanh toán của các châu lục trên thế giới - Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán Giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Bảng 2.3 Doanh thu về bao thanh toán của các châu lục trên thế giới (Trang 39)
Bảng 2.2: 5 thị trường đứng đầu trong lĩnh vực bao thanh toán - Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán Giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Bảng 2.2 5 thị trường đứng đầu trong lĩnh vực bao thanh toán (Trang 39)
Bảng 2.4: Doanh số bao thanh toán ở một số nước đang phát triển - Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán Giải pháp hữu hiệu mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Bảng 2.4 Doanh số bao thanh toán ở một số nước đang phát triển (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w