1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Bài dự thi tìm hiểu chính sách pháp luật về bình đẳng giới tại Việt Nam (111 trang)

111 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 4,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài dự thi tìm hiểu chính sách pháp luật về bình đẳng giới tại Việt Nam.Bình đẳng giới trong các lĩnh vực xã hộiKế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và thực hiện những lời di huấn của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo và thực hiện bình đẳng giới, nhiều văn bản chính sách đã được ban hành…Theo “Báo cáo phát triển con người, 2011” của UNDP, trình độ học vấn của phụ nữ Việt Nam (từ 25 tuổi trở lên) đã hoàn thành chương trình giáo dục cấp 2 trở lên là 24,7% so với 28% là của nam giới. Như vậy, mức độ chênh lệch giữa nam và nữ về giáo dục ở nước ta không nhiều. Theo Kết quả chủ yếu của Điều tra Dân sốKHHGĐ 142011 của Tổng cục Thống kê (TCTK) thì tỷ lệ biết chữ của nam giới là 96,2% và của nữ giới là 92,2% (từ 15 tuổi trở lên). Trang Wikipedia dẫn nguồn từ website Quốc hội thì tại Việt Nam, cứ 100 cử nhân có 36 nữ, 100 thạc sĩ có 34 nữ, 100 tiến sĩ có 24 nữ. Để tôn vinh các nhà khoa học nữ, 25 năm qua, giải thưởng Kovalevskaia đã trở thành một giải uy tín lớn trong giới khoa học Việt Nam được trao cho hàng chục cá nhân, tập thể. Từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Quỹ “Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam” nhằm khuyến khích và tôn vinh phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực.Khi phụ nữ có học vấn, học vấn cao sẽ mở ra các cơ hội cho họ về việc làm, thu nhập, cơ hội tiếp cận về y tế, kế hoạch hoá gia đình hay tham gia lĩnh vực chính trị. Chính vì thế, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Mở cánh cửa giáo dục là mở ra các cơ hội mới.Theo UNDP, tỷ lệ nữ tham gia lao động của Việt Nam là 68% và nam giới là 76%. Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 của TCTK thì tỷ lệ nữ tham gia lao động là 46,6% trong tổng số lao động. Như vậy, tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia lao động gần bằng nam giới. Đáng chú ý là báo cáo “Bình đẳng giới và Phát triển” (Gender equality and Development) của World bank được công bố mới đây thì tỷ lệ phụ nữ (30%) tham gia lao động trong lĩnh vực dịch vụ lại cao hơn nam giới (26%). Có trên 20% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam do phụ nữ làm chủ, chủ yếu thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông sản, thủy sản. Nhiều tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không những chỉ làm giàu cho bản thân mà còn đóng góp được nhiều cho xã hội. Theo UNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm được 1 thì nữ giới sẽ kiếm được 0,69 (số liệu năm 2007).Bình đẳng giới trong các lĩnh vực xã hộiKế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và thực hiện những lời di huấn của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo và thực hiện bình đẳng giới, nhiều văn bản chính sách đã được ban hành…Theo “Báo cáo phát triển con người, 2011” của UNDP, trình độ học vấn của phụ nữ Việt Nam (từ 25 tuổi trở lên) đã hoàn thành chương trình giáo dục cấp 2 trở lên là 24,7% so với 28% là của nam giới. Như vậy, mức độ chênh lệch giữa nam và nữ về giáo dục ở nước ta không nhiều. Theo Kết quả chủ yếu của Điều tra Dân sốKHHGĐ 142011 của Tổng cục Thống kê (TCTK) thì tỷ lệ biết chữ của nam giới là 96,2% và của nữ giới là 92,2% (từ 15 tuổi trở lên). Trang Wikipedia dẫn nguồn từ website Quốc hội thì tại Việt Nam, cứ 100 cử nhân có 36 nữ, 100 thạc sĩ có 34 nữ, 100 tiến sĩ có 24 nữ. Để tôn vinh các nhà khoa học nữ, 25 năm qua, giải thưởng Kovalevskaia đã trở thành một giải uy tín lớn trong giới khoa học Việt Nam được trao cho hàng chục cá nhân, tập thể. Từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Quỹ “Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam” nhằm khuyến khích và tôn vinh phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực.Khi phụ nữ có học vấn, học vấn cao sẽ mở ra các cơ hội cho họ về việc làm, thu nhập, cơ hội tiếp cận về y tế, kế hoạch hoá gia đình hay tham gia lĩnh vực chính trị. Chính vì thế, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Mở cánh cửa giáo dục là mở ra các cơ hội mới.Theo UNDP, tỷ lệ nữ tham gia lao động của Việt Nam là 68% và nam giới là 76%. Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 của TCTK thì tỷ lệ nữ tham gia lao động là 46,6% trong tổng số lao động. Như vậy, tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia lao động gần bằng nam giới. Đáng chú ý là báo cáo “Bình đẳng giới và Phát triển” (Gender equality and Development) của World bank được công bố mới đây thì tỷ lệ phụ nữ (30%) tham gia lao động trong lĩnh vực dịch vụ lại cao hơn nam giới (26%). Có trên 20% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam do phụ nữ làm chủ, chủ yếu thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông sản, thủy sản. Nhiều tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không những chỉ làm giàu cho bản thân mà còn đóng góp được nhiều cho xã hội. Theo UNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm được 1 thì nữ giới sẽ kiếm được 0,69 (số liệu năm 2007).

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

KHÁI LƯỢC CHUNG

VỀ VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo

Trang 2

điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộngđồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển

đó (Luật Bình đẳng giới - 2006)

Thực trạng bất bình đẳng về Giới, đã có một bước tiến khá dài trêntoàn thế giới kể từ năm 1910, là năm mà “Tuyên ngôn về quyền bình đẳngcủa phụ nữ” được công bố tại Hội nghị Copenhagen do Rosa Luxemburg

và Krupskaia Constantinovna chủ trì Trong Tuyên ngôn đó, lần đầu tiênvấn đề bình đẳng cho phụ nữ đi làm việc được đặt ra với các nguyên tắc

cơ bản "Làm việc ngày 8 tiếng (để chăm sóc gia đình); giờ làm ngangnhau thì tiền công phải được trả ngang nhau; Phụ nữ lao động có con nhỏphải được dành thời gian cho con bú)"

Từ đó đến nay, hơn 100 năm đã trôi qua Từ chỗ không thừa nhậnphụ nữ đi làm việc và không thể có cương vị xã hội như nam giới, tronghơn 100 năm qua, chúng ta có phụ nữ trong danh sách đoạt giải Nobel màMarie Curie là người đầu tiên Chúng ta có phụ nữ là Tổng thống, PhóTổng thống (Phó chủ tịch Nước), Chủ tịch Quốc Hội và Phó chủ tịch

Trang 3

Quốc hội, Thủ tướng, Bộ trưởng quốc phòng, Bộ trưởng ngoại giao, Bộtrưởng Thương mại, Bộ trưởng Tài chính (là những Bộ mà hơn hai thậpniên trước chưa từng có phụ nữ đảm trách trong các chính phủ) Chúng ta

có các nữ Hiệu trưởng Đại học ở Việt Nam và một số đại học khác trênthế giới Chúng ta có các nữ Tổng biên tập báo và truyền hình Chúng ta

có các nữ phi hành gia và nữ vận động viên thể thao danh tiếng khôngthua kém nam giới

“Báo cáo phát triển con người, 2011” do UNDP công bố mới đây cho thấy, Việt Nam xếp thứ 128 trên 187 quốc gia và vùng lãnh thổ.

“Báo cáo phát triển con người, 2011” do UNDP công bố mới đâycho thấy, Việt Nam xếp thứ 128 trên 187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mứctrung bình trên thế giới, về chỉ số phát triển con người (HDI) nhưng lạixếp thứ 48 trên thế giới về chỉ số bất bình đẳng giới (GII - thứ hạng cànggần 0 càng thể hiện sự bình đẳng cao) Theo đó, chúng ta đã có nhữngbước tiến vượt bậc trong việc thực hiện bình đẳng giới

Bản đồ thế giới về chỉ số bất bình đẳng giới, 2011.

Những biến chuyển ngoạn mục của Việt Nam

Trang 4

“Báo cáo Phát triển con người, 2011” của UNDP cũng cho thấy, xuhướng GII của Việt Nam là liên tục giảm từ 1995-2011 Điều đó cho thấymức độ bình đẳng giới của Việt Nam tăng lên rõ rệt trong thời gian.

Biểu 1: Xu hướng GII Việt Nam 1995-2011.

So với các nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam xếp thứ 7/11 nếuxét về chỉ số HDI, nhưng nếu xét về chỉ số GII, Việt Nam lại đứng thứ 3,sau Singapore và Malaysia Như vậy, có thể nói, mặc dù chỉ số phát triểncon người của Việt Nam còn hạn chế so với các nước trong khu vựcnhưng mức độ bình đẳng giới của Việt Nam luôn thuộc những nước hàngđầu khu vực

Bảng 1: So sánh thứ hạng HDI và GII của Việt Nam và các nước ASEAN, 2011

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và phát huy bình

Trang 5

Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hiếppháp 1946, đã ghi nhận “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thểnhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giaicấp, tôn giáo” (Điều 1) “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phươngdiện” (Điều 9).

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch HồChí Minh luôn dành suối nguồn nghĩa tình sâu nặng, trân quý các thế hệphụ nữ Việt Nam Tại lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệpPhụ nữ Việt Nam, Người đã ôn lại truyền thống yêu nước đầy tự hào củangười phụ nữ Việt Nam với hình ảnh Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa,đánh giặc, cứu dân thủa trước “cho đến nay mỗi khi nước nhà gặp nguynan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mìnhvào sự nghiệp giải phóng dân tộc” Tại Đại hội liên hoan phụ nữ “NămTốt” vào ngày 30-4-1964, Người đã khẳng định “Ngay từ lúc đầu, Đảng

và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bìnhquyền, bình đẳng với đàn ông”

Trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Ngườivui sướng nói "Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất" Trong bản

Trang 6

di chúc viết tháng 5 năm 1968, Người đã căn dặn: "Trong sự nghiệp chống

Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiếnđấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực

để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ tráchmọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắngvươn lên Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự chophụ nữ"

Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và thực hiệnnhững lời di huấn của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo và thựchiện bình đẳng giới, nhiều văn bản chính sách đã được ban hành như:Nghị quyết số 152-NQ/TW ngày 10/01/1967 “Về một số vấn đề về tổchức công tác phụ vận”, trong đó nhấn mạnh một số nhiệm vụ như “phân

bố, sử dụng hợp lý sức lao động phụ nữ trong nông nghiệp, hướng dẫnthực hiện quyết định của chính phủ về sử dụng lao động phụ nữ trongcông nghiệp”; “Tăng cường việc tổ chức đời sống, bảo vệ sức khoẻ chophụ nữ và trẻ em” Nghị quyết số 153-NQ/TW ngày 10/01/1967 về “Côngtác cán bộ nữ”; Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 07/6/1984 “Về một số vấn đềcấp bách trong công tác cán bộ nữ"; Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày12/7/1993 về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tìnhhình mới"; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 29/9/1993 về “Một số vấn đề vềcông tác cán bộ nữ trong tình hình mới”; Nghị quyết 11-NQ/TW ngày27/4/2007 của Bộ Chính trị về "Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước"…

Một trong những văn bản quan trọng không thể không nhắc đến, đó

là Hiến pháp 1992 đã quy định: “Công dân nữ và nam có quyền ngangnhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; Nghiêm

Trang 7

cấm hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”(Điều 63) Trong thời gian qua, hàng loạt các văn bản pháp luật của Nhànước đã được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội vàthực hiện bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hônnhân và Gia đình, Pháp lệnh Dân số và không thể không nhắc đến làLuật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới.

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

“Báo cáo phát triển con người năm 2011” cho biết tỷ lệ phụ nữ trong

cơ quan lập pháp của Việt Nam là 25,8% Theo Tổ chức Liên minh Nghịviện thế giới (Inter-Parliamentary Union) thì Việt Nam đứng thứ 40 trongtổng số 188 nước trên thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp (sốliệu tính đến ngày 30/11/2011 trên cơ sở báo cáo của cơ quan lập pháp cácnước) So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 3,sau Timor Leste và Lào

Bản đồ thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp, 2011.

Trang tin Nhóm Nữ nghị sỹ Việt Nam (thuộc Uỷ ban Các vấn đề xãhội của Quốc hội) và website Quốc hội cho biết, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc

Trang 8

hội ở nước ta liên tục tăng lên trong thời gian qua và duy trì ở mức cao Tỷ

lệ này đã tăng từ 3% (Quốc hội khoá I từ 1946-1960) đến trên 24% Quốchội khoá XIII (2011-2016)

Biểu 2: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ Khoá I-XIII.

Không chỉ chiếm tỷ lệ cao trong cơ quan lập pháp, phụ nữ Việt Namcòn tham gia, nắm giữ những vị trí quan trọng và đóng góp tích cực trongcác cơ quan hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xãhội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp… Phụ nữ Việt Nam cũng có một

tổ chức chính trị riêng của mình đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Namđược ra đời (ngày 20/10/1930) từ trước cách mạng Tháng 8 năm 1945hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của phụ nữ Tổ chức này với hàng chục triệu hội viênhoạt động rộng khắp trên cả nước từ trung ương đến địa phương và tận cácthôn, buôn, sóc, bản, làng

Bình đẳng giới trong các lĩnh vực xã hội

Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và thực hiệnnhững lời di huấn của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo và thựchiện bình đẳng giới, nhiều văn bản chính sách đã được ban hành…

Theo “Báo cáo phát triển con người, 2011” của UNDP, trình độ học

Trang 9

vấn của phụ nữ Việt Nam (từ 25 tuổi trở lên) đã hoàn thành chương trìnhgiáo dục cấp 2 trở lên là 24,7% so với 28% là của nam giới Như vậy, mức

độ chênh lệch giữa nam và nữ về giáo dục ở nước ta không nhiều TheoKết quả chủ yếu của Điều tra Dân số-KHHGĐ 1/4/2011 của Tổng cụcThống kê (TCTK) thì tỷ lệ biết chữ của nam giới là 96,2% và của nữ giới

là 92,2% (từ 15 tuổi trở lên) Trang Wikipedia dẫn nguồn từ website Quốchội thì tại Việt Nam, cứ 100 cử nhân có 36 nữ, 100 thạc sĩ có 34 nữ, 100tiến sĩ có 24 nữ Để tôn vinh các nhà khoa học nữ, 25 năm qua, giảithưởng Kovalevskaia đã trở thành một giải uy tín lớn trong giới khoa họcViệt Nam được trao cho hàng chục cá nhân, tập thể Từ năm 2002, Thủtướng Chính phủ đã quyết định thành lập Quỹ “Giải thưởng Phụ nữ ViệtNam” nhằm khuyến khích và tôn vinh phụ nữ Việt Nam trong các lĩnhvực

Khi phụ nữ có học vấn, học vấn cao sẽ mở ra các cơ hội cho họ vềviệc làm, thu nhập, cơ hội tiếp cận về y tế, kế hoạch hoá gia đình hay thamgia lĩnh vực chính trị Chính vì thế, đầu tư cho giáo dục là đầu tư chotương lai Mở cánh cửa giáo dục là mở ra các cơ hội mới

Theo UNDP, tỷ lệ nữ tham gia lao động của Việt Nam là 68% vànam giới là 76% Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 củaTCTK thì tỷ lệ nữ tham gia lao động là 46,6% trong tổng số lao động Nhưvậy, tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia lao động gần bằng nam giới Đáng chú ý

là báo cáo “Bình đẳng giới và Phát triển” (Gender equality andDevelopment) của World bank được công bố mới đây thì tỷ lệ phụ nữ(30%) tham gia lao động trong lĩnh vực dịch vụ lại cao hơn nam giới(26%) Có trên 20% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam do phụ nữ làm chủ,chủ yếu thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông

Trang 10

sản, thủy sản Nhiều tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không nhữngchỉ làm giàu cho bản thân mà còn đóng góp được nhiều cho xã hội TheoUNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm được 1$ thì nữ giới sẽ kiếmđược 0,69$ (số liệu năm 2007) Điều này khác xa so với nhiều nước trênthế giới Khi phụ nữ có việc làm, họ sẽ có thu nhập và mang đến sự tự chủ

về kinh tế, sự chia sẻ các quyết định trong gia đình và các cơ hội bìnhđẳng hơn đối với phụ nữ

Bản đồ thế giới về tỷ lệ thu nhập giữa nam và nữ.

Điều tra Dân số-KHHGĐ 1/4/2011 của TCTK cho thấy tỷ lệ sửdụng các biện pháp tránh thai của phụ nữ 15-49 tuổi năm 2011 là 78,2%,trong đó các biện pháp tránh thai hiện đại là 68,6%; tổng tỷ suất sinh là1,99 con Tỷ lệ các bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên trong thời kỳ mangthai là 76% Nếu theo tiêu chí của UNDP (ít nhất 1 lần khám thai) thì tỷ lệnày của Việt Nam là 93,8% Thành công của chương trình DS-KHHGĐtrong thời gian qua đã mang đến nhiều cơ hội lớn cho phụ nữ trong việctiếp cận và thụ hưởng các quyền, dịch vụ về y tế-dân số-KHHGĐ Cũngtheo TCTK, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi năm 2011 của Việt Nam là15,%o

Theo WHO và UNDP thì tỷ suất chết bà mẹ của Việt Nam là 56 (trên100,000 trẻ sinh ra sống) Số trường hợp sinh có sự giúp đỡ của cán bộ y tế

Trang 11

là 88% Mức chết giảm cùng với việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹthuật trong lĩnh vực y tế và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước tốt hơn đãlàm tuổi thọ của người dân ngày một tăng, trong đó, tuổi thọ của phụ nữluôn cao hơn nam giới Theo 2011 World population data sheet thì tuổi thọcủa phụ nữ Việt Nam hiện nay là 76 và nam giới là 70 tuổi.

Việt Nam có lịch sử về bình đẳng giới một phần là kết quả của truyềnthống mẫu quyền cổ xưa Tuy nhiên, do bị chế độ phong kiến Trung Quốc

đô hộ trong nhiều thế kỷ, đạo Khổng đã được truyền bá vào Việt Nam,quyền bình đẳng của phụ nữ bị mai một, người phụ nữ dần trở nên lệthuộc và thấp kém trong gia đình và xã hội Năm 1930, Đảng Cộng sảnViệt Nam ra đời đã xác định “nam, nữ bình quyền” là một trong mườinhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam Hiến pháp đầu tiên của Nhànước Việt Nam mới năm 1946 đã xác định các quyền công dân, trong đó

có sự bình đẳng về mọi mặt giữa nam và nữ Trong suốt mấy chục nămqua, vấn đề bình đẳng nam, nữ luôn được thể hiện trong các chủ trươngcủa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Năm 1982, Việt Nam đãphê chuẩn Công ước Xóa bỏ mọi hình thức Phân biệt đối xử Đối với Phụ

nữ (CEDAW) Năm 2006, Việt Nam đã thông qua Luật Bình đẳng Giới vànăm 2007 thông qua Luật Ngăn chặn và Chống Bạo lực Gia đình Cácquyền bình đẳng giữa nam và nữ gồm có quyền được làm việc, đượchưởng lương như nhau, quyền sở hữu, thừa kế và quyền lựa chọn bạn đờikhi kết hôn hoặc ly hôn được nhiều luật bảo vệ như Bộ luật Lao động,Luật Đất đai và Luật Hôn nhân Gia đình Bên cạnh đó, các nghị quyết vàchiến lược quốc gia được đặt ra như Nghị quyết số 11-NQ/TW của BộChính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH , HĐH đất nước”(2007), Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011-2020)

Trang 12

Những chủ trương, chính sách trên ra đời từ nhu cầu thực tế và từnhững hoạch định mang tính chiến lược lâu dài Các chiến lược ấy nằmtrong chiến lược tổng thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nănglực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế trong xu thế hội nhập, quốc tếhóa, toàn cầu hóa Khi áp dụng vào thực tiễn, đến lượt nó, những chínhsách luật pháp này đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh vìmục tiêu bình đẳng giới ở Việt nam Bình đẳng giới bản thân nó đã có ýnghĩa, vì khi có bình đẳng giới, mỗi nguời được sống cuộc sống mà họ lựachọn, không bị áp chế và kỳ thị, phân biệt đối xử, không bị tuớc đoạt vô lýquyền cơ bản của con người Bất bình đẳng giới không chỉ phương hại đếnquyền của những cá nhân đó mà sẽ là gánh nặng kéo lùi sự phát triển của

xã hội

Trong hiện tại, khoảng cách giữa nam và nữ trên các lĩnh vực kinh tế,giáo dục, chính trị, xã hội…hầu như được thu hẹp Theo số liệu thống kêmới nhất: tỷ lệ nam giới và phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức gầnbằng nhau: nữ 83%, nam 85% Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào cáchoạt động kinh tế, tạo việc làm và giữ vai trò chính trong một số ngành Tỉ

lệ lao động có việc làm được duy trì thường xuyên, chênh lệch giữa nam

và nữ chỉ 1,2% (49,4% nữ; 50,6% nam có việc làm) Tỉ lệ biết chữ củanam từ 10 tuổi trở lên chỉ cao hơn tỉ lệ biết chữ của nữ 6% Khoảng cáchnhập học của học sinh nam, nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp.Hiện tượng bỏ học sớm của trẻ em gái đã được cải thiện Tính trung bìnhtrong các năm học, tỉ lệ tốt nghiệp của học sinh nữ cao hơn nam; 100% trẻ

em gái từ 11-14 tuổi tốt nghiệp chương trình tiểu học và được vào lớp 6trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ, cho thấy rất rõ về thành tựu bìnhđẳng giới Tuổi thọ bình quân của người Việt nam hiện nay là 72,8 tuổi,phụ nữ là 75,6 tuổi (tăng 5,5 tuổi so với năm 1999), nam giới là 70,2 tuổi

Trang 13

(tăng 3,7 tuổi so với năm 1999) Tỉ lệ phụ nữ khám thai, được chăm sóc y

tế khi mang thai tăng Trong lĩnh vực chính trị, số lượng và chất lượngphụ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và các tổ chức, doanhnghiệp ngày càng tăng Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 1997-

2002 là 26,2%; nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là25,76%, xếp thứ 31 trên thế giới; nhiệm kỳ 2011 – 2016, là 24,40%.Trong hơn 15 năm qua, Việt Nam luôn có Phó chủ tịch nước là nữ Tronggia đình, tiếng nói của phụ nữ khi quyết định các vấn đề lớn, quan niệm vềcon trai, con gái đã có nhiều thay đổi tích cực Mức độ sở hữu và kiểmsoát các tài sản quan trọng của phụ nữ Việt Nam hiện nay đã được phápluật bảo vệ

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, sự nghiệp phấn đấu

vì sự tiến bộ, bình đẳng và phát triển của phụ nữ Việt Nam hiện vẫn cònnhiều khó khăn, thách thức Xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, trảiqua hàng nghìn năm Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng của định kiến giới nặng

nề, mặc dù Việt nam đã đi được một quãng xa trên con đường đấu tranh vìbình đẳng giới nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức, trong đó chủ yếu

là khoảng cách giữa quy định pháp luật về bình đẳng giới và vấn đề thựcthi luật trên thực tế Định kiến giới còn tồn tại khá phổ biến trong mọi đốitượng, phân công lao động thực tế vẫn chênh lệch theo hướng bất lợi chophụ nữ; quan niệm phổ biến vẫn theo hướng trọng trai hơn gái Ở miềnnúi, vùng sâu, vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục, tập quánlạc hậu, tỷ lệ phụ nữ nghèo, phụ nữ mù chữ còn cao Bạo lực gia đình, tệnạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng người nước ngoài diễnbiến phức tạp Tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, tham gia các cơ quandân cử còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực

Trang 14

lượng lao động nữ.

Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và tăng cường hội nhập quốc tế, việcphát huy quyền con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cầnđến những chủ trương, chính sách lớn và sự tham gia của cả cộng đồng.Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 nhằm đến 7mục tiêu, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnhđạo nhằm từng bước giảm khoảng cách giới trong hệ thống chính trị; giảmkhoảng cách giới trong kinh tế, lao động, việc làm, tăng sự tiếp cận củaphụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số đối với các nguồn lựckinh tế, thị trường lao động; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từngbước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ

Trải qua quá trình phấn đấu không ngừng, hiện nay Bình đẳng giớicủa Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việc thựchiện các mục tiêu thiên niên kỷ, là một trong những nước có thành tựu vềbình đẳng giới cao Chỉ số phát triển con người (HDI ) tăng từ 0,649 năm

1995 lên 0,688 năm 2003 và 0,725 năm 2009 Chỉ số phát triển giới (GDI)năm 2007 là 0,732 so với HDI là 0,733, tương đương 99,9% Việt Nam làmột trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạtđộng kinh tế, là quốc gia đạt được sự thay đổi khá lớn về xóa bỏ khoảngcách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á

Với truyền thống đạo lý dân tộc Việt, với những phẩm chất ưu việtcủa phụ nữ Việt Nam, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cộng đồng vàthiết thân hơn cả là sự vươn lên mạnh mẽ của mỗi cá nhân, phụ nữ ViệtNam đã, đang và ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên mọi mặtcủa đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công

Trang 15

Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, đạt được cácmục tiêu thiên niên kỷ về bình đẳng giới và nâng cao vị thế người phụnữ./.

Trang 16

PHẦN II TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1

Câu hỏi: Luật bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng thuật ngữ và cho 2 ví dụ minh hoạ cho 2 thuật ngữ bất kỳ?

Trả lời

Trang 17

1 Nhận thức chung về Luật Bình đẳng giới:

Bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu đãkhẳng định trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong Hiếnpháp và đã được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ

sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữtrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Luật bình đẳng giới được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 10 thôngqua ngày 29/11/2006, gồm 6 chương, 44 điều, quy định tất cả các nộidung cơ bản liên quan đến bình đẳng giới

Luật bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời đánhdấu tiếng nói pháp lý về bình đẳng giới, được cộng đồng quốc tế và công

Trang 18

dân trong nước đánh giá cao; là cơ sở để tiến hành các biện pháp bìnhđẳng giới một cách chính thống, hiệu quả, chính xác.

Ký kết quốc tế…

Luật bình đẳng giới quy định 9 thuật ngữ liên quan đến bình đẳng

giới, gồm: “Giới” “Giới tính” “Bình đẳng giới” “Định kiến giới”

“Phân biệt đối xử về giới” “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới”

-“Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” - “Hoạt động bình đẳng giới” - “Chỉ số phát triển giới (GDI)”

2 Các thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới:

1 “Giới” chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các

mối quan hệ xã hội

Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai

trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới được biết đến thôngqua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, dovậy giới có thể thay đổi được Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường đểtóc ngắn

Trang 19

Khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội do cácnhóm xã hội con người tạo ra Những quan niệm về giới luôn nảy sinh từtính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hộikhác nhau Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhaugiữa các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khithực hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và cácnhóm dân tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian.

Như vậy, giới là một khái niệm bao hàm một nội dung khá đa dạngthể hiện sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò,thái độ, quan niệm, sự phân công lao động, sức khỏe Vai trò của cả nam

và nữ là khác nhau nên cả hai có những vị trí xã hội không giống nhau.Tuy nhiên, không thể dựa vào những khác biệt này để tạo sự phân biệt đối

xử không bình đẵng về giới mà những khác biệt giữa phụ nữ và nam giớiphải được công nhận và đánh giá một cách bình đẳng Vai trò, vị thế vàquyền lợi pháp lý của phụ nữ phải được tôn trọng và bảo đảm

2 “Giới tính” chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữkhông thể thay đổi được Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam

Trang 20

và nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính Ví dụ như việc mangthai, sinh nở và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính.

Tuyên truyền đến tận vùng sâu vùng xa

Khi sinh ra, con người không mang những đặc tính giới Những đặctính giới chỉ được hình thành trong quá trình hoạt động ở gia đình vàngoài xã hội Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử tùy theo traihay gái Mọi người vẫn quen rằng, với trẻ gái thì cho chơi búp bê, dụng cụnấu ăn Cũng bởi con người thường có suy nghĩ mang tính áp đặt vềnhững gì mà nam và nữ có khả năng và loại hoạt động mà họ nên làm, do

đó ngay từ trong gia đình con trai đã được học từ bố và con gái học được

từ mẹ những quy tắc và kỳ vọng về hành vi “nam” và hành vi “nữ” củamình Chính những định kiến này đã tác động làm ảnh hưởng đến cá nhân

và những người xung quanh Những đặc điểm liên quan đến nam và nữthường bị rập khuôn, mang tính cố định (tương đối) và hầu như không có

sự lựa chọn nào khác

Những định kiến, quy chuẩn xã hội này đã ăn sâu vào tiềm thức củamọi người Do đó, làm cho định kiến giới tồn tại dai dẳng và xuất phát từ

Trang 21

những quan niệm xã hội tác động tới số lượng người rất lớn – đại đa sốdân cư Ví dụ: trong xã hội còn nhiều quan niệm xã hội phân biệt giữa phụ

nữ và nam giới như: đặt phụ nữ vào vị trí của người chăm sóc, phải ở gầngia đình và chăm sóc cho gia đình; nội trợ không phải là công việc củađàn ông; truyền thống phụ hệ coi nam giới là trụ cột trong gia đình và làngười ra quyết định

3 “Bình đẳng giới” là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,

được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triểncủa cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sựphát triển đó

C p nh t ki n th c cho cán b ph n c sập nhật kiến thức cho cán bộ phụ nữ cơ sở ập nhật kiến thức cho cán bộ phụ nữ cơ sở ến thức cho cán bộ phụ nữ cơ sở ức cho cán bộ phụ nữ cơ sở ộ phụ nữ cơ sở ụ nữ cơ sở ữ cơ sở ơ sở ởBình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau và

có cơ hội như nhau để làm việc và phát triển Nói bình đẳng giới không

có nghĩa là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bấtbình đẳng của cả hai giới Nhưng trong thời đại ngày nay, nhìn chung sựbất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nên người ta nói nhiều đếnviệc đòi quyền lợi cho phụ nữ

Nam giới và phụ nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khảnăng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để thamgia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát

Trang 22

triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởngthành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội.

Bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ tháicực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằngcon số hoặc tỉ lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sảnxuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻcông việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điềukiện cho nam, nữ phát triển tòan diện về mọi mặt Đồng thời tạo điều kiện

và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinhcon và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại

Mục tiêu bình đẳng giới:

Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơhội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triểnnguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiếtlập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực củađời sống xã hội và gia đình

4 “Định kiến giới” là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu

cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sựkhác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học Tuynhiên, trong thực tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và

có thể gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộlãnh đạo - những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định vàthực hiện chính sách đối với phụ nữ và người dân

Trang 23

Phụ nữ nghèo dân tộc còn chịu nhiều bất bình đẳng

Các định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm

người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giớihay phụ nữ Các quan niệm này thường sai lệch và hạn chế những điều màmột cá nhân có thể làm Ví dụ: một số định kiến coi phụ nữ là phụ thuộc,yếu đuối, thụ động, dịu dàng và thứ yếu Một số định kiến coi nam giới làđộc lập, mạnh mẽ, có năng lực, quan trọng hơn và là người ra quyết địnhtốt hơn; hoặc "trai anh hùng, gái thuyền quyên", hay "trai tài, gái sắc".Trong thực tế, những đặc điểm tính cách này không chỉ của riêng namgiới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể mang những đặcđiểm này Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho nam hay nữdưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một khía cạnhnào đó Ví dụ, người ta hay cho rằng: phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnhđạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái Chính định kiến

đó đã hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà họ

có khả năng hoàn thành một cách dễ dàng Các định kiến giới hiện naykhông chỉ gây bất lợi cho phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng bị bất lợi,như hạn chế cơ hội của nam giới tham gia vào công việc chăm sóc giađình hay lựa chọn một hành vi lành mạnh là không hút thuốc hay khônguống nhiều rượu

Trang 24

Tuy định kiến giới gây bất lợi cho cả nam và nữ, nhưng định kiếngiới thường đặt phụ nữ ở vị thế bất lợi nhiều hơn so với nam giới, sự bấtlợi đó được thể hiện trên nhiều khía cạnh Một trong những định kiến giớibiểu hiện khá rõ là gắn phụ nữ với vai trò gia đình, coi việc nội trợ, chămsóc gia đình, nuôi dạy con cái là của phụ nữ Đáng chú ý là, hiện naynhiều người đang cổ suý cho tư tưởng đưa phụ nữ quay trở về với giađình Từ suy nghĩ đó nhiều phụ nữ đã bị hạn chế trên con đường học tập,lao động, phấn đấu và vươn lên trong sự nghiệp, giảm khả năng đóng gópnhiều hơn về sức lực và trí tuệ cho xã hội.

5 “Phân biệt đối xử về giới” là việc hạn chế, loại trừ, không công

nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳnggiữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Từ định kiến giới dẫn đến phân biệt đối xử về giới Trong tình hìnhhiện nay, do yêu cầu công việc, nhiều phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gianmới nâng cao được chuyên môn, nghiệp vụ Nếu chỉ cần có thêm một ítthời gian trong ngày công việc của họ sẽ tốt hơn, có thể đem lại rất nhiềulợi ích cho nhiều người Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình vừa làmtốt công việc xã hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi tráchnhiệm, bởi họ không những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là ngườichủ yếu đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình Nếu xéttương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giớicho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm cáccông việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung bình của phụ nữ là

13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng 9 giờ) Do vậy, phụ nữ ít

có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động xã hội sovới nam giới

Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặcphấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc Đó cũng là

lý do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí

Trang 25

cao hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn Đó cũng là nguyênnhân tụt hậu của giới nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, côngnghệ và cả trong lãnh đạo và quản lý.

Phụ nữ nông thôn gánh vác nhiều công việc nặng nhọc, độc hại

Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làmlãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phùhợp) bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đạisự”, phụ nữ thì chỉ nên làm việc công việc nhẹ nhàng để có thời gian dànhcho gia đình Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong lãnh đạo,

và đặc biệt ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với giới

nữ của mình Ngoài hiện tượng níu kéo áo nhau ở một số phụ nữ, thì vấn

đề ở đây vẫn là do định kiến giới, coi nam giới ở vị trí lãnh đạo tốt hơn làphụ nữ nên trong các kỳ bầu cử, những người gạt phụ nữ khỏi danh sáchbầu cử có khi không phải là nam, mà lại là nữ

Mặc dù ở những công ty, xí nghiệp đông lao động nữ, doanh nghiệp

đó được miễn giảm thuế thu nhập và được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi.Nhưng trong mục tuyển dụng lao động đăng trên các báo cho thấy, nhiềucông ty chỉ tuyển lao động nam mặc dù công việc đó cũng phù hợp vớiphụ nữ, hoặc có những thông báo tuyển dụng cùng một công việc nhưnhau, ngành học như nhau, nhưng yêu cầu đối với nữ phải có bằng tốt

Trang 26

nghiệp loại khá, giỏi, còn nam chỉ cần tốt nghiệp loại trung bình Đó lànhững biểu hiện khá rõ nét về phân biệt đối xử về giới.

6 “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” là biện pháp nhằm bảo đảm

bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hànhtrong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò,điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự pháttriển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làmgiảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đượcthực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bìnhđẳng giới đã đạt được

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đã được quy định cụ thểtrong Luật bình đẳng giới; các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trêntừng lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục đào tạo, văn hoá, thôngtin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, gia đình, y tế; trách nhiệm của

Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc, Hội liên hiệp phụ nữ các cấp,các cơ quan nhà nước, tổ chưc chính trị xã hội, cơ quan khác và công dântrong việc thực hiện gình đẳng giới

7 “Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, tráchnhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội đượcvăn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh

Trang 27

Luật hoá các vấn đề bình đẳng giới hiện nay vừa mục tiêu, vừa làbiện pháp để tiến hành các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới một cáchchính thống, hiệu quả Vấn đề bình đẳng giới hiện nay có liên quan đếnmọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Luật bình đẳng giới chỉ quy định mộtcách tổng quát các mục tiêu, biện pháp, trách nhiệm của các cơ quan tổchức trong việc thực hiện bình đẳng giới Do đó việc lồng ghép các vấn đềgiới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để các quy phạm phápluật điều chỉnh vấn đề bình đẳng giới trên các lĩnh vực toàn diện của đờisống xã hội là rất cần thiết và hiệu quả Từng lĩnh vực cụ thể đều có quyphạm để điều chỉnh về bình đẳng giới Ví dụ như trong Luật lao độngcũng có phần quy định riêng các nội dung về lao động nữ; Luật hôn nhân

và gia đình quy định vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trongquyết định các vấn đề của gia đình và chăm sóc con cái; Luật phòngchống bạo lực gia đình quy định các hành vi bạo lực bị cấm trong giađình

8 “Hoạt động bình đẳng giới” là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia

đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới

Các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng giới hay nói cáchkhác là các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới là hoạt động mang tính xã

Trang 28

hội Vấn đề bất bình đẳng giới có thể hiện hữu ở mọi lĩnh vực, mọi địabàn do đó yêu cầu trách nhiệm chung của cơ quan, tổ chức, gia đình vàtừng cá nhân trong việc đấu tranh, đẩy lùi bất bình đẳng giới và tiến hànhcác biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới ngày càng tốt hơn

Hoạt động bình đẳng giới có hiệu quả như thế nào phụ thuộc vàonhiều yếu tố, từ thống nhất nhận thức của các tổ chức, cá nhân; biện pháptiến hành; nhân tố cán bộ làm công tác bình đẳng giới và các điều kiện vậtchất đảm bảo kèm theo Bên cạnh đó là việc xử lý nghiêm, kịp thời cáchành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới

9 “Chỉ số phát triển giới (GDI)” là số liệu tổng hợp phản ánh thực

trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độgiáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ

Trình độ giáo dục phụ nữ miền biển còn hạn chế

Chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI) là một chỉ số tổng hợp đolường phát triển con người trong ba lĩnh vực giống như trong chỉ số pháttriển con người HDI (tuổi thọ, học vấn và thu nhập) nhưng đã điều chỉnh

để xem xét sự bất bình đẳng giới trong những lĩnh vực này GDI đượcUNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995 Về cơ bản GDI

Trang 29

vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp củayếu tố giới để qua đó đánh giá trình độ phát triển giới của mỗi quốc gia.

Do bất bình đẳng giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thườngthấp hơn so với HDI

Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI)ngày càng trở nên rõ ràng Đo đạc được chỉ số phát triển giới sẽ cung cấp

cơ sở quan trọng để từ đó các cơ quan chức năng xây dựng các chươngtrình, chính sách hướng tới sự phát triển của cộng đồng nói chung và chotừng giới nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu vì sự phát triển của phụ

nữ Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hợp Quốc

về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổbiến Trong các báo cáo phát triển gần đây của Liên hợp quốc đều tồn tạisong hành hai chỉ số trên Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính tính toáncủa HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong cácđánh giá phát triển liên quan tới yếu tố giới Đặc biệt là trong thời kỳ hiệnnay, khi mức độ phát triển kinh tế đã đưa nhiều quốc gia tới ngưỡng thànhcông nhất định, nhưng khoảng cách giới ở đó vẫn còn là một bài toánchưa có lời giải đáp hữu hiệu khiến cho việc thực hiện mục tiêu công bằngbình đẳng và tiến bộ chưa thực sự mang lại lợi ích đồng đều cho cả namgiới và nữ giới

Về bản chất, chỉ số GDI không đo lường bất bình đẳng giới mà nó là

sự điều chỉnh của HDI để đánh giá khoảng cách về giới Chỉ số GDI giảmxuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặckhi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên Sự chênhlệch về những khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDIcàng thấp khi so sánh với HDI

* Ví dụ minh hoạ cho khái niệm:

Trang 30

- Ví dụ minh hoạ cho khái niệm “Phân biệt đối xử về giới”: phân

biệt giữa nam và nữ trong việc tham gia ứng cử, đề cử vào các cơ quandân cử, chỉ nam giới mới được tham gia còn phụ nữ thì không được

- Ví dụ minh hoạ cho khái niệm “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới”: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ.

Câu 2

Câu hỏi: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là gì? Nêu các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực.

Trả lời

1 “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” là biện pháp nhằm bảo đảm

bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hànhtrong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò,điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự pháttriển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làmgiảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đượcthực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bìnhđẳng giới đã đạt được

Trang 31

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định chi tiết tại Điều 19 - Luật bình đẳng giới bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia,thụ hưởng;

b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặcnam;

c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;

d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;

đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điềukiện, tiêu chuẩn như nam;

e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêuchuẩn như nam;

2 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực:

a) Bình đẳng giới thể hiện trong lĩnh vực chính trị gồm:

Nam, nữ bình đẳng trong ứng cử, đề cử tham gia cơ quan dân cử cáccấp

Trang 32

Ngay từ cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên đến nay, Việt Nam đã thực hiện nam – nữ bình quyền

Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn và độ tuổi đề bạt, bổ nhiệm và các

vị trí quản lý, lãnh đạo cơ quan, tổ chức; bổ nhiệm giữ các chức danhtrong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh

Nam, nữ bình đẳng trong việc tham gia xây dựng, thực thi các vấn đề

và các hoạt động có liên quan đến đời sống dân sinh Nam hoặc nữ chưa

có cơ hội và điều kiện như nhau tham gia trong lĩnh vực chính trị đượccác cơ quan tổ chức quy định tăng dần tỉ lệ và quan tâm hơn về mọi mặtcho đến khi có được cơ hội và điều kiện như nhau

Trang 33

Quốc hội Khoá XIII (2011-2016) đã có 30% đại biểu là nữ

Thực hiện bình đẳng giới có nghĩa là không được cản trở việc nam,

nữ tham gia cơ quan dân cử, việc bổ nhiệm vào cương vị quản lý, lãnhđạo và các chức danh chuyên môn vì định kiến giới; không được cản trởviệc thực hiện các quy định về tỉ lệ nam, nữ tham gia cơ quan dân cử; bổnhiệm người vào cương vị quản lý, lãnh đạo các chức danh chuyên môn

Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong lĩnh vực chính trị

Trang 34

*) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

được quy định tại khoản 5 Điều 11 - Luật Bình đẳng giới như sau:

- Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng

nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

- Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ

quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Phụ nữ ngày càng đóng góp nhiều chính kiến

trong các diễn đàn của Quốc hội

b) Bình đẳng giới thể hiện trong lĩnh vực kinh tế - lao động bao gồm:

Nam, nữ được tạo cơ hội và điều kiện như nhau trong việc tiếp cậnnguồn lực, thị trường, công nghệ thông tin và các ưu đãi về thuế khi thànhlập, phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và kinh tế hộ gia đình

Khi nam, nữ làm chủ doanh nghiệp sử dụng lao động nữ được ưu đãi

về thuế tương ứng với các chi phí cho việc sử dụng lao động nữ theo quyđịnh của pháp luật về thuế

Trang 35

Nam hoặc nữ chưa có cơ hội và điều kiện như nhau để tham gia hoạtđộng kinh tế được các cơ quan, tổ chức và gia đình quan tâm hơn về mọimặt cho đến khi có được cơ hội điều kiện như nhau.

Phụ nữ ngày càng tự do lựa chọn nghề nghiệp

và quyết định các vấn đề tài chính của bản thân

Trang 36

Lao động nông thôn không phân biệt nam nữ đều được hỗ trợ dạynghề và tạo việc làm để chuyển đổi ngành nghề.

Nam nữ bình đẳng tiêu chuẩn, tuổi tuyển dụng vào làm việc tại các cơquan, tổ chức và được đối xử bình đẳng trong phân công công việc, bảo

hộ lao động và tiền lương, tiền công

Nam giới và phụ nữ cùng chia sẻ công việc gia đình

Phụ nữ tham gia ngày càng sâu rộng vào các lĩnh vực và ngành kinh tế

Thực hiện bình đẳng giới có nghĩa là không được cản trở hoặc từ chốicho phép thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì lý do

Trang 37

giới tính hoặc định kiến giới; không được cản trở hoặc từ chối nhữngngười có đủ điều kiện tham gia quản lý và điều hành doanh nghiệp vì lý

do giới tính hoặc định kiến giới; không đặt ra và áp dụng các điều kiệnkhác nhau trong tuyển dụng lao động cho cùng một công việc mà cả nam

và nữ đều có điều kiện, trình độ và khả năng thực hiện; không bắt buộclao động nữ phải cam kết thời gian lập gia đình và sinh con thứ nhất theoyêu cầu của người sử dụng lao động; quy định thời gian sinh con thứ haitrái quy định của pháp luật về DS-KHHGĐ; Không ký hợp đồng lao độngtheo quy định của pháp luật; sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động với laođộng nữ vì lý do thai sản và nuôi con nhỏ là bất BĐG Khi phân côngcông việc không được mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ nếu họ

có cùng trình độ và năng lực

*) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế

được quy định tại khoản 2 Điều 12 - Luật bình đẳng giới như sau:

- Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế vàtài chính theo quy định của pháp luật;

- Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyếnnông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật

*) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động

được quy định tại khoản 3, Điều 13 – Luật bình đẳng giới như sau:

- Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

- Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cholao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểmhoặc tiếp xúc với các chất độc hại

Trang 38

Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trên lĩnh vực kinh tế

c) Bình đẳng giới thể hiện trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bao gồm:

Độ tuổi được cử đi đào tạo của nam nữ như nhau

Nam, nữ có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ cácchính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ củacác cơ sở giáo dục và cơ quan, tổ chức

Trang 39

Nam, nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con nhỏ đượccác cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tạo điều kiện học tập.

Nam nữ chưa có cơ hội và điều kiện như nhau để tham gia đào tạo bồi dưỡng được cơ quan, tổ chức tăng tỉ lệ trong quy hoạch đào tạo, bồidưỡng để tạo nguồn lãnh đạo, quản lý

-Thực hiện bình đẳng giới có nghĩa là không được quy định tuổi đàotạo khác nhau giữa nam và nữ; không được cản trở phụ nữ thi hoặc nhậphọc vì lý do mang thai hoặc đang có con nhỏ; không được vận động, épbuộc trẻ em và người chưa thành niên nghỉ học vì lý do giới tính; khôngđược giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoa theođịnh kiến

Phụ nữ và trẻ em đồng bào dân tộc miền núi

Trang 40

*) Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào

tạo được quy định tại khoản 5, Điều 14 - Luật bình đẳng giới như sau:

- Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

- Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy địnhcủa pháp luật

Phụ nữ không còn bị phân biệt trong học tập và tiếp cận tri thức mới

Phụ nữ ngày càng không ngại ngần trong việc bày tỏ chính kiến của mình

Ngày đăng: 23/11/2014, 13:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh thứ hạng HDI và GII của Việt Nam và các nước   ASEAN, 2011. - Bài dự thi tìm hiểu chính sách pháp luật về bình đẳng giới tại Việt Nam (111 trang)
Bảng 1 So sánh thứ hạng HDI và GII của Việt Nam và các nước ASEAN, 2011 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w