1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG

35 2,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG Tùy vào quy định của mỗi nước, thành phần dân cư cụ thể được tính vào lực lượng lao động có khác nhau. Ví dụ như ở Mỹ, theo định nghĩa của CPS (Current Population Survey), người lao động được định nghĩa là tất cả mọi người trên 16 tuổi, tham gia ít nhất 1 giờ lao động đối với các công việc được trả lương và 15 giờ đối với các công việc không được trả lương (ví dụ như làm trong nông trại của gia đình).

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

TP.HCM, T10/2013 MỤC LỤC

I LÝ THUYẾT CƠ BẢN 3

1 Lực lượng lao động và cung lao động 3

2 Sở thích của người lao động 4

2.1 Mức thỏa dụng và đường bàng quan 4

2.2 Độ dốc đường bàng quan 6

2.3 Sở thích khác nhau của người lao động 6

3 Đường giới hạn ngân sách 7

4 Quyết định số giờ lao động 9

4.1 Xác định số giờ làm việc khi không có thuế thu nhập cá nhân 9

4.2 Xác định số giờ làm việc khi có thuế thu nhập cá nhân 11

4.3 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế 12

4.4 Thuế lũy tiến và phản ứng của cung lao động 14

5 Giới hạn làm việc và nguyên tắc trả thêm giờ 15

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 16

1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 16

1.1 Kết luận từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm về độ co giãn của cung lao động 16

1.2 Kết luận từ ước lượng phương trình hồi quy 17

2 Một số vấn đề cần cân nhắc 18

III MỨC CUNG LAO ĐỘNG VÀ THU THUẾ 21

1 Sự thay đổi số thuế thu được và cung lao động 21

2 Chính sách thuế thu nhập hỗ trợ tiền lương cho người có thu nhập thấp và cung lao động 25

Trang 3

2.1 Giới thiệu về chương trình EITC 25

2.2 Nền tảng EITC của Mỹ 25

2.3 Tác động của EITC đến cung lao động 27

3 Chính sách thuế đối với chăm sóc trẻ em và cung lao động 29

3.1 Xử lý thuế về chi phí chăm sóc trẻ em 30

3.2 Lựa chọn giảm quyết chênh lệch thuế 31

3.3 So sánh các lựa chọn 33

Trang 4

I LÝ THUYẾT CƠ BẢN

1. Lực lượng lao động và cung lao động

Lực lượng lao động được định nghĩa là tổng số người lao động trong một

nền kinh tế

Tùy vào quy định của mỗi nước, thành phần dân cư cụ thể được tính vàolực lượng lao động có khác nhau Ví dụ như ở Mỹ, theo định nghĩa của CPS(Current Population Survey), người lao động được định nghĩa là tất cả mọi ngườitrên 16 tuổi, tham gia ít nhất 1 giờ lao động đối với các công việc được trả lương

và 15 giờ đối với các công việc không được trả lương (ví dụ như làm trong nôngtrại của gia đình) Tại Việt Nam, theo định nghĩa của Bộ luật lao động năm 2012:

“Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc

theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người

sử dụng lao động.” (Khoản 1, Điều 3, Bộ luật lao động số 10/2012/QH13)

Có một số định nghĩa khác nhau đánh đồng cung lao động và số lượng lao

động và người lao động Trong phạm vi kinh tế học, cung lao động được định

Hình 1.1 Lực lượng lao động

LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG

Trang 5

nghĩa là tổng số giờ người lao động sẵn lòng làm việc với một mức lương thựcnhận cụ thể.

Như vậy, đơn vị tính của cung lao động là giờ, bằng tổng số giờ tất cả nhữngngười lao động (theo thực tế và tiềm năng) sẵn lòng làm việc

2. Sở thích của người lao động:

Để xác định tác động của thuế đối với lao động về mặt lý thuyết, ta tiếnhành nghiên cứu một người lao động giả định A với mô hình Lựa chọn giữa laođộng và thời gian nhàn rỗi của trường phái kinh tế học Tân Cổ điển Mô hình nàytách rời tác động của các biến số kinh tế - mức lương theo giờ và thu nhập của mộtngười lao động, và nghiên cứu tác động của chúng đến việc lựa chọn số giờ laođộng và số giờ nhàn rỗi của người lao động được nghiên cứu

Trong mô hình phân tích, ta mô tả một người nhận được độ thỏa dụng từ

việc tiêu thụ hàng hóa (C) và hưởng thụ thời gian nhàn rỗi (L) Tất nhiên, người

lao động tiêu thị nhiều hàng hóa khác nhau trong một giai đoạn cụ thể Để đơngiản hóa, ta tổng hợp nhiều loại hàng hóa khác nhau mà người lao động tiêu thị và

định nghĩa C là tổng giá trị quy tiền của tất cả hàng hóa một người mua trong một

giai đoạn Ví dụ, nếu một người dành $1.000 một tuần cho thực phẩm, tiền thuê

nhà, tiền xăng, tiền vé xem phim và các hàng hóa khác thì biến số C có giá trị là

$1.000 Biến số L thể hiện số giờ nhàn rỗi mà người lao động “tiêu thụ” trong suốt

thời gian đó

Khái niệm mức thỏa dụng mà một cá nhân hưởng thụ được từ việc tiêu thụhàng hóa và thời gian nhàn rỗi được tóm tắt trong công thức thỏa dụng sau:

Theo công thức (1), nếu giá trị U càng lớn thì mức thỏa dụng của người lao

động càng cao Trong đó, nếu tiêu thụ thêm hàng hóa hoặc tăng thêm giờ nhàn rỗithì mức thỏa dụng của một người càng lớn Trong kinh tế học, tiêu thụ hàng hóa

Trang 6

được cho là luôn luôn tốt và người tiêu dùng ưu chuộng tiêu thụ hàng hóa và thờigian nhàn rỗi càng nhiều càng tốt.

Hình 1.1 mô tả hai đường bàng quan có mức hữu dụng khác nhau, lần lượt

là 50.000 util và 67.500 util, và các lựa chọn giữa thời gian nhàn rỗi và mức tiêudùng tương ứng X, Y và Z

Đường bàng quan có những đặc điểm sau:

 Là đường cong dốc xuống thể hiện mức thỏa dụng không đổi khităng sử dụng một loại hàng hóa và giảm sử dụng thời gian nhàn rỗi,

 Đường bàng quan càng cao thì mức thỏa dụng càng lớn,

 Các đường bàng quan song song, không cắt nhau nếu không sẽ mâuthuẫn với giả định người tiêu dùng ưu chuộng tiêu thụ hàng hóa vàthời gian nhàn rỗi,

 Các đường bàng quan hướng về gốc tọa độ thể hiện thỏa dụng biêngiảm dần do tiêu thụ thêm 1 đơn vị hàng hóa mang lại

Hình 1.2 Đường bàng quan

Trang 7

Thỏa dụng biên của thời gian nhàn rỗi được định nghĩa là sự thay đổi trong

mức thỏa dụng do sử dụng thêm một giờ nhàn rỗi trong khi giữ nguyên mức tiêu

thụ hàng hóa Ta ký hiệu thỏa dụng biên của thời gian nhàn rỗi là MU L Tương tự,

thỏa dụng biên MU C là mức tăng lên của tổng thỏa dụng khi sử dụng thêm một

đơn vị giá trị hàng hóa mà vẫn giữ nguyên số giờ nhàn rỗi Cả MU L và MU C đều

có giá trị dương

Độ dốc đường bàng quan đo lường tỷ số giữa từ bỏ thời gian nhàn rỗi đểtăng thêm một giá trị thu nhập tương ứng sao cho tổng thỏa dụng không đổi, đolường bởi công thức:

(2)

Trong đó, MRS là tỷ lệ thay thế biên của tiêu dùng hàng hóa và là độ dốccủa đường bàng quan tại một điểm cụ thể Tỷ lệ này không cố định và giá trị tuyệtđối tăng dần khi người lao động này tiêu thụ đang tiêu thụ nhiều hàng hóa và ítthời gian nhàn rỗi Lúc này, thỏa dụng mất đi do giảm thời gian nhàn rỗi phải được

bù đắp bằng một lượng hàng hóa tiêu thụ thêm lớn hơn nhiều theo quy luật hữudụng biên giảm dần

Hình 1.2 biểu diễn cách một người lao động cụ thể lựa chọn trong việcđánh đổi giữa tiêu dùng và thời giờ nhàn rỗi Những người lao động khác nhau cóthể có cách nhìn nhận việc đánh đổi khác nhau Nói cách khác, một số người yêulựa chọn dành phần lớn thời gian cho công việc, một số người khác lại chọn giờnhàn rỗi Điều này hàm ý rằng, đường bàng quan của những người lao động khácnhau sẽ khác nhau

Trang 8

Hình 1.3 mô tả hai đường bàng quan của hai người lao động A và B.Đường bàng quan của người A rất dốc, thể hiện tỷ lệ thay thế biên cao Nói mộtcách khác, người A đòi hỏi giá trị tiêu thụ hàng hóa tăng thêm lớn để từ bỏ mộtgiờ nhàn rỗi Ngược lại, người B ưa chuộng thời giờ nhàn rỗi và có đường bàngquan phẳng hơn, với tỷ lệ thay thế biên thấp Vì thế, người B chỉ yêu cầu một giátrị hàng hóa tiêu dùng tăng thêm nhỏ để từ bỏ một giờ nhàn rỗi

Do vậy, “khẩu vị công việc” là một yếu tố quan để xác định cung lao độngtrong dân số Những người thích nhàn rỗi như người B có xu hướng làm ít giờ,trong khi người A đánh giá cao chi phí cho nhàn rỗi có xu hướng trở thành nhữngngười nghiện công việc Tuy nhiên, đây là một yếu tố khó xác định nên kinh tếhọc thường sử dụng các yếu tố dễ phân tích như lương và thu nhập để giải thíchcác quyết định về cung lao động

3 Đường giới hạn ngân sách:

Việc tiêu dùng hàng hóa và thời giờ nhàn rỗi của một người bị giới hạn bởithời gian và thu nhập họ có được Một phần thu nhập của một người (như thu nhậpcho thuê tài sản, cổ tức, trúng xổ số) độc lập với số giờ người ấy làm việc Ta quy

định phần thu nhập không từ lao động này là V Đặt h là số giờ một người sẵn lòng

cung cấp cho thị trường lao động trong một giai đoạn và w là mức lương được trảtheo giờ Đường giới hạn ngân sách được viết như sau:

Trang 9

ta bỏ qua yếu tố trên.

Theo giả thiết về mức thu nhập không đổi, ta dễ dàng vẽ được đường giớihạn ngân sách Một người có hai cách sử dụng quỹ thời gian của mình trong mộtgiai đoạn là làm việc hoặc thời gian nhàn rỗi Đặt tổng quỹ thời gian của một

người trong một tuần là T giờ trong một tuần, và T = h + L Ta có thể viết lại công

thức (3) như sau:

hay

Công thức cuối cùng thể hiện đường giới hạn ngân sách có dạng đường

thẳng với độ dốc là –w Tại đường ngân sách thể hiện trong hình 1.4 (a), điểm E

thể hiện rằng nếu một người quyết định không làm việc bất cứ giờ nào và dành tất

cả T giờ của quỹ thời gian cho nhàn rỗi thì người đó vẫn có thể mua được V đồng giá trị hàng hóa để tiêu dùng Điểm E được gọi là “điểm có sẵn” Nếu một người

sẵn lòng bỏ bớt một giờ nhàn rỗi để lao động thì người đó có thể di chuyển dọc lên

theo đường giới hạn ngân sách và mua được w đồng giá trị hàng hóa Thật ra, mỗi giờ nhàn rỗi được sẵn lòng từ bỏ cho phép người đó mua được thêm w đồng giá trị

Trang 10

hàng hóa Nói một cách khác, mỗi giờ nhàn rỗi được tiêu thụ đều có giá, và giá đóchính là lương một giờ lao động Nếu người lao động từ bỏ tất cả giờ nhàn rỗi thìđiểm lựa chọn là giao điểm giữa đường giới hạn ngân sách là trục tung, và người

đó có thể mua được (wT + V) đồng giá trị hàng hóa

Phần diện tích ở dưới, được giới hạn bởi đường giới hạn ngân sách là phần

mà người lao động có thể lựa chọn được Vì thế, đường giới hạn ngân sách vạch rađường giới hạn cho tập hợp các cơ hội cho một người lao động – là tập hợp tất cảcác kết hợp tiêu dùng mà một người lao động cụ thể có thể mua được

Trường hợp tại hình 1.4(b) là trường hợp đặc biệt của 1.4(a) khi người lao

động không có thu nhập nào khác ngoài lương, lúc đó V = 0 và điểm có sẵn E nằm

trên trục hoành

4 Quyết định số giờ lao động:

4.1 Xác định số giờ làm việc khi không có thuế thu nhập cá nhân:

Ta giả định rằng, khi phải đưa ra quyết định, một người luôn chọn phương

án tối đa hóa mức thỏa dụng của mình Điều này có nghĩa là một người sẽ chọn

Hình 1.4 Đường giới hạn ngân sách

(a) Có thu nhập ngoài lao động (b) Không có thu nhập ngoài lao động

Trang 11

mức giá trị hàng hóa tiêu dùng và thời giờ nhàn rỗi sao cho có thể đạt được mức

thỏa dụng U cao nhất với giới hạn ngân sách cho sẵn

Hình 1.5 mô tả giải pháp cho vấn đề này Như hình vẽ, đường giới hạn ngân

sách BC 1 mô tả các cơ hội cho người lao động Ava có tổng quỹ thời gian T trong một tuần và mức lương không đổi cho mỗi giờ lao động là w

Để lựa tối đa hóa thỏa dụng, người lao động Ava phải chọn điểm kết hợpnằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độ O nhất – trong trường hợp này là đường

(iii) Tuy nhiên, điều này vượt quá giới hạn ngân sách của Ava nên để đảm bảo

giới hạn ngân sách thì điểm được chọn chỉ có thể nằm trên hai đường bàng quan

(i) và (ii) Mặt khác, nếu chọn trên đường bàng quan (i) thì sự lựa chọn không

mang lại thỏa dụng tối đa Do vậy, điểm A là lựa chọn tối ưu giữa giá trị hàng hóa

tiêu dùng và số giờ lao động được lựa chọn để đạt đồng thời thỏa mãn hai điều

kiện tối đa hóa thỏa dụng và trong giới hạn của đường ngân sách Tại A, đường (ii) tiếp xúc với BC và độ dốc của đường bàng quan (ii) bằng tỷ lệ thay thế biên của đường ngân sách – tức là w.

Trang 12

4.2 Xác định số giờ làm việc khi có thuế thu nhập cá nhân:

Giả sử chính phủ quyết định thay đổi chính sách thuế và đánh thuế thu nhập

cá nhân (thuế trực thu) lên người lao động với thuế suất tỷ lệ t cho mỗi giờ lao

động Lúc này, thu nhập thực nhận của Ava là (1-t)w /giờ Chi phí cơ hội cho Ava khi không lao động một giờ giảm còn (1-t)w đồng Chi phí cơ hội thay đổi làm độ

dốc của đường ngân sách thay đổi Tại hình 1.6, đường ngân sách di chuyển từ

BC1 sang BC 2 với độ dốc đường ngân sách mới là -w(1-t).

Với sự thay đổi của đường giới hạn ngân sách, điểm tối ưu xác định lựa

chọn số giờ làm việc cũng thay đổi và chạy dọc theo đường BC 2 Điểm tối ưu mới

B (C 2 ;L 2 ) được xác định bằng điểm tiếp xúc của BC 2 và đường bàng quan của

người lao động A Như minh họa tại hình 1.6, dưới tác động của thuế thu nhập cá nhân, số giờ A sẵn lòng làm việc trong một tuần giảm đi một lượng (L 1 – L 2 )

BC 2

L 2

L 1

Trang 13

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra, có phải đánh thuế luôn làm giảm mức cung lao

động như trong ví dụ về người lao động Ava ở trên không? Hình 1.7(b) lại cho

thấy, khi bị đánh thuế thì người lao động lại gia tăng số giờ làm việc, nghĩa là

giảm giờ nhàn rỗi từ L 1 L 2 Vấn đề ở đây là phụ thuộc vào sở thích khác nhau

của những người lao động khác nhau, dẫn đến hình dạng khác nhau của đường

bàng quan và tác động đến số giờ làm việc sau khi bị đánh thuế

4.3 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế

Dưới tác động của thuế, tập hợp các điểm có khả năng chọn lựa của người

lao động được mở rộng Tuy nhiên, việc thu nhập giảm cũng đồng thời làm giảm

chi phí của một giờ nhàn rỗi và tác động

(b) Hiệu ứng thu nhập lớn

Hình 1.7 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế

P Q R

P

R Q

Trang 14

Đánh thuế vào cung lao động có thể gây ra hai hiệu ứng: hiệu ứng thay thế

và hiệu ứng thu nhập

Khi thuế làm giảm số tiền lương khả dụng thì chi phí cơ hội của nhàn rỗicũng giảm, khi đó người ta có khuynh hướng thay thế làm việc bằng nhàn rỗi Đây

là hiệu ứng thay thế với khuynh hướng làm giảm mức cung lao động Như vậy, dù

có làm việc bao nhiêu giờ thì thuế vẫn làm giảm thu nhập cá nhân

Thế nhưng, nhàn rỗi cũng là một loại hàng hóa giống như các hàng hóakhác, có sự lựa chọn trong tiêu dùng Nếu như các yếu tố khác không đổi, một khithu nhập giảm sút, thì người lao động Ava phải cắt giảm số giờ nhàn rỗi Số giờ

nhàn rỗi giảm đi thì giờ lao động tăng lên Hiệu ứng thu nhập có khuynh hướng

làm cho Ava làm việc nhiều hơn

Như vậy, hai hiệu ứng này có tác động theo hai chiều ngược nhau Đơngiản là không thể biết được (nếu chỉ trên cơ sở lý thuyết) hiệu ứng thu nhập hayhiệu ứng thay thế nổi trội hơn Đối với Ava thể hiện trên hình 1.7 (a), hiệu ứngthay thế lớn hơn; còn trên hình 1.7 (b), hiệu ứng thu nhập lớn hơn

Để minh họa tác động của hai hiệu ứng trên, theo như hình 1.7, ta có phântích qua một điểm trung gian Q nhằm tách rời hai hiệu ứng thu nhập và thay thế,

từ đó giải thích sự chuyển dịch từ điểm P sang điểm R Trên hình vẽ, ta vẽ thêmmột đường giới hạn ngân sách song song với đường BC1 và tiếp xúc với đườngbàng quan mới tại điểm Q Lúc này, ta có thể thấy tác động của từng hiệu ứngthông qua hai bước di chuyển của điểm lựa chọn tối ưu

 Bước 1 - từ P đến Q – tăng giờ làm việc: đây là tác động của hiệu ứng thu nhập

do khi di chuyển từ P đến Q, độ dốc của đường giới hạn ngân sách không đổi,tức là chi phí cơ hội của một giờ nhàn rỗi vẫn giữ nguyên nên không có tácđộng của hiệu ứng thay thế Trong khi đó, mức thỏa dụng của người lao động

Trang 15

hay thu nhập thực giảm khiến cầu thời gian nhàn rỗi cũng giảm và tăng thờigian lao động.

 Bước 2 – từ Q đến R – giảm giờ làm việc: đây là tác động của hiệu ứng thaythế do tổng thỏa dụng hay thu nhập thực của người lao động không đổi; sự dichuyển bị hạn chế dọc theo đường bàng quan mới Do chi phí cơ hội của nhànrỗi giảm khi thu nhập theo giờ giảm, lượng cầu hàng hóa “nhàn rỗi” tăng; từ đólàm giảm giờ lao động

4.4 Thuế lũy tiến và phản ứng của cung lao động:

Việc phân tích thuế lũy tiến cũng tương tự như thuế tỷ lệ nhưng chia ratừng mức thu nhập khác nhau

Giả sử, biểu thuế lũy tiến của thuế thu nhập có thuế suất biên: ta cho X đồngthu nhập đầu tiên, t2 đối với X đồng thu nhập thứ hai, t3 đối với phần thu nhập trên

2X đồng Đường ngân sách trước thuế là BC 1 như hình 1.8 Sau thuế, đường ngân

sách là đường gấp khúc BKHC 2

Hình 1.8 Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động

Trang 16

Cho tới mức thu nhập X đồng trước thuế, chi phí cơ hội cho một giờ nghỉ

ngơi là (1 – t 1 )w, cũng là độ dốc (giá trị tuyệt đối) của đoạn C 2 H

Tại điểm H, thu nhập của Ava là (1 – t 1 ).X Trên đoạn HK có giá trị tuyệt

đối của độ dốc là (1 – t2)w HK ít dốc hơn đoạn C 2 H vì t 2 > t 1 Tại điểm K, thu nhập sau thuế là [(1 - t 1 ).X + (1-t 2).X] Đây chính là phần thu nhập tại điểm H cộng

với phần thu nhập tăng thêm X đồng với mức thuế t 2 Cuối cùng, trên đoạn KB, độ dốc bằng (1 – t 2)w, khá phẳng Tùy thuộc vào sự chọn của người lao động, Ava có

thể chọn bất kỳ điểm nào trên đoạn BKHC 2

5 Giới hạn làm việc và nguyên tắc trả thêm giờ:

Lý thuyết cơ bản nghiên cứu hiệu ứng của thuế đến cung lao động gắn vớigiả thiết thị trường lao động lý tưởng Các cá nhân có thể tự do điều chỉnh số giờlao động của mình dần dần khi có sự thay đổi chính sách thuế Tuy nhiên, trên thịtrường lao động, các cá nhân không thể tự do điều chỉnh giờ lao động của mình đểtìm điểm tiếp tuyến giữa đường bàng quan và đường ngân sách Chẳng hạn, cáccông ty yêu cầu những người lao động phải làm việc cho một số giờ nào đó Sựgiới hạn này có thể do bởi đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp Người lao động làmột mắc xích của dây chuyền sản xuất, nên họ không thể làm việc 32 giờ mà phảilàm việc tới 40 giờ/tuần

Một giới hạn khác làm gia tăng giờ làm việc là quy định trả thêm giờ Ở

Mỹ, chính phủ bắt buộc các công ty phải trả 1 giờ làm thêm bằng 1,5 giờ quy định(40 giờ) Quy định này tạo ra độ lỗi của giới hạn ngân sách, nhưng lại làm cho laođộng trở nên đắt đỏ hơn đối với các doanh nghiệp trong việc thuê mướn lao độngkhi làm việc hơn 40 giờ/tuần Doanh nghiệp có thể lưỡng lự khi quyết định chophép công nhân làm thêm giờ Nhìn chung, các giới hạn như thế sẽ đưa người laođộng vào một kế hoạch thống nhất, vì thế làm giảm thấp sự phản ứng giờ làm việcđối với tiền lương sau thuế

Trang 17

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM:

1 Kết quả thực nghiệm:

Có quan điểm cho rằng thuế ảnh hưởng rất ít tới số giờ làm việc do:

 Phần lớn các công việc đã quy định số giờ làm việc;

 Mọi người có rất ít quyền quyết định về số giờ làm việc của mình

 Số giờ quy định cho mỗi công việc là do những cân nhắc về công nghệ,cũng như các quy định của Công đoàn và Chính phủ quyết định

Những quy định và thể chế này chỉ tồn tại trong ngắn hạn, trong dài hạn,mọi chuyện có thể thay đổi kể cả các thể chế và quy định của Công đoàn và Chínhphủ

Để xác định sự thay đổi cung lao động theo chính sách thuế cần đo lườngđược độ co giãn của cung lao động theo tiền lương Độ co giãn của cung lao động

đo lường phản ứng của cung lao động khi có sự thay đổi của tiền lương hay %thay đổi của cung lao động khi tiền lương sau thuế tăng 1%

Để ước lượng độ co giãn của cung lao động, chúng ta có thể tiếp cận từ 3hướng chính

 Thực nghiệm xã hội

 Các dạng có tính chất thực nghiệm

 Hồi quy tuyến tính

của cung lao động

Lý thuyết thực nghiệm phân chia lao động thành 2 nhóm:

Những người kiếm tiền sơ cấp: là thành viên tạo ra thu nhập chính

trong gia đình Theo truyền thống, người kiếm tiền sơ cấp thường làngười chồng

Những người kiếm tiền thứ cấp: là những lao động khác còn lại trong

gia đình, thường là người vợ có trách nhiệm nuôi con cái

Kết luận về độ co giãn của cung lao động như sau:

Ngày đăng: 24/11/2014, 02:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Lực lượng lao động - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.1 Lực lượng lao động (Trang 4)
Hình 1.2 Đường bàng quan - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.2 Đường bàng quan (Trang 5)
Hình 1.2 biểu diễn cách một người lao động cụ thể lựa chọn trong việc đánh đổi giữa tiêu dùng và thời giờ nhàn rỗi - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.2 biểu diễn cách một người lao động cụ thể lựa chọn trong việc đánh đổi giữa tiêu dùng và thời giờ nhàn rỗi (Trang 7)
Hình 1.4 Đường giới hạn ngân sách - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.4 Đường giới hạn ngân sách (Trang 9)
Hình 1.6 Lựa chọn của người lao động dưới tác động của thuế tỷ lệ - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.6 Lựa chọn của người lao động dưới tác động của thuế tỷ lệ (Trang 11)
Hình 1.7  Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.7 Hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế (Trang 12)
Hình 1.8 Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 1.8 Đánh thuế lũy tiến và phản ứng cung lao động (Trang 14)
Hình 3.1 Thuế suất, giờ lao động và số thu thuế - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình 3.1 Thuế suất, giờ lao động và số thu thuế (Trang 21)
Hình vẽ cho thấy số giờ làm việc tăng theo mức lương ròng – tức là hiệu ứng thay thế chiếm ưu thế - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình v ẽ cho thấy số giờ làm việc tăng theo mức lương ròng – tức là hiệu ứng thay thế chiếm ưu thế (Trang 22)
Hình trên cho thấy Ava – người kiếm tiền đơn thân có 2 con trẻ. Ở mức thu nhập 10.550 đôla, chính phủ trả cho cô ta 40 cent/đô la tiền lương (40%), lên đến mức hỗ trợ tối đa 4.220 đôla (40% của 10.550 đôla) - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình tr ên cho thấy Ava – người kiếm tiền đơn thân có 2 con trẻ. Ở mức thu nhập 10.550 đôla, chính phủ trả cho cô ta 40 cent/đô la tiền lương (40%), lên đến mức hỗ trợ tối đa 4.220 đôla (40% của 10.550 đôla) (Trang 27)
Hình vẽ này cho thấy 4 nhóm khác nhau: - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Hình v ẽ này cho thấy 4 nhóm khác nhau: (Trang 28)
Bảng 1: Lựa chọn chăm sóc trẻ em - BÀI NGHIÊN CỨU MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ THUẾ VÀ CUNG LAO ĐỘNG
Bảng 1 Lựa chọn chăm sóc trẻ em (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w