Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk (2
Trang 1Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Tình hình kinh tế, xã hội nước ta từ khi đổi mới đến nay đã đạt được nhữngthành tựu vô cùng quan trọng, tăng trưởng kinh tế khả quan, cơ cấu kinh tế đượcchuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khả năng hội nhập và cạnhtranh của nền kinh tế tăng lên cùng với những cải thiện đáng kể trong các lĩnh vực xãhội Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mạnh
mẽ, lưu thông hàng hóa ngày càng được mở rộng cả về quy mô, phạm vi lẫn tínhthường xuyên, liên tục Do đó, hoạt động thanh toán bằng tiền mặt cũng dần dần khôngđáp ứng được nhu cầu của việc thanh toán nữa Và cũng do đó, vai trò của hoạt độngthanh toán không dùng tiền mặt hiện nay đang ngày càng chiếm ưu thế với những lợiích vượt trội, và đang có những đóng góp to lớn đới với sự phát triển của nền kinh tế
Người cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chủ yếu là các ngânhàng thương mại, do đó, các ngân hàng thương mại đóng vai trò ngày càng quan trọngđối với nền kinh tế và ngày nay, ngành ngân hàng được coi là xương sống, là huyếtmạch của nền kinh tế, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế đất nước Vì vậy, đi đôi với việc đổi mới cơ chế tổ chức, về nghiệp vụ ngành ngânhàng cũng đã tập trung cải tiến, trong đó có chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.Nhận thức được tầm quan trọng của việc thanh toán không dùng tiền mặt, trong nhữngnăm gần đây, ngành ngân hàng nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại cổ phầnNgoại thương Việt Nam nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc trong côngnghệ thanh toán nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng và nhanh chóng hội nhậpvào khu vực và thế giới Do đó, công tác thanh toán không dùng tiền mặt qua ngânhàng thực sự đã đi vào đời sống xã hội, đem lại những thành tựu đáng kể Tuy nhiên,
so với yêu cầu phát triền của nền kinh tế thời kỳ đổi mới thì dịch vụ thanh toán khôngdùng tiền mặt của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn bất cập về nhiều mặt, đặcbiệt là hiện đại hóa công nghệ thanh toán và phổ cập thanh toán không dùng tiền mặttrong khu vực dân cư Điều này đặt ra cho ngành ngân hàng Việt Nam nói chung và hệthống ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam nói riêng cũng như các
Trang 2nhà khoa học kinh tế phải tìm ra các giải pháp hữu hiệu để hoàn chỉnh dịch vụ này vàtạo tiền đề để ngành ngân hàng mau chóng hội nhập chung vào mạng lưới thanh toánquốc tế.
Xuất phát từ thực tiễn và tầm quan trọng của công tác thanh toán không dùng
tiền mặt đối với nền kinh tế, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk”, nhằm tìm hiểu thực trạng của công tác thanh toán
không dung tiền mặt ở đây, và mong muốn có thể đóng góp những ý kiến của mình chohoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của chi nhánh
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu về lý luận thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
- Đánh giá thực trạng công tác thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàngthương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh toánkhông dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chinhánh ĐăkLăk
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại cổ phầnNgoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk
- Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt củangân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Không gian nghiên cứu
Công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại cổ phầnNgoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk
1.3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Dựa vào số liệu của 3 năm 2007, 2008, 2009
Phần thứ hai: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trang 32.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
*Khái niệm
Theo Điều 1 của pháp lệnh số 38/LCT – HDDNH pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính, định nghĩa về ngân hàng thương mại như sau: “Ngânhàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu thường xuyên củangân hàng là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12năm 1997, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng đượcthưc hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”
- Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán: ngân hàngthương mại cung cấp cho khách hàng các phương tiện thanh toán trong và ngoài nước,tiết kiệm lượng tiền trong lưu thông, tiết kiêm chi phí trong giao dịch, thanh toán nhanhchóng, tiện lợi Dịch vụ ngân quỹ cho khách hàng là nơi quản lý các tài khoản củakhách hàng và khi có các hoạt động kinh tế phát sinh thì các chủ tài khoản yêu cầungân hàng chuyển khoản Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trunggian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế
- Chức năng tạo tiền: Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanhtoán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiệntrên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính
là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch Từ khoản dự trữ tăng
Trang 4lên ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng có khảnăng tạo nên số tiền gửi lớn gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu.
- Chức năng làm nhiệm vụ tài chính và dịch vụ khác
* Vai trò của ngân hàng thương mại
- Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế cần có
vốn Vốn được coi như nguồn “thức ăn” chính thức cho họat động sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp Ngân hàng thương mại chính là chủ thể đứng ra huy động cácnguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Nhờ có hoạt động tín dụng của ngânhàng đã tạo điều kiện cho cho doanh nghiệp khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máymóc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động đem lại hiệuquả kinh tế, cũng có nghĩa là đưa doanh nghiệp lên những nấc thang cạnh tranh caohơn Cạnh tranh càng mạnh mẽ, kinh tế phát triển Như vậy khả năng cung cấp vốn,ngân hàng thương mại đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triểnkinh tế của quốc gia
- Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Thị trường ở đây được hiểu ở hai góc độ, thị trường đầu vào và thị trường đầu racủa doanh nghiệp Doanh nghiệp tiếp cận mạnh mẽ vào thị trường đầu ra, tìm kiếm lợinhuận Quy trình đó được bắt đầu khi doanh nghiệp trang bị được đầy đủ vốn cần thiết.Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính Do vậy, buộc
họ phải tìm kiếm nguồn vốn để phục vụ cho quá trình họat động kinh doanh Nguồnvốn tín dụng của ngân hàng thương mại sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết những khókhăn đó, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thõa mãn tối đa nhu cầu của thị trườngtrên mọi phương diện: giá cả, chủng lọai, chất lượng, khối lượng, thời gian, địa điểm…ngân hàng thương mại sẽ là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường giúp doanh nghiệptìm kiếm được đầu vào, bôi trơn họat động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huyhiệu quả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhauhơn cả về không gian và thời gian
- Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 5Hệ thống ngân hàng thương mại họat động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ hữuhiệu để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Họat động ngân hàng góp phần chống lạm phát Khi xảy ra lạm phát, ngân hàngTrung ương sẽ tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thịtrường mở để thông qua các ngân hàng thương mại thay đổi lại lượng tiên trong lưuthông Các ngân hàng thương mại sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các họat động tíndụng, bão lãnh Từ đó ngân hàng xác định được hướng đầu tư vốn và đề ra các biệnpháp xử lý những tác động xấu ảnh hương đến nền kinh tế, góp phần điều hòa lưuthông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát
- Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tếTrong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay thì vai trò này ngày càngthể hiện rõ rệt hơn, áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở cửa hộinhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài chính Nhưnglàm thế nào để có thể hòa nhập nền tài chính của một quốc gia với phần còn lại của thếgiới? Câu hỏi đó sẽ được giải đáp nhờ vào hệ thống các ngân hàng thương mại vì hệthống này có khả năng cung cấp nhiều lọai hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu
tư nước ngoài vào trong nước theo các hình thức: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hốiđoái, cho vay ủy thác đầu tư…giúp cho các luồng vốn ra, vào một cách hợp lý, đưa nềntài chính nước nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế
2.1.2 Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường
2.1.2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt và các khái niệm khác liên quan
- Tiền mặt: Tiền mặt theo nghĩa hẹp, đó là tiền do ngân hàng Trung ương pháthành ra và nằm trong tay công chúng hay ngoài hệ thống ngân hàng Còn theo nghĩarộng nhất, tiền mặt có thể được hiểu là những thứ có thể sử dụng trực tiếp để thanhtoán các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ngân hàng Như vậy, trong trường hợp nàykhái niệm tiền mặt được dùng để chỉ dạng có khả năng thanh toán cao nhất của tài sản,bao gồm các đồng tiền do ngân hàng Trung ương phát hành ra và được công chúng giữ
để chi tiêu, tiền gửi ở tài khoản vãng lai hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có thể rút
ra bất cứ lúc nào bằng cách viết séc Đối với các ngân hàng thương mại khái niệm tiền
Trang 6mặt bao gồm các đồng tiền cất trong két sắt và số dư của họ tại ngân hàng Trung ương.
Do được dùng với nhiều nghĩa khác nhau như vậy, nên khi gặp khái niệm này, chúng taphải lưu ý xem nó được dùng theo nghĩa nào trong một khung cảnh nhất định (Theo từđiển kinh tế học)
Tiền mặt trong trường hợp chúng ta đang tìm hiểu, là hình thức tiền tệ, theo đó,trong thời gian giao dịch, chức năng lưu thông và cất trữ giá trị được thực hiện màkhông cần sự tham gia của các định chế tài chính trung gian đặc thù
- Thanh toán: Thanh toán, trong các mối quan hệ kinh tế, được hiểu một cáchkhái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệkinh tế nhất định Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trongviệc thanh toán để nhận hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ [9]
- Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là cách thanh toán không có sựxuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích từ tài khoản của người chi trả
để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng, hoặc bằng cách bù trừlẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng [9]
TTKDTM còn được định nghĩa là phương thức thanh toán không trực tiếp dùngtiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy uỷ nhiệm thu, giấy ủy nhiệm chi,séc… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản của đơn vịkhác ở ngân hàng TTKDTM gắn với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ
2.1.2.2 Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt
Trong TTKDTM, sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của hàng hóa
cả về thời gian lẫn không gian và thường không có sự ăn khớp nhau Đây là đặc điểmquan trọng và nổi bật nhất của hình thức TTKDTM
Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không xuất hiện như trong hình thứcthanh toán dùng tiền mặt theo kiểu hàng – tiền - hàng mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền
kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán Đây là đặcđiểm riêng của TTKDTM
Trong TTKDTM, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện cáckhoản thanh toán Chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gửi của các khách
Trang 7hàng mới được quyền trích chuyển những tài khoản này theo các nguyên tắc chuyênmôn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình Với nghiệp vụ này, ngân hàng trởthành trung tâm thanh toán đối với các khách hàng của mình.
Với những đặc điểm nêu trên, TTKDTM nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽphát huy được tác dụng tích cực của nó Trong tương lai, theo đà phát triển của xã hội
và theo nhu cầu của thị trường, TTKDTM sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trongviệc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế
2.1.2.3 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất, lưuthông hàng hoá Chính vì vậy mà các phương tiện thanh toán luôn luôn được đổi mớihiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trưởng không ngừng của sản xuất - lưu thônghàng hoá
Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển mạnh
mẽ, lưu thông hàng hoá ngày càng được mở rộng về cả qui mô, phạm vi lẫn tínhthường xuyên, liên tục thì thanh toán bằng tiền mặt cũng dần dần không đáp ứng đượcnhu cầu của thanh toán nữa,vì thanh toán bằng tiền mặt có dộ an toàn không cao, vớikhối lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt
sẽ không an toàn cho cả người trả tiền và người nhận tiền Tiếp đó, khi quan hệ thanhtoán mở rộng ra phạm vi quốc tế thì chi phí về thủ tục chuyển đổi tiền để thanh toán,chi trả sẽ rất lớn vì khoảng cách giữa người mua và người bán nhiều khi ở rất xa nhautrong khi thời gian để người mua mang tiền đến trả bị khống chế Điều này dẫn đến sựkìm hãm sản xuất- lưu thông hàng hóa Hơn nữa, thanh toán không dùng tiền mặt hạnchế khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, gây ra nạn làm tiền giả Thanh toánbằng tiền mặt sẽ làm cho khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên rất lớn, từ đó rấtkhó khăn cho quá trình điều hoà lưu thông tiền mặt Khối lượng tiền mặt tăng lên sẽgây sức ép về mặt giá cả, đó là một trong những nguyên nhân gây nên lạm phát cao.Mặt khác thanh toán bằng tiền mặt phải chi phí rất lớn cho việc in ấn, vận chuyển,đóng gói, bảo quản, kiểm đếm, cất trữ Bên cạnh đó chức năng phương tiện thanh toáncủa tiền tệ lại cho phép tiền tệ vận động tách rời với sự vận động của hàng hoá Chính
Trang 8do chức năng này, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế một phươngthức thanh toán tiến bộ hơn đã ra đời đó là phương thức TTKDTM với hình thức tiềnghi sổ Trong đó, ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng
Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao
và khối lượng hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối lượng và chất lượng,các quan hệ thương mại được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế Từ thực tế khách quannày, và trong thời kỳ nền kinh tế chuyển sang một một giai đoạn phát triển mạnh mẽtiền mặt không thể đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi phải cónhững hình thức thanh toán mới ra đời tiên tiến hơn, hiện đại hơn phù hợp đáp ứng nhucầu sản xuất lưu thông hàng hoá Hình thức TTKDTM ra đời đã khắc phục những hạnchế của thanh toán dùng tiền mặt, đồng thời thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưuthông hàng hoá trong nền kinh tế
2.1.2.4 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, TTKDTM có một vai trò hết sức quan trọng đốivới từng cá nhân, từng đơn vị kinh tế và đối với toàn bộ nền kinh tế Nó đáp ứng đượcđòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, làm cho ngânhàng trở thành trung tâm thanh toán của nền kinh tế Vai trò của thanh toán không dùngtiền mặt được thể hiện:
a) Đối với ngân hàng.
TTKDTM góp phần tăng nhanh nguồn vốn của ngân hàng, mở rộng nghiệp vụkinh doanh Khi khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, số dư trên các tài khoản tiềngửi thanh toán sẽ tăng lên, tăng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, sẽ mang lại chongân hàng một nguồn vốn lớn để cho vay, đầu tư, phát triển kinh tế Từ đó, nó giúp chongân hàng tập trung được nguồn vốn trong xã hội phục vụ cho quá trình phát triển côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước TTKDTM qua ngân hàng tạo điều kiện cho ngânhàng có thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong thanh toán cho đầu tư, cho vay sản xuấtsau khi đã tính toán dự trữ một lượng vốn nhất định đảm bảo được tỷ lệ dự trữ bắtbuộc, khoản dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán của mình Khi TTKDTM qua ngân
Trang 9hàng được nhanh chóng, thuận tiện sẽ tạo điều kiện thu hút các đơn vị, cá nhân đến mởtài khoản thanh toán hoặc gửi tiền.
TTKDTM góp phần giải quyết được tình trạng thiếu tiền mặt trong ngân quỹlàm cho hoạt động của ngân hàng được thực hiện trong suốt, hoàn thiện chức năngtrung gian thanh toán của ngân hàng thương mại
TTKDTM tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại thực hiện chức năng “tạotiền” TTKDTM sử dụng tiền ghi sổ, thực hiện thanh toán bằng cách trích chuyển từ tàikhoản người phải trả sang tài khoản người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các ngân hàngthương mại với nhau Do đó, TTKDTM luôn tạo ra một lượng tiền nhàn rỗi mà ngânhàng có thể sử dụng cho vay Đây chính là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng tạotiền của mình
TTKDTM giúp ngân ngân hàng nắm được tình hình biến động số dư tài khoảncủa khách hàng, tình hình thu nhập, tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính
để cung ứng các dịch vụ, cho vay, tư vấn Đồng thời, thông qua các thông tin từ tàikhoản thanh toán của khách hàng, ngân hàng sẽ có được những quyết định cho vayđúng đắn, đảm bảo thu gốc và lãi đúng hạn, giảm tỷ trọng nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợxấu; tăng dư nợ tín dụng, mở rộng và phát triển nghiệp vụ tín dụng Bên cạnh đó, ngânhàng cũng có thể mở rộng doanh số cho vay thông qua các nghiệp vụ như thấu chi, cấphạn mức tín dụng cho các chủ tài khoản Việc này vừa mang lại thu nhập cho ngânhàng từ những khoản lãi tín dụng, vừa tăng sự hấp dẫn của các dịch vụ ngân hàng đốivới khách hàng
TTKDTM nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại và thúcđẩy các dịch vụ khác phát triển Hiện nay, ngoài sự có mặt của các ngân hàng thươngmại quốc doanh còn có sự góp mặt của rất nhiều của các tổ chức ngân hàng nướcngoài, các tổ chức phi ngân hàng như bảo hiểm, bưu diện cũng cung cấp một số dịch
vụ ngân hàng cho khách hàng Khách hàng ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụngân hàng sao cho thoả mãn nhu cầu tốt nhất, chi phí thấp nhất, độ an toàn cao nhất,nhanh chóng và thuận tiện…Do vậy, để thu hút khách hàng đến sử dụng dịch vụ của
Trang 10mình (nhất là TTKDTM) các ngân hàng phải không ngừng cải tiến dịch vụ để thắngtrong cạnh tranh, tích cực áp dụng công nghệ hiện đại, đổi mới phong cách giao dịch.
b) Đối với chủ thể thanh toán.
Thanh toán qua ngân hàng mang lại lợi ích to lớn cho khách hàng, nhờ việc tăngnhanh tốc độ chu chuyển vốn, tiết kiệm được các chi phí phát sinh (chi phí vận chuyển,chi phí kiểm đếm) từ đó, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệuquả kinh doanh
Sử dụng các hình thức TTKDTM bảo đảm tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, antoàn, và bảo mật cho khách hàng Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mức độ ứngdụng công nghệ thông tin của các ngân hàng thương mại trong hoạt động thanh toánngày càng cao Cụ thể: Chỉ bằng một lệnh của chủ tài khoản, một giao dịch có thể đượcthực hiện ngay không kể không gian và địa điểm giao dịch nhờ công nghệ mạng, côngnghệ chuyển tiền điện tử và công nghệ online Đây là tiện ích dịch vụ thanh toán nóichung và TTKDTM nói riêng trong ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay
Sự đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán (nhất
là các loại thẻ ngân hàng), tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn trongviệc sử dụng dịch vụ sao cho có lợi nhất: tiện ích và chi phí giao dịch thấp
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ đẩynhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạtđộng kinh doanh, đảm bảo an toàn về vốn và tài sản, tránh được rủi ro
c) Xét trên góc độ quản lý vĩ mô của nhà nước.
Mở rộng TTKDTM góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ của ngân hàngNhà nước: việc mở rộng hình thức TTKDTM sẽ giảm được khối lượng lớn tiền mặttrong lưu thông và làm tăng khối lượng tiền ghi sổ, điều đó giúp cho ngân hàng Trungương có thể sử dụng hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ
TTKDTM góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội.Công tác TTKDTM gắn liền với công tác kế hoạch hoá lưu thông tiền tệ Thực hiện tốtcông tác TTKDTM tức là tăng nhanh tỷ trọng TTKDTM trong chu chuyển tiền tệ, sẽlàm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm được các chi phí cần thiết phục vụ cho
Trang 11lưu thông tiền mặt, tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm chế lạm phát tiến tới
ổn định tiền tệ
Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện để giảm chi phí lưuthông tiền mặt, tiết kiệm lao động xã hội: việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt
sẽ làm tăng khối lượng tiền ghi sổ và giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó
sẽ tiết giảm được chi phí cho toàn xã hội
Hoạt động TTKDTM được thực hiện thông qua việc mở tài khoản thanh toán tại ngânhàng của các chủ thể kinh tế, do đó giúp cho việc quản lý của Nhà nước tốt hơn, giúp tăngcường hiệu quả cho công tác thu thuế, kiểm soát tốt hơn các tệ nạn tham ô, tham nhũng, chốngnạn rửa tiền…
2.1.3.4 Nội dung của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
a) Thanh toán bằng séc (Cheque)
* Khái niệm:Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản, được lập theo quy định của pháp luật, yêucầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán củamình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc [7]
* Các loại séc thông dụng
- Phân loại theo tính chất chuyển nhượng:
+ Séc vô danh hay séc người cầm (Cheque to Bearer):
Là loại séc không ghi tên người được hưởng lợi, mà chỉ ghi là “ trả cho ngườicầm séc” Do vậy bất cứ ai cầm séc này cũng có thể nhận được số tiền trên tờ séc ởngân hàng Loại này được quyền tự do chuyển nhượng theo hình thức trao tay
+ Séc đích danh (Norminal cheque): Là séc ghi rõ tên người được hưởng lợi, để chitrả riêng cho người thụ hưởng, ngân hàng không chi trả cho ai khác ngoài người thụ hưởng
- Phân loại theo đặc điểm sử dụng:
+ Séc tiền mặt: Là loại séc mà ngân hàng thanh toán sẽ trả tiền mặt, và ngườiphát hành séc phải chịu rủi ro khi mất séc hoặc bị đánh cắp
+ Séc chuyển khoản hay séc tài khoản người thụ hưởng: Là séc mà người kýphát hoặc người cầm séc không muốn ngân hàng trả tiền mặt mà muốn trả vào tài
Trang 12khoản người thụ hưởng bằng cách viết trên mặt tờ séc cụm từ “trả vào tài khoản” hoặcnhững cụm từ có nội dung tương tự Séc chuyển khoản không thể chuyển nhượng.+ Séc bảo chi: Là loại séc được tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán xác nhậnkhả năng thanh toán trước khi người chi trả trao séc cho người thụ hưởng để nhận hànghóa, dịch vụ Người phát hành phải lưu trước số tiền ghi trên tờ séc vào một tài khoảnriêng để ngân hàng làm thủ tục bảo chi trước khi giao séc cho khách hàng
+ Séc du lịch:
Là séc do một ngân hàng phát hành bán cho du khách mua khi ra nước ngoàimang theo để chi dùng thay cho ngoại tệ
* Quy trình thanh toán sec:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy trình thanh toán séc
(1) Bên thụ hưởng giao hàng hoá, dịch vụ cho bên chi trả
(2) Bên chi trả ký séc và giao cho bên thụ hưởng
(3) Bên thụ hưởng nộp séc vào ngân hàng
(4a) Trường hợp khách hàng cùng mở tài khoản tại một ngân hàng thương mại,ngân hàng hạch toán “Có” trên tài khoản bên thụ hưởng và báo “Có” cho họ
(4b) Trường hợp hai khách hàng mở tài khoản tại hai ngân hàng khác nhau:(4b1) Ngân hàng bên thụ hưởng chuyển tờ séc cùng một liên bản kê nộp sécsang ngân hàng phục vụ bên chi trả
(4b2) Ngân hàng phục vụ bên chi trả hạch toán nợ vào tài khoản bên chi trả vàgửi một liên bản kê thanh toán bù trừ sang ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng
(4b3) Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng hạch toán có vào tài khoản bên thụ
(ký phát séc)
Ngân hàng phục vụ
bên thụ hưởng
Ngân hàng phục vụ bên chi trả
(1)
(2)(4a)
(4b1)(3)
(4b2)(4b3)
Trang 13Đối với séc bảo chi, ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sẽ thanh toán tờ séccho khách hàng ngay khi nhận được tờ séc hợp lệ kèm yêu cầu thanh toán của kháchhàng (4b3), sau đó gửi séc bảo chi cùng yêu cầu thanh toán đến ngân hàng phục vụ bênchi trả (4b1).
b) Thanh toán bằng ủy nhiệm chi
* Khái niệm: Uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập lệnh
thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho tổ chức cúngứng dịch vụ thanh toán nơi mình mở tài khoản yêu cầu tổ chức đó trích một số tiền nhất địnhtrên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng [7]
* Quy trình thanh toán của uỷ nhiệm chi:
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình thanh toán bẳng ủy nhiệm chi
(1) Bên bán giao hàng hoá, dịch vụ cho bên mua
(2) Bên mua ủỷ nhiệm chi vào ngân hàng thương mại
(3) Ngân hàng hạch toán “Nợ” trên tài khoản bên mua và báo “Nợ” cho họ.(4a) Trường hợp khách hàng cơ tài khoản tại cùng một ngân hàng, ngân hàng hạchtoán “Có” trên tài khoản bên bán và báo “Có” cho họ Quy trình thanh toán kết thúc
(4b) Trường hợp khách hàng mở tài khoản tại 2 ngân hàng thương mại khác nhau:(4b1) Ngân hàng phục vụ bên mua lập lệnh thanh toán và gửi cho ngân hàngphục vụ bên bán
(4b2) Ngân hàng phục vụ bên bán hạch toán “Có” trên tài khoản bên bán và báo
Trang 14Trường hợp Các khách hàng có tài khoản tại hai ngân hàng thương mại khôngcùng hệ thống và không tham gia thanh toán bù trừ các ngân hàng thương mại có thểthanh toán qua tài khoản gửi tại ngân hàng Nhà nước.
c) Thanh toán bằng ủy nhiệm thu
* Khái niệm: Uỷ nhiệm thu hoặc nhờ thu là phương tiện thanh toán mà người thụ hưởng
lập lệnh thanh toán theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định, gửi cho
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ủy thác thu hộ mình một số tiền nhất định [7]
* Quy trình thanh toán:
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ quy trình thanh toán bẳng ủy nhiệm thu
(1) Bên bán giao hàng hoá, dịch vụ cho bên mua
(2) Bên bán lập uỷ nhiệm thu kèm hoá đơn vào ngân hàng phục vụ mình
(3a) Trường hợp các khách hàng có tài khoản tại cùng một ngân hàng, ngânhàng hạch toán “Nợ” trên tài khoản của bên mua và báo “Nợ” cho họ
(3b) Trường hợp các khách hàng có tài khoản tại hai ngân hàng có tham giathanh toán bù trừ
(3b1) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi uỷ nhiệm thu sang ngân hàng phục vụ bên mua.(3b2) Ngân hàng phục vụ bên mua hạch toán “Nợ” trên tài khoản bên mua vàbáo “Nợ” cho họ
(3b3) Ngân hàng phục vụ bên mua gửi uỷ nhiệm thu sang ngân hàng phục vụ bênbán
(4) Ngân hàng phục vụ bên bán hạch toán “Có” trên tài khoản bên bán và báo
“Có” cho khách hàng
NHTM phục vụ bên bán
NHTM phục vụ bên mua
(1)
(4)
(3b1 )
) (3b3
) (3a)
Trang 15Các khách hàng có tài khoản tại hai ngân hàng không cùng hệ thống và khôngtham gia thanh toán bù trừ: thì quá trình thanh toán sẽ thực hiện thông qua tài khoảntiền gửi tại ngân hàng Nhà nước.
d) Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)
* Khái niệm: Thư tín dụng là một sự thỏa thuận trong thanh toán, trong đó một ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của người nhập khẩu tiến hành mở vàchuyển đến cho chi nhánh hay đại lý của ngân hàng này ở nước ngoài (ngân hàngthông báo thư tín dụng) một thư tín dụng để trả cho người được hưởng (người xuấtkhẩu) một số tiền nhất định, trong phạm vi và thời gian xác định, với điều kiện ngườiđược hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với những nội dung đã ghitrong thư tín dụng [6]
* Quy trình thanh toán:
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ quy trình thanh toán bằng L/C
(1)Người nhập khẩu dựa vào hợp đồng thương mại đã ký với người xuất khẩu đểlàm thủ tục xin mở thư tín dụng tại ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng mở thư tíndụng) cho người xuất khẩu hưởng
(2)Theo yêu cầu của người nhập khẩu, ngân hàng phục vụ người nhập khẩu mở mộtthư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng ngân hàng này chuyển bản chính thư tín dụng chongười xuất khẩu thông báo qua ngân hàng nước xuất khẩu (ngân hàng thông báo)
(3)Ngân hàng xuất khẩu xác định nhận thư tín dụng bằng văn bản và gửi bảnchính thư tín dụng cho người xuất khẩu
Ngân hàng thông báo L/C
Trang 16(4)Căn cứ vào thư tín dụng nhận được, nếu thấy phù hợp thì người xuất khẩuthực hiện hợp đồng thương mại cho người nhập khẩu; nếu không thì người xuất khẩuyêu cầu người nhập khẩu sửa đổi hoặc bổ sung lại thư tín dụng.
(5)Ngay sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theođúng yêu cầu của thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngânhàng mở thư tín dụng xin thanh toán
(6)Sau khi nhận được bộ chứng từ, ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra kỹ cácchứng từ đó, nếu thấy phù hợp thì thanh toán tiền cho bộ chứng từ đó
(7)Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từcho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hay chấp nhận thanh toán
(8)Người nhập khẩu sau khi nhận được bộ chứng từ do ngân hàng người xuấtkhẩu chuyển đến, kiểm tra kỹ các chứng từ, nếu thấy phù hợp thì chuyển tiền trả chongân hàng mở thư tín dụng
e) Thanh toán bằng thẻ thanh toán
*Khái niệm: Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán phát hành và cấp cho người sử dựng dịch vụ thanh toán để sử dụng theohợp đồng ký kết giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và người sử dụng dịch vụthanh toán
Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình đểthanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, thanh toán công nợ và để lĩnh tiền mặt tại ngân hàngđại lý thanh toán hay quầy trả tiền tự động
* Phân loại: Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau, thẻ ngân hàng được phân
chia thành những loại sau đây:
- Phân loại theo công nghệ sản xuất:
+ Thẻ khắc chữ nổi (Embossing card): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi Hiệnnay người ta không sử dụng công nghệ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ và dễ bị giả mạo
+ Thẻ băng từ (Magnetic Strip): dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứahai rãnh thông tin phía sau mặt thẻ
Trang 17+ Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻthông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chip điện tử có cấutrúc giống như một máy tính hoàn hảo.
- Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ
+ Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đóngười chủ thẻ được ngân hàng phát hành cấp một hạn mức tín dụng theo quy định vàđược sử dụng một hạn mức tín dụng đó mà không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả sốtrả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa dịch vụ tại những cơ sở kinhdoanh, khách sạn, sân bay… chấp nhận loại thẻ này Là phương tiện thanh toán toántiện lợi, an toàn đối với những người thường xuyên đi nước ngoài
+ Thẻ ghi nợ (Derbit Card): Thẻ ghi nợ được sử dụng để rút tiền tại các máy rúttiền tự động, thanh toán hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở số tiền có trong tài khoản của chủthẻ tại ngân hàng
+ Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là một hình thức thẻ ghi nợ song loại thẻ này chỉ
có một chức năng là rút tiền tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng
* Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
+ Thẻ nội địa: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi của một quốc gia, dovậy đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của quốc gia đó
+ Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại
tệ mạnh để thanh toán
* Phân loại theo hạn mức tín dụng
+ Thẻ vàng (gold card): là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng “caocấp”, những khách hàng có mức sống, thu nhập và nhu cầu tài chính cao
+ Thẻ thường (standard card): là loại thẻ căn bản nhất, mang tính phổ biến đạichúng Hạn mức tối thiểu tùy theo ngân hàng phát hành quy định
* Quy trình thanh toán thẻ:
Trường hợp cơ sở chấp nhận thẻ có tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ:
Trang 18Sơ đồ 2.5: Sơ đồ quy trình thanh toán bằng thẻ trường hợp cơ sở chấp
nhận thẻ có tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ
(1) Chủ sở hữu thẻ giao thẻ cho cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ
(2) Cở sở chấp nhập thẻ truyền thông tin về ngân hàng phát hành thẻ
(3) Sau khi hạch toán “Nợ” vào tài khoản thích hợp của chủ sở hữu thẻ và ghi
“Có” vào tài khoản Cơ sở chấp nhận thẻ, rồi phản hồi thông tin lại cơ sở chấp nhận thẻ
(4) Cơ sở chấp nhận thẻ giao lại thẻ và biên lai cho chủ sở hữu thẻ
Trường hợp cơ sở chấp nhận thẻ không có tài khoản tại ngân hàng phát hànhthẻ, quy trình thanh toán thẻ phức tạp hơn do phải có sự tương tác giữa ngân hàng pháthành và cơ sở chấp nhận thẻ
kế hoạch của nhà nước đã đề ra
Trong thời kỳ này mặc dù chưa hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp nhưngvẫn có nhiều cải tiến về công tác TTKDTM nhằm nâng cao hiệu quả, đáp ứng cho nhucầu thanh toán vốn, chuyển vốn cho nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
Chủ sở hữu thẻ
Trang 19chung và đáp ứng chuyển tiền phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốcMĩ.
Tuy vậy TTKDTM ở thời kì này còn bộc lộ một số nhược điểm làm hạn chế kếtquả của hoạt động TTKDTM:
- TTKDTM chủ yếu tập trung phục vụ cho khu vực kinh tế quốc doanh, tập thể,các cơ quan đoàn thể TTKDTM chưa được sử dụng trong dân cư, từ đó làm cho việcthanh toán trong dân cư diễn ra hoàn toàn dưới hình thức tiền mặt
- Cơ chế thanh toán cứng nhắc với việc quy định các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế chỉ được mở tài khoản tại Ngân hàng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở Các hình thứcthanh toán mới chỉ tập chung vào một số hình thức truyền thống như: Séc, uỷ nhiệmthu, uỷ nhiệm chi, thanh toán liên hàng
-Kỹ thuật thanh toán lạc hậu, chủ yếu làm bằng tay nên thanh toán chậm trễ, saisót nhiều gây mất lòng tin đối với những người tham gia sử dụng tiện ích thanh toán
b) TTKDTM trong thời kỳ ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường
Có thể nói TTKDTM ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã có sự chuyển biếntích cực
Trước hết về xây dựng cơ chế chính sách và cơ chế nghiệp vụ: Về phía Chínhphủ đã ban hành nghị định 91/1990/NĐ-CP (1990) và tiếp đến là nghị định64/2001/NĐ-CP (2001) để thay thế nghị định 91/1990/NĐ-CP về tổ chức hoạt độngthanh toán trong nền kinh tế Riêng về séc chính phủ đã ban hành nghị định 30/CP đểđiều chỉnh công cụ thanh toán séc ở Việt Nam sang năm 2003 chính phủ đã ban hànhnghị định 159/CP để thay nghị định 30/CP Về phía ngân hàng Nhà nước thì thống đốc
đã ban hành quyết định 22(1990) và sau đó là quyết định 226 (2002) để thay thế quyếtđịnh 22 về cơ chế TTKDTM ở Việt Nam.Ngày 29/12/2006, Thủ tướng Chính phủ đãban hành Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thanh toán không dùngtiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định 291) Đồngthời, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 161/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định
về thanh toán bằng tiền mặt (Nghị định 161) Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng để
thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt
Trang 20Về công nghệ thanh toán thì đã có bước nhảy vọt là chuyển từ kỹ thuật thanhtoán thủ công sang kỹ thuật thanh toán điện tử đặc biệt là khâu chuyển tiền.
Về tổ chức bộ máy và cán bộ: Các ngân hàng thương mại là các tổ chức cungứng dịch vụ thanh toán được sắp xếp lại theo từng hệ thống để xây dựng hệ thốngthanh toán của từng hệ thống, về tổ chức thanh toán liên ngân hàng (thanh toán bù trừliên Ngân hàng và chuyển tiền điện tử liên ngân hàng) Về đội ngũ cán bộ được bố trí
đủ về số lượng và nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua các khoá đào tạo lại đặc biệt
là các lớp học chuyên đề về thanh toán, về tin học
Về các hình thức thanh toán thì ngoài việc hoàn thiện các hình thức truyềnthống còn ban hành thêm thẻ thanh toán
Với những cố gắng của các ngân hàng thương mại trong thời kỳ đổi mới đã làmcho hoạt động của các ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động thanh toán nóiriêng có sự chuyển biến đáng khích lệ Đã đảm bảo được khâu thanh toán nhanh, chínhxác, an toàn tài sản nên khách hàng không còn phàn nàn về thanh toán chậm trễ, thiếuchính xác như thời kỳ bao cấp Riêng khâu thanh toán trong dân cư đang được triểnkhai mạnh mẽ và thu được những kết quả bước đầu
2.2.2 Tình hình chung về việc thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay
* Những thành tựu đạt được trong công tác TTKDTM
Để thúc đẩy TTKDTM, ngành ngân hàng đã tăng cường đầu tư phát triển mạnh
cơ cở hạ tầng về công nghệ thông tin: Với nguồn vốn vay 106 triệu USD của ngânhàng Thế giới, trong tiểu dự án ngân hàng Nhà nước đã khai trương Hệ thống thanhtoán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 vào ngày 28/2/2009, đáp ứng nhu cầu thanh,quyết toán tức thời và dung lượng ngày càng cao Các ngân hàng thương mại đã hoànthành dự án thanh toán điện tử nội bộ kết nối giao dịch thanh toán trong hệ thống giữacác chi nhánh, đẩy mạnh triển khai hệ thống Core Banking (hệ thống các phân hệnghiệp vụ cơ bản của ngân hàng như tiền gửi, tiền vay, khách hàng) để hiện đại hóa hệthống thanh toán nội bộ, mở rộng mạng lưới, không ngừng đầu tư vào cơ sở hạ tầngphục vụ cho hoạt động thanh toán Nhiều phương tiện TTKDTM mới, hiện đại, tiện íchứng dụng công nghệ cao như thẻ ngân hàng, thanh toán qua Internet, điện thoại di
Trang 21động, ví điện tử… được các ngân hàng thương mại cung ứng, đáp ứng yêu cầu của nềnkinh tế Ngân hàng Nhà nước đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề ánxây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất”, qua đó thực hiện kết nối các hệthống ATM của các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống thống nhất trên toànquốc nhằm tăng tính thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng, thúc đẩythanh toán bằng thẻ ngân hàng, góp phần thực hiện chủ trương của Chính phủ pháttriển TTKDTM Theo ngân hàng Nhà nước, việc trả lương qua tài khoản cho các đốitượng hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước đã hoàn thành giai đoạn 1 với kết quả khảquan, từ cuối năm 2007 đến cuối năm 2008, số đơn vị trả lương qua tài khoản đã tănghơn 4 lần, từ 5.181 lên 21.562 đơn vị, số người nhận lương qua tài khoản đã tăng 3,7lần, từ 298.920 lên đến 1.132.442 người Nhiều ngân hàng thương mại đã đầu tư nhiềutỷ đồng để lắp đặt hệ thống máy ATM, máy POS và phát hành nhiều loại thẻ ATM vớinhiều tiện ích khác nhau, đến cuối tháng 6/2009, toàn thị trường đã có 8.800 ATM và28.300 POS, khoảng 17.032.000 thẻ đang lưu hành Theo chỉ đạo của ngân hàng Nhànước Việt Nam, hệ thống kết nối Smartlink – Banknetvn đã chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 23/5/2008, lần đầu tiên tạo ra một mạng lưới liên minh thẻ ATM thốngnhất trên toàn quốc, đã kết nối thanh toán thẻ gồm 42 ngân hàng thành viên của 2 liênminh thẻ, tổng số máy ATM của 2 hệ thống này chiếm khoảng 80% tổng số máy ATM
và số lượng thẻ thanh toán phát hành chiếm 86% thị phần trong cả nước Việc chi trảlương qua tài khoản đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại mở rộng và pháttriển giá trị gia tăng dịch vụ ngân hàng bán lẻ
* Một số hạn chế:
Từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán so vớitổng phương tiện thanh toán năm 2001 là 23,7%; năm 2004 là 20,3%; năm 2005 là19%; năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36%, năm 2008 là 14,6%; tuy tỷ trọng hàngnăm đã giảm nhưng còn ở mức cao hơn so với thế giới; tỷ trọng này ở các nước tiêntiến như Thụy Điển là 0,7%, Na Uy là 1%, còn Trung Quốc là nước phát triển trungbình nhưng cũng chỉ ở mức là 10%
Trang 22Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến hiện nay là thẻ thanh toángiao dịch qua máy ATM, máy POS; tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do cácngân hàng thương mại phát hành, lắp đặt ngày càng tăng nhưng tác dụng giảm khốilượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêm tốn Trong buổi giao lưu trực tuyến doThời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức ngày 8/6/2009, TS.Dương Hồng Phương, Phó Vụtrưởng Vụ Thanh toán thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết, theo thống kê, khoảng80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt Hệ thống POS lắp đặt tại các cửa hàng, siêuthị của các ngân hàng hiện nay chưa được kết nối với các hệ thống của ngân hàng khác,dẫn đến ít tiện ích cho các thẻ ATM nội địa của các ngân hàng Việt Nam.
Séc là một trong những phương tiện thanh toán đã có lâu đời ở các nước pháttriển Các nước đều có Trung tâm xử lý thanh toán bù trừ séc ngoài hệ thống và khácđịa phương do Ngân hàng Trung ương hoặc Hiệp hội Ngân hàng quản lý, nhờ vậy,phương tiện thanh toán bằng séc được sử dụng phổ biến ở nhiều nước phát triển Thanhtoán bằng séc ở Bồ Đào Nha còn chiếm tới 81% trong tổng lượng giao dịch, ở Ireland
là 70%, ở Pháp là 56%, ở Anh là 51% Còn ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từnhững năm 1960 nhưng đến nay, phương tiện thanh toán này ngày càng giảm, và hiệnnay tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt
Thương mại điện tử còn nhiều rào cản: theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Côngthương, trong những năm gần đây, thương mại điện tử đã được ứng dụng rộng rãi trongcác doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng từ 31% năm 2005 lên 45% năm
2008, tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84%của năm trước Hiện có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối internet Tuy nhiên, do thóiquen mua sắm của người tiêu dùng và khâu thanh toán khiến thương mại điện tử ViệtNam chậm phát triển; người mua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiềntrao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặcchất lượng không đạt như mong muốn Hệ thống pháp lý bảo vệ thông tin cá nhân vẫncòn thiếu những quy định, chế tài cụ thể về bảo vệ đối tượng sử dụng thương mại điện
tử Các website thương mại điện tử chưa thực sự được marketing tốt và phát triển tốt đểmang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể
Trang 23Nhìn chung lại, tuy các hình thức TTKDTM đã và đang phát huy được những
ưu điểm hết sức tích cực, nhưng nó vẫn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam Điều nàyđòi hỏi cần có những hành động tích cực từ phía Nhà nước, các ngân hàng cũng nhưcác doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, để hoạt động TTKDTM có thể phát huynhững hiệu quả tích cực của nó, đóng góp vào sự phát triển của đất nước
* Những định hướng trong việc thanh toán không dùng tiền mặt của chính phủ:
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg (ngày 29-12-2006)phê duyệt Đề án TTKDTM giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại ViệtNam Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thanh toán đáp ứng nhu cầuphát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới củaViệt Nam hiện nay Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, toàn ngành ngânhàng đang tập trung nhiều nguồn lực đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án TTKDTM.Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngành trong năm 2010:
- Trước mắt cần khai thác tốt hạ tầng công nghệ hiện có, đẩy nhanh việc ứngdụng một số thành tựu công nghệ thông tin – thanh toán mới và khai thác có hiệu quả
hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng quốc gia, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổchức được hưởng dịch vụ thanh toán gần như tức thời trên toàn lãnh thổ Việt Nam vớidịch vụ thuận tiện và chi phí rẻ
- Các tổ chức tín dụng sẽ tập trung phát triển hạ tầng công nghệ thông tin ngânhàng, phát triển các kênh dịch vụ ngân hàng hiện đại như: Mobile-banking, Internet-banking, thẻ ATM, nâng cao chất lượng dịch vụ Tăng cường bảo đảm an ninh, quản lýrủi ro công nghệ, bảo đảm an toàn hệ thống, an toàn tài sản của khách hàng và củangân hàng
- Về mặt nhà nước, sẽ từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động triểnkhai ứng dụng công nghệ mới Ngân hàng Nhà nước sẽ sớm ban hành bộ tiêu chuẩn kỹthuật, dịch vụ để chuẩn hoá dịch vụ, hỗ trợ kết nối các thiết bị đầu cuối như ATM, POS
và các thiết bị thông tin di động thông qua trung tâm chuyển mạch
Trang 24- Nhà nước ưu tiên mở rộng mạng lưới các máy POS online và offline để mở rộngdịch vụ, mạng lưới chấp nhận thẻ và giảm giá thành Phát triển các loại hình dịch vụthanh toán mới dựa trên công nghệ truyền thông thế hệ mới 3G
- Mặt khác, ngân hàng Nhà nước sẽ tăng cường tuyên truyền, giới thiệu về tiệních của sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đến đông đảo công chúng trong toàn xãhội, kết hợp với các đòn bẩy kinh tế, hành chính để từng bước thu hút và hình thànhthói quen mới thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư
Theo Đề án, đến cuối năm 2010, mức phát hành thẻ trong thanh toán phấn đấuđạt 15 triệu thẻ; 70% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng… lắp đặt các thiết
bị chấp nhận thanh toán bằng thẻ Con số này đến năm 2020 phấn đấu đạt lần lượt là
30 triệu thẻ và 95% Tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán đến năm 2010không quá 18%; đến năm 2020 khoảng 15% Số lượng tài khoản cá nhân vào cuối năm
2010 đạt mức 20 triệu; 70% cán bộ hưởng lương ngân sách và 50% công nhân laođộng trong khu vực doanh nghiệp, tư nhân thực hiện trả lương qua tài khoản Đến năm
2020 đưa những con số này lên lần lượt là 45 triệu tài khoản cá nhân (bình quân mỗingười có 0,5 tài khoản); 95% cán bộ hưởng lương ngân sách và 80% lao động được trảlương qua tài khoản Các khoản thanh toán giữa các doanh nghiệp thực hiện qua ngânhàng đạt mức 80% vào năm 2010 và đạt 95% vào năm 2020
Trang 25Phần thứ ba: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHUƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn
3.1.1 Vài nét về ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB)
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, VCB chính thức được thành lập theo Quyết định
số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ sởtách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là ngân hàngNhà nước)
Ngày 26/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1289/QĐ-TTg phêduyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và chính thức đổi tên thànhNgân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
VCB là ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam quản lý vốn tập trung Vốn điều
lệ 2.445 tỷ đồng, là ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt Nam hoạt động kinh doanh ngoại
tệ, và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng
VCB là thành viên của: Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hiệp hội Ngân hàngChâu Á, tổ chức thanh toán toàn cầu Swift; Là ngân hàng thương mại đầu tiên phát hành
và thanh toán thẻ quốc tế Visa, MasterCard và là đại lý thanh toán thẻ lớn nhất tại ViệtNam: Visa, American Express, MasterCard, JCB ; Là ngân hàng thương mại hàng đầuViệt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối,ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng; Là “Ngân hàng quản lý tiền mặt tốtnhất tại Việt Nam năm 2008”, do tạp chí Asiamoney tổ chức bình chọn Trước đó,VCB cũng đã được nhận giải thưởng “Ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thươngmại tốt nhất Việt Nam năm 2008” do độc giả tạp chí Trade Finance bình chọn VCBluôn giữ vững vị thế là ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnhvực thương mại quốc tế cũng như trong các lĩnh vực truyền thống: kinh doanh vốn, huyđộng vốn, tín dụng, tài trợ dự án…; lĩnh vực dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanhngoại tệ và các công cụ phái sinh, dịch vụ thẻ, Internet – B@nking, SMS – B@nking… Hiện Vietcombank đang chiếm lĩnh thị phần đáng kể (tại Việt Nam) trong nhiềulĩnh vực kinh doanh khác nhau: cho vay 10%, tiền gửi 12%, thanh toán quốc tế 23%,
Trang 26thanh toán thẻ 55%, gần 1300 máy ATM và trên 7800 POS; ngân hàng có quy mô lợinhuận cao nhất tại Việt Nam
3.1.2 Giới thiệu về NHCPTM Vietcombank Chi nhánh ĐăkLăk
3.1.2.1 Giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh ĐăkLăk
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương ĐăkLăk (tiền thân là phòng giaodịch của chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Nha Trang) được thành lập theoquyết định số 209 ngày 10/10/1996 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương ViệtNam và chính thức khai trương đi vào hoạt động ngày 15/01/1997
Mạng lưới hoạt động của Chi nhánh bao gồm trụ sở chính có địa chỉ tại 06 TrầnHưng Đạo, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc có 06 phòng chức năng, 03 tổ, bộphận và 06 phòng giao dịch trực thuộc trong địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
Tên giao dịch: VIETCOMBANK ĐĂKLĂK
Điện thoại : (0500) 3857 899 – Fax: (0500) 3855 038
Trụ sở : 06 Trần Hưng Đạo – TP Buôn Ma Thuột - Tỉnh ĐăkLăk
Là một chi nhánh trong hệ thống ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam Ngânhàng TMCP Ngoại Thương ĐăkLăk (VCB ĐăkLăk) cũng kế thừa những thành quảnhất định trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, ngoài ra việc thành lập chi nhánhVCB ĐăkLăk nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cung cấp cácdịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế và tầng lớp dân cư
3.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh ĐăkLăk
* Chức năng chủ yếu của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Đăk Lăk
VCB ĐăkLăk hoạt động theo sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng giám đốc Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam, các yêu cầu đầu tư của tỉnh và các mục tiêu, chươngtrình phát triển kinh tế của địa phương nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triểncủa đất nước theo định hướng CNH – HĐH, tổ chức thu – chi tiền mặt góp phần cùngNgân hàng Nhà nước tỉnh điều hòa lưu thông tiên tệ trên địa bàn, đồng thời có chức
Trang 27năng đáp ứng đầy đủ và kịp thời nguồn vốn cho sản xuất, thu mua và chế biến các mặthàng xuất khẩu góp phần thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của tỉnh ngày càng tăng.
* Nhiệm vụ của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Đăk Lăk:
- Thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, đơn vị, tổ chức kinh tế
- Cung ứng vốn ngắn, trung và dài hạn, cho các thành phần kinh tế
- Chiết khấu và thanh toán các bộ chứng từ xuất và nhập khẩu
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước
- Thu hồi các loại ngoại tệ Phát triển séc du lịch, thanh toán qua thẻ…
- Bảo lãnh các hợp đồng dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng
3.1.3 Khái quát tình hình hoạt động, kinh doanh của chi nhánh
3.1.3.1 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương chi nhánh ĐăkLăk
Trang 28Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của VCB ĐăkLăk
LÝ NỢ
P.KẾ TOÁN- QUẢN
LÝ NỢ
P.
NGÂN QUỸ
P.
NGÂN QUỸ
P.DỊCH
VỤ &
TT QUỐC TẾ
P.DỊCH
VỤ &
TT QUỐC TẾ
P.
KIỂM SOÁT
P.
KIỂM SOÁT
P.
TỔNG HỢP
P.
TỔNG HỢP
P VI TÍNH
P VI TÍNH SỐ 1 PGD PGD SỐ 1 PGD TẤT PGD TẤT THÀNH THÀNH
PGD TÂN LỢI
PGD TÂN LỢI
PGD THUẬN HÒA
PGD THUẬN HÒA
PGD HÙNG VƯƠNG
GIÁM ĐỐC
Trang 29Đây là mô hình tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu hỗn hợp: trực tuyến và chứcnăng Mô hình này có ưu điểm là tạo ra sự đồng bộ để làm việc có hiệu quả cũng nhưphù hợp với cơ chế thị trường đầy biến động.
Cơ cấu tổ chức như trên tương đối gọn nhẹ, linh hoạt và chặt chẽ, quyền đượcphân đến từng cấp đơn vị, ít khâu trung gian Giám đốc trực tiếp quản lý, điều hành cácphòng ban Mỗi bộ phận, phòng ban đều có chức năng, nhiệm vụ riêng cụ thể, đồngthời luôn có sự phối hợp đồng bộ, vừa kết hợp, vừa chuyên môn hóa, tạo điều kiệnnâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh
Các phòng giao dịch được bố trí ở những vị trí đông dân cư, thuận lợi cho cácgiao dịch của khách hàng
3.1.3.2 Tình hình nhân sự
Dựa vào bảng 3.1, ta nhận thấy nhân sự của chi nhánh luôn tăng qua các năm.Trong vòng 2 năm, số lượng nhân sự đã tăng 26 người, từ 113 người năm 2007 tăng lên
130 người năm 2009 Trong đó, năm 2008, số lượng nhân sự tăng 17 người so với năm
2007, tương ứng tăng 15% Sang năm 2009, số lượng nhân sự tăng thêm 9 nhười so vớinăm 2008, tương ứng 6,9% Điều đó chứng tỏ chi nhánh luôn chú trọng việc phát triểnnhân sự Tình hình cụ thể về số lượng và chất lượng nhân sự của chi nhánh được phântích theo các chỉ tiêu cụ thể sau:
Phân tích theo tính chất công việc, chi nhánh đã tích cực sắp xếp, cơ cấu lạinhân sự theo hướng tăng số lao động trực tiếp để phù hợp với quy mô, ngành nghề kinhdoanh của mình Năm 2008, số lao động trực tiếp là 100 người tăng 17 người ứng vớimức tăng là 20,48% so với năm 2007 Năm 2009 là 107 người, tăng 7 người ứng vớimức tăng 7% so với năm 2008 Điều này giúp chi nhánh tập trung tốt hơn cho nhữngnghiệp vụ chuyên môn của mình
Phân theo giới tính: Chi nhánh có cơ cấu nhân sự theo giới tính khá cân bằng
Do đặc thù công việc ở các phòng ban như: Kế toán, ngân quỹ, giao dịch thì số laođộng nữ chiếm đa số Còn các phòng ban như: Tín dụng, tổ chức hành chính, bảo vệ…thì lao động nam lại chiếm đa số
Trang 30Về trình độ: Chi nhánh có đội ngũ nhân sự có chất lượng khá cao Đại bộ phậncán bộ công nhân viên đều có trính độ từ trung cấp trở lên Số lượng lao động có trình
độ cao học năm 2008 là 5 người,tăng 4 người so với năm 2007 Đây là nguồn nhân lực
có chất lượng rất cao, đảm bảo tăng cường chất lượng đội nhân sự cấp quản lý cho chinhánh Bên cạnh đó, đội ngũ nhân sự có trình độ đại học cũng không ngừng tăng lên,
số lượng nhân viên có trình độ đại học năm 2007 là 92 người chiếm 81,4%, năm 2008
là 100 người chiếm 76,9%, năm 2009 là 109 người chiếm 78,4% tổng số nhân viên củaVCB ĐăkLăk VCB ĐăkLăk là một trong số những ngân hàng có lực lượng lao động
có trình độ cao trên địa bàn, với chính sách tuyển dụng chặt chẽ, đào tạo chuyên sâusau tuyển dụng, điều này đã góp phần tạo nên hiệu quả làm việc cao cho Chi nhánh,góp phần vào thành công chung của chi nhánh Tình hình cụ thể được phẩn ánh quabảng sau:
Bảng 3.1: Tình hình nhân sự tại VCB ĐăkLăk
Đơn vị tính: Người n v tính: Ng ị tính: Người ười i
Chỉ tiêu Năm 2007 SL % Năm 2008 SL % Năm 2009 2007/2008 2008/2009 SL % +/- % +/- %
1 Theo tính chất
Lao động gián tiếp 21 18,6 22 16,9 24 17,3 1 4,8 2 9,1Lao động trực tiếp 83 73,4 100 76,9 107 77,0 17 20,5 7 7,0Lao động giản
Trang 31Tài sản là một yếu tố quan trọng tạo nên năng lực của một đơn vị kinh tế Tổngtài sản của chi nhánh tăng liên tục qua các năm: Tổng tài sản năm 2008 tăng 716.754triệu đồng so với năm 2007, tương ứng 37,5%; tổng tài sản năm 2009 tăng 728.025triệu đồng so với năm 2008, tương ứng 27,7% Trong đó, tài sản chiếm tỷ trọng lớnnhất là các khoản cho vay, chiếm 97,3% tổng tài sản của năm 2007, và chiếm 95,9%tổng tài sản năm 2009 Điều này phù hợp với tình hình tài sản chung của ngành ngânhàng vì hoạt động chủ yếu của ngân hàng là “đi vay để cho vay”, các khoản cho vay lànguồn mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng Bên cạnh đó, tài sản cố định và cáctài sản khác cũng tăng liên tục qua các năm, điều này chứng tỏ chi nhánh không ngừng
mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao năng lực của mình Cụ thể trong 2 năm 2008,
2009, chi nhánh liên tục mở thêm các phòng giao dịch mới, lắp đặt các máy ATM mới.Tình hình biến động cụ thể của các tài sản được mô tả ở bảng sau:
Trang 32Bảng 3.2: Tình hình tài sản của chi nhánh VCB ĐăkLăk
Đơn vị tính: Triệu đồng
Trang 333.1.3.3 Phân tích tình hình thu nhập
Từ bảng 3.3 – Bảng xác định kết quả kinh doanh, ta thấy VCB ĐăkLăk luôn cótổng thu cao hơn tổng chi, và chênh lệc thu chi năm sau luôn cao hơn năm trước Mứcchênh lệch này năm 2008 là 58.152 triệu đồng, tăng 5.525 triệu đồng, tương ứng tăng10,5% so với năm 2007 Năm 2009, chênh lệch thu chi là 65.974 triệu đồng, tăng 7.822triệu đồng, ứng với mức tăng là 13,5% so với năm 2008
Năm 2008, tổng thu nhập của VCB đạt 423.628 triệu đồng, tăng 215.791 triệuđồng so với năm 2007, tương ứng mức tăng là 103,8% Trong đó thu từ lãi cho vay vàtiền gửi có giá trị lớn nhất, tăng 167.634 triệu đồng so với năm 2007, chiếm tỷ trọng77,7% trong mức tăng tổng thu Và tốc độ tăng lớn nhất là khoản thu từ lãi ngoại tệ vớitốc tộ tăng là 2.931,5%
Năm 2009, doanh thu của VCB giảm 68.038 triệu đồng so với năm 2008, ứngvới mức giảm là 16,06% Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do nguồn thu từ lãi chovay, lãi tiền gởi và lãi ngoại tệ giảm, trong đó giảm mạnh nhất là nguồn thu từ lãi ngoại
tệ, giảm 62.788 triệu đồng so với năm 2008 ứng với mức giảm là 96,63% Tuy tổngdoanh thu năm 2009 giảm hơn so với năm 2008 nhưng lợi nhuận trước thuế của ngânhàng năm sau vẫn cao hơn năm trước, do doanh thu giảm nhưng chi phí cũng giảm vàtốc độ giảm cũng như mức giảm của chi phí cao hơn doanh thu nên lợi nhuận vẫn tăng.Mức chi năm 2009 của VCB là 289.616 triệu đồng, giảm 75.860 triệu đồng sơ với năm
2008 ứng với mức giảm là 20,8% trong đó khoản chi giảm mạnh nhất là chi cho cachoạt động kinh doanh, giảm 98,11% tương ứng giảm 62.038 triệu đồng so với năm2008
Nguyên nhân của sự thay đổi này là do năm 2008 Việt Nam chính thức trở thànhthành viên thứ 150 của tổ chức WTO và năm 2008, Ngân hàng TMCP Ngoại Thươngchính thức trở thành Ngân hàng Thương mại cổ phần với 51% vốn Nhà nước Hai sựkiệ này đã tạo động lực cho sự phát triển vững mạnh của VCB trong đó có VCBĐăkLăk
Sang năm 2009 là năm nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng từ cuộc suy thoáikinh tế mạnh mẽ của Thế giới và có thể xem căng thẳng ngoại tệ là một trong những
Trang 34điểm nổi bật nhất của kinh tế Việt Nam năm 2009, nhất là khi xét đến những ảnhhưởng của nó đối với hoạt động doanh nghiệp và tâm lý người dân Căng thẳng trên thịtrường bắt đầu xuất hiện từ quý 2, khi nhiều doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ, khôngchịu bán lại cho ngân hàng dẫn đến mất cân đối cung – cầu Tình trạng này kéo dài chođến cuối năm Bên cạnh đó, tín dụng ngoại tệ giảm rất mạnh trong nửa đầu năm (chủyếu do doanh nghiệp ngại vay vì lo rủi ro tỷ giá, đến tháng 5 giảm tới 9,55% so vớicuối năm 2008) lại tạo ra hiện tượng đối ngược là ứ đọng vốn ngoại tệ tại các ngânhàng Tình trạng doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ kéo dài, việc mua ngoại tệ khó khăn
đã gây không ít khó khăn cho các ngân hàng Tình hình cụ thể được phản ánh ở bảngsau:
Trang 35Bảng 3.3: Tình hình thu nhập, chi phí, lợi nhuận của chi nhánh
1 Thu lãi cho vay, lãi tiền gửi 159.792 76,9 327.426 77,3 323.527 91,0 167.634 104,9 -3.899 -1,2
2 Thu lãi kinh doanh ngoại tệ 2.413 1,2 64.966 15,3 2.188 0,6 62.553 2592,3 -62.778 -96,6
1 Trả lãi tiền vay và tiền gởi 98.482 63,5 39.917 10,9 47.729 16,5 -58.565 -59,5 7.812 19,57
2 Chi hoạt động kinh doanh 515 0,3 63.230 17,3 1.192 0,4 62.715 12177,7 -62.038 -98,1
4.Chi tài sản, quản lý, đào tạo 9.677 6,2 21.650 5,9 27.156 9,4 11.973 123,7 5.506 25,4
Trang 363.1.3.4 Tình hình huy động vốn
Chức năng chính của Ngân hàng là trung gian tín dụng, làm cầu nối giữa ngườithừa tiền và người thiếu tiền, là trung gian “đi vay để cho vay” Việc huy động vốnđược thực hiện tốt sẽ giúp Ngân hàng chủ động và thuận lợi hơn trong việc cho vaycũng các nghiệp vụ khác Đối với ngân hàng nói chung, nguồn vốn từ tiền gửi tiếtkiệm, tiền gửi có kỳ hạn sẽ đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả trong sử dụng vốn hơn
vì đó là nguồn vốn an toàn và ổn định Tuy nhiên, trong công tác thanh toán nói riêng,thì việc duy trì số dư ở các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi ký quỹ, và cácgiấy tờ có giá lại là nguồn vốn thuận lợi cho nghiệp vụ này Vì đây là nguồn vốn cótính thanh khoản cao, phục vụ cho công tác thanh toán là chủ yếu
Nhìn chung, tiền gửi có kỳ hạn vẫn là nguồn vốn chủ yếu của Chi nhánh, có tỷtrọng trong tổng vốn huy động tăng nhanh qua các năm, từ 33,2% tổng huy động vốnnăm 2007 tăng lên 54 % năm 2008 và 61,2 % năm 2009 Cùng với đó, giá trị huy độngcủa tiền gửi có kỳ hạn cũng tăng nhanh qua các năm, từ 217.739 triệu đồng năm 2007tăng thêm 255.344 triệu đồng vào năm 2008, đạt mức 473.083; và giá trị huy động tiềngửi không kỳ hạn năm 2009 tiếp tục tăng thêm 172.883 triệu đồng so với năm 2008, ởmức 645.966 triệu đồng Điều này đảm bảo cho hoạt động củac nhánh được ổn định vàđảm bảo hơn
Tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn, tuy nhiên, nó không ổn định,giảm 39.807 triệu năm 2008, tưong ứng 9,1%, sau đó, tăng nhẹ vào năm 2009, tăng 12.413tương ứng 3,12% Nguyên nhân có thể là do những biến động không ổn định của thịtrường, cũng do tâm lý của ngườii dân còn nặng thói quen sử dụng tiền mặt trong trao đổi,
dự trữ tiền mặt nhiều, nên những khoản tiền gửi thanh toán còn hạn chế
Vốn từ các nguồn khác như giấy tờ có giá không đáng kể Thị trường các loạichứng từ có giá chưa có điều kiện phát triển mạnh do nó còn phụ thuộc nhiều vàochính sách từ Trung Ương Nên có thể thấy huy động qua giấy tờ có giá không phải lànguồn thu hút chủ lực mà chi nhánh hướng đến
Tình hình huy động vốn của Ngân hàng được thể hiện như sau:
Trang 37Bảng 3.4: Tình hình huy động vốn của Chi nhánh
n v tính: Tri u Đơn vị tính: Người ị tính: Người ệu đồng ng
đồng
Chỉ tiêu
Tiền gửi không kỳ hạn 437.516 66,7 397.709 45,4 410.122 38,8 -39.807 -9,1 12.413 3,1Tiền gửi có kỳ hạn 217.739 33,2 473 083 54,0 645.966 61,2 255.344 117,3 172.883 36,5
Trang 383.1.3.5 Ngân hàng bán lẻ:
Trong năm VCB đã đẩy mạnh hoạt động ngân hàng bán lẻ trong môi trườngcạnh tranh ngày càng gay gắt Bên cạnh hoạt động cho vay cá thể, huy động vốn từdân cư, các Dịch vụ điện tử được quan tâm và đẩy mạnh như Internet B@nking,SMS B@nking, dịch vụ nhận tin nhắn chủ động, dịch vụ VCB-Securities- Online,dịch vụ thanh toán VCB Direct Billing, dịch vụ TOPUP triển khai cho dịch vụ điệnthoại trả trước v.v… Huy động vốn từ dân cư đạt hơn 600 tỷ đồng, tổng dư nợ chovay thể nhân đạt trên 700 tỷ đồng, doanh số chuyển tiền về từ nước ngoài cho cánhân đạt gần 2.200 triệu đồng…
3.1.3.6 Những thuận lợi và khó khăn của chi nhánh
* Thuận lợi
Là một ngân hàng lớn trên địa bàn được nhiều người biết đến Đặc biệt 5năm liền được tạp chí The Banker bình chọn là ngân hàng tốt nhất Việt Nam Uy tíncủa VCB tạo đươc niềm tin và sự tin cậy cho khách hàng, thu hút khách hàng sửdụng dịch vụ của chi nhánh Với một nền tảng công nghệ hiện đại, được khách hàngđánh giá cao về mật độ bảo mật thông tin cho khách hàng, đảm bảo chính xác,nhanh chóng trong việc chuyển tiền và thanh toán do có cơ sở vật chất khang trang,trang thiết bị hiện đại
Là một chi nhánh được thành lập từ năm 1995, và với những gì đã đạt đượctrong quá trình hoạt động và kinh doanh, VCB ĐăkLăk thực sự là một ngân hàng cónăng lực cạnh tranh cao trong địa bàn, với thị phần khách hàng lớn nhất Điều này
hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển hoạt động thanh toán của chi nhánh
Công tác huy động vốn và thu nợ được thực hiện tốt cũng góp phần nâng caohiệu quả hoạt động thanh toán của chi nhánh Chi nhánh có thể chủ động tốt vềnguồn vốn thanh toán, đồng thời có thể mở rộng các khoản tín dụng trong hoạt độngthanh toán, tạo thuận lợi hơn cho khách hàng
Đội ngũ cán bộ công nhân viên chi nhánh có trình độ chuyên môn, nghiệp vụcao, luôn được bổ sung và đào tạo thêm, có khả năng tiếp cận và cập nhật thông tinnhạy bén, tiếp cận công nghệ mới của ngành ngân hàng thường xuyên, đã góp phầnkhông nhỏ trong việc làm hài lòng những yêu cầu của khách hàng, giúp việc thanhtoán diễn ra nhanh chóng và chuyên nghiệp