MỤC LỤC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÀO TẠO MẦM NON VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 5 1.1 Các quan điểm cơ bản của Nhà nước Việt Nam về giáo dục: 5... Phát triển
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÀO TẠO MẦM NON VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 5
1.1 Các quan điểm cơ bản của Nhà nước Việt Nam về giáo dục: 5
Trang 31.2.3 Phương pháp giáo dục Mầm Non 15
1.3.1 Hệ thồng trường Mầm Non được phân cấp theo quy mô 17 1.3.2 Hệ thống trường Mầm Non được phân theo nguồn vốn đầu tư,
1.4.1 Thế nào là phát triển bền vững 19 1.4.2 Phát triển bền vững trường Mầm 20
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN QUA 30
2.1 Sơ lược quá trình hình thành hệ thống các trường Mầm Non
nói chung và trường Mầm Non ngoài công lập nói riêng 30
2.1.4 Giáo dục Mầm Non giai đoạn 1965-1975 32
2.2 Tình hình phát triển và hoạt động của các trường Mầm Non
Trang 4ngoài công lập 36
2.2.2.1 Cơ sở vật chưa đầy đủ, hoàn thiện 39
2.2.2.4 Tình trạng dạy trước chương trình lớp 1 mà cụ thế là dạy viết chữ,
2.2.2.5 Tình trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước một cách bừa bãi 47
2.3 Những vấn đề cần giải quyết trong hoạt động của các trường ngoài
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔ HÌNH TRƯỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG
3.1.1 Đảm bảo một môi trường an toàn tuyệt đối để phòng tránh tai nạn,
bệnh tật, tác động xấu xảy ra cho trẻ 53 3.1.2 Đảm bảo cung cấp chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ,
và nhân viên theo đúng yêu cầu 54
3.1.3.3 Áp dụng “Đối xử với nhân viên như cácthành viên gia đình” trong
Trang 5quản trị nguồn nhân lực (Family-friendly humanresouce practice) 62 3.1.3.4 Chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 63 3.1.4 Khắc phục phần nào tình trạng dạy chữ, dạy chương trình lớp 1
3.1.5 Đảm bảo tốc độ tăng trưởng, phát triển ổn định cho trường 64 3.1.5.1 Xác định mục tiêu, sứ mệnh rõ ràng 65
3.1.5.3 Hoạt động của trường phải linh hoạt, hướng đến khách hàng 68 3.1.6 Đảm bảo sự an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn nước một cách tuyệt
3.1.7 Năng lượng sữ dụng để chế biến món ăn 72 3.1.8 Cung cấp cho trẻ một môi trường với đầy đủ cơ sở vật chất, trang
3.1.9 Đưa những khái niệm về môi trường và sự phát triển bền vững vào
chương trình dạy, cùng với những đánh giá về hiện trạng 74 3.1.10 Thực hiện việc thiết kế, trang trí trường, lớp theo hướng khuyến
khích, tạo điều kiện cho trẻ và cộng đồng cùng góp phần vào công
3.1.11 Trường hoạt động như một trung tâm, điểm xuất phát để nâng cao
sự nhận thức, học hỏi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho
cộng đồng dân cư trong vùng 80
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU:
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế xã hội, giáo dục lớn nhất Việt Nam, với dân số khoảng 7 triệu người, tổng sản lượng GDP của thành phố chiếm khoảng 30% GDP toàn quốc Với sự đa dạng, phong phú về các loại hình giáo dục từ Mầm Non đến đại học, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục Mầm Non là nơi tập trung hàng trăm nhóm, trường với đủ các loại hình: nhóm lớp, trường tư thục, Trường Bán Công, Trường Công, Trường Quốc Tế…
Giáo Dục Mầm Non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (theo luật giáo dục), và theo quyết định 55 của Bộ Giáo Dục về vị trí, tính chất, nhiệm vụ của Nhà Trẻ – Trường Mẫu Giáo: Nhà trẻ, Mẫu Giáo, trường Mầm Non là đơn vị của ngành giáo dục quốc dân của nước CHXHCNVN
do ngành giáo dục quản lý Nhà trẻ, trường Mẫu Giáo, trường Mầm Non thu nhận trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi (trước khi trẻ vào lớp 1) để chăm sóc giáo dục, đặt nền móng đầu tiên cho việc hình thành, phát triễn nhân cách của trẻ và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường phổ thông Cùng với chủ trương xã hội hóa hoạt động giáo dục được thể hiện qua nghị quyết số 90 của chính phủ ngày 20/8/1997 và tốc độ tăng trưởng của ngành hàng năm khá cao cho thấy ngành Mầm Non đã thu hút được rất nhiều thành phần xã hội tham gia, chính vì vậy mà áp lực cạnh tranh ngày càng cao
Trang 7Bên cạnh đó, trước sự hủy hoại trầm trọng của môi trường hiện nay: tình trạng lụt lội, hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ôzôn, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách bừa bãi… vấn đề giáo dục môi trường cho mọi người đang trở nên cấp bách Giáo dục môi trường tại trường học nói chung, tại trường Mầm Non nói riêng một mặt là để bảo vệ trẻ em trước sự xuống cấp của nó, mặt khác giúp trẻ nâng cao nhận thức, có thái độ sống thân thiện với thiên nhiên, coi thiên nhiên là người bạn thân thiết của mình
Chính vì những lý do đó, cũng như bản thân đang hoạt động trong lĩnh vực này nên tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển bền vững trường Mầm Non ngoài công lập” này làm luận văn tốt nghiệp Phát triển bền vững trường Mầm Non ngoài công lập giúp xây dựng và phát triển trường Mầm Non đáp ứng theo nhu cầu thị trường, và góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ trẻ em, bảo vệ thế hệ sau, tương lai của đất nước vì theo Ủy Ban Thế Giới về môi trường và phát triển “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây tác hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau”, hay theo Liện Đoàn Bảo Tồn Thế Giới và Quỹ Bảo Trợ Thiên Nhiên Thế Giới “Phát triển bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống con người trong khả năng bảo vệ hệ sinh thái”
Do thời gian và khả năng hạn hẹp của tác giả nên luận văn không tránh khỏi sai sót Người viết chân thành cám ơn mọi ý kiến đóng góp, bổ sung, chỉ dẫn của các Giáo sư, chuyên gia và tất cả những ai quan tâm đến đề tài
Trang 82 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết phát triển bền vững trong giáo dục Nghiên cứu thực trạng tại các trường Mầm Non ngoài công lập tại Thành Phố Hồ Chí Minh, nêu lên một số tồn tại, hạn chế mà các trường gặp phải, và áp dụng lý thuyết phát triển bền vững trong giáo dục từ đó đề ra một số biện pháp giải quyết để phát triển bền vững
3 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Những thực trạng trong hoạt động của trường Mầm Non ngoài công lập tại TPHCM
Từ những thực trạng trên, tác giả đề ra một số biện pháp nhằm phát triển bền vững mô hình trường Mầm Non ngoài công lập tại TPHCM
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khảo sát chung về giáo dục đào tạo của Việt Nam, về tình hình hoạt động của các trường Mầm Non ngoài công lập
Áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển bền vững mô hình trường Mầm Non ngoài công lập tại TPHCM
Trang 95 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Mở đầu: lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài, giới hạn phạm vi
của đề tài, phương pháp nghiên cứu, bố cục luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của việc hình thành và phát
triển trường Mầm Non ngoài công lập
Chương 2: Quá trình hình thành và tình hình hoạt động của các
trường Mầm Non ngoài công lập ở TPHCM trong thời gian qua
Chương 3: Một số biện pháp và kiến nghị nhằm phát triển bền
vững mô hình trường Mầm Non ngoài công lập tại TPHCM
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1:
CỞ SỞ LÝ LUẬN VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
ĐÀO TẠO MẦM NON VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ
GIÁO DỤC
1.1.1 Mục tiêu giáo dục
Nền giáo dục Việt Nam đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc gìn giữ, phát triển và truyền bá bản sắc văn hóa của một dân tộc, một đất nước; là động lực chính của sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, là nhân tố quyết định sự thành đạt của mỗi người trong cuộc sống và vị thế của mỗi quốc gia Thấy rõ được tầm quan trọng đó, chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng giáo dục và đào tạo, coi đầu tư giáo dục đào tạo là đầu tư cho phát triển Tạo điều kiện cho giáo dục, đào tạo phát triển trước một bước để đón đầu sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và trào lưu hội nhập kinh tế trên thế giới Thực hiện tính công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo, tạo điều kiện cho ai cũng được học hành Hiện nay các hoạt động giáo dục đã được thể chế hóa trong hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong công tác giáo dục, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công
Trang 11nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã xác định rõ:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Nhà nứơc phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nứơc mạnh, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Mục tiêu giáo dục cũng được nhắc lại trong luật giáo dục, đã được Quốc Hội nứơc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ tư, thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998, tại điều 2: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Báo cáo chính trị tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thư 9 đã chỉ ra: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều
Trang 12kiện để phát huy nguồn nhân lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Cái đích cuối cùng của giáo dục là phải tạo ra một nguồn nhân lực đáp ứng thị trường lao động trong nước và bắt kịp trình độ phát triển chung của nhân loại
1.1.2 Nguyên lý giáo dục:
Tại Việt Nam, học tâp là một quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của mọi người dân, “Công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức” (trích đều 59, Hiến pháp nứơc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992) Nền giáo dục mang tính nhân văn, phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính… Nền giáo dục Việt Nam thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc riêng nhưng vẫn phát triển trên cơ sở nền tảng khoa học hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Nhà nước quản lý thống nhất toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng
Nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong luật giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (trích điều 3)
Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: (điều 6, luật giáo dục)
- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo
Trang 13- Giáo dục phổ thông có hai bậc là bậc tiểu học và bậc trung học; bậc trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông
- Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
- Giáo dục đại học đào tạo có hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học
- Giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sỹ và trình độ tiến sỹ
Phương thức giáo dục gồm giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy
1.1.3 Nội dung giáo dục:
Nội dung giáo dục đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống Nội dung giáo dục cụ thể hóa được mục tiêu giáo dục: coi trọng giáo dục tư tưởng đạo đức và ý thức công dân, bảo tồn và phát huy tuyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Nội dung giáo dục phù hợp với từng bậc đào tạo, từng đối tượng:
- Nội dung giáo dục mầm non phải đảm bảo hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam
- Nội dung của giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và hệ thống
Trang 14- Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khỏe, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo
- Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức chuyên ngành, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tương ứng trình độ chung của các nước trên thế giới
- Nội dung giáo dục sau đại học phải giúp cho người học phát triển và hoàn thiện kiến thức khoa học cơ bản, kiến thức chuyên ngành, phát huy năng lực sáng tạo, phát hiện và giải quyết các vần đề chuyên môn
- Nội dung giáo dục không chính quy (xóa nạn mù chữ, nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức…) phải đảm bảo tính thiết thực, giúp người học nâng cao khả năng lao động, chất lượng cuốc sống
1.1.4 Phương pháp giáo dục:
Một phương pháp giáo dục hiệu quả, tích cực đó là phương pháp giáo dục hướng vào người học, bồi dưỡng năng lực người học, lòng say mê học tập, chủ động tư duy, sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Phương pháp giáo dục cũng phải phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học khác nhau:
- Phương pháp chăm sóc và giáo dục Mầm Non là cách thức và con đường tác động lên đứa trẻ nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Phương pháp chăm sóc giáo dục Mầm Non
Trang 15qui định bởi tính chất đặc thù của quá trình và bởi đặc điểm tâm lý, sinh lý của lứa tuổi từ 0-6 tuổi Phương pháp chăm sóc giáo dục phải được thực hiện gắn quyện với nhau trong quá trình tổ chức cuộc sống của trẻ tại nhà trẻ và mẫu giáo (phương pháp dùng tình cảm, phương pháp dùng hoạt động với đồ vật, phương pháp dùng trò chơi, phương pháp giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè, phương pháp trực quan, phương pháp dùng tình huống… )
- Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mang lại sự hứng thú học tập cho học sinh
- Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp giảng dạy lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành, bảo đảm để sau khi tốt nghiệp người học có khả năng hành nghề
- Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng
- Phương pháp giáo dục sau đại học chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu, phát huy năng lực thực hành, năng lực phát triển
tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề chuyên môn
- Phương pháp giáo dục không chính quy phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học
Trang 16Theo giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động mà sản phẩm là “con người” rất khác với các sản phẩm công nghiệp hay nông nghiệp ở chỗ nó có sự tự thân vận động thể hiện ở sự tự giáo dục, tự học Đó là một tài nguyên thiên nhiên quý giá mà giáo dục phải khơi ra và phát triển lên, một nguồn lực tự nhiên đẩy người học tự tìm đến kiến thức, vận dụng kiến thức và phát triển kiến thức Kết quả giáo dục sẽ rất lớn nếu có phương pháp giáo dục đúng đắn, nó được coi như một ngoại lực tác động đến người học, tạo được sự cộng hưởng với nội lực bên trong người học
1.2 HỆ THỐNG GIÁO DỤC MẦM NON CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Mục tiêu giáo dục Mầm Non
Mục tiêu chung: theo quyết định 55, mục tiêu giáo dục Mầm Non là hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam:
- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối
- Giàu lòng thương người, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo…) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên
- Yêu cái đẹp, biết gìn giữ cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh
- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ đẳng (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp suy luận…) cần thiết để vào trường phổ thông, thích đi học
Trang 17Căn cứ vào đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, các nhà trẻ và trường mẫu giáo từng bước thực hiện những yêu cầu tối thiểu, tiến lên thực hiện các yêu cầu chuẩn theo từng lứa tuổi
1.2.2 Nội dung giáo dục Mầm Non:
Để đảm bảo được mục tiêu chung của ngành Mầm Non theo quyết định
55, giáo dục Mầm Non bao gồm những nội dung sau:
1.2.2.1 Giáo dục thể lực
Giáo dục thể lực là giáo dục và phát triển về mặt thể chất (cơ thể, sức khỏe) của con người Đây là một trong những bộ phận quan trọng của nền giáo dục Việt Nam Đặc biệt với ngành Mầm Non, giáo dục thể lực chiếm vị trí hàng đầu, bởi nó là tiền đề để phát triển các mặt khác ở trẻ
Giáo dục thể lực trong trường Mầm Non là quá trình tác động chủ yếu vào
cơ thể trẻ, tổ chức cho các em vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh, tổ chức tốt chế độ sinh hoạt hợp lý nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể phát triển đều đặn, cân đối, sức khỏe tăng cường đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất, làm cơ sở phát triển nhân cách Giáo dục thể lực trong trường Mầm Non bao gồm những nội dung sau:
- Bảo vệ và tăng cường sức khỏe phát triển đúng đắn về mặt thể chất, rèn luyện cho trẻ khả năng thích ứng với những biến đổi của môi trường
Trang 18- Hình thành ở trẻ những kỹ năng, kỹ xảo vận động và những phẩm chất thể lực
- Giáo dục những kỹ năng, kỹ xảo, thói quen văn hóa, vệ sinh
1.2.2.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ có những hiểu biết về những qui tắc, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, rèn cho trẻ có những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội mà trẻ đang sống Giáo dục đạo đức tại trường Mầm Non có nhiệm vụ: hình thành những tình cảm đạo đức ban đầu; rèn các kỹ xảo, thói quen, hành vi đạo đức; hình thành những biểu tượng sơ đẳng về đạo đức, và nó được thể hiện qua các nội dung sau:
- Giáo dục lòng yêu nước
- Giáo dục những mầm mống ban đầu của lòng nhân ái
- Giáo dục những cơ sở ban đầu của tinh thần tập thể
- Giáo dục những thói quen, hành vi văn minh
1.2.2.3 Giáo dục trí tuệ
Giáo dục trí tuệ là một trong những mặt quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Giáo dục trí tuệ là quá trình sư phạm được tổ chức đặc biệt nhằm rèn luyện những kỹ xảo sơ đẳng, những phương thức hoạt động trí tuệ sơ đẳng, phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ ở trẻ em
Giáo dục trí tuệ có nhiệm vụ:
Trang 19- Hình thành những biểu tượng, khái niệm đúng đắn về những sự vật, hiện tượng đơn giản của cuộc sống xung quanh
- Hướng dẫn hoạt động nhận thức và phát triển các năng lực trí tuệ
- Phát triển tính ham hiểu biết và hình thành nhu cầu nhận thức
Và được thể hiện qua các nội dung:
- Hướng dẫn trẻ tìm hiểu môi trường xung quanh
- Hướng dẫn trẻ tìm hiểu các biểu tượng toán học sơ đẳng, giúp trẻ xác định được mối quan hệ của đối tượng, về thuộc tính của chúng, về hình dạng, số lượng, vị trí của chúng trong không gian
- Dạy tiếng mẹ đẻ
1.2.2.4 Giáo dục thẩm mỹ
Là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp Giáo dục thẩm mỹ có nhiệm vụ, nội dung sau:
- Phát triển nhận thức thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ
- Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ
- Phát triển hứng thú và khả năng sáng tạo nghệ thuật
1.2.2.5 Giáo dục lao động
Là một quá trình giáo dục cơ bản của nền giáo dục toàn diện xã hội chủ nghĩa Nó có chức năng hướng dẫn trẻ rèn luyện mình trong lao động nhằm giúp
Trang 20trẻ nắm được một số kỹ năng, kỹ xảo lao động đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị cho trẻ sau này dễ tham gia vào đời sống lao động, đồng thời giúp trẻ hiểu được vai trò của lao động như yêu thích lao động, quí trọng người lao động, sản phẩm lao động
Nội dung của giáo dục lao động tạo trường Mầm Non:
- Cho trẻ làm quen với lao động của người lớn
- Tổ chức các loại hình lao động phù hợp với trẻ
1.2.3 Phương pháp giáo dục Mầm Non
Phương pháp giáo dục Mầm Non là cách thức và con đường tác động lên đứa trẻ nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra Phương pháp chăm sóc giáo dục Mầm Non qui định bởi tính chất đặc thù của quá trình và bởi đặc điểm tâm lý, sinh lý của trẻ từ 0-5 tuổi Phương pháp chăm sóc và giáo dục phải thực hiện gắn quyện với nhau trong quá trình tổ chức cuộc sống của trẻ ở nhà trẻ và trường mẫu giáo:
- Phương pháp dùng tình cảm: là việc dùng lời nói, cử chỉ âu yếm dịu dàng để tạo ra cảm xúc tích cực nơi trẻ (có tác dụng với lứa tuổi nhỏ)
- Phương pháp dùng hoạt động với đồ vật: là việc tổ chức cho trẻ được trực tiếp hoạt động với đồ vật, dùng đồ chơi nhằm làm quen với cuộc sống xã hội
- Phương pháp dùng trò chơi: là việc sử dụng các trò chơi, các yếu tố chơi vào các hoạt động của trẻ nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo
Trang 21dục đã đựơc đặt ra một cách có hiệu quả nhất (đây là phương pháp chủ đạo)
- Phương pháp giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè là phương pháp dùng người thực, việc thực tác động, hỗ trợ lẫn nhau nhằm mục đích hình thành những phẩm chất tốt uốn nắn những thói hư tật xấu cho trẻ
- Phương pháp trực quan: là việc cho trẻ quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh (vật thật, vật mẫu, tranh ảnh, phim…) để trẻ tích lũy các ấn tượng một cách phong phú giúp cho việc lĩnh hội kinh nghiệm, tri thức của cuộc sống một cách dễ dàng
- Phương pháp dùng tình huống: giúp tạo ra trước trẻ những tình huống buộc trẻ phải suy nghĩ, tìm phương tiện sử dụng, kinh nghiệm đã có thể giải quyết nhiệm vụ nhằm phát huy tích cực chủ động sáng tạo của trẻ
- Phương pháp đàm thoại: là việc trao đổi giữa trẻ với người lớn nhằm thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và tìm hiểu thế giới xung quanh của trẻ
- Phương pháp giải thích: là việc dùng lời nói nhằm giúp trẻ hiểu được sự vật, hiện tượng, những chuẩn mực hành vi đạo đức gần gũi đối với trẻ
- Phương pháp nêu gương: là việc lấy gương người thật, việc thật làm kiểu mẫu cho trẻ noi theo
- Phương pháp đánh giá là việc thể hiện thái độ của người lớn đối với trẻ
Trang 22Trên đây là một số phương pháp thường sử dụng tại trường Mầm Non Giáo dục Mầm Non chỉ đạt kết quả khi cô giáo nắm vững các nguyên tắc chỉ đạo giáo dục Mầm Non làm cơ sở cho việc lựa chọn và vận dụng đúng đắn, linh hoạt các phương pháp giáo dục trẻ
1.3 HỆ THỐNG TRƯỜNG MẦM NON VIỆT NAM
1.3.1 Hệ thống trường Mầm Non được phân cấp theo quy mô
Theo điều 4 Điều Lệ Trường Mầm Non, cơ sở giáo dục Mầm Non gồm có trường Mầm Non, trường Mẫu giáo; và nhóm, lớp nhà trẻ, mẫu giáo, mầm non
Nhóm, lớp là cơ sở ghép nhiều độ tuổi, có số trẻ tối đa không quá 30 trẻ/
1 lớp, do Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã, Phường, Thị trấn quyết định thành lập trên cơ sở thỏa thuận với Phòng Giáo Dục và Đào Tạo
Trường Mầm Non, trường Mẫu Giáo do chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Quận, Huyện cấp quyết định thành lập
1.3.2 Hệ thống trường Mầm Non được phân theo nguồn vốn đầu tư, điều hành
Theo quyết định của thủ tướng chính phủ số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2002 về một số chính sách phát triển Mầm Non, giáo dục Mầm Non bao gồm các loại hình sau:
Trang 23- Cơ sở giáo dục Mầm Non công lập: là các trường, lớp giáo dục Mầm Non do ngân sách nhà nước đảm bảo cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và kinh phí hoạt động
- Cơ sở giáo dục Mầm Non bán công: là các trường, nhóm lớp do nhà nước đầu tư cơ sở vật chất ban đầu, các cơ sở giáo dục Mầm Non ở các vùng nông thôn trước đây do hợp tác xã nông nghiệp đầu tư nay do Ủy Ban Nhân Dân Phường, Xã, Thị trấn trực tiếp quản lý về tài chính, nhân lực hoặc được ngân sách địa phương hỗ trợ cần thiết để đảm bảo chất lượng giáo dục
- Cơ sở giáo dục Mầm Non dân lập: bao gồm các trường, lớp Mầm Non do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế được phép thành lập
- Cơ sở giáo dục Mầm Non tư thục: bao gồm các trường, lớp Mầm Non do các cá nhân hoặc một nhóm cá nhân được phép thành lập và đầu tư
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.4.1 Thế nào là phát triển bền vững (PTBV)
Phát triển bền vững là một khái niệm mới xuất hiện khoảng từ thập niên
80, bắt nguồn từ Hội Thảo về môi trường do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Thụy Điển năm 1972 Tai hội thảo này người ta tập trung vào xem xét mối quan hệ giữa môi trường và những vấn đề kinh tế, xã hội; làm sao để cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế xã hội và môi trường Và đặc biệt vào năm 1987, khái niệm này trở nên phổ biến qua việc ra đời của cuốn sách “Our common world”
Trang 24do Ủy Ban Thế Giới Về Môi Trường và Phát Triển xuất bản Theo Ủy Ban này
“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây tác hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau” Hay theo Liên Đoàn Bảo Tồn Thế Giới và Quỷ Bảo Trợ Thiên Nhiên Thế Giới “Phát triển bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống con người trong khả năng bảo vệ hệ sinh thái”
Mặc dù có những định nghĩa khác nhau, nhưng phát triển bền vững rõ ràng là một khái niệm mang tính chất thời đại, được đề cập, phát triển trong rất nhiều lĩnh vực, trở thành mục tiêu phát triển của xã hội loài người; và được minh họa, diễn giải thông qua mô hình sau:
Bảng 1: MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Xã hội
Môi trường
Kinh tế
PTBV
Trang 25Như vậy phát triển bền vững là sự lồng ghép, hài hòa, tổng hợp của 3 yếu tố, chỉ tiêu: kinh tế, môi trường, xã hội Phát triển bền vững là phát triển kinh tế phải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
1.4.2 Phát triển bền vững trường Mầm Non
Khái niệm phát triển bền vững được nghiên cứu, mở rộng trong rất nhiều lĩnh vực: môi trường, phát triển kinh tế, đô thị…., đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục
Tại Hội Nghị Về Môi Trường và Phát Triển do Liên Hiệp Quốc tổ chức vào năm 1992, và tại Hội Nghị Trái Đất đã nhấn mạnh, đề cập đến vai trò của giáo dục đối với phát triển bền vững (được thể hiện tại Chương Trình Nghị Sự
Quá khứ Xã hội Tương lai
Trang 2621) Và cũng tại Hội nghị Johannesburg năm 2002, chương 36 của chương trình Nghị Sự 21, một lần nữa tái khẳng định mục tiêu và vai trò của giáo dục, giáo dục và học tập là những cách tiếp cận chính yếu, quan trọng để đạt được sự phát triển bền vững, và tại Hội Nghị này người ta cũng đưa ra chương trình “Thập kỷ giáo dục cho phát triển bền vững” cho giai đoạn 2005-2014
Giáo dục thiết lập và giúp cho con người hiểu được tầm quan trọng của phát triển bền vững Giáo dục giúp cho con người nâng cao sự nhận thức về môi trường và những giá trị nhân bản, thúc đẩy những giá trị, thái độ, hành vi để đạt được sự phát triển bền vững Để đạt được điều đó, giáo dục phải giải thích môi trường về mặt lý tính, sinh học và những tác động của nền kinh tế xã hội và sự phát triển của con người
Đi vào xem xét, nghiên cứu các yếu tố để đạt được sự phát triển bền vững trong lĩnh vực giáo dục nói chung, trường Mầm Non nói riêng, ta thấy có những yếu tố sau:
- Yếu tố xã hội: trường Mầm Non bao gồm 2 chủ thể: trẻ em (học sinh) và những người phụ trách công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, đó là giáo viên, cấp dưỡng, nhân viên vệ sinh… Vậy thế hệ hiện tại là
ai, đó chính là đội ngũ giáo viên, cấp dưỡng, nhân viên vệ sinh và trẻ em, và thế hệ tương lai là con em của những người công tác trong trường Mầm Non và ngay chính những trẻ em đang học trong trường hay nói xa hơn nữa là con của các bé đang học tại trường, hay tất cả những thế hệ sau
- Yếu tố môi trường: môi trường trong trường Mầm Non phải đề cập đầu tiên chính là môi trường lớp học, môi trường của toàn bộ
Trang 27trường Mầm Non đó, môi trường sống của cộng đồng dân cư xung quanh, môi trường quốc gia hay ở phạm vi rộng lớn hơn chính là môi trường toàn cầu
- Yếu tố kinh tế chính là sự tăng trưởng phát triển của trường Mầm Non, thể hiện qua số học sinh, uy tín và danh tiếng của trường Chính khi trường phát triển, có lợi nhuận thì các chế độ lương bổng, đãi ngộ của toàn thể cán bộ công nhân viên trong trường mới được đảm bảo và cải thiện
Như vậy các biện pháp phát triển bền vững trường mầm Non ngoài công lập tựu trung lại đều nhằm tác động vào các đối tượng, yếu tố trên, đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố theo cách “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây tác hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau” và “Phát triển bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống con người trong khả năng bảo vệ hệ sinh thái”
Để minh chứng cho những nhận định trên tôi đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu những phân tích, nghiên cứu về lĩnh vực này của một số tổ chức
Liên Hiệp Quốc đã đưa ra các tiêu chí nhằm đạt được sự phát triển bền vững tại Hội Thảo Về Môi Trường và Sự Phát Triển vào năm 1992:
- Phổ biến giáo dục về môi trường và sự phát triển cho mọi lứa tuổi
- Đưa những khái niệm về môi trường và sự phát triển vào chương trình dạy, cùng với những đánh giá về hiện trạng, vấn đề chính
- Kêu gọi sự tham gia hưởng ứng của học sinh và cộng đồng dân cư trong vùng về đề tài “Môi trường trong lành”, bao gồm: chương
Trang 28trình nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, và những tác động về kinh tế và môi trường khi sử dụng tài nguyên
- Khuyến khích các thành phần trong xã hội cùng tham gia phối hợp trong việc đào tạo con người về bảo vệ môi trường
Theo Cơ Quan Phát Triển Bền Vững của nước Anh thì có 8 yếu tố để có thể tiến tới sự phát triển bền vững trong ngành giáo dục:
- Thức ăn, thức uống
- Năng lượng sử dụng để chế biến món ăn và nguồn nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh
- Phượng tiện vận chuyển để đưa rước học sinh: sử dụng phương tiện
ít gây ô nhiễm, không nguy hiểm và có lợi cho sức khỏe
- Chất thải: sử dụng những nguyên vật liệu ít gây ô nhiễm môi trường, có thể tái sử dụng, tái chế biến được
- Thiết kế, trang trí lớp, trường học: thiết kế và trang trí trường lớp sao cho giúp học sinh hiểu về phát triển bền vững cả lý thuyết lẫn thực hành, và phải giúp cho học sinh hiểu được những vấn đề đang diễn ra trên thực tế trong một môi trường mà con người là một phần của tự nhiên
- Sự tham gia của Phụ Huynh học sinh, giáo viên, học sinh… trong việc thiết kế trang trí trường lớp
- Trường hoạt động như một trung tâm, điểm xuất phát để nâng cao sự nhận thức, học hỏi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư trong vùng
Trang 29- Trường là thành viên của cộng đồng quốc tế trong công cuộc xây dựng những cách nhìn, quan điểm tích cực đối với những vấn đề mang tính toàn cầu
Từ những nghiên cứu trên cùng với tình hình thực tế tại Việt Nam, để phát triển bền vững mô hình trường Mầm Non ngoài công lập cần quan tâm những vấn đề sau:
- Đảm bảo tốc độ tăng trưởng, phát triển ổn định cho trường
- Đảm bảo cung cấp chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, và nhân viên theo đúng yêu cầu
- Đảm bảo sự an toàn vệ sinh thực phẩm một cách tuyệt đối cho trẻ
- Cung cấp cho trẻ một môi trường với đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị và một mơi trường an toàn tuyệt đối để phòng tránh tai nạn xảy ra cho trẻ
- Thực hiện việc thiết kế, trang trí trường lớp theo hướng khuyến khích, tạo điều kiện cho trẻ và cộng đồng cùng góp phần vào công cuộc phát triển bền vững
- Đưa những khái niệm về môi trường và sự phát triển vào chương trình dạy, cùng với những đánh giá về hiện trạng
- Trường hoạt động như một trung tâm, điểm xuất phát để nâng cao sự nhận thức, học hỏi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư trong vùng
Rõ ràng, tất cả những biện pháp trên đều hướng đến 3 thành tố cơ bản của phát triển bền vững, đó là sự hòa hợp, lồng ghép giữa yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo vệ thiên nhiên, sử
Trang 30dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm phương hại đến thế hệ mai sau
Chẳng hạn như việc đảm bảo sự tăng trưởng trưởng phát triển của trường sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng nhu cầu cơ bản của cuộc sống, nhu cầu lao động của con người Chỉ khi trường tăng trưởng và phát triển tức có lợi nhuận thì các chế độ đãi ngộ đối với nhân viên mới được đảm bảo, và ngày càng được nâng cao, mới đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại đó là đáp ứng nhu cầu cơ bản của tất cả công nhân viên trong trường, nhu cầu làm việc, và các nhu cầu xã hội khác Hơn thế nữa, nó cũng góp phần vào việc cung cấp, trang bị, củng cố cho thế hệ sau, con em của chúng ta, thậm chí thế hệ sau của các cháu đang học tại trường những gì tốt đẹp nhất
Công tác đảm bảo chế độ ăn uống trong trường cho trẻ và cho tất cả nhân viên hay công tác đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho trẻ cũng là những biện pháp tác động vào thế hệ hiện tại là các cháu, đáp ứng nhu cầu của trẻ cả về mặt sức khỏe, tình cảm để đảm bảo cho trẻ sự phát triển hài hòa cân đối
Tất cả những biện pháp còn lại chính là việc giáo dục, hình thành ở trẻ những thái độ, hành vi bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên và là trung tâm, xuất phát điểm giúp nâng cao nhận thức cho cộng đồng xung quanh trong việc bảo vệ môi trường
1.5 TÌNH HÌNH GIÁO DỤC MẦM NON TẠI CÁC NƯỚC KHÁC
1.5.1 Giáo dục Mầm Non tại Thụy Điển
Trang 31Thụy Điển có quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, coi giai đoạn Mầm Non là thời kỳ vàng của cuộc đời, coi sự phát triển của trẻ là một hoạt động liên tục không có kết thúc nên việc dạy học đã chuyển từ phương pháp theo nhóm sang tiếp cận cá nhân để giúp quyết định khả năng của từng trẻ và hỗ trợ từng cá nhân một cách tốt hơn
Về học tập thì giáo dục Mầm Non Thụy Điển coi việc học có sự tham gia của toàn bộ cơ thể và tất cả các giác quan Sáng tạo về mặt cảm xúc, nhận thức, xã hội và vận động là những kỹ năng bẩm sinh mà trẻ cần đựơc phát triển một cách thích hợp; đó là cần tạo ra một môi trường giống như gia đình, cung cấp cho trẻ thức ăn, các phương tiện học sáng tạo và đảm bảo trẻ được chăm sóc về mặt
y tế Sự tự do, chơi và sáng tạo được xem là những phương tiện tự nhiên của việc học tập và phát triển từ bên trong Quan điểm về học tập của trẻ Mầm Non trong thế kỷ 20 đã rất khác so với quan điểm truyền thống Lĩnh vực giáo dục Mầm Non đã tạo ra cuộc xung đột giữa sự phát triển tự nhiên với kỷ luật hoặc giữa sự học về mặt cảm xúc, xã hội và nhận thức với việc dạy các kỹ năng và kiến thức
ở trường học Với việc đưa giáo dục Mầm Non vào hệ thống giáo dục từ năm
1996 có thể được xem là việc chấm dứtû xung đột giữa 2 quan điểm liên quan đến thời kỳ Mầm Non và sự phát triển, việc học và giáo dục trẻ trong gần một thế kỷ Các nguyên tắc cơ bản về giáo dục Mầm Non của Thụy Điển:
- Học tập và phát triển liên tục trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường xung quanh Trẻ học trong một thời điểm và với tất cả các giác quan của mình
- Chơi và các hoạt động theo chủ điểm Chơi vô cùng quan trọng với trẻ và là nền tảng cho hoạt động tại trường Mầm Non Suy nghĩ,
Trang 32tưởng tượng và sáng tạo, ngôn ngữ và sự hợp tác được phát triển Hoạt động theo chủ điểm sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội hơn để hiểu biết về các mối quan hệ và bối cảnh, tự kiểm tra khái niệm và giả thuyết của mình về thế giới xung quanh
- Sự liên kết giữa kinh nghiệm trước đó của trẻ với kiến thức trẻ được học Để học được một cái gì đó mới mẻ, trẻ phải liên hệ nó với cái mà trẻ đã biết, đã có kinh nghiệm và thích thú với nó
- Tầm quan trọng về mặt giáo dục của sự chăm sóc Sự chăm sóc có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe của trẻ, vì nó là tiến đề cho sự phát triển và việc học của trẻ Chăm sóc mang ý nghĩa giáo dục vì nó cung cấp kinh nghiệm và kiến thức thông qua những gì trẻ học về bản thân và thế giới xung quanh
- Phát triển trong nhóm tập thể tạo thuận lợi cho việc học và sự phát triển của trẻ Trẻ cần phải trải qua những kinh nghiệm như chia sẻ, cùng hợp tác
(Nguồn: Unessco (2003), “Trích báo cáo của UNESCO về chăm sóc giáo dục Mầm Non của chính phủ Thụy Điển”)
1.5.2 Giáo dục Mầm Non tại Bắc Ailen
Trước năm 1998, tại Bắc Ailen, giáo dục Mầm Non chủ yếu chỉ nhận các cháu ở độ tuổi trước khi vào trường tiểu học, thường rơi vào nhóm tuổi từ 3 tuổi
2 tháng đến 4 tuổi 2 tháng, các cháu nhỏ hơn chỉ được nhận khi trường còn thiếu học sinh (các bé lớn tuổi hơn), và chỉ được nhận tối đa 5 bé trong một lớp 25 bé Các trường này đều là của nhà nước, là sự kết hợp giữa trường Mầm Non và Bộ
Trang 33Phận Giáo Dục Mầm Non của trường tiểu học Trong hệ thống giáo dục Bắc Ailen thì giáo dục Mầm Non không phải là giáo dục phổ cập, không bắt buộc, phần lớn các trường Mầm Non chỉ dạy và giữ trẻ nửa ngày, tối thiểu là 2 tiếng rưỡi một ngày Tuy nhiên cũng có trường phục vụ với thời gian lâu hơn, và có phục vụ bán trú tức các bé sẽ ăn cơm trưa tại trường
Năm 1997, Vương Quốc Anh thực hiện chương trình “Trường Mầm Non cho các bé 4 tuổi” thành công tại Anh, xứ Wales và sau đó chuyển sang các bé 3 tuổi Đồng thời theo một số nghiên cứu do chính phủ Bắc Ailen tài trợ cho thấy rằng: so với các bé không theo học tại trường Mầm Non thì các bé có học sẽ dễ hòa nhập, tự tin, độc lập, và được chuẩn bị tốt hơn, học nhanh hơn… khi bắt đầu chương trình tiểu học Do vậy mà chính phủ Bắc Ailen thực hiện chương trình
“Mở rộng giáo dục Mầm Non”, khuyến khích bộ phận tư nhân cùng tham gia vào chương trình này Chương trình này bao gồm những giải pháp giúp nâng cao chất lượng giáo dục cho các trường Mầm Non, áp dụng chương trình, giáo trình học chung cho tất cả các trường theo “Hướng dẫn chương trình học cho các trường Mầm Non” do Ủy Ban Phụ Trách Về Chương Trình Học, Kỳ Thi Và Đánh Giá Cụ thể, chương trình học bao gồm các nội dung sau:
-Phát triển nhân cách, tình cảm và về mặt xã hội
-Phát triển thể chất
-Phát triển tính sáng tạo, thẩm mỹ
-Phát triển ngôn ngữ
-Một số hiểu biết sơ đẳng về toán
-Một số kiến thức về khoa học và công nghệ
-Kiến thức về môi trường và sự đánh giá về môi trường
Trang 34Từ những nội dung trên, kích thích, thúc đẩy các hoạt động thực tiễn của trẻ thông qua các nội dung sau:
- Lập kế hoạch, quan sát, đánh giá, kiểm tra
- Lập kế hoạch theo sự tiến bộ của trẻ để tạo thách thức cho trẻ
- Có sự tham gia, giúp đỡ của người lớn
- Thúc đẩy, kích thích trẻ tổ chức, sắp xếp thời gian, đồ dùng
- Đảm bảo sự công bằng giữa các cháu: không phân biệt giới tính, sắc tộc, văn hóa và những bé có cá tính hay có một số yêu cầu đặc biệt so với bé khác
- Cung cấp, đáp ứng những bé có nhu cầu, khả năng đặc biệt: nhóm những trẻ này lại với nhau hay chương trình học có thể thay đổi để phù hợp với trẻ
- Coi cha mẹ như là đối tác, bạn bè: thể hiện mối quan hệ 2 chiều, cha mẹ chia sẻ với bé những thông tin, kiến thức để cùng giáo viên giúp trẻ phát triển, ngược lại giáo viên cần thông báo cho cha mẹ biết về chương trình học và sự tiến bộ của trẻ…
- Liên lạc với cộng đồng và các cơ quan, tổ chức khác: mối quan hệ tốt với cộng động và các cơ quan, tổ chức như cơ sở y tế, cơ sở giáo dục khác… sẽ hỗ trợ rất nhiều trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ
Trang 35CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI GIAN VỪA QUA
2.1 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG
MẦM NON NÓI CHUNG VÀ TRƯỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP NÓI RIÊNG
2.1.1 Giáo dục Mầm Non trước năm 1945
Trong thời kỳ này, việc giáo dục Mầm Non không được coi là công việc chung của xã hội Trẻ em hoàn toàn chịu sự giáo dục của gia đình Những gia đình khá giả thường nuôi vú em để trông coi, còn những gia đình lao động thường bỏ mặc con cái cho ông bà hoặc đứa lớn trông đứa bé
Ngay cả những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn cũng chỉ có một vài cơ sở nuôi trẻ mang tính chất cứu tế, từ thiện: trại trẻ mồ côi phố Hàng Bột, trại tế sinh và một vài lớp Mẫu Giáo ở Hà Nội Đối tượng là con em người Pháp và những gia đình giàu có, quyền thế
Trang 362.1.2 Thời kỳ 1945-1954
Nhà nước đã có quyết định mở ấu trĩ viên theo sắc lệnh số 36 ngày
27-03-1946 do chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tiếp đến Hiến Pháp năm 27-03-1946 đã ghi rõ:
“Nhà nước bảo vệ quyền lợi của những bà mẹ và của trẻ em, đảm bảo phát triển các nhà trẻ, vườn trẻ” Ngày 25-7-1946, hội đồng cố vấn học chính Bộ giáo dục họp để nghiên cứu các nguyên tắc tổ chức, mở lớp huấn luyện giáo viên mẫu giáo, cử cán bộ phụ trách
Như vậy lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, giáo dục Mầm Non được đặt ra thành một vấn đề của nhà nước Nó bắt đầu được quan tâm và phát triển Một số nhà trẻ, mẫu giáo bắt đầu được thành lập đó là nhà trẻ Trung Ương, rồi nhà trẻ Khe Khao (Bắc Cạn), nhà trẻ quân đội lần lượt được thành lập Các lớp mẫu giáo cũng được mở ra ở nhiều nơi: Hà Nội (trường mẫu giáo đầu tiên được mở ở làng Tây Hồ), Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Giang, Yên Bái và Trung bộ Đặc biệt ban ấu trĩ được thành lập sớm (5/1948) đã mở nhiều lớp huấn luyện giáo viên khiến cho phong trào ấu trĩ phát triển mạnh Tính đến tháng 2/1948 số lớp ấu trĩ đã lên tới 333 lớp với 11.877 cháu
Ngày 4/7/1950 Ban Mẫu Giáo Trung Ương được thành lập Tính đến cuối năm 1951 đã có: Bắc bộ có 46 lớp với 1193 trẻ; Trung bộ có 30 lớp với 1200 trẻ
2.1.3 Giai đoạn 1954-1965
Giai đoạn này nhu cầu về nhà trẻ tăng nhanh do sau khi giải phóng, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, tỷ lệ sinh đẻ tăng từ 3-3.5%
Trang 37Ngày 7/2/1958 Bộ ra thông tư số 05/PT về việc tổ chức vườn trẻ dân lập, bộ chủ trương duy trì và đẩy mạnh nhà trẻ dân lập Tính đến cuối năm 1958, số lớp mẫu giáo lên tới 96 lớp với 2959 cháu Phong trào lan rộng ở nhiều tỉnh
Tháng 9/1959 Bộ giáo dục đã họp hội nghị liên tịch với các ngành bàn về việc phát triển trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo thuộc diện cơ quan, xí nghiệp Và năm học 1958-1959 đã có 17/26 tỉnh có phong trào mẫu giáo, mỗi tỉnh có từ 1 đến 5 lớp Toàn miền Bắc có 325 lớp, riêng Hà Nội có 291 lớp với 11.503 cháu Phong trào nhà trẻ mẫu giáo tiếp tục phát triển rộng khắp, nhiều tỉnh năm 1960 có một vài lớp, song đến năm 1964-1965 có 4944 lớp với 137.084 cháu và 5682 giáo viên
2.1.4 Giáo dục Mầm Non giai đoạn 1965-1975
Giai đoạn tình hình chiến tranh diễn ra ác liệt nhưng phong trào nhà trẻ mẫu giáo vẫn phát triển mạnh Kết quả là đến năm 1975 miền Bắc có 33.040 nhà trẻ, nhóm trẻ với 550.810 cháu, còn mẫu giáo mỗi năm tăng từ 3 đến 4000 lớp với gần 80.000 đến 90.000 trẻ Tuy nhiên giai đoạn 1971-1975 nhìn chung phong trào mẫu giáo đi xuống, nhiều nơi tan vỡ do cơ sở vật chất nghèo nàn sau chiến tranh
Về đào tạo thì tính đến năm 1970 toàn miền Bắc đã có một trường sư phạm mẫu giáo trung ương và 21 trường sư phạm mẫu giáo địa phương, trung bình mỗi năm có khoảng 2500 giáo viên mẫu giáo được đào tạo
Trang 382.1.5 Giai đoạn 1975-1985
Ngành giáo dục Mầm Non nhanh chóng được cải tạo, củng cố nâng cao chất lượng Năm 1976-1977 ngành giáo dục Mầm Non có sự chỉ đạo thống nhất trong cả nước Phong trào nhà trẻ phát triển nhanh đều và đi vào ổn định
Ngày 21/1/1978 Bộ giáo dục ban hành chương trình cải tiến được áp dụng trong cả nước Và từ khi có chương trình cải tiến cho mẫu giáo nên phong trào mẫu giáo phát triển mạnh, ổn định và vững chắc, có địa phương huy động được 60-70% số trẻ ra lớp Ở miền Nam, các trường lớp mẫu giáo cũng được phát triển và củng cố; trong năm 1985 đã có 612.300 cháu đi mẫu giáo Sau đây là vài số liệu về:
Bảng 2.1: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH MẦM NON TỪ
1975 ĐẾN 1985 TRONG PHẠM VI CẢ NƯỚC VÀ TỪNG
Bảng 2.2: SỐ LIỆU NHÀ TRẺ, NHÓM TRẺ 1980-1986 TẠI VIỆT NAM
Năm Số nhóm nhà trẻ Số trẻ
1980
1981
1986
46.763 46.644 40.597
1.246.473 1.229.886 1.127.831 (Nguồn: Trần Thị Sinh-Điền Thị Sinh, Giáo dục học Mầm Non, trường Cao Đẳng Sư Phạm Nhà Trẻ-Mầm Non TW số 1)
Trang 39Số lượng nhà trẻ giảm do Trung Quốc xâm lược và do khoán trong nông nghiệp
2.1.6 Giai đoạn 1986 tới nay
Giáo dục Mầm Non đi vào thế ổn định, chú ý tới chất lượng, mục tiêu đề
ra đúng hướng, rõ ràng Chương trình được cải tiến cho phù hợp với yêu cầu mới của ngành học nói riêng, của đất nước nói chung
Bảng 2.3: CÁC LOẠI HÌNH GIÁO DỤC MẦM NON TRONG THỜI
Nhà trẻ Mẫu giáo Nhà trẻ mẫu giáo hợp nhất
Hệ chính qui
Lớp mẫu giáo 5 tuổi Nhóm trẻ gia đđình Nhóm tuổi thơ Lớp mẫu giáo 5 tuổi ngắn hạn Phi chính qui
Trường tư thục Hiện nay người ta phân chia các loại hình giáo dục Mầm Non theo các tiêu chí sau:
Trang 40Bảng 2.4: CÁC LOẠI HÌNH GIÁO DỤC MẦM NON
Theo quy mô Theo nguồn vốn đđầu tư, đđiều hành Trường Mầm Non
Trường Mẫu Giáo
Nhóm lớp nhà trẻ, mầm non, mẫu giáo
Cơ sở giáo dục nhà nước
Cơ sở giáo dục bán công
Cơ sở giáo dục dân lập
Cơ sở giáo dục tư thục
(Nguồn: Trần Thị Sinh-Điền Thị Sinh, Giáo dục học Mầm Non, trường Cao Đẳng Sư Phạm Nhà Trẻ-Mầm Non TW số 1)
Các trường Mầm Non ngoài công lập xuất hiện từ những năm đầu của thập niên 90, đây là những cơ sở tiên phong trong quá trình định hướng cho mô hình mới Sự hoạt động của các trường này trong giai đoạn đầu tương đối khó khăn, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan Nhưng với sự nỗ lực của mình cũng như được sự hỗ trợ từ phía nhà nước, đặc biệt là qua nghị quyết của chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa giáo dục, các trường này đã dần dần vượt qua được những khó khăn ban đầu, từng bước phát triển nhanh chóng cả về lượng lẫn chất Sự tồn tại của mô hình này được ghi rõ trong luật giáo dục “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm
lo sự nghiệp giáo dục… Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích huy động và tạo mọi điều kiện để tổ chức cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” (trích điều 11) Việc xã hội hóa giáo dục đã tạo điều kiện để khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục Song song với loại hình quản lý công lập để tạo bước phát triển về lượng cũng như chất cho hoạt động giáo dục, nhà nước từng bước đưa ra những