1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

chuyên đề tổng quan về kế toán quốc tế

71 550 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hỗ trợ người lập BCTC trong việc áp dụng IFRSs và trong việc đối phó với các chủ đề mà vẫn chưa hình thành đối tượng của một IFRS; - Hỗ trợ kiểm toán viên trong việc đưa ý kiến về việ

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ IFRS

1.1 Sự cần thiết hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế:

1.1.1 Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế:

Quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực từ y

tế, giáo dục, chính trị, văn hóa- xã hội Cho đến kinh doanh quốc tế và đặc biệt hơn là lĩnh vực thị trường vốn Một vấn đề vô cùng bức thiết nảy sinh là phải có một tiếng nói chung giữa các thông tin tài chính của các doanh nghiệp ở những quốc gia khác nhau, để người sử dụng những thông tin ấy- mà quan trọng hơn hết là các nhà đầu tư, ngân hàng thế giới (HSBC, City Bank ) có thể dễ dàng so sánh, đánh giá đưa ra những quyết định kinh tế phù hợp và kịp thời nhất với từng thời khắc chuyển động đáng giá ngàn vàng của thi trường tài chính quốc tế

Thế nhưng, quá trình đi đến những nguyên tắc kế toán chung ấy là một chặn đường dài đòi hỏi những nhà chuyên môn phải có sự hiêủ biết về kế toán của các quốc gia, đặc biệt là những cường quốc kinh tế ( Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Trung Quốc, Nga ) để

từ đó đào sâu vào những đặc điểm khác biệt và cố gắng giảm thiểu những sự khác trọng yếu ấy giảm xuống đến mức thấp nhất có thể Như chúng ta đã biết nền kinh tế chính là quả tim của một quốc gia, nó chi phối và ảnh hưởng đến hầu hết các mặt trong đời sống

xã hội Vì vậy, ngay từ những năm đầu của thập niên 1970, nhiều quốc gia đã ban hành

hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế riêng để tạo khung pháp lý chung cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trong phạm vi quốc gia Ví dụ Brazil, Canada, Hồng Kong, Indonesia, trách nhiệm soạn thảo và ban hành chuẩn mực kế toán thuộc về các tổ chức nghề nghiệp Còn ở Úc, Nam Phi, Trung Quốc, Phần Lan trách nhiệm ấy thuộc về chính phủ Ngược lại, một tổ chức độc lập với tổ chức nghề nghiệp và chính phủ có trách nhiệm soạn thảo và ban hành chuẩn mực kế toán tại Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ…

1.1.2 Nguyên nhân khác biệt kế toán:

Ở khía cạnh một quốc gia, có rất nhiều nhân tố tác động đến hệ thống kế toán ở

các quốc gia:

 Môi trường kinh doanh

Trang 2

 Thị trường chứng khoán: quan tâm đến tình hình tài chính

 Ngân hàng: quan tâm đến tính thanh khoản của khoản vay

 Các gia đình, cá nhân: quan tâm đến tỉ suất sinh lợi của các khoản đầu tư

 Nhà nước: tính minh bạch của báo cáo tài chính để xác định các loại thuế ( thuế TNDN, thuế XNK )

b/ Môi trường pháp lý: Pháp luật là một công cụ giúp nhà nước quản lý sự tác động của hệ thống pháp luật ảnh hưởng đến những nguyên tắc kế toán Có 2 dạng chính là:

 Thông luật (common law): kế toán được qui định rất ít trong các bộ luật Ví dụ: ở Mỹ, Anh, Pháp kế toán tuân theo những nguyên tắc tự nhiên được hình thành từ công tác kế toán từ lâu đời

 Điển luật (roman law): kế toán được qui định cụ thể, chi tiết trong các bộ luật như là: Luật thương mại, Luật công ty, thậm chí một số nước các nhà làm luật có kiến thức về kế toán xây dựng Luật kế toán rồi từ đó tuân thủ theo các nguyên tắc ấy Mà gần gũi với chúng ta nhất là Luật kế toán Việt Nam (2003), hay ở các nước Châu Á khác như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, một số nước Châu Âu

Trong đó, thuế ảnh hưởng đến kế toán có 2 xu hướng

 Xu hướng 1: thuế không ảnh hưởng đến kế toán Lợi nhuận kế toán có liên hệ, nhưng độc lập

với lợi nhuận chịu thuế

Trang 3

 Xu hướng 2: thuế chi phối cách thức ghi chép kế toán, lợi nhuận kế toán phải gần nhất với lợi

nhuận chịu thuế

Thực tế ở Việt Nam, nếu doanh nghiệp lựa chọn áp dụng những nguyên tắc tính thuế TNDN của Luật thuế TNDN Việt Nam thì kế toán phải tuân thủ theo luật này Còn nếu không thì kế toán về thuế TNDN và Luật thuế TNDN sẽ độc lập với nhau

Ngoài ra, tùy pháp luật từng nước mà các tổ chức nghề nghiệp cũng có vai trò khác nhau: Nhà nước giữ vai trò quyết định, các tổ chức nghề nghiệp đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước hoặc là các tổ chức nghề nghiệp hình thành trên cơ sở tự nguyện, cố gắng đạt tới sự tự kiểm soát

c/ Môi trường văn hóa: Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh nên không thể tách rời môi trường văn hóa Xác định các yếu tố của môi trường văn hóa là một vấn đề không đơn giản vì văn hóa là sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc và tinh hoa văn hóa vô cùng bao la của thế giới

Theo Mô hình Hofstede-Gray: Hofstede nghiên cứu tác động của các yếu tố văn hóa đến hoạt động kinh doanh Văn hóa đa chiều, giá trị của môi trường làm việc trên toàn thế giới Làm sao để liên hệ với một người thuộc một nền văn hóa khác? Nên nói gì, không nên nói gì để bắt đầu một cuộc trò chuyện? Chủ đề nào thuộc loại cấm kị mà nên

để ý? Đó là một trong những ý tưởng mà nhà tâm lý học Hofstede đưa ra và tìm lời giải đáp trong Năm Kích thước Văn hóa Gray phát triển lý thuyết văn hóa của Hofstede vào lĩnh vực kế toán nhằm:

 Phát triển nghề nghiệp/ kiểm soát theo luật định

Trang 4

 Địa lý

Vừa qua, ta đã đi sâu tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán của mỗi quốc gia, không thể phủ nhận rằng sự khác biệt của hệ thống kế toán ở mỗi nước là một vấn đề quan trọng và bức thiết trong một thế giới đa cực như hiện nay

Hai sự khác biệt rõ ràng như Mỹ và Đức ở môi trường pháp lý của Mỹ là theo thông luật và Đức là nước đi đầu trong qui tắc điển luật Mỹ có nền văn hóa hội tụ của nhiều dân tộc trên thế giới do đó cách ứng xử trong văn hóa, đặt biệt là trong kinh doanh hoàn toàn khác với Đức một quốc gia nổi tiếng với tinh thần kỉ luật thép, tôn thờ nguyên tắc Vị thế chính trị của 2 nước này cũng nằm ở 2 cực hoàn toàn trái ngược nhau, có thể nói là đối cực, loại trừ nhau Những nhân tố trên chi phối lớn đến kế toán ở 2 quốc gia này

Bên cạnh đó khi xem xét 2 nước Việt Nam và Phillipines tuy có những điểm tương đồng về vị trí địa lí khi cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, giáp với biển Đông, thừ hưởng nền văn hóa lâu đời của phương Đông huyền bí nhưng giữa Việt Nam và Phillipines v ẫn có những nét đặc trưng khác nhau riêng

Việt Nam Philippines

a/ Môi trường kinh

Chi tiêu công số tiền lớn nhưng không hiệu quả VD:

tham nhũng ở Vinalines

- Chưa hợp lí

- Vị trí 75/144 nước trên thế

- Là một trong 10 nước đạt nhiều tiến bộ nhất trên thế giới

về môi trường kinh doanh Tăng chi tiêu công kỉ lục vào xây dựng hệ thống sân bay, đường bộ thúc đẩy kinh tế

- Ổn định, hợp lí

- Năm 2012-2103 đã vượt

Trang 5

toàn cầu giới 6/8 nước Asean qua mặt Việt Nam

- Đã có nhiều cái cách nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong khâu áp dụng Vd: thủ tục xin cấp phép xây dựng còn dài dòng, chưa minh bạch trong thông tin qui hoạch

- Thủ tục phức tạp, chưa thống nhất giữa các cấp từ trung ương đến địa phương

- Tuân theo thông luật (tính ứng dụng cao)

- Áp dụng hệ thống kê khai trực tuyến và đóng thuế trực tuyến

- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng tuân thủ qui định về thuế

- Kiểm soát chặt chẽ khó bỏ qua gian lận

- Khả năng áp dụng chặt chẽ Vd: Đơn giản hóa thủ tục giải phóng mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong vấn đề cấp phép xây dựng

- Tự động hóa, đơn giản dễ thực hiện

c/ Môi trường tài chính - Lãi suất vay cao, người có

nhu cầu vay vốn ngại thủ tục vay vốn khó khăn của ngân hàng

- Bảo đảm cho người có nhu cầu vay vốn quyền truy cập dữ liệu của mình được lưu trữ tại trung tâm thông tin tín dụng lớn nhất nước d/ Môi trường chính trị - Tham nhũng là một thực - Thành công trong cuộc

Trang 6

Qua những so sánh trên ta thấy được rằng những nhân tố môi trường ảnh hưởng đến kinh tế và do đó ảnh hưởng đến kế toán Những yếu kém về kinh tế kéo theo thực trạng đáng buồn của kế toán Việt Nam :

 Môi trường kinh doanh: toàn cầu hóa ảnh hưởng đến kế toán Việt Nam phải bắt kịp xu hướng của thế giới Muốn cạnh tranh phải có hệ thống kế toán hiệu quả Ví dụ:

kế toán chi phí cập nhật thường xuyên giúp cắt giảm chi phí tăng năng lực hiệu quả sản xuất

 Môi trường pháp lý: Nhà nước cũng không nên can thiệp quá sâu và quy định đối với từng ngành nghê, tạo cho doanh nghiệp chủ động và sáng tạo trong công tác kế toán Nhà nước nên tạo dựng đầy đủ và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, đảm bảo cho công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, hành nghề kế toán được thực hiện theo pháp luật Tổ chức việc thực hiện Luật Kế toán trong cả nước

Các tổ chức nghề nghiệp: tăng cường hoạt động của các tổ chức nghê nghiệp

kế toán, phát triển các dịch vụ tư vấn kế toán và tư vấn lập báo cáo tài chính Thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, hội thảo đội ngũ cán bộ kế toán

Không có con đường nào khác hơn là đặt câu hỏi làm cách nào giảm thiểu các khác biệt ấy? Đó là câu hỏi mà các nhà kinh tế chuyên ngành kế toán cần phải tìm lời đáp

1.2 Lược sử IASB:

1973: Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) được thành lập ở London thông

qua một thỏa thuận bởi các tổ chức nghề nghiệp của các nước từ Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Anh, Ireland và Hoa Kỳ với tư cách là tổ chức soạn thảo chuẩn mực đầu tiên trên thế giới Đó là phản ứng quan trọng và mang tính lâu dài của tổ chức kế toán chuyên nghiệp đối với việc quốc tế hóa ngày càng tăng của thị trường vốn sau Chiến tranh thế giới thứ hai

1977-1987: Đây là giai đoạn IASC nỗ lực để tồn tại như một tổ chức độc lập với

Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) và duy trì vai trò là tổ chức duy nhất soạn thảo các

Trang 7

chuẩn mực kế toán quốc tế IFAC thành lập vào năm 1977 và luôn cố gắng muốn biến IASC thành thành viên của mình Do vậy IASC đã phải đấu tranh kháng cự quyết liệt Tuy nhiên, cuối cùng IASC phải đi đến một nhượng bộ là dù IASC vẫn tồn tại độc lập với IFAC nhưng IFAC lại có quyền đề cử thành viên của mình vào IASC

1987 Là bước chuyển biến mới trong nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng các chuẩn mực

quốc tế của IASC, với sự kiện Tổng thư ký IASC, ông David Caims, đã ký thỏa thuận với

Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) về việc xem xét sửa đổi các chuẩn mực kế toán hiện có của mình để có thể thỏa mãn nhu cầu của IOSCO, đó là việc cần có một tập hợp các chuẩn mực làm cơ sở chung cho việc lập và trình bày BCTC của các công ty muốn được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài

7/1989 IASC công bố khuôn mẫu lý thuyết (đã qua xét duyệt vào 4/1989)

1993 IASC hoàn thành việc sửa đổi các chuẩn mực kế toán quốc tế Tuy nhiên,

IOSCO chỉ lựa chọn một số chuẩn mực để áp dụng, do trong bộ chuẩn mực của IASC vẫn còn thiếu sót một vài yếu tố quan trọng, đặc biệt là chuẩn mực về các công cụ tài chính

1995 IASC tiến hành xem xét, sửa đổi một lần nữa các chuẩn mực kế toán quốc tế

đã được ban hành nhằm khắc phục những khiếm khuyết Cuối cùng, bộ chuẩn mực kế toán quốc tế sau sửa đổi của IASC đã được IOSCO chấp nhận, tuy nhiên chỉ là tạm thời

Mãi đến 5/2000, các thành viên IOSCO đã bỏ phiếu chấp nhận chính thức tất cả các

chuẩn mực kế toán quốc tế của IASC, sau những nỗ lực sửa đổi 2 lần qua của IASC

1997 IASC xem xét tới việc tái cấu trúc lại tổ chức Do nhận thấy sự quan trọng

và cần thiết của việc tìm được một phương pháp hữu hiệu để kết nối giữa những chuẩn mực kế toán của từng quốc gia, thực tiễn và những chuẩn mực kế toán quốc tế, IASC hướng đến sự chuyển đổi mô hình soạn thảo chuẩn mực, từ việc giao cho các hội nghề nghiệp đảm trách, chuyển sang thay thế bởi một hội đồng quốc gia chuyên trách và độc lập

1/4/2001 Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB được thành lập, thay thế vai

trò của IASC và tồn tại cho tới ngày nay

6/2003 Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đầu tiên được ban hành

Trang 8

2005 Các doanh nghiệp ở Hoa kỳ được yêu cầu trình bày BCTC của họ theo

những chuẩn mực kế toán quốc tế được đề nghị bởi EU

Từ 2009: IASB tiến hành dự án “Cải tiến hàng năm” (Annual Improvements

Project), xây dựng cơ chế sửa đổi cần thiết đối với các chuẩn mực Báo cáo Tài chính IFRS hiện hành.Theo đó, hàng năm IASB sẽ tiến hành thảo luận và quyết định việc hoàn thiện, củng cố các chuẩn mực IFRS dựa trên những đề xuất mà họ đã thu thập được trong năm Ví dụ: các vấn đề được đề xuất sửa đổi giai đoạn 2009-2011 như vấn đề ghi nhận các thiết bị phục vụ trong IAS 16, vấn đề về chi phí đi vay trong IFRS1

1.3 Vai trò của IFRS:

Trước khi nói về vai trò của IFRS, chúng ta hãy cùng xem xét có điểm khác biệt gì giữa IAS (International Accounting Standards) và IFRS (International Financial Reporting Standards) Về cơ bản cả hai đều là những chuẩn mực mang tính thống nhất trên phạm vi toàn cầu với mục đích tạo ra ngôn ngữ chung cho hệ thống kế toán trên toàn thế giới Còn về điểm khác biệt, điều dễ dàng nhận thấy chính là chữ A- Accounting trong IAS đã được đổi thành FC – Financial Reporting trong IFRS Sự thay đổi tưởng chừng như không mấy quan trọng này thực chất lại là một bước nhảy trong tư duy về kế toán Nếu như IAS có trọng tâm chủ yếu là vào hoạt động kế toán (Accounting) tức là xác định, tổng hợp, ghi chép và trình bày thông tin, có nghĩa là IAS tập trung chủ yếu vào đầu vào của thông tin và quá trình xử lý thông tin Trong khi đó IFRS lại có ý nghĩa bao hàm hơn, tập trung di chuyển sang tôn vinh vai trò của người làm kế toán, tức là làm thế nào

để trình bày thông tin sao cho đảm bảo lợi ích cao nhất đối với người sử dụng, tức là tập trung nhiều hơn vào yếu tố đầu ra của thông tin

Để nói đến vai trò của IFRS thì phải nhắc đến những khó khăn, bất lợi mà những đối tượng lập và sử dụng thông tin trên Báo Cáo Tài Chính đã gặp phải trước khi IFRS được đưa ra Có 2 ví dụ dễ dàng nhận thấy khi nói về các khó khăn này

Thứ nhất, đó là đối với các công ty thành lập ở nước này nhưng lại niêm yết trên thị trường chứng khoán ở nước khác Ví dụ như một công ty A được thành lập ở Đức và tuân theo các chuẩn lực IAS nhưng lại niêm yết trên thị trường Mỹ thì việc cần làm đối với công ty này đó là phải chuyển đổi các báo cáo tài chính của mình theo US GAAP US

Trang 9

GAAP chính là các nguyên tắc kế toán kế toán được chấp nhận ở Mỹ Ở đây cần phải nói thêm rằng, trước đây thì ở mỗi nước thường có các quy tắc riêng về kế toán, gọi là các quy tắc kế toán được chấp nhận (generally accepted accounting principles – GAAP), ở

Mỹ có US GAAP, Canada thì có Canada GAAP… Sự khác biệt về thông tin giữa hai hệ thống chuẩn mực IAS và US GAAP không phải là nhỏ, và do đó việc chuyển đổi thông tin từ chuẩn mực này sang chuẩn mực kia cũng là một việc làm hao phí cả về nhân lực lẫn vật lực và chi phí cơ hội của nó là không hề nhỏ

Thứ hai, tương tự như trên chính là trường hợp các công ty, tâp đoàn đa quốc gia

có các công ty con của mình rải khắp các quốc gia khác nhau Hằng năm để cho ra một báo cáo tài chính hợp nhất là một điều không hề dễ dàng, nguyên nhân cơ bản là vì các công ty ở khắp các nước và sử dụng các chuẩn mực khác nhau

Sự ra đời của các chuẩn mực kế toán quốc tế ISA và sau này là các chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế IFRS đã phần nào giải quyết được những khó khăn nói trên Việc có một chuẩn mực chung như IFRS làm cơ sở thống nhất cho việc lập báo cáo tài chính trên pham vi toàn cầu đã giúp cho người lập và đọc báo cáo tài chính nhanh chóng đạt được mục đích của mình Mọi việc trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn khi mà tất cả đều

sử dụng chung một ngôn ngữ Người lập báo cáo tài chính không phải mất thời gian và công sức chuyển đổi báo cáo của mình từ chuẩn mực này sang chuẩn mực khác còn người sử dụng báo cáo tài chính thì nhanh chóng có được các thông tin minh bạch và hữu ích hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định nhanh chóng, kịp thời, hạn chế những bất lợi gây ra do việc đọc hiểu báo cáo tài chính

Bên cạnh giải quyết các khó khăn trên, việc chuyển sang lập báo cáo tài chính theo IFRS cũng đem đến những lợi ích nhất định cho các doanh nghiệp Đó là:

 Dễ tiếp cận thị trường vốn nước ngoài

 Tăng tính tin cậy của thị trường vốn trong nước đối với các nhà đầu tư quốc tế

 Tăng tính tin cậy của các báo cáo tài chính các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển đối với các tổ chức cho vay trên phạm vi toàn cầu

 Tăng tính minh bạch, tính dễ hiểu, tính so sánh được của thông tin trên các báo cáo tài chính

Trang 10

CHUYÊN ĐỀ 2: KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2.1 Lịch sử và vai trò của Khuôn mẫu lý thuyết về trình bày báo cáo tài chính: 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của IFRS Framework:

Tháng 4 1989 Khuôn mẫu cho việc Lập và trình bày BCTC được IASC thông qua Tháng 7 1989 Khuôn mẫu lý thuyết được phát hành

Năm 2004 IASB & FASB khởi động một dự án chung để rà soát lại khuôn mẫu lý

thuyết của họ

sửa đổi (Mục đích và các đặc điểm chất lượng)

thông qua Dự án chung của IASB & FASB sau đó bị trì hoãn vì các dự

án khác Tháng 9 2012 IASB khởi động lại dự án bởi vì ý kiến công chúng qua tham khảo

công chúng xác định Khuôn mẫu lý thuyết là vấn đề phải được ưu tiên

Dự án toàn diện của riêng IASB đã được thêm vào lịch trình (không tiếp tục làm với FASB nữa)

18 tháng 7 2013 Bản thảo luận DP/2013/1 “Điểm lại khuôn mẫu lý thuyết cho BCTC”

được phát hành

2.1.2 Vai trò của IFRS Framework

Khuôn mẫu IFRS mô tả các khái niệm căn bản về việc lập và trình bày BCTC cho đối tượng bên ngoài doanh nghiệp sử dụng Khuôn mẫu IFRS được dùng như là một hướng dẫn cho Hội đồng trong việc phát triển IFRS trong tương lai và cho việc giải quyết các vấn đề kế toán mà không được trình bày trực tiếp trong Chuẩn mực kế toán quốc tế hay Chuẩn mực quốc tế về BCTC

- Khuôn mẫu lý thuyết đề ra các khái niệm về BCTC đã được sự đồng thuận: mục đích, các đặc điểm chất lượng, định nghĩa các yếu tố của BCTC, …

Trang 11

- IASB sử dụng khuôn mẫu lý thuyết để thiết lập chuẩn mực đưa đến các kết quả:

 Tăng tính đồng nhất giữa các chuẩn mực

 Củng cố tính đồng nhất qua thời gian khi mà thành viên của Hội đồng bị thay đổi

 Cung cấp tiêu chuẩn cho việc đánh giá

- Sử dụng khuôn mẫu để phát triển các chính sách kế toán trong trường hợp không

có chuẩn mực hoặc hướng dẫn cụ thể

2.2 Giới thiệu chung về Khuôn mẫu lý thuyết về trình bày báo cáo tài chính:

BCTC được lập và trình bày cho các đ ối tượng sử dụng bên ngoài b ởi nhiều tổ chức trên thế giới Mặc dù BCTC có thể tương tự ở các quốc gia, vẫn có vài s ự khác biệt

do sự đa da ̣ng về hoàn cảnh xã hội, kinh tế và pháp lý và do các quốc gia khác nhau lưu ý đến nhu c ầu khác nhau của các đối tượng s ử dụng BCTC khi thiết lập các yêu cầu quốc gia

Những hoàn cảnh khác nhau đã dẫn đến việc sử dụng một loạt các định nghĩa các yếu tố của BCTC: ví dụ, tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí Chúng cũng dẫn đến việc sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau đ ể ghi nhận các khoản mục trong BCTC và ưu tiên cho các cơ sở đo lường khác nhau Phạm vi của BCTC và viê ̣c công bố cũng bị ảnh hưởng

BCTC đươ ̣c lâ ̣p cho mục đích này sẽ đáp ứng nhu cầu chung của hầu hết người sử dụng thông tin Điều này là do gần như tất cả người sử du ̣ng đang ra các quy ết định kinh

tế, ví dụ:

- Khi nào nên mua, giữ hoă ̣c bán cổ phần;

- Đánh giá sự quản lý hoặc trách nhiệm của quản lý;

- Đánh giá khả năng thanh toán của đơn vị và khả năng cung cấp các lợi ích khác cho người lao động;

- Đánh giá độ an toàn đối với các khoản cho vay;

- Xác định chính sách thuế;

- Xác định cách phân chia lợi nhuận và cổ tức;

- Lập và sử dụng số liệu thống kê thu nhập quốc dân;

Trang 12

- Điều chỉnh các hoạt động của đơn vị

BCTC được lập phù hợp với một mô hình kế toán dựa trên giá gốc thu hồi và khái niệm bảo toàn v ốn tài chính trong các đơn vị tiền tệ danh nghĩa Các mô hình và khái niệm khác có thể thích hợp hơn trong việc đáp ứng mục tiêu cung cấp thông tin hữu ích

để ra quy ết định kinh tế mặc dù hiện nay không có sự đồng thuận trong viê ̣c thay đổi.Khuôn mẫu lý thuyết này đã đư ợc phát triển để áp dụng cho một loạt các mô hình kế toán và các khái niệm về vốn và bảo toàn vốn

sở cho việc giảm số lượng các phương pháp kế toán thay thế đươ ̣c cho phép bởi IFRSs

- Hỗ trợ các cơ quan thiết lập tiêu chuẩn quốc gia trong việc phát triển các tiêu chuẩn quốc gia

- Hỗ trợ người lập BCTC trong việc áp dụng IFRSs và trong việc đối phó với các chủ đề mà vẫn chưa hình thành đối tượng của một IFRS;

- Hỗ trợ kiểm toán viên trong việc đưa ý kiến về việc BCTC có tuân thủ theo IFRSs hay không;

- Hỗ trợ người sử dụng BCTC trong việc giải thích các thông tin trong BCTC được lâ ̣p có tuân thủ IFRSs;

- Cung cấp cho những người quan tâm đến công việc của IASB thông tin về phương pháp xây dựng IFRSs

Khuôn mẫu lý thuyết này không ph ải là một IFRS và do đó không định nghĩa các chuẩn mực cho bất kỳ vấn đề cụ thể về đo lư ờng hoặc vấn đề công bố Không có gì trong khuôn mẫu lý thuyết này ga ̣t bỏ bất kỳ chuẩn mực cụ thể nào

Trang 13

2.2.2 Phạm vi:

Khuôn mẫu lý thuyết giải quyết :

- Mục tiêu của BCTC;

- Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích;

- Định nghĩa, ghi nhận và đo lường các yếu tố của báo cáo tài chính;

- Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn

2.3 Mục đích của Báo cáo tài chính: (Chapter 1)

2.3.1 Mục đi ́ch, sự hữu ích và những ràng buô ̣c của BCTC (ở đây chỉ đề cập đến

BCTC phu ̣c vu ̣ cho những mu ̣c đích chung nhất , không nói đến BCTC phu ̣c vu ̣ cho

những mu ̣c đích đă ̣c biê ̣t)

Cung cấp c ác thông tin cần thiết cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết

đi ̣nh kinh tế

2.3.1.1 Thông tin

- Nguồn lực kinh tế của doanh nghiê ̣p

- Nghĩa vụ của doanh nghiệp

- Sự thay đổi nguồn lực và nghĩa vu ̣ của doanh nghiê ̣p

Ngoài ra, BCTC còn c ung cấp thông tin đ ể giúp các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác ước tính giá trị của đơn vi ̣ báo cáo

2.3.1.2 Ngườ i sử du ̣ng

Chủ yếu là các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (vì nhiều nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác không thể yêu cầu các đơn vị báo cáo cung cấp thông tin trực tiếp cho họ.):

- Các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng

- Ngân hàng

- Chủ nợ

- Các đối tượng khác: cơ quan quản lý và công chúng không phải là các nhà đầu

tư, người cho vay và các chủ nợ

2.3.1.3 Các quyết định kinh tế

- Mua hay bán các công cu ̣ vốn / công cu ̣ nơ ̣?

Trang 14

- Có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không ?

- Có nên cho vay / nợ hay thanh lý hợp đồng tín du ̣ng?

2.3.2 Thông tin về nguồn lư ̣c kinh tế, nghĩa vụ và những thay đổi trong nguồn lực

và nghĩa vụ của đơn vị báo cáo:

2.3.2.1 Các nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của doanh nghiệp:

Thông tin về bản chất và tổng số nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của doanh nghiệp

có thể giúp người sử dụng thông tin:

- Xác định điểm mạnh và điểm yếu của một doanh nghiệp

- Đánh giá tính thanh khoản và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

- Biết được nhu cầu tài chính tăng thêm của doanh nghiệp và kết quả có thể đạt được nếu doanh nghiê ̣p nhận được mức hỗ trợ tài chính đó

- Dự đoán được dòng tiền trong tương lai sẽ được doanh nghiệp phân bổ như thế nào cho các nghĩa vụ này

Các loại nguồn lực kinh tế khác nhau gây ảnh hưởng khác nhau đến đánh giá của người sử dụng thông tin về triển vọng của doanh nghiệp với các dòng tiền trong tương lai Một số dòng ti ền trong tương lai là kết quả trực tiếp của các nguồn lực kinh tế hiện tại, ví dụ như là khoản phải thu khách hàng Những dòng tiền khác lại có thể là kết quả của việc sử dụng kết hợp nhiều nguồn lực kinh tế với nhau để sản xuất và quảng bá sản phẩm hay dịch vụ đến khách hàng Mặc dù những dòng tiền đó không thể được xác định

là kết quả trực tiếp từ nguồn lực kinh tế (hay nghĩa vụ) nào, thì người sử dụng thông tin BCTC cần phải biết về bản chất và tổng số nguồn lực kinh tế sẵn sàng cho việc sử dụng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

2.3.2.2 Những thay đổi trong nguồn lực và nghĩa vu ̣:

Là kết quả từ hoạt động tài chính và từ các sự kiện và giao dịch kinh tế khác ví dụ như phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu

Thông tin về hoạt động tài chính của doanh nghiệp giúp người sử dụng hiểu được tỷ suất sinh lời mà doanh nghiệp đạt được từ các nguồn lực kinh tế của nó

Trang 15

Thông tin về tỷ su ất sinh lời doanh nghiệp đạt được cung c ấp một căn cứ về việc ban quản lý đã thực hiện trách nhiệm của họ tốt đến mức nào để có thể tận dụng tối đa và hiệu quả các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp

Thông tin về sự biến động và thành phần của phần lợi ích kinh tế đó cũng ko kém phần quan trọng, nhất là cho việc đánh giá sự ko chắc chắn của dòng tiền trong tương lai

Thông tin về hoạt động tài chính trong quá khứ của doanh nghiệp và việc ban quản

lý đã thực hiện trách nhiệm của họ như thế nào thường rất hữu ích trong việc dự đoán tỷ suất sinh lời tương lai từ các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp

2.3.2.3 Hoạt động tài chính được phản ánh qua kế toán cơ sở dồn tích:

Kế toán cơ sở d ồn tích mô tả những ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện kinh

tế khác đến nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong các kỳ kế toán mà những ảnh hưởng đó xảy ra, dù cho việc thực thu và thực chi xảy ra ở ở một kỳ kế toán khác Điều này là quan trọng bởi vì thông tin về các nguồn lực kinh tế, nghĩa vụ và những thay đổi trong nguồn lực và nghĩa vụ của doanh nghiệp IỆP trong suốt một kỳ cung cấp một nền tảng tốt hơn cho việc đánh giá hoạt động quá khứ và tương lai của doanh nghiệp

so với những thông tin đơn thuần về tiền thu và tiền chi trong kỳ đó

Thông tin về hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong một kỳ phản ánh bởi các thay đổi trong nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ mà ko phải bởi việc thu hút các nguồn lực kinh tế tăng thêm trực tiếp từ nhà đầu tư và chủ nợ thì hữu ích cho hoạt động đánh giá khả năng tạo ra dòng tiền vào thuần ở quá khứ và tương lai: chỉ ra phạm vi và quy mô mà các sự kiện kinh tế đã làm tăng/giảm nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của doanh nghiệp, từ

đó gây ảnh hưởng đến khả năng tạo ra dòng tiền vào thuần của doanh nghiệp như thế nào 2.3.2.4 Hoạt động tài chính phản ánh bằng những dòng tiền trong quá khứ:

Thông tin về dòng tiền của doanh nghiệp trong một kỳ giúp cho người sử dụng đánh giá khả năng tạo ra dòng tiền vào thuần trong tương lai c ủa nó Nó chỉ ra cách một doanh nghiệp thu và chi tiền, bao gồm thông tin về các khoản vay và thanh toán nợ, cổ tức hay tiền phân chia cho nhà đầu tư, và các nhân tố có ảnh hưởng đến tính thanh khoản

và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Thông tin về dòng tiền giúp người sử dụng hiểu được hoạt động của doanh nghiệp, phân tích tình hình tài chính và các hoạt động đầu

Trang 16

tư của doanh nghiệp, đánh giá tính thanh khoản hoặc khả năng thanh toán của doanh nghiệp và hiểu được những thông tin về các hoạt động tài chính

2.3.2.5 Những thay đổi trong nguồn lực kinh tế và nghĩa vu ̣ không phải kết quả từ hoạt động tài chính:

Nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ cũng có thể thay đổi mà ko phải xuất phát từ hoạt động tài chính, như phát hành thêm cổ phần

Do đó, việc cung cấp cho ngườ i s ử dụng thông tin một cái nhìn toàn diện về lí do làm nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị thay đổi và sự liên hê ̣ đến nh ững thay đổi đó cho hoạt động tài chính trong tương lai của doanh nghiệp

2.4 Tổ chức báo cáo: (Chapter 2)

(Bỏ trống)

2.5 Đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu dụng: (Chapter 3)

Đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu dụng xác định các loại thông tin hữu dụng nhất đối với các nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác hiện tại và tiềm năng để ra quyết định trên cơ sở các thông tin trong BCTC

Theo đó, đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu dụng là thông tin tài chính chỉ hữu ích khi thích hợp và được phản ánh trung thực.Tính hữu ích của thông tin

sẽ được nâng cao nếu nó có thể so sánh được, có thể kiểm tra được, kịp thời và có thể hiểu được

2.5.1 Đặc điểm chất lượng căn bản

Đặc điểm chất lượng cơ bản là thích hợp và phản ánh trung thực

Trang 17

Thông tin tài chính có giá trị dự đoán là thông tin có khả năng giúp dự đoán kết quả cuối cùng của các sự kiện đã hoặc đang xảy ra.Giá trị dự đoán không phải dự đoán tương lai Thông tin có giá trị dự đoán giúp người đọc tự đưa ra dự đoán của mình

Thông tin tài chính có giá trị khẳng định là nếu nó cung cấp phản hồi (xác nhận hoặc thay đổi) về những dự đoán trước đó

Giá trị dự đoán và giá trị khẳng định của thông tin tài chính liên quan đến nhau Thông tin có giá trị dự đoán thông thường cũng có giá trị khẳng định

Ví dụ: Giả sử công ty X có hàng tồn kho các kỳ đều bằng 0, giá trị hàng tồn kho

kỳ này nhỏ hơn năm ngoái Thông tin này giúp công ty dự đoán giá vốn hàng bán năm nay cao hơn năm ngoái hoặc năm nay mua hàng nhập kho ít hơn năm ngoái.Nếu hàng tồn kho kỳ này có giá trị cao hơn so với giá trị hàng tồn đã dự doán thì nó giúp công ty xác nhận giá trị dự báo, từ đó khẳng định được giá trị của hàng tồn kho

Tính thích hợp liên quan đến nội dung và mức độ trọng yếu của thông tin Thông tin trọng yếu khi việc trình bày sai hay bỏ sót ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin khi dựa trên BCTC của 1 doanh nghiệp cụ thể Nói cách khác, trọng yếu là

1 khía cạnh của thích hợp dựa trên tính chất, mức độ hoặc cả hai được đánh giá trong những hoàn cảnh cụ thể.Vì thế, không thể xác định trước những gì có thể là trọng yếu trong một hoàn cảnh cụ thể

Ví dụ:

Đầu năm X3 công ty A thay kế toán trưởng, qua đó phát hiện một số sai sót trọng yếu đã xảy ra những năm trước Những sai sót này bao gồm:

1 Gía trị HTK cuối năm X1 sai tăng 90.500.000

2 Một hóa đơn mua hàng bán thẳng ghi ngày 21/12/X1 trị giá 150.000.000 đến năm X2 mới được ghi vào sổ sách Hàng này mua chưa trả tiền

3 Không ghi nhận tiền lãi tích lũy sẽ thu năm X1 10.000.000, đã thu tiền năm X2

4 Không lập dự phòng nợ phải thu khó đòi ngày 31/12/X1 100.000.000

Trang 18

BCKQHĐKD DT hoạt động tài chính sai giảm và

LN thuần sai giảm

DT HĐTC sai tăng và LN thuần sai tăng

4 Không lập dự phòng Nợ phải thu khó đòi 100.000.000 vào ngày 31.12.X1

Trang 19

2.5.1.2 Phản ánh trung thực

BCTC phản ánh hiện tượng kinh tế bằng từ ngữ và con số Để hữu ích, thông tin tài chính không chỉ phải phản ánh hiện tượng thích hợp, mà còn phải phản ảnh trung thực những gì mà nó ngụ ý phản ánh Để trở phản ánh trung thực một cách hoàn hảo, cần đáp ứng ba yêu cầu: Đẩy đủ, khác quan và không có sai sót

2.5.1.2.1 Khách quan

Phản ánh khách quan là không thiên vị trong việc lựa chọn và trình bày thông tin tài chính.Phản ánh khách quan không làm méo mó, đặt nặng, nhấn mạnh, xem nhẹ hoặc những thao tác khác làm tăng xác suất mà những người sử dụng nhâ ̣n đươ ̣c thông tin tài chínhthuận lợi hay bất lợi

2.5.1.2.2 Đầy đủ

Một mô tả đầy đủ bao gồm tất cả các thông tin cần thiết cho người dùng để hiểu hiện tượng được mô tả, bao gồm tất cả các mô tả cần thiết và giải thích

Ví dụ, một mô tả đầy đủ của một nhóm các tài sản sẽ bao gồm, ở mức tối thiểu,

mô tả về bản chất của tài sản trong nhóm, mô tả số lượng tất cả các tài sản trong nhóm,

và mô tả về những gì mà mô tả số lượng chưa phản ánh (ví dụ chi phí ban đầu, chi phí điều chỉnh hoặc giá trị hợp lí)

Đối với một số yếu tố, một mô tả đầy đủ cũng có thể kéo theo những sự giải thích

về những sự kiện quan trọng về chất lượng và tính chất của những yếu tố đó, các yếu tố

và trường hợp có thể làm thay đổi chất lượng và tính chất, và quy trình được dùng để đánh giá mô tả

2.5.1.2.3 Không có sai sót

Phản ánh trung thực không có nghĩa là chính xác trong tất cả các khía cạnh.Không

bị sai só t có nghĩa là không có sai sót trong phản ảnh sự việc, và các thông tin đươ ̣c lựa chọn và sử dụng trong quá trình lập báo cáo không có sai sót.Trong trường hợp này, không bị sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh

Ví dụ, một ước tính của giá hoặc giá tri ̣ không quan sát được thì không thể xác

đi ̣nh là có chính xác hay không Tuy nhiên, ước tính có thể trung thực nếu số tiền được phản ánh rõ ràng và chính xác như là một ước tính, bản chất và giớ i ha ̣n của quá trình lập

Trang 20

dự toán được diễn giải, và không có sai sót phát sinh trong quá trình lựa chọn và sử dụng quá trình thích hợp để phát triển dự toán

2.5.1.3 Áp dụng các chỉ tiêu chất lượng cơ bản

Thông tin phải được trình bày trung thực và hợp lý mới được gọi là thông tin hữu ích Một thông tin trung thực của một hiện tượng bất hợp lý hay một thông tin không trung thực của một hiện tượng hợp lý đều không giúp người sử dụng đưa ra quyết định tốt

Quá trình có hiệu quả và hiệu suất cao nhất của việc áp dụng những chỉ tiêu chất lượng cơ bản sẽ thường giống như sau: Đầu tiên, xác định một sự kiện kinh tế có tiềm năng là hữu ích cho người sử dụng thông tin tài chính Thứ hai, xác định loại thông tin về sự kiê ̣n một cách hợp lý nhất có thể và phản ánh một cách trung thực.Thứ ba, xác định xem thông tin đó có hiê ̣u lực và phản ánh một cách trung thực hay không.Nếu có, quá trình thỏa mãn những chỉ tiêu chất lượng cơ bản sẽ kết thúc ở bước này Ngược lại, quá trình được lặp lại với loại thông tin hợp lý nhất tiếp theo

Ví dụ: Mua hàng hóa chưa trả tiền người bán là một hiện tượng kinh tế hữu ích

cho người sử dụng trong việc đánh giá tài sản và nghĩa vụ cho doanh nghiệp Thông tin

về giá trị hàng hóa, số tiền phải trả người bán là thông tin thích hợp và có thể thể hiện trung thực Thông tin này (dựa trên hợp đồng mua bán) có và có thể thể hiện trung thực hiện tượng

2.5.2 Đặc điểm chất lượng nâng cao

Có thể so sánh, có thể kiểm tra, kịp thời và dễ hiểu là những chỉ tiêu chất lượng có thể nâng cao tính hữu ích của thông tin trung thực và hợp lý.Các chỉ tiêu chất lượng nâng cao cũng có thể giúp xác định cách nào trong hai cách trên nên được sử dụng để mô tả một hiện tượng nếu cả hai đều xem xét trung thực và hợp lý

2.5.2.1 Có thể so sánh được:

Quyết định của người sử dụng liên quan đến việc lựa chọn giữa những giải pháp thay thế, ví dụ, bán hoặc giữ một sản phẩm đầu tư, hoặc đầu tư vào một loại chứng khoán hoặc một cái khác Do đó, thông tin về báo cáo của doanh nghiệp là hữu ích hơn nếu nó

có thể so sánh được với các thông tin tương tự về các doanh nghiệp khác cũng như là với

Trang 21

tương tự thông tin về cùng một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian hoặc một thời điểm khác

Có thể so sánh được là chỉ tiêu chất lượng cho phép người sử dụng xác định và hiểu được sự tương đồng và khác biệt giữa những đối tượng.Không như những chỉ tiêu chất lượng khác, có thể so sánh được không liên quan đến một đối tượng riêng lẻ.Một sự

so sánh yêu cầu phải có ít nhất hai đối tượng

Nhất quán mặc dù có mối quan hệ với có thể so sánh được, nhưng lại không phải

là cùng một chỉ tiêu.Nhất quán đề cập đến việc sử dụng một kỹ thuật giống nhau cho những đối tượng giống nhau, kể cả từ một giai đoạn này đến giai đoạn khác trong cùng một đối tưởng báo cáo hay một giai đoạn duy nhất.Có thể so sánh được là mục đích, còn nhất quán hỗ trợ cho việc đạt được mục đích đó

Để có thể so sánh được, BCTC phải:

- Áp dụng các nguyên tắc kế toán nhất quán

- Khai báo về chính sách kế toán sử dụng

- Sự thay đổi chính sách kế toán cần được áp dụng hồi tố

2.5.2.2 Có thể kiểm tra được:

Có thể kiểm tra được giúp đảm bảo cho người sử dụng những thông tin kinh tế được phản ánh một cách trung thực bản chất nó phản ánh Có thể kiểm tra được nghĩa là những quan sát có cơ sở khoa học và độc lập có thể đạt được sự đồng thuận (dù rằng không cần thiết phải đưa đến sự nhất trí) rằng những mô tả cụ thể được phản ánh một cách trung thực

Có thể kiểm tra được trực tiếp hoặc gián tiếp Kiểm tra trực tiếp có nghĩa là kiểm tra giá trị hoặc thông tin khác bằng cách quan sát trực tiếp, ví dụ như kiểm kê tiền mặt Kiểm tra gián tiếp có nghĩa là kiểm tra dữ liệu đầu vào bằng một mô hình, công thức hay một kĩ thuật khác và tính toán lại dữ liệu đầu ra bằng cách sử dụng cùng một phương pháp

Ví dụ như kiểm tra giá trị ghi sổ của hàng tồn kho bằng cách kiểm tra đầu vào (số lượng và chi phí) và tính toán lại hàng tồn kho cuối kỳ bằng cách sử dụng cùng một phương pháp tính giá hàng tồn kho (ví dụ như phương pháp FIFO)

Trang 22

Có thể không kiểm tra được một số thông tin tài chính mang tính dự báo, dự đoán tương lai cho đến khoảng thời gian tương lai đó Để giúp người sử dụng quyết định được liệu họ có muốn sử dụng thông tin này hay không, thông thường sẽ cần thiết phải cung cấp những giả định căn bản, phương pháp biên soạn thông tin, những nhân tố khác và tình huống cần thông tin

2.5.2.3 Tính kịp thời:

Tính kịp thời có nghĩa là cung cấp thông tin có sẵn kịp thời cho những người ra quyết định, có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của họ Nhìn chung thì những thông tin cũ sẽ ít hữu ích hơn Tuy nhiên, một số thông tin có thể sẽ tiếp tục kịp thời, hữu ích lâu dài sau khi kết thúc giai đoạn báo cáo, bởi vì một số người sử dụng có thể sẽ cần phải xác định và đánh giá các xu hướng

2.5.2.4 Có thể hiểu được:

Thông tin trên BCTC chỉ hữu ích khi người đọc có thể hiệu được chúng, tức là phân loại, trình bày thông tin một cách rõ ràng, chính xác khiến cho thông tin dễ hiểu

Một số sự kiện vốn dĩ phức tạp và không thể dễ dàng giải thích.Loại trừ thông tin

về những sự kiện này ra khỏi BCTC có thể khiến cho thông tin trong những BCTC này

dễ hiểu hơn.Tuy nhiên, những báo cáo này có thể sẽ không đầy đủ, và do đó có thể gây nhầm lẫn

Giả định các BCTC được lập ra cho những người sử dụng - người có kiến thức nhất định về kinh doanh, về các hoạt động kinh tế, có khả năng xem xét và nỗ lực phân tích thông tin.Đôi khi, kể cả những người có đầy đủ thông tin và nỗ lực tìm hiểu cũng cần đến sự trợ giúp của một cố vấn để hiểu được những thông tin về sự kiện kinh tế phức tạp 2.5.2.5 Áp dụng các đặc điểm chất lượng nâng cao

Các đặc điểm chất lượng nâng cao nên được tăng cường tối đa đến mức có thể Tuy nhiên, những đặc điểm chất lượng nâng cao, dù là đơn lẻ hay theo nhóm, cũng không thể khiến cho thông tin hữu ích nếu thông tin đó là không thích hợp hoặc không được phản ánh trung thực

Trang 23

Áp dụng các đặc điểm chất lượng nâng cao là một tiến trình lặp đi lặp lại mà không theo một trình tự bắt buộc nào Đôi khi, một đặc điểm chất lượng nâng cao này cần phải được giảm bớt để tối đa hóa một đặc điểm chất lượng khác

Ví dụ, việc giảm tạm thời đặc điểm có thể so sánh được do kết quả của việc áp dụng chuẩn mực BCTC mới theo hồi tố có thể đáng để nâng cao đặc điểm thích hợp hoặc phản ánh trung thực trong dài hạn Việc thuyết minh chính xác có thể phần nào bù đắp cho việc không so sánh được

2.6 Khuôn mẫu 1989: Các nội dung còn lại: (Chapter 4)

2.6.1 Giả định cơ bản

BCTC được lập trên cơ sở giả định rằng doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai Nghĩa là, nó được giải định doanh nghiệp sẽ không bị hoặc không cần phải giải thể hay thu hẹp hoạt động trong một thời gian có thể thấy được; nếu giả thiết này bị vi phạm, BCTC có thể phải lập trên một cơ sở khác, khi đó phải khai báo

về cơ sở này trên BCTC

2.6.2 Các yếu tố của BCTC

BCTC mô tả những tác động tài chính của các giao dịch và các sự kiện khác bằng cách xếp chúng vào các nhóm theo đặc điểm kinh tế riêng của nó Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc đo lường của tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là tài sản,

nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc đo lường hiệu suất làm việc của doanh nghiệp trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu và Chi phí Báo cáo kết quả thay đổi trong tình hình tài chính thường phản ánh các yếu tố trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và những thay đổi trong các yếu tố của bảng cân đối kế toán; theo đó, Khuôn mẫu lý thuyết kế toán này xác định không có yếu tố nào dành riêng cho báo cáo này

Việc trình bày các yếu tố trong Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một quá trình phân loại Ví dụ, tài sản và nợ phải trả có thể được phân loai bởi bản chất và chức năng của chúng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để thể hiện thông tin một cách hữu ích nhất, phục vụ cho người đọc trong việc ra các quyết định kinh tế

Trang 24

- Nợ phải trả là một nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phát sinh từ những sự kiện trong quá khứ, trong đó việc thanh toán được mong đợi sẽ chuyển giao nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp

- Vốn của sở hữu là số dư tài sản còn lại của đơn vị sau khi trừ tất cả các khoản

nợ phải trả

Các định nghĩa của tài sản và nợ phải trả xác định các tính chất quan trọng của chúng, nhưng không chỉ rõ những tiêu chí cần được đáp ứng trước khi ghi nhận vào Bảng cân đối kế toán Vì vậy, những định nghĩa đó bao gồm cả các khoản không được ghi nhận

là tài sản và nợ phải trả trong Bảng cân đối kế toán bởi vì chúng không thỏa mãn các tiêu chí để ghi nhận

Để đánh giá khoản nào thỏa mãn định nghĩa tài sản, nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu thì cần phải dựa vào tính chất và những sự kiện kinh tế thực tế phát sinh chứ không chỉ đơn thuần là hình thức pháp lý của nó Vì vậy, ví dụ như trong trường hợp thuê tài chính, tính chất và sự kiện kinh tế phát sinh đó là bên thuê thu được các lợi ích kinh tế trong việc sử dụng tài sản đi thuê trong phần lớn đời sống hữu ích của nó và từ đó phát sinh một nghĩa vụ nợ phải trả tương đương với giá trị hợp lý của tài sản và các chi phí tài chính có liên quan Nghĩa là, việc thuê chính làm tăng một khoản thỏa mãn định nghĩa về tài sản và nợ phải trả, và được ghi nhận vào mục thuê mướn của Bảng cân đối kế toán 2.6.2.2 Tài sản

Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng các nguồn tiền hoặc các khoản tương đương tiền, một cách trực tiếp hay gián tiếp, của doanh nghiệp Nó cũng có thể mang hình thức chuyển đổi thành tiền mặt hoặc tương đương tiền

Trang 25

hoặc làm giảm dòng tiền chi ra của doanh nghiệp, chẳng hạn như khi thay thế một chu

trình sản xuất có thể làm giảm bớt chi phí

Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản mang lại cho doanh nghiệp có thể

được thể hiện bằng nhiều cách Ví dụ như tài sản có thể là:

- Được sử dụng một cách đơn lẻ hay kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm đế bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng

- Để bán hay trao đổi lấy tài sản khác

- Để thanh toán các khoản nợ phải trả

- Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp

Có nhiều tài sản, như là nhà xưởng, máy móc, thiết bị, hàng hóa, được biểu hiện

dưới hình thái vật chất Tuy nhiên cũng có những tài sản không thể hiện dưới hình thái

vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương

lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp

Tài sản của một thực thể là kết quả của các giao dịch trong quá khứ hoặc các sự

kiện khác trong quá khứ Các đơn vị thường có được tài sản bằng cách mua hoặc sản xuất

chúng, nhưng các giao dịch khác hoặc các sự kiện có thể tạo ra tài sản.Ví dụ: tài sản nhận

được bởi một thực thể từ chính phủ như một phần của một chương trình để khuyến khích

tăng trưởng kinh tế trong một khu vực và phát hiện các mỏ khoáng sản Các giao dịch

hoặc các sự kiện dự kiến sẽ xảy ra trong tương lai sẽ không phát sinh tài sản, vì vậy, ví dụ

một ý định mua hàng tồn kho, điều đó không đáp ứng đúng định nghĩa của một tài sản

Có một liên kết chặt chẽ giữa phát sinh chi phí và tạo ra tài sản nhưng cả hai

không nhất thiết phải trùng khớp với nhau Do đó, khi một thực thể phải gánh chịụ phí

tổn, điều này có thể cung cấp chứng cứ cho thấy lợi ích kinh tế trong tương lai đã đạt

được nhưng không phải là bằng chứng thuyết phục cho thấy một mục thỏa mãn định

nghĩa của một tài sản đã thu được Tương tự như vậy việc không có chi phí liên quan

cũng không ngăn cản một điều khoản đáp ứng được định nghĩa của một tài sản và do đó

trở thành một ứng cử viên để được công nhận trong bảng cân đối kế toán, ví dụ, các vật

phẩm đã được tặng cho các thực thể có thể đáp ứng định nghĩa của một tài sản

2.6.2.3 Nợ phải trả

Trang 26

Một đặc tính thiết yếu của một khoản nợ là thực thể có một nghĩa vụ hiện tại Một nghĩa vụ là một nhiệm vụ hay trách nhiệm phải hành động hoặc thực hiện theo một cách nhất định Nghĩa vụ có thể có hiệu lực pháp lý như là một hậu quả của một hợp đồng ràng buộc hoặc yêu cầu theo luật định Ví dụ, với số lượng phải trả đối với hàng hóa và dịch

vụ nhận được Tuy nhiên, nghĩa vụ cũng phát sinh từ một thói quen hay thực tế kinh doanh bình thường, và một mong muốn duy trì mối quan hệ kinh doanh tốt hoặc hành động một cách hợp tình hợp lí

Cần phải phân biệt được giữa một nghĩa vụ hiện tại và một cam kết tương lai Quyết định của quản lý của một thực thể để có được tài sản trong tương lai không làm phát sinh nghĩa vụ nợ hiện tại Nghĩa vụ bình thường chỉ xuất hiện khi tài sản được phân phối hoặc đơn vị nhập vào không thể thu hồi thỏa thuận mua tài sản

Giải quyết các nghĩa vụ nợ hiện tại thường liên quan đến các thực thể từ bỏ những nguồn lực bao gồm cả những lợi ích kinh tế để đáp ứng các yêu cầu của bên khác.Giải quyết các nghĩa vụ nợ hiện tại có thể xảy ra trong một số cách, ví dụ:

- Thanh toán bằng tiền mặt ;

- Chuyển giao các tài sản khác ;

- Cung cấp dịch vụ ;

- Thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác ; hoặc

- Chuyển đổi nghĩa vụ chủ sở hữu

Nghĩa vụ cũng có thể được hủy bỏ bằng các phương tiện khác, chẳng hạn như việc bãi miễn hoặc tước quyền của một chủ nợ

Nợ phải trả là kết quả của các giao dịch trong quá khứ hoặc các sự kiện khác trong quá khứ Vì vậy, ví dụ như việc mua lại hàng hóa và sử dụng dịch vụ làm phát sinh các khoản phải trả thương mại (trừ khi trả trước hoặc khi giao hàng ) và nhận được kết quả vay vốn ngân hàng trong một nghĩa vụ trả nợ Một thực thể cũng có thể nhận ra sư giảm giá trong tương lai dựa trên việc mua hàng hàng năm của khách hàng giống như nợ phải trả, trong trường hợp này, việc bán các hàng hóa trong quá khứ là môt nghiệp vụ làm phát sinh nợ

Trang 27

Một số khoản nợ có thể được đo chỉ bằng cách sử dụng một mức độ dự toán đáng

kể Một số tổ chức mô tả những khoản nợ này như là một khoản dự phòng Ở một số nước, nhiều khoản dự phòng không được coi là nợ bởi vì khái niệm về một khoản nợ được định nghĩa một cách tỉ mỉ để chỉ bao gồm các khoản có thể được thiết lập mà không cần phải lập dự toán Vì vậy, khi một điều khoản liên quan đến nghĩa vụ nợ hiện tại và đáp ứng các phần còn lại của các định nghĩa, đó là một khoản nợ ngay cả khi khoản đó phải được ước tính Ví dụ như các điều khoản đối với các khoản thanh toán phải được thực hiện kèm theo giấy chứng nhận và các quy định để bảo đảm nghĩa vụ lương hưu 2.6.2.4 Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là phần giá trị còn lại trong tài sản của đơn vị sau khi trừ đi tất cả các khoản nợ phải trả Vốn chủ sở hữu có thể chia thành nhiều khoản trên Bảng cân đối

kế toán nhằm cung cấp thông tin thích hợp cho người sủ dụng Ví dụ, trong một thực thể doanh nghiệp, các quỹ đóng góp của cổ đông, lợi nhuận giữ lại, phân bổ lợi nhuận giữ lại

và sự điều chỉnh việc duy trì vốn có thể được thể hiện một cách riêng biệt Phân loại như vậy có thể liên quan đến những nhu cầu ra quyết định của người sử dụng BCTC khi họ chỉ ra những hạn chế về pháp lý hay hạn chế khác về khả năng của đơn vị để phân phối hoặc áp dụng vốn chủ sở hữu của nó.Họ cũng có thể phản ánh một thực tế là các bên có quyền lợi cùng sở hữu trong một thực thể có quyền khác nhau liên quan đến việc nhận cổ tức hoặc trả nợ góp vốn cổ phần

2.6.3 Điều chỉnh vốn bảo toàn:

Việc đánh giá và trình bày lại tài sản làm phát sinh tăng hoặc giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Trong khi việc tăng hoặc giảm đó đủ điều kiện ghi nhận doanh thu hoặc chi phí, chúng không nằm trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dưới một số định nghĩa về duy trì nguồn vốn Thay vào đó, khoản mục này nằm trong phần vốn chủ

sở hữu như việc điều chỉnh duy trì vốn hoặc dự phòng đánh giá lại

2.6.4 Sự ghi nhận các yếu tố của BCTC:

Sự ghi nhận này là một quá trình kết hợp giữa Bảng cân đối kế toán hoặc Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cùng một khỏan mục mà thỏa mãn định nghĩa về yếu tố và đáp ứng được tiêu chuẩn về vịêc ghi nhận Quá trình kết hợp này mô tả của những từ ngữ

Trang 28

trong khoản mục và thông qua số lượng tiền tệ và sự bao gồm số tiền đó trong Bảng cân đối kế toán hoặc Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Những khoản mục đáp ứng được những định nghĩa về những yếu tố nên được ghi nhận nếu:

- Có khả năng chắc chắn về những lợi nhuận kinh tế trong tương lai liên quan đến các khoản mục đó sẽ mang lạihoặc sử dụng bởi đơn vị

- Các khoản mục đó có giá gốc hoặc giá trị được xác định một cách đáng tin cậy Mối liên quan giữa các yếu tố nghĩa là những khoản mục đó đáp ứng được những định nghĩa và những tiêu chuẩn ghi nhận về những yếu tố đặc biệt, ví dụ như tài sản, những yêu cầu ghi nhận một cách tự động của những yếu tố khác, chẳng hạn như thu nhập hoặc nợ phải trả

2.6.4.1 Tính có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai

Khái niệm tính có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai được sử dụng trong tiêu chuẩn ghi nhận để chỉ mức độ không chắc chắn về lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến khoản mục đó sẽ mang lại hoặc từ thực thể.Khái niệm này phù hợp với sự không chắc chắn trong khi thực thể đó hoạt động trong môi trường đặc trưng.Những sự đánh giá về mức độ không chắc chắn gắn với việc mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai dựa trên cơ sở là những bằng chứng sẵn có khi lập BCTC

2.6.4.2 Độ tin cậy của việc đo lường

Tiêu chuẩn thứ hai về việc ghi nhận một khoản mục là công ty có được chi phí hoặc giá trị có thể được đo lường qua độ tin cậy Trong nhiều trường hợp,chi phí hoặc giá trị có thể ước tính được Việc sử dụng những ước tính hợp lý là một phần rất cần thiết trong việc lập BCTC và đồng thời không làm giảm đi độ tin cậy Tuy nhiên, khi những ước tính hợp lý không thể xác định được thì sẽ không được ghi nhận trong Bảng cân đối

kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Ví dụ, số tiền dự kiến thu được từ một

vụ kiện có thể thỏa mãn cả định nghĩa về thu nhập và tài sản cũng như là tiêu chuẩn có thể xác định được cho việc ghi nhận,tuy nhiên, nếu công ty không thểđo lường được việc bồi thường một cách đáng tin cậy thì công ty không nên ghi nhận thu nhập hay tài sản

Trang 29

Tuy nhiên, sự tồn tại của việc bồi thường sẽ được công bố trong Bảng thuyết minh BCTC

Một khoản mục mà tại mốc thời gian cụ thể, chắc chắn đáp ứng những yêu cầu ghi nhận có thể đủ điều kiện cho việc ghi nhận vào ngày sau đó như là kết quả của trường hợp tiếp theo hoặc những sự kiện kinh tế

2.6.4.3 Ghi nhận tài sản

Một tài sản được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi nó có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho đơn vị hoặc tài sản đó có giá gốc và giá trị có thể đo lường một cách đáng tin cậy

Một tài sản không được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi chi phí đã phát sinh mà nó được xem xét không thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai ngoài kỳ kế toán hiện hành Một kết quả giao dịch như vậy sẽ được ghi nhận là chi phí trong Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Nếu chỉ có mức độ chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế cho thực thể ngoài kỳ kế toán hiện hành thì không đủ để đảm bảo việc ghi nhận một tài sản

2.6.4.4 Ghi nhận nợ phải trả

Nợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi nó có thể đưa đến sự giảm sút những lợi ích kinh tế mà là kết quả từ sự giải quyết nghĩa vụ nợ hiện tại và số tiền để thực hiện nghĩa vụ đó có thể đo lường một cách đáng tin cậy Trong thực tiễn, những nghĩa vụ theo hợp đồng thì tỷ lệ tương ứng chưa được thực hiện như nhau (ví dụ, khoản phải trả đơn đặt hàng về hàng hóa nhưng vẫn chưa nhận hóa đơn) nói chung sẽ không được ghi nhận như một khoản nợ phải trả trong BCTC Tuy nhiên, một nghĩa vụ

có thể đáp ứng được định nghĩa nợ phải trả, cung cấp các tiêu chuẩn công nhận trong trường hợp đặc biệt, có thể đủ điều kiện để ghi nhận Trong trường hợp, việc ghi nhận nự phải trả đòi hỏi việc ghi nhận liên quan đến tài sản hoặc chi phí

2.6.4.5 Ghi nhận doanh thu

Được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi tăng lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến sự gia tăng một tài sản hoặc giảm một trách nhiệm đã phát sinh có thể được đo lường đáng tin cậy Điều này có nghĩa, ghi nhận doanh thu xảy ra

Trang 30

đồng thời với việc ghi nhận sự gia tăng tài sản hoặc giảm công nợ (ví dụ, sự gia tăng ròng trong tài sản phát sinh trên doanh số bán hàng hóa, dịch vụ hoặc giảm khoản nợ phát sinh

từ việc từ bỏ một khoản nợ phải trả)

Các thủ tục thông thường được thông qua trong thực tế để công nhận doanh thu, ví

dụ, yêu cầu doanh thu nên kiếm được, những ứng dụng của điều kiện ghi nhận trong Khuôn mẫu lý thuyết này Các thủ tục như thế thường hướng vào việc hạn chế công nhận doanh thu cho những mặt hàng có thể được đo đáng tin cậy và có một mức độ đủ chắc chắn

2.6.4.6 Ghi nhận chi phí

Chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi giảm lợi ích kinh tế trong tương lai liên quan đến việc giảm một tài sản hoặc tăng một khoản nợ phải trả phát sinh có thể được đo lường đáng tin cậy Điều này có nghĩa ghi nhận chi phí xảy

ra đồng thời với việc ghi nhận sự gia tăng nợ hoặc giảm tài sản (ví dụ, dồn tích của các quyền lợi của nhân viên hoặc khấu hao thiết bị)

Chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở mối liên hệ trực tiếp giữa các chi phí phát sinh và thu nhập của các mặt hàng cụ thể Quá trình này thường được gọi là sự kết hợp của chi phí với doanh thu, liên quan đến việc ghi nhận đồng thời hoặc kết hợp các khoản thu, chi phí là kết quả trực tiếp và phối hợp từ các giao dịch tương tự hoặc sự kiện khác Ví dụ, các thành phần khác nhau của chi phí làm tăng chi phí hàng bán được ghi nhận theo thời gian giống như thu nhập từ việc bán hàng hoá Tuy nhiên, việc áp dụng các khái niệm phù hợp của khuôn mẫu lý thuyết không cho phép công nhận các hạng mục này trong Bảng cân đối kế toán vì không đáp ứng định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả

Khi lợi ích kinh tế dự kiến sẽ phát sinh trong nhiều kỳ kế toán và sự kết hợp với thu nhập chỉ có thể xác định một cách rộng rãi hoặc gián tiếp, chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở của hệ thống và thủ tục phân bổ hợp lý Điều này thường là cần thiết trong việc ghi nhận chi phí liên quan đến việc sử dụng tài sản như bất động sản, nhà máy, thiết bị, bằng sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá, trong trường hợp này, chi phí được gọi là khấu hao Các thủ tục phân bổ được dự định ghi nhận

Trang 31

chi phí trong kỳ kế toán, trong đó lợi ích kinh tế gắn liền với các mặt hàng này đã được tiêu thụ hoặc hết hạn

Một khoản chi phí được ghi nhận ngay khi khoản chi tiêu đó không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc là khi lợi ích kinh tế tương lai không đủ điều kiện hay đã hết điều kiện để được ghi nhận là tài sản trong Bảng cân đối kế toán

Một khoản chi phí cũng được ghi nhận trong các trường hợp khi trách nhiệm được xác lập mà không gắn liền với việc ghi nhân tài sản, chẳng hạn như trách nhiệm đối với sản phẩm bảo hành

Ví dụ: Công ty ghi nhận một máy khoan trị giá 9.600.000 đồng như là một chi phí

trong kỳ mặc dù th ời gian sử dụng của chiếc máy là 5 năm

 Sai về mặt kế toán vì chiếc máy khoan còn mang lại lợi ích cho những năm sau nữa nên phải ghi nhận là tài sản

2.6.5 Đo lường các yếu tố của BCTC:

Đo lường là quá trình xác nhận giá trị tiền tệ mà một yếu tố của BCTC được ghi nhận và trình bày trong Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Việc đo lường liên quan đến sự lựa chọn một cơ sở đo lường cụ thể

Nhiều cơ sở đo lường được sử dụng ở nhiều mức độ và ở sự phối hợp đa dạng trong BCTC Chúng bao gồm:

- Giá gốc: Tài sản được ghi nhận theo số tiền hay các khoản tương đương tiền đã trả, hoặc giá trị hợp lí được xem xét để có tài sản tại thời điểm ghi nhận Nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền đã nhận để đổi lấy nghĩa vụ Trong một vài trường hợp (ví như thuế thunhập doanh nghiệp), nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền hay các khoản tương đương tiền dự tính thanh toán để đáp ứng quá trình hoạt động kinh doanh bình thường

- Giá trị hiện tại: Tài sản được ghi nhận theocác khoản tiền hay tương đương tiền phải trả để có được tài sản tương tự tại thời điểm hiện tại Nợ phải trả được ghi nhận theo

số tiền hoặc các khoản tương đương tiền cần có để thanh toán các nghĩa vụ vào thời điểm hiện tại

- Giá trị thuần có thể thực hiện được: Tài sản đươc ghi nhận theo số tiền hay các

Trang 32

khoản tuơng đương tiền phải trả có thể thu được nếu bán tài sản tại thời điểm hiện tại Nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền thanh toán hay số tiền hoặc các khoản tương đương tiền để thanh toán các khoản nợ phải trả tại thời điểm hiện tại

- Hiện giá: Tài sản được ghi nhận theo giá trị hiện tại chiết khấu theo dòng tiền thuần tương lai mà một khoản mục dự tính thu được trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường Nợ phải trả được ghi nhận theo giá trị hiện tại chiết khấu theo dòng tiền thuần tương lai dự tính cần có để thanh toán các khoản nợ trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường

Cơ sở đo lường được sử dụng phổ biến nhất ở các doanh nghiệp để lập BCTC chính là cơ sở giá gốc Cơ sở này thường kết hợp với các cơ sở đo lường khác Ví dụ hàng tồn kho thường được trình bày theo giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được, cổ phiếu thị trường có thể được trình bày bằng giá trị thị trường và nợ lương hưu được thể hiện theo hiện giá Hơn nữa, một vài doanh nghiệp sử dụng cơ sở giá tri hiện tại như một sự đối phó với sự bất lực của mô hình kế toán giá gốc để giải quyết các ảnh hưởng của sự thay đổi giá các tài sản phi tiền tệ

Sự lựa chọn khái niệm thích hợp của vốn cần phải dựa trên nhu cầu của người sử dụng của mỗi báo cáo.Vì vậy, khái niệm tài chính của vốn nên được chấp nhận nếu như người sử dụng chủ yếu quan tâm đến sự duy trì các khoản vốn đầu tư hay vốn đầu tư sức mua.Tuy nhiên, nếu như mối quan tâm chủ yếu của người sử dụng là khả năng hoạt động của doanh nghiệp thì khái niệm vật lý của vốn nên được sử dụng Khái niệm sử dụng chỉ

Trang 33

ra mục tiêu cần đạt được khi xác định lợi nhuận, thậm chí khi có những khó khăn trong việc đo lường để đưa ra khái niệm

2.6.6.2 Khái niệm bảo toàn vốn và xác định lợi nhuận

Các khái niệm của sự bảo toàn vốn:

- Sự bảo toàn vốn tài chính: Với khái niệm này lợi nhuận chỉ đạt được khi lượng tiền hay tài sản thuần cuối kỳ vượt quá tài sản thuần hay tiền lúc đầu kỳ, sau khi loại trừ

đi các khoản phân phối đến chủ sở hữu và các khoản đóng góp của chủ sở hữu trong suốt

kỳ kế toán Sựbảo toàn vốn tài chính có thể được đánh giá bằng tiền tệ ảo hoặc sức mua

cố định

- Bảo toàn vốn vật lí: Lợi nhuận chỉ đạt được khi khả năng sản xuất (hay khả năng hoạt động) của công ty (hay nguồn lực cần có để đạt tới khả năng đó) vào cuối kỳ vượt quá khả năng sản xuất đầu kỳ, sau khi trừ đi các khoản phân phối cho chủ sở hữu

và các khoản đóng góp của chủ sở hữu trong suốt kỳ kế toán

Khái niệm của bảo toàn vốn đề cập đến cách thức mà doanh nghiệp định nghĩa vốn cần được bảo toàn Nó cho thấy mối liên kết giữa vốn và lợi nhuận vì nó cung cấp cách mà lợi nhuận được đo lường; nó là điều kiện tiên quyết để phân biệt giữa lợi ích từ vốn của doanh nghiệp và lợi ích của vốn; chỉ khi dòng đi vào của tài sản thuần vượt quá lượng cần để bảo toàn vốn thì mới có thể được xem như lợi nhuận, đây là lợi ích từ vốn

Do đó, lợi nhuận là lượng còn lại của sau khi các khoản chi phí (bao gồm sự điều chỉnh bảo toàn vốn khi thích hợp) được trừ ra khỏi thu nhập Nếu chi phí vượt quá thu nhập thì lượng còn lại là một khoản lỗ

Theo khái niệm về bảo toàn vốn tài chính được xác đi ̣nh theo đơn v ị tiền tệ danh nghĩa, lợi nhuận đại diện cho sự gia tăng đáng kể tiền v ốn danh nghĩa trong giai đo ạn này Như vậy, sự tăng giá tài s ản suốt giai đoạn này, theo quy ước được coi là tiền lãi , và theo khái niệm chính là l ợi nhuận Tuy nhiên, cho đến khi tài s ản được loại bỏ trong m ột giao dịch hối đoái, chúng có thể không được công nhận là như vậy Khi các khái niệm về bảo toàn vốn tài chính được xác định theo đơn vị sức mua liên tục, lợi nhuận đại diện cho

sự gia tăng sức mua đầu tư trong giai đoạn này Như vậy, chỉ một phần của sự gia tăng trong giá tài sản vượt quá sự gia tăng trong mức giá chung được coi là lợi nhuận Phần

Trang 34

còn lại của sự gia tăng được coi là một sự điều chỉnh bảo toàn v ốn và do đó, như một phần của vốn chủ sở hữu

Theo khái niệm của bảo toàn vốn vật chất khi vốn được xác định theo khả năng sản xuất vật chất, lợi nhuận đại diện cho sự gia tăng vốn trong giai đoạn này Tất cả sự thay đổi giá ảnh hưởng đến tài sản và nợ phải trả của đơn vị được xem là sự thay đổi trong việc đo lường năng lực sản xuất vật chất của đơn vị, vì vậy, chúng được xử lí như khoản đi ều chỉnh bảo toàn v ốn là một phần của vốn chủ sở hữu chứ không ph ải là lợi nhuận

Việc lựa chọn các cơ sở đo lường và khái niệm về bảo toàn vốn sẽ xác định mô hình kế toán được sử dụng trong việc lập các BCTC Mô hình kế toán khác nhau thể hiện mức độ khác nhau về sự hợp lý và độ tin cậy và, như trong các lĩnh vực khác, ban quản lý phải tìm kiếm một sự cân bằng giữa sự hơ ̣p lý và đ ộ tin cậy Khuôn mẫu lý thuyết này được áp dụng cho một loạt các mô hình kế toán và cung cấp hướng dẫn về việc lâ ̣p và trình bày BCTC được xây dựng theo mô hình đã được l ựa chọn Tại thời điểm hiện tại, ý

đi ̣nh c ủa Hội đồng không phải là ban hành m ột mô hình cụ thể hơn là trong các trư ờng hợp đặc biệt, chẳng hạn như đối với những đơn vị lập báo cáo theo các đồng tiền trong nền kinh tế siêu lạm phát

2.7 So sánh Khuôn mẫu lý thuyết kế toán với Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 35

2.7.1.2 Về nội dung chuẩn mực

“Các nguyên tắc kế toán cơ bản, Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán” tương đồng với nhau Cụ thể ở các khái niệm sau:

- Cơ sở dồn tích (Accrual Basis)

- Hoạt động liên tục (Going concern)

2.7.1.3 Các yếu tố của báo cáo tài chính

Đều phân chia báo cáo tài chính thành 5 yếu tố là: Tài sản, Nợ phải trả, Vốn chủ

sở hữu, Thu nhập và Chi phí Trên cơ sở đó đưa ra điều kiện ghi nhận và đánh giá từng yếu tố

2.7.1.4 Mục đích của báo cáo tài chính

IAS Framework và VAS 01 thì tương tự nhau, cho rằng mục đích của báo cáo tài

chính là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng để đưa ra các quyết định kinh tế

2.7.2 Điểm khác nhau giữa VAS 01 và IAS Framework

IAS Framework xuất thân từ nhưng nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh Do đó, trong IAS Framework có nhiều khái niệm hoặc nguyên tắc không thích hợp lắm với các nước đang phát triển, nơi mà thị trường chứng khoán chưa có hoặc còn rất nhỏ bé Việt Nam cũng nằm trong nhóm đối tượng này.Vì vậy, khi ban hành VAS 01 có những điểm khác biệt với IAS Framework

Ngày đăng: 23/11/2014, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w