Tiểu luận tài chính tiền tệ Công cụ nợ – Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứmg khoán (TTCK) ở các nước trên thế giới, sự phát triển của TTCK là một xu thế tất yếu trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường khi Việt Nam chủ động bước vào hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Xu thế “toàn cầu hóa” đòi hỏi các quyết định kinh tế dù được đưa ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới đều phải tính tới các yếu tố quốc tế.
Trang 1DANH SÁCH NHÓM I – LỚP TCDN Đ5 – K20
1 NGUYỄN THỊ VI HOÀI
2 NGUYỄN THỊ THANH HẢI
3 TRẦN TUẤN LỘC
4 TRẦN YẾN MINH
5 LÊ THỊ NGỌC ÁI
6 HỒ PHAN KHÁNH LINH
7 THÁI ÁI UYÊN
8 LÊ HOÀNG NGUYÊN
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ NỢ - THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 5
1 Định nghĩa công cụ nợ - trái phiếu 5
1.1 Định nghĩa 5
1.2 Đặc điểm 5
2 Đặc trưng của trái phiếu 5
2.1 Mệnh giá 5
2.2 Tỷ suất lãi trái phiếu 5
2.3 Giá mua trái phiếu 5
2.4 Kỳ hạn trái phiếu 5
2.5 Quyền mua lại trái phiếu 5
3 Các loại trái phiếu 5
3.1 Trái phiếu doanh nghiệp 6
3.1.1 Trái phiếu thế chấp 6
3.1.2 Trái phiếu tín chấp 6
3.1.3 Trái phiếu thu thập 6
3.1.4 Trái phiếu chuyển đổi 6
3.2 Trái phiếu Chính phủ và chính quyền địa phương 6
4 Lợi tức và rủi ro của trái phiếu 6
4.1 Lợi tức của trái phiếu 6
4.2 Rủi ro của trái phiếu 6
Trang 35 Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu 7
II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 7
1.Trái phiếu Chính phủ Việt Nam 7
1.1 Trái phiếu Chính phủ: an toàn nhưng tính thanh khoản và lợi nhuận thấp 7
1.2 Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài 8
1.3 Tính cạnh tranh thấp 9
2.Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 10
2.1 Trái phiếu doanh nghiệp trước và sau nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ 10
2.1.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp trước tháng 5/2006 10
2.1.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau nghị định 52/2006 11
2.2 Những thay đổi chủ yếu của Nghị định 90 về phát hành trái phiếu DN 13
3 Các hướng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứmg khoán (TTCK) ở các nước trên thế giới, sự phát triển của TTCK là một xu thế tất yếu trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường khi Việt Nam chủ động bước vào hội nhập với nền kinh
tế quốc tế Xu thế “toàn cầu hóa” đòi hỏi các quyết định kinh tế dù được đưa ra ở bất
kỳ nơi nào trên thế giới đều phải tính tới các yếu tố quốc tế Sự phát triển mạnh mẽ của một thị trường, công cụ tài chính nào được phổ biến và ưa chuộng nhất trên thế giới hiện nay cũng sẽ là sự lựa chọn và định hướng phát triển tất yếu của TTCK Việt Nam
Thực tế cho thấy kể từ khi Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh ra đời vào tháng 07 năm 2000, hoạt động của TTCK Việt Nam trở nên sôi động và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Trong suốt thời gian gần đây, TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển rất tích cực, ngày càng trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế
Với nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, nhu cầu vốn phát triển tăng dần qua các năm thì thị trường trái phiếu chính là một trong những kênh huy động vốn tiềm năng nhất không chỉ cho phát triển các dự án Chính phủ mà cả cho các dự án của khu vực tư nhân Và bên cạnh thị trường cổ phiếu vốn rất sôi động và thăng trầm, thì một thị trường khác cũng chiếm sự quan tâm không nhỏ của giới đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư có tổ chức là thị trường trái phiếu vốn ít rủi ro hơn
Trong giới hạn cho phép, đề tài sẽ giới thiệu tổng quan về Thị trường trái phiếu Việt Nam cùng những chuyển biến của thị trường trong thời gian qua, cũng như các vấn đề liên quan đến chính sách nhằm hướng đến sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của thị trường này, đặc biệt đối với trái phiếu doanh nghiệp
Trang 5I TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ NỢ - THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
1 Định nghĩa công cụ nợ - trái phiếu
1.1 Định nghĩa
- Một tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó quyền hưởng một khối lượng tiền cố định, được ấn định trước, được gọi là công cụ nợ (debt instrument), như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, hay các khoản cho vay
- Trái phiếu là giấy chứng nhận nợ, xác nhận quyền chủ nợ của người sở hữu đối với tổ chức phát hành ra nó Trái phiếu có lãi suất hoặc chiết khấu cố định của Chính phủ, công ty phải trả cho người nắm giữ
Theo Luật Chứng Khoán VN, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành
1.2 Đặc điểm trái phiếu
- Là chứng khoán nợ dài hạn, có kỳ hạn và được hoàn vốn
- Lãi của trái phiếu được xác định trước
- Trái phiếu ít rủi ro hơn cổ phiếu
2 Đặc trưng của trái phiếu
2.1 Mệnh giá (Par value) là giá trị danh nghĩa của TP được in ngay trên tờ
phiếu, đại diện cho số vốn gốc được hoàn trả cho trái chủ tại thời điểm đáo hạn
2.2 Tỷ suất lãi TP (Coupon interest rates) là lãi suất danh nghĩa của TP quy
định mức lãi mà NĐT được hưởng hàng năm
2.3 Giá mua TP là khoản tiền thực tế mà người mua đã bỏ ra để có được quyền
sở hữu TP
Trang 62.4 Kỳ hạn của TP là số năm mà theo đó tổ chức phát hành hứa hẹn đáp ứng
những điều kiện của nghĩa vụ
2.5 Quyền mua lại (đối với loại TP có điều khoản chuộc lại) cho phép tổ chức
phát hành TP thu hồi TP và hoàn lại vốn gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán
3 Các loại trái phiếu
Căn cứ vào tổ chức phát hành có 2 loại trái phiếu:
3.1 Trái phiếu doanh nghiệp ( Corporate bonds): là trái phiếu do các doanh
nghiệp phát hành với mục đích huy động vốn cho đầu tư phát triển Công ty có thể phát hành các loại trái phiếu sau:
3.1.1 Trái phiếu thế chấp (mortgage bonds)
3.1.2 Trái phiếu tín chấp (depentures )
3.1.3 Trái phiếu thu thập (income bonds)
3.1.4 Trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds)
3.2 Trái phiếu Chính phủ và chính quyền địa ph ương : Là công cụ nợ dài
hạn do chính phủ, chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ.Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công
cụ nợ khác có cùng kỳ hạn
4 Lợi tức và rủi ro của trái phiếu.
4.1 Lợi tức của trái phiếu
Từ các nguồn:
- Tiền lãi định kỳ: Lợi tức trái phiếu = Lãi suất coupon * Mệnh giá TP
- Chênh lệch giá
- Lãi của lãi (gọi là lãi tái ĐT)
Trang 74.2 Ru ̉i ro của trái phiếu
- Rủi ro lãi suất: Giá của TP sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất
- Rủi ro tái đầu tư:Tùy thuộc vào chiến lược tái đầu tư
- Rủi ro thanh toán: Là rủi ro mà người phát hành TP có thể vỡ nợ
- Rủi ro lạm phát: Là rủi ro sức mua
- Rủi ro tỷ giá hối đoái: TP mua bằng ngoại tệ, thời điểm đáo hạn thanh toán bằng VNĐ, mà VNĐ giảm giá so với ngoại tệ, NĐT sẽ nhận được ít ngoại tệ hơn
- Rủi ro thanh khoản: Tuỳ thụôc vào TP có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với giá trị không
5 Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu
- Khả năng tài chính của người cung cấp TP
- Thời gian đáo hạn
- Dự kiến về lạm phát
- Biến động lãi suất thị trường
- Thay đổi tỷ giá hối đoái
II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM.
1.Trái phiếu Chính phủ Việt Nam.
1.1 Trái phiếu Chính phủ: an toàn nhưng tính thanh khoản và lợi nhuận thấp
Vào cuối năm 2006, có khoảng 375 loại trái phiếu chính phủ và các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán, với tổng mệnh giá khoảng 5 tỉ USD Các giao dịch trái phiếu chính phủ chiếm tỷ lệ chủ yếu của toàn thị trường đã chứng tỏ tầm quan trọng của trái phiếu chính phủ với tư cách là một nguồn vốn đầu tư Trong 3 loại trái phiếu đã được phát hành và mua bán tại Việt Nam, bao gồm trái phiếu chính phủ
và tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp, thì khối lượng trái phiếu chính phủ chiếm ưu thế trên thị trường với 81% thị phần, trong
Trang 8khi đó trái phiếu địa phương là 10%, và trái phiếu doanh nghiệp 9% Có thể nói trái phiếu Chính phủ đang "thống lĩnh" thị trường trong giai đoạn này
Hình 1: Giá trị trái phiếu phát hành giai đoạn 2001 – 2007 ( ĐVT: tỷ đồng) Trong 5 năm giai đoạn 20062010, GDP được kỳ vọng tăng trưởng ở mức 8% -8,5%, tổng vốn đầu tư cần thiết được ước tính là 2.675.000 tỉ đồng, tương đương 39,9% GDP Do đó, nhu cầu vốn qua phát hành trái phiếu được ước tính là 187.250 tỉ đồng, trong đó trái phiếu chính phủ sẽ chiếm thị phần lớn nhất cả về khối lượng và giá trị
Tuy nhiên, thị trường TPCP thiếu một cơ chế giao dịch có khả năng cung cấp thanh khoản cho các trái phiếu Chính phủ như các nhà tạo lập thị trường, hợp đồng mua lại TPCP phát hành với khối lượng và giá trị niêm yết lớn, trong khi những người nắm giữ TPCP trên thị trường sơ cấp là các nhà đầu tư có tổ chức (trừ các đợt phát hành riêng lẻ qua hệ thống Kho bạc) Nhu cầu giao dịch phát sinh là các giao dịch lớn và ít mang tính tương thích thời điểm, hạn chế tính thanh khoản của trái phiếu Giao dịch trái phiếu trong thời gian này chỉ tập trung vào các TPCP phát hành qua bảo lãnh, trong khi đó có rất nhiều loại trái phiếu phát hành qua đấu thầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM vẫn chưa có giá tham chiếu, nghĩa là chưa một lần được giao dịch trên thị trường kể từ khi phát hành Điều này bắt nguồn từ đặc thù của phương thức bảo lãnh phát hành là đa số các đơn vị tham gia mua sơ cấp và sau đó bán lại cho khách hàng Tuy nhiên, việc luân chuyển TPCP cũng chỉ dừng lại sau khi bán
Trang 9lần 1 cho khách hàng, các giao dịch tiếp theo trên thị trường thứ cấp hầu như không tồn tại Điều này làm cho lợi nhuận từ trái phiếu bị hạn chế rất nhiều
1.2 Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Trái phiếu Chính phủ Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá khá cao Cụ thể tháng 10 năm 2005, lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ Việt Nam được phát hành ra thị trường vốn quốc tế 750 triệu USD trái phiếu đã được các nhà đầu tư mua hết ngay trong vòng 30 giây sau khi phát hành Đây là một kết quả khả quan hơn mở đầu cho bước tiến huy động vốn của Chính phủ Việt Nam Đợt trái phiếu này được mua bán lại trên tất cả các trung tâm chứng khoán (thị trường thứ cấp) lớn như Hongkong, Singapore, London, New York, Boston liên tục đến năm 2016
Tại thời điểm này, nhu cầu đối với trái phiếu Chính phủ Việt Nam trên thị trường quốc tế là rất lớn Trong đợt phát hành trái phiếu đầu tiên với lãi suất 6,875%, đáo hạn vào năm 2016, để huy động vốn cho ngành đóng tàu, nhu cầu của các nhà đầu tư đã cao gấp 6 lần so với số trái phiếu thực tế được phát hành Mức lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam lúc này là 5,78%, thấp hơn mức 5,95% của loại trái phiếu có kỳ hạn và xếp hạng tín dụng tương đương của Chính phủ Brazil Điều này chứng tỏ trái phiếu của Việt Nam có mức độ hấp dẫn hơn So với trái phiếu Chính phủ kỳ hạn tương đương Mỹ tại thời điểm này, lãi suất của trái phiếu Việt Nam cũng chỉ cao hơn 1,25% Cũng trong năm này, VND đã tăng giá 0,3% so với USD, hiện đứng ở mức 16.014 VND/USD, VN Index đã tăng 48%, những con số hấp dẫn với nhà đầu tư quốc
tế Ở thị trường vốn trong nước, Chính phủ Việt Nam cũng đã phát hành thành công nhiều đợt trái phiếu theo phương thức đấu giá lãi suất Tháng 3/2007, 300 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ lần đầu tiên được phát hành đấu thầu theo lô lớn (lô 100, 200, 300
tỷ đồng) đã được các nhà đầu tư nước ngoài mua hết với mức lãi suất thấp nhất trong vòng ba năm trở lại, đó là 6,8%/năm Trong những đợt phát hành tiếp theo lãi suất trái phiếu cố định, nhưng mệnh giá thay đổi
1.3 Tính cạnh tranh thấp
Trang 10TPCP thực sự chưa cạnh tranh được với sự thuận tiện của hình thức gửi tiết kiệm, đầu tư kỳ phiếu ở các ngân hàng thương mại cùng với tính thanh khoản kém hơn nên chưa thu hút được tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và cá nhân
Nguyên nhân chính là mức phí giao dịch trên thị trường hiện còn khá cao (khoảng 0,15% giá trị giao dịch) khiến cho các nhà đầu tư cá thể không mặn mà với việc đầu tư qua phương thức giao dịch khớp lệnh vì lợi nhuận ròng sau khi trừ đi chi phí giao dịch không đủ hấp dẫn các nhà đầu tư cá thể Đối với các thành viên đấu thầu, việc mua TPCP chủ yếu phục vụ cho mục tiêu nắm giữ dài hạn Trong khi đó, lãi suất thị trường lại biến động theo xu hướng tăng dần, các trái phiếu mới liên tục được phát hành có lãi suất cao hơn, hấp dẫn hơn nên khả năng bán lại trái phiếu càng khó khăn hơn.Đồng thời cơ chế xác định lãi suất đấu thầu trên thị trường sơ cấp hiện không mang tính thị trường vì áp dụng lãi suất chỉ đạo nên chưa thu hút được nhu cầu đầu tư của các cá nhân, tổ chức Quy định lãi suất đặt thầu phải cao hơn lãi suất chỉ đạo sẽ khiến cho lãi suất trúng thầu mang tính khiên cưỡng chủ quan hơn là mang tính khách quan thị trường Điều này cũng có thể dẫn tới tình trạng khối lượng trúng thầu sẽ bị hạn chế đi rất nhiều so với khối lượng dự định phát hành và sẽ chỉ bó hẹp trong phạm
vi một số nhỏ các nhà đầu tư Khối lượng trúng thầu thấp cộng với một số nhỏ các nhà đầu tư nắm giữ sẽ làm giảm tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường thứ cấp
2.Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
2.1 Trái phiếu doanh nghiệp trước và sau nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ
Với những người thường xuyên tiếp xúc với thị trường trái phiếu, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp thì nghị định số 52/2006/NĐ-CP có hiệu lực vào ngày 1/7/2006 là một bước ngoặt khá lớn đối với thị trường khi hành lang pháp lý được hoàn chỉnh, khơi thông hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ
2.1.1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp trước tháng 5/2006
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) manh nha hình thành sau khi có Nghị định số 120/1994/NĐ-CP ngày 17/9/1994 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Tuy nhiên, thị trường giai đoạn này đóng vai trò chủ
Trang 11yếu là các Tổ chức tín dụng, số doanh nghiệp phát hành trái phiếu rất ít và đa số quy
mô phát hành nhỏ
Cho đến năm 1996, thị trường Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam mới có sự tham gia của doanh nghiệp, mở đầu bằng việc công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) huy động được 5 triệu USD Hai năm sau đó, Công ty cổ phàn Công nghệ thông tin EIS cũng đã huy động được 10 tỷ đồng Đến 2003 thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam mới có thêm sự "góp mặt" của Tổng Công ty Dầu khí (huy động được 300
tỷ đồng), Tổng công ty Xi măng (200 tỷ đồng) và Tập đoàn Điện lực (EVN) (300 tỷ đồng) Trong khoảng thời gian này, việc huy động vốn trực tiếp trên thị trường hầu như chưa phát triển Các tổ chức phát hành chủ yếu là các tổ chức tín dụng và rất ít là các doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp, kênh huy động vốn chủ yếu của các doanh nghiệp là tín dụng ngân hàng hay ngân sách nhà nước hoặc Nhà nước vay rồi cho vay lại
Ưu điểm-thành công:
- Thị trường đã manh nha phát triển, là một kênh huy động vốn với quy mô lớn cho các doanh nghiệp
Những điểm còn hạn chế:
- Khung pháp lý chưa rõ ràng
- Còn siết rất chặt với đối tượng được phát hành trái phiếu chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, các Tổng công ty hoặc tổ chức tín dụng vốn Nhà nước
- Quy mô phát hành cũng như giao dịch còn rất nhỏ so với một nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển
- Quy mô nhà đầu tư nhỏ Những người nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu
là các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư
- Tính thanh khoản của thị trường thấp, trái phiếu doanh nghiệp được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán chỉ đếm trên đầu ngón tay và mức độ giao dịch rất thấp
2.1.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau nghị định 52/2006/NĐ-CP