1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Ngân hàng Quốc tế NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ

29 493 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 238 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Ngân hàng thương mại NGÂN HÀNG ĐẠI LÝSự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO đã mang lại cho nền kinh tế và hệ thống ngân hàng nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển mới. Quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực không ngừng được đẩy mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng là một ngành nhạy cảm nhưng rất quan trọng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- 

 -Đề tài: NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ GV: PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG Nhóm thực hiện: Nhóm 5 1 Đỗ Thị Hồng Đức 2 Đỗ Thùy Trang 3 Nguyễn Thị Mai 4 Đào Nguyễn Nữ Vi Na 5 Nguyễn Ngọc Hạnh 6 Nguyễn Thị Hà Thu 7 Nguyễn Việt Cường TP Hồ Chính Minh, tháng 03 năm 2014 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ 2

1.1 Lý luận chung về Ngân hàng đại lý 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Đặc điểm 3

1.1.3 Các loại tài khoản sử dụng trong Ngân hàng đại lý 5

1.1.4 Các bước thiết lập quan hệ đại lý 6

1.1.5 Phương thức thông tin liên lạc của Ngân hàn đại lý 7

1.2 Quy định khi tham gia vào Ngân hàng đại lý 12

1.3 Nghiệp vụ Ngân hàng đại lý 14

1.3.1 Thanh toán bù trừ 14

1.3.2 Tín dụng quốc tế 15

1.3.2.1 Cho vay các Ngân hàng thương mại 15

1.3.2.2 Cho vay hợp vốn 15

1.3.2.3 Tài trợ ngoại thương 16

1.3.3 Thanh toán hàng xuất, nhập khẩu 17

1.3.4 Dịch vụ kiều hối 17

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ 18

2.1 Môi trường pháp lý và các quy định của Pháp luật về hoạt động NHĐL 18

2.2 Chất lượng dịch vụ và sản phẩm 19

2.3 Phát triển hệ thống CNTT trong hoạt động quản lý ngân hàng 20

2.4 Hoàn thiện kỹ năng và nâng cao nghiệp vụ ngân hàng đại lý cho nhân viên 21

2.5 Quản lý và sử dụng hiệu quả các tài khoản Nostro 22

2.6 Giải pháp mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng đại lý 23

2.6.1 Tăng cường hoạt động ngoại giao với mạng lưới ngân hàng đại lý 23

2.6.2 Tham gia vào các mạng lưới thanh toán quốc tế 24

KẾT LUẬN 26

Trang 4

và hội nhập ngày càng sâu rộng vào hệ thống tài chính toàn cầu, các ngân hàng ViệtNam cũng đang không ngừng hợp tác và liên kết với các tổ chức nước ngoài nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ các chính sách của Chính Phủ Một hình thứchợp tác phổ biến hiện nay của các ngân hàng Việt Nam là việc thiết lập quan hệ ngânhàng đại lý với đối tác là các ngân hàng nước ngoài Quan hệ đại lý tốt sẽ giúp ngânhàng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tạo điều kiện để các ngân hàng ViệtNam mở rộng thị trường Chính vì vậy, việc xây dựng và thiết lập quan hệ đại lý vớicác ngân hàng trong và ngoài nước đang trở thành định hướng phát triển của các ngânhàng thương mại hiện nay Bài tiểu luận với hy vọng làm rõ tầm quan trọng của việcthiết lập quan hệ đại lý với các ngân hàng đối tác nói chung và đề xuất các giải phápnhằm phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Trong quá trình làm bài và trình bày, không tránh khỏi những khiếm khuyết

và sai sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để bài tiểu luận hoàn chỉnhhơn nữa Chúng em trân trọng cảm ơn thầy

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG

ĐẠI LÝ

Quan hệ đại lý có vai trò rất quan trọng đối với nghiệp vụ ngân hàng ngày nay

Để thực hiện nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt là thanh toán quốc tế, mỗi ngânhàng cần thiết lập quan hệ đại lý với các định chế tài chính, ngân hàng ở các quốc giakhác nhau, nhất là tại các quốc gia đã có Hiệp định thương mại song phương

Thiết lập quan hệ đại lý là sự khởi đầu của việc thiết lập quan hệ hợp tác songphương giữa hai ngân hàng bằng sự trao đổi SWIFT CODE và các hồ sơ pháp lý chonhau nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT)

Bất kỳ một ngân hàng nào cũng đều gặp hạn chế khi tham gia vào một thịtrường tài chính nhất định Những hạn chế đó có thể là về không gian (do khác lãnhthổ), thời gian (do chênh lệch múi giờ), tập quán kinh doanh, năng lực kết nối, thôngtin và mối liên hệ với khách hàng, thị trường, tập quán giao dịch, luật lệ địa phương,

… Do vậy, tổ chức này phải sử dụng các dịch vụ của tổ chức tài chính khác để thựchiện các giao dịch nhất định nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất Vì thế, ngânhàng đại lý ra đời và ngày càng khẳng định vai trò của nó đối với nghiệp vụ ngânhàng, đặc biệt là nghiệp vụ TTQT

1.1 Lý luận chung về Ngân hàng đại lý:

1.1.1 Khái niệm:

Ngân hàng đại lý là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ thay mặt cho tổ chứctài chính khác, tương đương hoặc không tương đương với nó.Một ngân hàng đại lý(ngân hàng đóng vai trò ngân hàng đại lý) là một ngân hàng địa phương tại một nơinào đó cung cấp dịch vụ cho ngân hàng khác Như vậy, ngân hàng đại lý là ngân hàngđóng vai trò đại lý cho một ngân hàng khác ở nước ngoài và thay mặt cho ngân hàngnày thực hiện một số dịch vụ ngân hàng như đã thỏa thuận Ngân hàng đại lý giữ chứcnăng cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng mà nó nhận làm đại lý Một

Trang 6

ngân hàng có thể đóng vai trò ngân hàng đại lý cho nhiều ngân hàng, hoặc có thể cónhiều đại lý tại các ngân hàng khác Các giao dịch thanh toán quốc tế được thực hiệnchủ yếu bằng chuyển khoản qua ngân hàng, bù trừ lẫn nhau trên các tài khoản mở tạicác ngân hàng.

Tại Anh, hoạt động ngân hàng đại lý liên quan đến các mối quan hệ mang tínhquốc tế Nhưng ở các nước khác như Mỹ thì hoạt động ngân hàng đại lý chứa đựngnhiều yếu tố trong nước

Nói một cách đơn giản dễ hiểu là khi một Ngân hàng A cần thanh toán choNgân hàng B một khoản x USD thì sẽ có một trong hai cách: - Nếu Ngân hàng A có tàikhoản tại Ngân hàng B > Ngân hàng A sẽ gửi điện yêu cầu Ngân hàng B ghi nợ tàikhoản của họ tại Ngân hàng B để thanh toán Hoặc nếu Ngân hàng B có tài khoản tạiNgân hàng A > Ngân hàng A sẽ ghi có cho Ngân hàng B vào tài khoản đó

- Trong trường hợp hai Ngân hàng ko có quan hệ tài khoản với nhau hoặc cónhưng ko muốn ghi có vào tài khoản đó mà lại muốn ghi có vào tài khoản tại mộtNgân hàng khác để tiện cho mục đích sử dụng trong mỗi thời kỳ thì sẽ sử dụng hệthống thanh toán bù trừ liên Ngân hàng Trên thực tế việc thanh toán thông qua hệthống bù trừ liên Ngân hàng xảy ra rất phổ biến vì mỗi Ngân hàng chỉ có tài khoản tạimột số Ngân hàng lớn

Theo Thông tư 41/2011/TT-NHNN ngày 15 tháng 12 năm 2011 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước về Hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tin khách hàng trên

cơ sở rủi ro phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền: “Hoạt động ngân hàng đại lý làviệc cung cấp dịch vụ ngân hàng, thanh toán và các dịch vụ khác của một ngân hàngtại một quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể (sau đây gọi là Ngân hàng đại lý) cho một ngânhàng khác tại một quốc gia, vùng lãnh thổ khác (sau đây gọi là Ngân hàng đối tác)”

1.1.2 Đặc điểm:

Ngân hàng đại lý có các đặc điểm sau:

- Khách hàng của ngân hàng đại lý là các ngân hàng thương mại hoặc các địnhchế tài chính trung gian Mối quan hệ giữa ngân hàng thương mai và các ngân hàng đại

Trang 7

lý củamình là quan hệ đối tác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi Thông qua một thỏa ướcngân hàng đã ký kết có quy định rõ về các trách nhiệm và quyền hạn, ngân hàng đại lý

sẽ tiến hành cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu Đối tượng phục vụ của ngân hàng đại

lý là khách hàng của các ngân hàng thương mại mà nó có quan hệ đại lý Quan hệ đại

lý giúp giảm thiểu chi phí hoa hồng và chi phí với thời gian, chính vì vậy khách hàngkhi giao dịch với các ngân hàng có quan hệ đại lý với nhau sẽ nhận được nhiều quyềnlợi và ưu đãi

- Nghiệp vụ ngân hàng đại lý được xem là một trong các giao dịch bán buôn củacác ngân hàng thương mại Phần lớn các nghiệp vụ đại lý sẽ được thực hiện thông quamạng truyền thông SWIFT với phương thức bù trừ tài khoản Do vậy, xét về tổng thể,nghiệp vụ ngân hàng đại lý giải quyết phần nào các giao dịch bán buôn giữa các ngânhàng thương mại với nhau nhằm giảm bớt áp lực tiền mặt và củng cố quan hệ đối tácgiữa các ngân hàng

- Nghiệp vụ ngân hàng đại lý hỗ trợ cho các nghiệp vụ kinh doanh khác nhưthanh toán, tín dụng, đầu tư, bảo lãnh…Giao thương quốc tế phát triển đặt ra nhu cầuthanh toán rất cao cho các bên đối tác Bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng có tính đếnyếu tố xuyên biên đều kết thúc bằng việc chuyển giao và chu chuyển luồng tiền giữahai ngân hàng Chính vì vậy, một khi hai ngân hàng có quan hệ đại lý với nhau, nghiệp

vụ ngân hàng đại lý sẽ giúp đơn giản hóa cũng như hỗ trợ rất nhiều cho các dịch vụkhác mà ngân hàng đang khai thác

- Nghiệp vụ ngân hàng đại lý là một trong những công cụ hữu hiệu trong việcnâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng Hệ thống tài chính toàn cầu phát triển buộccác ngân hàng phải liên kết với nhau - một mặt để mở rộng thị trường và đối tượngkhách hàng, mặt khác nhằm nâng cao tính cạnh tranh dựa trên mối quan hệ đại lý đã

mở với những ngân hàng khác có uy tín Thay cho việc phải mở một chi nhánh ngânhàng nước ngoài sẽ vấp phải rào cản pháp lý và những quy định của nước sở tại, thiếtlập quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài được xem là một trong những phươngthức đơn giản, hiệu quả vàchi phí thấp khi một ngân hàng có ý định thâm nhập thịtrường mới Chính vì vậy, phân phối dịch vụ thông qua ngân hàng đại lý thường ápdụng đối với những ngân hàng chưa có chi nhánh Do đó, ngân hàng thường thông qua

Trang 8

một ngân hàng có trụ sở tại địa điểm kinh doanh làm đại lý về một nghiệp vụ nào đó

và ngân hàng đại lý được hưởng hoa hồng như đại lý thanh toán, đại lý chuyển tiền,sec du lịch Đây là một trong các loại kênh phân phối có xu thế phát triển cùng với xuthế toàn cầu hóa thị trường tài chính quốc tế Đồng thời, đây cũng là bước đệm đểngân hàng thăm dò và tìm hiểu văn hóa địa phương cũng như các quy định pháp lýtrước khi chính thức thâm nhập thị trường ngoài nước

1.1.3 Các loại tài khoản sử dụng trong hoạt động ngân hàng đại lý

1.1.3.1 Tài khoản Nostro

Tài khoản Nostro (Nostro theo tiếng Latin là "của chúng tôi") là tài khoản tiềngửi không kỳ hạn "của chúng tôi" mở tại ngân hàng đại lý (chúng tôi là chủ tài khoản,còn ngân hàng đại lý là người giữ tài khoản cho chúng tôi)

Tài khoản Nostro có số dư bằng ngoại tệ nên sẽ linh hoạt trong việc thanh toán

do không phải mất thời gian và chi phí để chuyển đổi đồng tiền Trên phương diệnViệt Nam, tài khoản Nostro là tài khoản tiền gửi giao dịch vốn của các ngân hàngthương mại Việt Nam mở và duy trì tại các ngân hàng nước ngoài

1.1.3.2 Tài khoản Vostro (tài khoản Loro)

Tài khoản Vostro (hay còn gọi là tài khoản Loro – theo tiếng Latin là "của cácbạn") là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn "của quý vị" mở tại ngân hàng chúng tôi (quý

vị là chủ tài khoản, ngân hàng chúng tôi là người giữ tài khoản cho quý vị) Tài khoảnVostro có số dư bằng nội tệ

Trên thực tế, thuật ngữ Nostro và Vostro thường dễ gây nhầm lẫn và thường gọichung là tài khoản Nostro khi muốn nói về tài khoản một ngân hàng khác mở tại ngânhàng đang xem xét Tài khoản Nostro hay tài khoản Vostro có thể được duy trì bằngmột ngoại tệ tự do chuyển đổi được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế Điềunày là phổ biến đối với các nước có đồng tiền chưa được tự do chuyển đổi phải dùngngoại tệ mạnh trong thanh toán quốc tế Nếu tiền được chuyển từ Việt Nam cho nướcngoài thì:

Trang 9

- Trường hợp tiền chuyển là ngoại tệ, tài khoản Nostro sẽ được sử dụng bằngcách ghi nợ tài khoản Nostro.

- Trường hợp tiền chuyển là nội tệ, tài khoản Vostro sẽ được sử dụng bằng cáchghi có tài khoản Vostro

1.1.4 Các bước thiết lập quan hệ đại lý:

Để thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý, thông thường các ngân hàng thực hiện cácbước sau:

Thiết lập quan hệ đại lý:

Tùy theo yêu cầu của mỗi ngân hàng đặt ra khi thiết lập quan hệ đại lý, mức độhợp tác mà hồ sơ thiết lập cũng sẽ khác nhau

Hai ngân hàng muốn thiết lập quan hệ đại lý với nhau sẽ tìm hiểu tình hình tàichính, các dịch vụ ngân hàng quốc tế cung cấp, phí dịch vụ thông qua Báo cáo thườngniên, Báo cáo kết quả kinh doanh trong một quý, điều kiện và điều khoản để ra quyếtđịnh thiết lập hoặc từ chối thiết lập quan hệ đại lý

Thông thường Ngân hàng sẽ gửi tới tổ chức mà mình muốn thiết lập quan hệ đại

lý một bộ hồ sơ pháp lý, thường bao gồm: Giấy phép đăng ký hoạt động; Giấy phépđăng ký kinh doanh; Quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; Mẫu dấu

và cuốn mẫu chữ ký ủy quyền; Báo cáo thường niên hoặc báo cáo tài chính đã đượckiểm toán qua tổ chức kiểm toán do ngân hàng muốn thiết lập quan hệ đại lý yêu cầu;

Trang 10

Biểu phí cập nhật Nếu ngân hàng đã là thành viên của SWIFT, sẽ gửi kèm một điệnSWIFT MT999 đăng ký trao đổi SWIFTKEY và mong muốn thiết lập quan hệ đại lý

Các ngân hàng khi đã có quan hệ đại lý với nhau có thể tiến đến thiết lập quan

hệ tài khoản nhằm phục vụ các hoạt động thanh toán tiền gửi, kinh doanh vốn, kinhdoanh ngoại tệ giữa hai ngân hàng bằng việc cung cấp cho nhau hạn mức tín dụng quatài khoản Nostro và Vostro

Duy trì quan hệ đại lý:

Đây là việc hai ngân hàng thường xuyên dùng các biện pháp đảm bảo hiệu lựccủa Thỏa ước ngân hàng đại lý Các ngân hàng này sẽ liên tục cung ứng, thực hiện vàphát triển các nghiệp vụ qua nhau như: Thông báo L/C, xác nhận L/C, tra soát, chuyểntiền thanh toán, Bên cạnh đó, các tổ chức đó không ngừng cập nhập các thông tin, tàiliệu về tình hình hoạt động của nhau thông qua điện SWIFT MT999

1.1.5 Phương thức thông tin liên lạc của ngân hàng đại lý

Trong hoạt động ngân hàng quốc tế, mỗi quốc gia sẽ có một nền tảng công nghệriêng để phục vụ cho hoạt động thanh toán của mình Nền tảng công nghệ nếu quychuẩn và hiệu quả sẽ trở thành những hệ thống thanh toán chung được mọi người chấpnhận Một số hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng tại một số quốc gia lớn nhưsau

1.1.5.1 CHIPS (The Clearing House Interbank Payment System):

Là hệ thống thanh toán chuyển tiền qua hệ thống máy tính giữa các Ngân hàngcủa The Clearing House Interbank Payment Company (CHIPCo.), một công ty thànhlập bởi hiệp hội thanh toán bù trừ NewYork và các Ngân hàng thành viên tham giahiệp hội này CHIPS là một hệ thống thanh toán mạng lưới đa phương, ghép lệnh liêntục và tức thời Nghĩa là các lệnh thanh toán nhận được trong giờ làm việc của CHIPS(từ 12:30 A.M đến 5:00 P.M., giờ NewYork) sẽ được xử lý và thực hiện ghi có gầnnhư ngay lập tức cho Ngân hàng hưởng lợi Để thực hiện thanh toán thông qua CHIPS,Ngân hàng được ghi có phải có mã CHIPS Các Ngân hàng thành viên của CHIPS tạiUSA có mã CHIPS Participant (CHIPS ABA)gồm 4 chữ số Các Ngân hàng ngoài

Trang 11

USA có tài khoản tại một Ngân hàng thành viên của CHIPS tại USA hoặc các chinhánh, phòng ban của Ngân hàng thành viên CHIPS tại USA nhưng có tài khoản độclập sẽ có CHIPS UID (CHIPS Universal Identifier) Mỗi Ngân hàng, chi nhánh, phòngban có tài khoản độc lập chỉ có một số CHIPS duy nhất, khi nhận được điện thanh toánchuẩn có số CHIPS này, hệ thống CHIPS sẽ xử lý tự động và tự động ghi có vào tàikhoản đó.

Hệ thống thanh toán bù trừ CHIPS là hệ thống thanh toán đồng USD lớn nhấthiện nay, thực hiện 90% các khoản thanh toán bằng đồng USD trên toàn thế giới

1.1.5.2 CHAPS - Hệ thống thanh toán bù trừ tự động tại Anh

CHAPS là một hình thức thanh toán được đưa ra bởi một số chi nhánh ngânhàng hối đoái (các ngân hàng thanh toán của Anh Quốc) vào năm 1984 Đây là mộthình thức thanh toán liên ngân hàng trực tuyến áp dụng cho việc chuyển khoản nhữngkhoản tiền có giá trị lớn và được bảo đảm nội trong một ngày Trước năm 1984, nhữnghình thức thanh toán kiểu như này thường được thực hiện bởi việc các đại diện ngânhàng trực tiếp đi đếncác ngân hàng khác nhau trong thành phố London để tiến hànhgiao dịch Tuy nhiên, trước sự tăng khá nhanh của lượng tiền và số lần giao dịch,người ta nhận thấy rằng cần phải có một hệ thống thanh toán phù hợp hơn

Các ngân hàng và các công ty muốn tham gia CHAPS phải trở thành thànhviên của các ngân hàng thanh toán Điều này cho phép họ kết nối hệ thống máy tínhcủadoanh nghiệp với hệ thống CHAPS của ngân hàng dưới hình thức gói phần mềmGateway và dịch vụ PSS

Lượng giao dịch thông qua CHAPS đã tăng lên rõ rệt kể từ khi hình thức nàyđược giới thiệu Số tiền tối đã cho mỗi lần giao dịch là không hạn chế và số tiền tốithiểu hiện nay là 5000 USD Trung bình mỗi ngày có khoảng 16000 giao dịch đượcthực hiện với tổng giá trị khoảng 50 tỷ USD

Mỗi ngân hàng thanh toán có một hệ thống máy tính TANDEM chuyên theodõi thông tin về các lần giao dịch Thông số của các lần thanh toán sẽ được thẩm định

và sau đó mã hóa và chuyển đến ngân hàng có liên quan thông qua hệ thống cổngthông tin và điện thoại Ngân hàng tiếp nhận sẽ giải mã để có thông tin về các khoảnthu này.Ngânhàng thanh toán tiền cũng có thể gửi kèm một “Thư tham vấn” để xácminh rõvềkhoảnphải tiền chi trả này Ngân hàng thông báo sau đó sẽ gọi điện cho

Trang 12

người hưởng lợivà thông báo rằng tiền của họ đã được gửi đến Người thụ hưởng cũng

có thể theo dõi xem tiền đã đến nơi chưa thông qua hệ thống máy tính riêng của họ cókết nối với ngân hàng

1.1.5.3 BOJNET - Trung tâm thanh toán bù trừ JPY tại Tokyo của NHTW Nhật

BOJ-NET là một hệ thống thanh toán điện tử do ngân hàng trung ương Nhật

Bản BOJ vận hành Mục tiêu thiết kế của hệ thống này là: bảo đảm tính an toàn và ổnđịnh của việc quyết toán; khai thông quy trình quyết toán và tăng cường hiệu quả củaviệc quyết toán; và phục vụ với tư cách là cơ sở hạ tầng quyết toán thích hợp với cácchuẩn mực quốc tế

BOJ-NET bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1988, tới cuối năm 2000, 511 địnhchế tài chính bao gồm các ngân hàng, các công ty chứng khoán đã tham gia hệ thống.Trụ sở chính, các chi nhánh và các thành viên của BOJ-NET được kết nối với trungtâm máy tính tại Tokyo bằng đường truyền liên lạc viễn thông, thông qua đó dữ liệuđược gửi tới trung tâm máy tính để xử lý trực tuyến Về nguyên tắc, các thành viêntruy cập vào BOJ-NET sử dụng các các thiết bị đầu cuối dành riêng của BOJ-NET,nhưng một kết nối trực tiếp giữa BOJ-NET và các hệ thống máy tính của bản thân cácthành viên đồng thời cũng sẵn sàng để xử lý khối lượng giao dịch lớn

Để bảo đảm an toàn trong chuyển tiền và giao dịch chứng khoán, thiết bị chính

và các chu trình của BOJ-NET được nhân bản như một biện pháp an toàn để gia tăng

sự tin cậy Ngân hàng trung ương có các phương tiện máy tính dự phòng cho trung tâmmáy tính ở Osaka Trung tâm máy tính, với sự trợ giúp của chi nhánh Osaka, quản lýviệc vận hành của BOJ-NET để xác định bất kỳ một lỗi hệ thống nào và tiến hành cácbiện pháp cần thiết nếu cần khi có vấn đề xảy ra Ngân hàng trung ương đồng thời sửdụng mật mã, thẻ ID, và mã hóa dữ liệu để bảo đảm an toàn cho các thông tin trao đổiqua mạng và ngăn chặn gian lận

1.1.5.4 SWIFT – Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu

SWIFT - System of Worldwide Interbank Financial Transaction - Hệ thốnggiao dịch tài chính liên ngân hàng quốc tế, được thành lập từ 1974, có trụ sở chính ở

Bỉ, là một tổ chức theo hình thức hiệp hội, với sự tham gia cuả các ngân hàng và tổchức tài chính các nước Thành viên cuả SWIFT có các loại:

Trang 13

- Thành viên chính: gồm các ngân hàng tham gia SWIFT chính thức, với tưcách một cổ đông, có quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng cuả SWIFT.

- Thành viên phụ: bao gồm các chi nhánh cuả các ngân hàng tham giaSWIFT

- Các định chế dự phần : gồm các tổ chức tài chính phi ngân hàng tham giaSWIFT Thành viên phụ và các định chế dự phần không được có cổ phần và bỏ phiếuquyết định các vấn đề quan trọng cuả SWIFT

Các thành viên và các bên tham gia hệ thống SWIFT cùng khai thác và cùngchịu trách nhiệm về hệ thống cuả mình Những lợi nhuận thu được từ việc khai thác hệthống được dùng để đầu tư trở lại, nâng cấp hệ thống và phân bổ lại bù đắp dịch vụcho các thành viên

Điều kiện để trở thành thành viên cuả SWIFT

Mỗi ngân hàng (hoặc tổ chức tài chính) phải nộp đơn xin gia nhập Tiếp đó kýkết các hợp đồng trang bị và đào tạo Sau đấy là tiến hành triển khai Với một ngânhàng quá trình này thường kéo dài từ 8-12 tháng, nếu nước đó đã tham gia vàoSWIFT Chi phí khi gia nhập SWIFT bao gồm :

- Phí gia nhập

- Phí cung ứng thường niên

Ngoài ra, các thành viên chính phải mua cổ phiếu SWIFT Số cổ phiếu SWIFTphân bổ ba năm một lần trên cơ sở mức độ sử dụng mạng lưới cuả mỗi thành viên Lầnđầu tiên, mỗi ngân hàng thành viên phải mua ít nhất một cổ phiếu

Các dịch vụ cuả SWIFT

Hệ thống dịch vụ cuả SWIFT khá đa dạng, bao gồm :

- Dịch vụ chính : chuyển điện giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính khắpthế giới phục vụ cho công tác thanh toán, ngoại hối, cho thị trường chứng khoán ; tàichính thương mại và thị trường tiền tệ

Trang 14

- Dịch vụ khác : chuyển dữ liệu khối lượng lớn, trao đổi dữ liệu điện tử, thanhtoán bù trừ, đối chiếu xác nhận và chuyển tiếp trong mạng

SWIFT có ba trung tâm hỗ trợ khách hàng, đặt ở Mỹ, châu Á và châu Âu, đảmbảo sự hỗ trợ thường xuyên cho khách hàng ở mọi khu vực Các hình thức trợ giúpcũng phong phú, từ hướng dẫn kỹ thuật qua mạng hoặc qua điện thoại đến cưa kỹ thuậtviên, chuyên viên tư vấn trực tiếp giúp khách hàng Các dịch vụ tư vấn và trợ giúp cậpnhật kỹ thuật mới triển khai thay đổi nhằm đa dạng hóa và nâng cao khả năng cuả hệthống cũng được coi trọng

Ưu điểm của SWIFT

Các ngân hàng trên thế giới đều sử dụng hệ thống SWIFT do những ưu điểmvượt trội của của nó:

- Đây là một mạng truyền thông chỉ sử dụng trong hệ thống ngân hàng vàcác tổ chức tài chính nên tính bảo mật cao và an toàn

- Tốc độ truyền thông tin nhanh cho phép có thể xử lý được số lượng lớngiao dịch

- Chi phí cho một điện giao dịch thấp so với Thư tín và Telex vốn là phươngtiện truyền thông truyền thống

- Sử dụng SWIFT sẽ tuân theo tiêu chuẩn thống nhất trên toàn thế giới Đây

là điểm chung của bất cứ ngân hàng nào tham gia SWIFT có thể hòa đồng vào vớicộng đồng ngân hàng trên thế giới

Tuy SWIFT là một trong các phương tiện truyền tin TTQT chính nhưng khôngphải là phương tiện duy nhất mà vẫn phải sử dụng các phương tiện truyền tin khác.Trong trường hợp chuyển bộ chứng từ TTQT tới ngân hàng ở Myanma vẫn phải sửdụng thư tín mà không thể dùng SWIFT để chuyển được do ngân hàng đó chưa thamgia vào hệ thống SWIFT Hoặc khi chuyển một bức điện tới ngân hàng ở đó cũng vậy,người ta vẫn phải sử dụng phương tiện truyền tin bằng thư tín

Ngày đăng: 24/11/2014, 01:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w