Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn trị, không được để xảy ra hiện tượng người lao động bị bần cùng hoá, bị bóc lột một cách tràn lan, bị ngược đãi, nhất là trong điều ki
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LuËn v¨n th¹c sü khoa häc n«ng nghiÖp
Người hướng dẫn khoa học : TS Vũ Trọng Bình
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trình bầy trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Ngô Nhật Minh
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Trọng Bình, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo Khoa Sau Đại học; Khoa Kinh tế phát triển nông thôn (Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên); Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Phòng Nông Nghiệp, Trạm Khí tượng – Thuỷ văn đóng trên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang; UBND các xã, thị trấn và bà con cộng đồng dân tộc Dao huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang; các bạn bè, gia đình và người thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Bắc giang ngày, tháng, năm 2013
Tác giả
Ngô Nhật Minh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói 6
1.1.3 Chủ trương, quan điểm, mục tiêu của nhà nước về giảm nghèo 9
1.1.4 Mục tiêu của tỉnh về giảm nghèo cho huyện Sơn Động 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Tình hình xóa đói giảm nghèo trên thế giới trên thế giới 17
1.2.2 Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 20
1.2.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh về xoá đói giảm nghèo 24
1.3 Một số chương trình, chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Sơn Động 28
1.3.1 Chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện 28
1.3.2 Các chính sách triển khai trên địa bàn huyện 36
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 41
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 41
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 41
2.2 Nội dung nghiên cứu 41
2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 41
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 42
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 43
2.3.4 Phương pháp sử lý số liệu 43
2.3.5 Phương pháp phân tích SWOT 44
2.3.6 Phương pháp phân tích đánh giá 44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội, văn hóa 50
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội 54
3.2 Thực trạng nghèo của cộng đồng dân tộc Dao trên địa bàn huyện Sơn Động 55
3.2.1 Đặc điểm về người Dao trên địa bàn huyện Sơn Động 55
3.2.2 Thực trạng nghèo của nhóm hộ điều tra 58
3.3 Những nguyên nhân gây ra nghèo của cộng đồng dân tộc người Dao tại huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang 65
3.3.1 Nguyên nhân khách quan 66
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên 66
3.3.1.2 Tập quán sinh hoạt và sản xuất 66
3.3.2 Nguyên nhân chủ quan: 68
3.4 Thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Sơn Động nói chung và cộng đồng người Dao nói riêng 71
3.4.1 Một số kết quả đạt được trong công tác giảm nghèo 71
3.4.2 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác giảm nghèo cho cộng đồng người Dao 74
3.4.3 Những bài học kinh nghiệm giảm nghèo rút ra đối với Huyện Sơn Động 75
3.5 Giải pháp giảm nghèo cho cộng đồng người Dao trên địa bàn huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang 77
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3.5.1 Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các chính sách của Đảng và Nhà
nước về xoá đói giảm nghèo 77
3.5.2 Nâng cao nhận thức và quyết tâm thoát nghèo của chính người nghèo, hộ nghèo ở cộng đồng người Dao 80
3.5.3 Các giải pháp trực tiếp hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo 82
3.5.4 Các giải pháp về tổ chức thực hiện 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Kiến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHCN : Xã hội chủ nghĩa BHYT : Bảo hiểm y tế UBND : Uỷ ban nhân dân THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông KHKT : Khoa học kỹ thuật GTSX : Giá trị sản xuất
CN-TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
ĐBKK : Đặc biệt khó khăn DTTS : Dân tộc thiểu số ĐCĐC :Định canh định cư UBND : Ủy ban nhân dân HĐND : Hội đồng nhân dân THPT : Trung học phổ thông TNHH : Trách nhiệm hữu hạn NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIẺU
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2015 8
Bảng 2.1: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 42
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất huyện Sơn Động năm 2012 48
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm 50
Bảng 3.3: Dân số người Dao của huyện Sơn Động giai đoạn 2010-2012 56
Bảng 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 chia theo các tiểu vùng 57
Bảng 3.5: Phân loại hộ người Dao của huyện Sơn Động năm 2012 57
Bảng 3.6: Đặc điểm chung về các hộ dân tộc Dao điều tra năm 2012 58
Bảng 3.7: Tài sản chính của nhóm hộ điều tra năm 2012 59
Bảng 3.8: Một số chỉ tiêu về lao động, nhân khẩu của nhóm hộ điều tra 60
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng đất đai tại các hộ điều tra năm 2012 61
Bảng 3.10: Trình độ học vấn của chủ hộ ở các nhóm hộ điều tra 62
Bảng 3.11: Trình độ chuyên môn của các nhóm hộ dân tộc dao điều tra 62
Bảng 3.12: Bình quân thu nhập của dân tộc Dao ở nhóm hộ điều tra năm 2012 63
Bảng 3.13: Tỷ lệ thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp trong nhóm hộ điều tra 63
Bảng 3.14: Tỷ lệ thu nhập trung bình về nông nghiệp theo nhóm hộ 64
Bảng 3.15: Cơ cấu thu nhập trong nông nghiệp của nhóm hộ điều tra 64
Bảng 3.16: Những nguyên nhân gây ra nghèo cho cộng đồng người Dao 65
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới hiện nay vấn đề đói nghèo vẫn là một trong những vấn đề cần được quan tâm giải quyết mang tính cấp thiết Một trong những chính sách hàng đầu của liên hiệp quốc là phải cải thiện mức sống cho hơn một tỉ người nghèo trên thế giới “ Tại hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc năm
2000, có 189 quốc gia thành viên tham gia đã nhất trí thông qua tuyên bố thiên niên kỷ và cam kết đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG ) vào năm 2015.[4]
Có thể nói rằng chưa bao giờ các nhà lãnh đạo cao cấp của các quốc gia
lại quan tâm đến vấn đề đói nghèo như bây giờ Điều này đã khẳng định sự đồng thuận chưa từng có trong lịch sử của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức lớn ở cấp toàn cầu trong thế kỷ 21 cũng như những cam kết của họ sẽ giải quyết thách thức này
Tại Việt Nam, Chính phủ coi vấn đề XĐGN là mục tiêu quan trọng xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Ngay từ những ngày đầu thành lập nước ( 2 / 9 / 1945 ), chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã quan niệm nghèo đói như một thứ giặc đó là “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” Chính vì thế Người đã xác định nhiệm vụ trước mắt là phải diệt giặc đói để đồng bào ta “ ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [13] Tuy nhiên do nền kinh tế nước ta chưa phát triển do bởi, xuất phát điểm thấp, hậu quả của chiến tranh còn nặng nề, cơ chế quản lí cũ không còn phù hợp với xu thế phát triển chung Ngoài ra điều kiện tự nhiên cũng có những tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế : Như khí hậu thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra… Thêm vào đó trình độ tay nghề, kinh nghiệm sản xuất của người lao động còn rất thấp… Cho nên một bộ phận không nhỏ dân cư gặp không ít khó khăn trong sản xuất
và đời sống, đã trở nên nghèo đói Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước còn
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
cao, tập trung chủ yếu ở các tỉnh tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có Huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang
Thực tế cho thấy: đến năm 2012, huyện Sơn Động vẫn nằm trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước, tỷ lệ nghèo của Sơn Động vẫn chiếm tới 48,34%, đặc biệt là ở các dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Dao là 85 % Vì vậy việc cứu, lý giải một cách có hệ thống, đánh giá đúng về thực trạng nghèo và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo cho cộng đồng người Dao trên địa bàn huyện Sơn Động là việc là hết sức thiết thực và ý nghĩa
Xuất phát từ những lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp
giảm nghèo cho cộng đồng dân tộc Dao trên địa bàn Huyện Sơn Động – Tỉnh Bắc Giang” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng nghèo của người dân, đặc biệt là của cộng đồng người Dao trên địa bàn huyện Chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến nghèo và đưa ra những giải pháp giúp họ thoát nghèo
3 Ý nghĩa của đề tài
Trong nên kinh tế thị trường hiện nay, kinh tế hộ gia đình là một thành phần kinh tế quan trọng, có nhiều đóng góp vào nền kinh tế quốc dân Do vậy, việc tồn tại một tỷ lệ không nhỏ các hộ gia đình đang sống trong cảnh nghèo
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
đói là một thực tế nhức nhối Nó gây ảnh hưởng lớn tới tốc đọ tăng trưởng kinh tế của đất nước và các vấn đề xã hộ khác
Vì vậy, nghiên cứu này giúp người dân đặc biệt là người dân tộc Dao hiểu rõ hơn về thực trạng nghèo trong giai đoạn hiện nay Đồng thời giúp cho những hộ thuộc diện đói nghèo tự trang bị cho mình những tri thức hiểu biết cần thiết, biết khai thác tiềm năng săn có ở địa phương, các nguồn nội lực của gia đình và bản thân Phát huy tối ưu và vận dụng các cơ chế chính sách của chính quyền các cấp đã ban hành, trong công tác xóa đói giảm nghèo một cách thuận lợi và có hiệu quả nhất
Góp phần giúp các nhà chức trách địa phương có cái nhìn rõ hơn về thực trạng nghèo đói hiện nay Từ đó có những cơ chế chính sách phù hợp với nhu cầu giảm nghèo của người dân cũng như phù hợp với khả năng hỗ trợ của nhà nước Mà mục tiêu chung là làm rút ngắn khoảng cách phân biệt giầu nghèo Tạo ra sự bình đẳng tối thiểu trong xã hội
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Một số khái niệm
*Khái niệm về nghèo đói
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Escap tổ chức tại Băng Cốc tháng 9 năm
1993 như sau “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngời đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”[8] Theo khái niệm này, không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo thời gian và không gian
Một khái niệm khác được đưa ra tại báo cáo chung của các nhà tài trợ hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12/2003 như sau:
“Nghèo là tình trạng bị thiếu ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít được tham gia quá trình ra quyết định…” Khái niệm này cho thấy người nghèo không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu thốn cả về đời sống văn hóa tinh thần, vị thế trong xã hội thấp
Tuy nhiên tiêu chí và chuẩn mực đánh giá phân loại sự nghèo còn phụ thuộc vào từng vùng, từng điều kiện lịch sử nhất định
Để phân biệt một cách chi tiết hơn, người ta còn phân chia nghèo thành hai loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Sự phân chia này giúp cho mỗi quốc gia đề ra những giải pháp XĐGN phù hợp Trên thực tế thì sự cố gắng của mỗi quốc gia cũng chỉ xóa được nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối thì luôn tồn tại hiện diện ở bất kể quốc gia nào, trình độ phát triển kinh tế nào
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng của một số bộ phận dân cư không
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nó là tình trạng con người không có ăn, không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết Theo quy định của Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu dinh dưỡng đối với các nước Đông Nam Á phải đạt số lượng là 2.100 calo/người/ngày
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định, tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương
ở một thời kỳ nhất định
Ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đa ra các khái niệm khác nhau về nghèo đói nhưng các ý kiến tập trung nhất là:
+ Nghèo: Là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa
mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của con người và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.[1] Cách phân chia nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối ở Việt Nam cũng tương tự như cách phân chia hiện nay của một số nước đang sử dụng
Từ những đánh giá trên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là hạn chế phân hóa giàu nghèo Vì nghèo tuyệt đối là mức thu nhập tối thiểu cụ thể do mỗi quốc gia xác định phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định, nên khi kinh tế phát triển đến mức độ nhất định, thu nhập bình quân người sẽ vượt mức tối thiểu,
sẽ xóa nghèo tuyệt đối Còn nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập giữa các nhóm người, dù kinh tế có phát triển thế nào chăng nữa cũng vẫn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong mỗi quốc gia, do đó không thể xóa được nghèo tương đối
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
* Khái niệm về giảm nghèo:
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và
số lượng người nghèo giảm xuống Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn
Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này: Nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thì đồng thời cũng xóa đói luôn Do vậy thực chất giảm nghèo và xóa đói là đồng nghĩa
1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói
1.1.2.1 Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế do Tổng cục thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992 – 1993 và năm 1997 – 1998) Đường đói nghèo thứ 2 ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm) Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 kcal/người/ngày Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung (chuẩn nghèo)
Để tiện cho việc điều tra khảo sát, tính toán và đánh giá người ta chuyển
từ nhu cầu chi tiêu sang mức thu nhập Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo được xếp vào nhóm người nghèo, còn những ai có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (đường nghèo cho lương thực phẩm) thì được xếp vào nghèo về lương thực thực phẩm Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn với thu nhập bình quân của hộ gia đình, tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỷ lệ người nghèo
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Thông thường trong một quốc gia, tỷ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn
tỷ lệ hộ nghèo, vì quy mô hộ gia đình của nhóm hộ nghèo thường lớn hơn
hộ không nghèo
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời gian Về không gian nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng vùng hay từng quốc gia Ví dụ như ở Việt Nam, chuẩn nghèo thay đổi theo vùng sinh thái khác nhau, đó là vùng đô thị, vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi[1] Về thời gian, chuẩn nghèo đói cũng có sự biến động Nó biến động theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, vì kinh tế xã hội phát triển thì đời sống con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo[1] Theo quan niệm trên, Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau:[9]
+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0,5 usd/ngày
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 usd/ ngày
+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và caribe là 2 usd/ngày
+ Các nước Đông Âu là 4 usd/ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 usd/ngày
Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng đưa ra Ví dụ: Mỹ đưa ra chuẩn nghèo
là mức thu nhập dưới 16.000 kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm, tương đương với 11,1 usd/ngày/người Trung Quốc đưa
ra chuẩn nghèo 960 nhân dân tệ một năm/1 người tương đương với 0,33 usd/ngày/người.[8]
1.1.2.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam
Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động Thương binh và
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Xã hội Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách hộ nghèo từ cấp thôn, xã và danh sách xã nghèo từ các huyện trở lên.[3]
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2015
(Dưới mức)
Hộ nghèo
(Dưới mức)
Nguồn: Bộ Lao động thương binh xã hội
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.3 Chủ trương, quan điểm, mục tiêu của nhà nước về giảm nghèo
1.1.3.1 Chủ trương, quan điểm của nhà nước
Một là, phải coi xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ to lớn của toàn bộ hệ thống chính trị và sự nỗ lực của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Nhà nước
Xoá đói giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, là yếu
tố quan trọng bảo đảm sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề của toàn xã hội hiện nay
Ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: Giành được độc lập rồi mà nhân dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu thì độc lập đó phỏng có ích gì? Người còn nhấn mạnh phải ra sức phát triển sản xuất, kinh tế làm cho mọi người ra khỏi đói nghèo lam lũ vươn lên đủ ăn, khá giả, giàu có Ai đã giàu có rồi, vươn lên giàu có hơn nữa Hơn
ai hết, Người nhận thấy: Đói nghèo, lạc hậu, dốt nát là những kẻ thù nội xâm làm suy yếu đất nước và chế độ Chỉ có vượt qua đói nghèo lạc hậu, tiến tới phát triển và ngày càng phát triển, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân, đó mới là mặt tích cực, bản chất của chủ nghĩa xã hội
Theo lời dạy của Bác Hồ, từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh cuộc vận động xoá đói giảm nghèo, coi đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 23-CTTW ngày 29/11/1997 về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo Chỉ thị xác định: "…xoá đói giảm nghèo là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược ổn định, phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa;
kế tục và phát huy truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc" [2, tr.68-69] Phong trào xoá đói giảm nghèo được khởi đầu từ năm 1992 từ thành phố Hồ Chí Minh và trở thành một chương trình quốc gia vào cuối năm 1998, xoá đói giảm nghèo đã thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là hàng triệu những người nghèo tham gia Với tầm cỡ to lớn những cũng đầy khó khăn phức tạp Xoá đói giảm nghèo không thể
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
chỉđứng lại ở các chủ trương, đường lối chung, mà phải có sự phối hợp đồng bộ nhất quán từ chủ trương, đường lối của Đảng; các chính sách, biện pháp quản lý cụ thể của nhà nước và cuối cùng là sự nỗ lực của mỗi gia đình, của chính bản thân người lao động
Hai là, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp về kinh tế với chính sách xã hội và giữ vững ổn định chính trị trong xoá đói giảm nghèo
Đói nghèo trước hết là vấn đề kinh tế, đồng thời cũng là vấn đề xã hội, hậu quả của đói nghèo tác động trực tiếp đến hiện trạng phát triển kinh tế và thông qua kinh tế tác động đến tình hình xã hội Vì đói nghèo dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, trong nền kinh tế thị trường phân hoá giàu nghèo không chỉ
là phân hoá thu nhập, tài sản, mức sống, mà còn kéo theo phân hoá xã hội: mức học vấn, văn hoá, lối sống, vị thế xã hội,quan hệ xã hộiphân hoá giàu nghèo khi vượt quá giới hạn cho phép sẽ biến thành phân hoá giai cấp làm suy yếu khối liên minh công – nông – trí thức và sự bền vững của chính trị, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa
Vì vậy xoá đói giảm nghèo không chỉ có các chính sách, biện pháp phát triển kinh tế mà còn gắn liền với các chính sách xã hội, đặt trong tổng thể của sự ổn định chính trị Trong đó ổn định chính trị vừa là yêu cầu hàng đầu,
là nền tảng cơ bản, vừa là điều kiện để phát triển kinh tế, thực hiện xoá đói giảm nghèo
Có thể nói chính sách xã hội không chỉ tạo ra nền tảng ổn định xã hội để phát triển, mà còn tạo ra động lực của sự phát triển bởi vì giải quyết các vấn
đề xã hội là thực hiện giải phóng sức lao động, hướng tới xây dựng con người làm chủ xã hội Vì vậy, không thể coi chính sách xã hội là "cái đuôi" và đi sau chính sách kinh tế; giải quyết tốt những vấn đề xã hội là điều kiện ổn định để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [6, tr.28]
Phát triển kinh tế, phải đặc biệt chú trọng bảo vệ lợi ích, quan tâm tới đời sống của các tầng lớp cơ bản trong xã hội như công nhân, nông dân, trí thức, các lực lượng bảo vệ an ninh cho chế độ Đây chính là cơ sở của chế độ chính
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
trị, không được để xảy ra hiện tượng người lao động bị bần cùng hoá, bị bóc lột một cách tràn lan, bị ngược đãi, nhất là trong điều kiện phát triển nền kinh
Ba là, coi trọng việc phát huy tính tự lực, tự chủ, tự vươn lên của chính người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo
Mặc dù xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ to lớn của toàn Đảng, Nhà nước
và toàn xã hội, nhưng để vượt qua đói nghèo thì lại phải bằng chính sự tự vươn lên của người nghèo, hộ nghèo Nhà nước, cộng đồng xã hội chỉ có thể vai trò bà đỡ tạo điều kiện hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi để người nghèo tiếp cận được với nguồn lực phát triển, còn có tận dụng được những nguồn lực đó hay không thì còn phụ thuộc vào chính họ Tính chất trợ giúp, hỗ trợ phát triển với vai trò bà đỡ là nét nổi bật của sự nghiệp xoá đói giảm nghèo Cần quán triệt quan điểm này và thể hiện nó một cách toàn diện trong nội dụng và biện pháp xoá đói giảm nghèo Nói một cách khác hình ảnh là: giúp
họ "cái cần câu", hướng dẫn họ cách câu, tạo ra điều kiện (tức chỉ chỗ làm ăn
và giúp họ tiêu thụ sản phẩm làm ra) chứ không nên cho sẵn họ con cá Xoá đói giảm nghèo bằng cứu trợ nhân đạo thuần tuý chỉ là giải pháp thụ động, chắp vá, phi kinh tế và không sao giải quyết được triệt để đói nghèo
Bốn là, huy động và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong tỉnh, đồng thời mở rộng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài cho việc xoá đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ rất khó khăn và không thể thực hiện được trong vài ngày, vài tháng, nó đòi hỏi các nguồn lực vật chất và tinh thần rất to lớn, trong đó trước hết là các nguồn lực vật chất như: tài nguyên, đất
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
đai, vốn, kỹ thuật, công nghệ, thị trường, trình độ tay nghề của người lao động
và các môi trường chính trị, xã hội, kết cấu hạ tầng khác…
Nguồn tài chính của nhà nước là rất quan trọng, song không thể chỉ trông chờ vào một nguồn đó, nhất là trong điều kiện ngân sách quốc gia còn hạn hẹp, ngân sách địa phương thu không đủ chi, hàng năm phải nhận trợ cấp ngân sách từ trung ương mà phải huy động mọi nguồn tài chính có thể huy động được cho xoá đói giảm nghèo (phải xã hội hoá)
Bác Hồ của chúng ta đã từng khẳng định: "Công việc chống nạn đói, cũngnhư công việc to lớn khác phải kiên quyết, phải sẵn lòng hy sinh, phải toàn dân nhất trí" [12, tr.93-94]
Chỉ có huy động mọi nguồn lực xã hội bằng cả biện pháp kinh tế và xã hội mà tiêu biểu là xã hội hoá phong trào xoá đói giảm nghèo để cùng với nhà nước tập trung sức giải quyết việc xoá đói giảm nghèo Không như vậy, không thể huy động được một nguồn lực lớn, trị giá hàng nghìn tỷ đồng cho chương trình xoá đói giảm nghèo Nhà nước dù đầu tư mạnh đến đâu cho xoá đói giảm nghèo cũng vẫn là có hạn Chỉ có sự đóng góp của toàn xã hội, mà trong đó nhà nước là trung tâm mới có thể đưa sự nghiệp xoá đói giảm nghèo đến thắng lợi
Xoá đói giảm nghèo phải đặt trong quá trình mở rộng hợp tác, tranh thủ khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực từ các nước, các tổ chức quốc
tế bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú, phù hợp với điều kiện thực tế và thông lệ quốc tế
Đây là một sự bổ trợ quan trọng cho các nguồn lực trong nước, vì chúng
ta đang hoà nhập toàn diện với các nước trong khu vực và trên thế giới, đang
có nhiều khả năng tìm kiếm đối tác, phát triển các dự án phối hợp, các nguồn tài trợ và viện trợ nhân đạo cho chương trình xoá đói giảm nghèo Cần tăng cường các hình thức trao đổi giao lưu hợp tác đó
Năm là, trong quá trình xoá đói giảm nghèo cần khuyến khích một bộ phận dân cư vươn lên làm giàu, đồng thời ưu tiên xoá đói giảm nghèo ở các đối tượng chính sách và các vùng đặc biệt khó khăn
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Xoá đói giảm nghèo không phải là chủ trương riêng, tách biệt khỏi các giải pháp phát triển kinh tế xã hội mà luôn luôn nằm trong chiến lược tổng thể của quá trình phát triển Các hộ nghèo tồn tại bên cạnh các hộ hộ không nghèo, các vùng nghèo tồn tại bên cạnh các vùng không nghèo trong mối quan hệ qua lại tác động với nhau Khuyến khích, tạo điều kiện cho một bộ phận dân cư có điều kiện vươn lên làm giàu trước để tạo lập những hạt nhân, những động lực thúc đẩy kinh tế trong vùng giống như việc tạo ra một hiệu ứng lan toả, từ đó tác động đến sự phát triển của các hộ nghèo trong vùng Trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII
có viết: Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo Coi một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển Đồng thời
có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện cho người nghèo có thể vươn lên làm đủ sống và phấn đấu trở thành khá giả [7, tr.47]
Bên cạnh việc khuyến khích một bộ phận dân cư có điều kiện vươn lên làm giàu, cần có biện pháp ưu tiên đối với các hộ thuộc diện gia đình chính sách như gia đình thương binh, liệt sỹ, các gia đình có công với nước…để các
hộ này có thể nhanh chóng thoát nghèo Đó chính là việc kết hợp sự tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Đối với các vùng đặc biệt khó khăn càng cần phải có những giải pháp ưu tiên mạnh về nhiều mặt là các vùng căn cứ địa cách mạng, những vùng đã chịu sự tàn phá nặng nền trong chiến tranh Nếu để các vùng này tự vươn lên thì sẽ rất khó khăn và lâu dài, thậm chí có những vùng không thể tự vươn lên nếu không có sự hỗ trợ
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước
và là sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo,
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
phát triển kinh tế - xã hội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước
và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người
nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóa đói
giảm nghèo; Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện
nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính
quyền, sự phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân;
đồng thời, phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế
hoạch, đến tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình
giảm nghèo; Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo
chung trong cả nước, Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư,
hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Căn cứ vào
tinh thần của Nghị quyết này, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn
thêm một số huyện nghèo khác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bào
dân tộc thiểu số sống tập trung để huy động nguồn lực của địa phương đầu tư
hỗ trợ các huyện này giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững [20]
1.1.3.2 Mục tiêu:
- Mục tiêu chung
Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người
nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản
xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt
các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù
hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh
thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Mục tiêu cụ thể
+ Mục tiêu cụ thể đến năm 2010
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40% (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005); cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân ở những nơi không có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để bảo đảm đời sống Tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới; tỷ
lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25%
+ Mục tiêu cụ thể đến năm 2015
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của tỉnh Tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bước đầu phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ và vừa, người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi; lao động nông nghiệp còn dưới 60% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào
tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 40%
+ Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu
vực Giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất, việc làm, thu nhập để nâng cao đời
sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 - 6 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
khoảng 50% Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa có thể trồng 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp; bảo đảm giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản đã được quy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư; bảo đảm cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn
hoá, tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc [20]
1.1.4 Mục tiêu của tỉnh về giảm nghèo cho huyện Sơn Động
tế xã hội; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển rộng rãi các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả; nâng cao dân trí, môi trường sinh thái được bảo vệ; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc Củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an nhinh nhân dân; giữ vững an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hộ trên địa bàn [21]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức gần bằng mức trung bình của tỉnh, giai đoạn 2010-2015 bình quân mỗi năm giảm từ 4-5% tỷ lệ hộ nghèo (bình quân mỗi năm giảm 692 hộ) Giá trị sản xuất đầu người bình quân đạt 27 triệu đồng; Lao động nông nghiệp còn dưới 60% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo tập huấn, huấn luyện đạt trên 40%
Nâng cao hệ số sử dụng ruộng đất lên 1,7 lần, bước đầu phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa quy mô nhỏ và vừa, người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi
Đến năm 2020, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng với mức trung bình của khu vực Giai đoạn 2016-2020 bình quân mỗi năm giảm từ 2-2,5% tỷ lệ hộ nghèo ( bình quân mỗi năm giảm 346 hộ) Giải quyết cơ bản vấn
đề sản xuất, việc làm để nâng cao đời sống của dân cư trong huyện lên gấp 5-6 lần
so với hiện nay Giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt 48 triệu đồng; lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo tập huấn, huấn luyện đạt trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới đạt 50% Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là
hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa trồng 2 vụ, nâng hệ số sử dụng đất lên 2 lần; đảm bảo giao thông thông suốt suốt 4 mùa tới hầu hết các xã có đường ô tô tới các thôn bản, cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư., đảm bảo cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh,
sinh hoạt văn hóa, tinh thần, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc[21]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình xóa đói giảm nghèo trên thế giới trên thế giới
* Nhóm các nước phát triển
- Ở Thụy Điển: Đã có thời kỳ, phát triển theo mô hình nhà nước phúc lợi
chung Đặc trưng cơ bản của mô hình này là Nhà nước rất coi trọng và có vai trò quan trọng trong phân phối Năm 1995, chi tiêu của Chính phủ đạt mức 65% thu nhập quốc dân trong lúc đó, ở các nước khác mức chi tiêu trên chỉ đạt 33 – 52% Chính phủ Thụy Điển đã thực hiện hàng loạt các biện pháp để
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
thực hiện các nhu cầu tối thiểu của con người, quan tâm thỏa đáng đến nhóm
có thu nhập thấp như phân chia đất đai thành các điền trang trung bình, điền trang nhỏ, đảm bảo công việc làm đầy đủ cho người lao động, coi trọng chính sách phân phối lại thu nhập chủ yếu thông qua các hình thức chuyển khoản như bảo hiểm xã hội, hưu trí, y tế, giáo dục,…để giảm dần mức chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư (hệ số Gini năm 1963 chỉ là 0,39) Vào những năm
80 ở Thụy Điển 20% số hộ gia đình có mức thu nhập cao nhất nhận được 26,9% thu nhập, còn 20% số hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhất được hưởng đến 8% thu nhập Cùng thời gian trên 2 chỉ tiêu tương ứng ở Mỹ là 41,9% và 4,7%
- Ở Mỹ: Mỹ được coi là nước giàu nhất thế giới, nhưng tỷ lệ người nghèo
khổ luôn dao động ở con số 13% từ 20 năm trở lại đây Thu nhập của 10% hộ gia đình nghèo nhất nước Mỹ chỉ ở mức năm 1979; trong khi đó, thu nhập hàng năm của 1% những người giàu nhất nước Mỹ tăng 11,3%, gấp 45 lần người nghèo Năm 2008, nước Mỹ có nhiều tỷ phú nhất thế giới (469 người), nhưng vẫn còn tới 37 triệu người chiếm khoảng 12,6% số dân có thu nhập dư-
ới mức nghèo khổ, thu nhập bình quân của người Mỹ da đen chỉ bằng 60% của người da trắng Như vậy, nạn nghèo khổ và sự chênh lệch giàu nghèo vẫn còn trầm trọng ở Mỹ Hạn chế phân hóa giàu nghèo, Chính phủ Mỹ đã thực hiện nhiều chính sách: bảo hộ đối với sản xuất nông nghiệp; khống chế mức l-ương tối thiểu và đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người ; nhưng chủ yếu là chính sách phân phối lại thu nhập
Với kinh nghiệm và bài học của các nước đang phát triển (Thụy Điển, Mỹ) đã nêu trên, Việt Nam cần cân nhắc, tìm hiểu ý tưởng và cách làm đó có thể vận dụng sáng tạo
* Nhóm các nước đang phát triển ở Châu Á
- Ở Trung Quốc: từ khi cách mạng vô sản thành công (1949), có thể chia
quá trình phát triển kinh tế, phân hóa giàu nghèo và các hoạt động XĐGN làm hai giai đoạn: từ năm 1949 đến năm 1977 là thời kỳ xây dựng XHCN theo mô hình kế hoạch hóa tập trung và từ năm 1977 đến nay thực hiện cải cách kinh
tế theo hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Nhờ cải cách và đổi mới nền kinh tế có hiệu quả và thực hiện một
số chính sách XĐGN, nên số người nghèo ở Trung Quốc giảm xuống nhanh chóng Nếu theo mức chuẩn nghèo của Cục Thống kê Trung Ương Trung quốc là có thu nhập 100 nhân dân tệ/ người/ năm, thì số người nghèo ở nông thôn năm 1978 là 250 triệu người (chiếm 30% dân số); đến năm 2004 , tỷ lệ
hộ nghèo chỉ còn 10% Tuy vậy, dân nghèo nói riêng và dân cư nông thôn Trung Quốc nói chung vẫn còn thu nhập thấp và mức hưởng thụ các dịch vụ
xã hội vẫn rất thấp kém Cùng với những vấn đề yếu kém khác nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc năm 2005 đã vượt 1.000usd, thoát khỏi danh sách các nước có thu nhập thấp, nhưng trong xã hội còn tiềm
ẩn nhiều mâu thẫm gay gắt, bất ổn
- Ở Ấn Độ: ấn Độ là nước có số người nghèo đói nhiều nhất thế giới với
sự phân hóa giàu nghèo cũng khá nghiêm trọng (khoảng 420 triệu người nghèo đói, chiếm 55% dân số cả nước vào những năm 1960)[10] Để giải quyết vấn đề này, chính phủ ấn Độ đã đề ra nhiều giải pháp: “Cuộc cách mạng xanh”, tăng cường công tác thủy lợi, đa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp (kỹ thuật canh tác và giống mới…) để tăng năng suất cây trồng, phấn đấu tự túc lương thực với bài học dựa vào sức mình là chính,
vì thế cuối những năm 1960 sản lượng lương thực đã tăng 3%/năm, chấm dứt tình trạng phải nhập khẩu lương thực
* Nhóm các nước Đông Nam Á
Ở Cộng hòa In-đô-nê-xi-a: ở thời kỳ đầu sau khi giành được độc lập, nền
kinh tế phát triển khó khăn, sau đó, Nhà nước đã đa ra hàng loạt các biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế, XĐGN Thực hiện chiến lược mở cửa, tăng xuất khẩu, nhất là xuất khấu khoáng sản, sản phẩm nông lâm, thủy sản Đến năm 1996, kim ngạch xuất khẩu của In-đô-nê-xi-a đạt 55 tỷ usd Nhờ kinh tế tăng trưởng và bước đầu nhận thức được tác hại của sự phân hóa giàu nghèo và cuộc sống khó khăn của người nghèo, trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90, In-đô-nê-xi-a đã thực hiện nhiều biện pháp XĐGN, đa mục
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
tiêu XĐGN thành mục tiêu quốc gia Chính phủ đã trợ cấp ngân sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, mở rộng và củng cố hệ thống hợp tác xã của những người kinh doanh nhỏ; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp thông qua việc phát triển hạ tầng phục vụ nông nghiệp nông thôn, áp dụng giống mới, các biện pháp thủy lợi, canh tác…;[18] tăng cường giải quyết việc làm, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, có chính sách phát triển vùng trọng điểm…Nhờ những biện pháp tích cực nên số người nghèo của In-đô-nê-xi-a giảm liên tục Năm 1976 số người dưới mức nghèo khổ là 54 triệu người nhưng đến năm 1987 chỉ còn 30 triệu người
Ở Thái Lan: Thái Lan đã áp dụng chính sách giảm nghèo đói ở từng
vùng trọng điểm tăng thu nhập cho người dân hạn chế phân hóa giàu nghèo thông qua chính sách đất đai, giải quyết việc làm ưu tiên ở những vùng không
có đất đai và chính sách này đã đạt được kết quả cao; hỗ trợ vốn và khoa học
kỹ thuật cho nông dân, tăng cường xuất khẩu lao động, phát triển hạ tầng để thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách hướng ngoại tăng xuất khẩu, gắn liền
mô hình chính sách quốc gia với chính sách phát triển nông thôn qua việc phát triển các xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn nhằm giảm bớt nghèo đói Tăng thu nhập, góp phần hạn chế sự phân hóa giàu nghèo
1.2.2 Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
1.2.2.1 Một số kết quả trong công tác giảm nghèo tại Việt Nam
Thời kỳ dựng nước Văn Lang - Âu Lạc đến thời kỳ đầu độc lập (thế kỷ X): mối quan hệ lợi ích vật chất trong xã hội định hình trên cơ sở: quyền sở hữu tối cao toàn bộ ruộng đất là nhà vua Địa vị các đẳng cấp trong xã hội được xác lập: Vua – Lạc hầu – Lạc tướng – Lạc dân Thời kỳ này dã có sự phân hóa giàu nghèo – của cải tập trung vào nhà vua và các Lạc hầu – Lạc tướng
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Việt Nam thời kỳ phong kiến (từ khi thoát khởi Bắc thuộc cho tới khi Pháp xâm lược năm 1858); cơ cấu giai tầng (giai cấp và tầng lớp) thời kỳ phong kiến ở Việt Nam là đan xen và chồng chéo lên nhau.Tính đa chiều trong phân tầng xã hội được thể hiện rất rõ, dựa trên nhiều tiêu chí phân chia: chức tước, địa vị, quyền lợi,tài sản, nghề nghiệp, tuổi tác và học vấn Do đó, trong giai đoạn này sự phân hóa giàu nghèo diễn ra giữa các tầng lớp xã hội cũng như trong mỗi tầng lớp Người giàu thường là quan lại hoặc những người có tài sản, quyền lực, học vấn cao và phú thương
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945): Do bị thực dân Pháp cai trị, cho nên giai cấp tư bản thuộc địa đã bao trùm toàn bộ cơ cấu giai tầng cũ Đồng thời xuất hiện thêm một số tầng lớp mới là giai cấp công nhân và giai cấp tiểu tư sản dân tộc (nho sĩ và trí thức mới) Như vậy, bổ sung vào tính đa chiều trong phân tầng xã hội ở giai đoạn trước, thời kỳ này xuất hiện thêm chiều cạnh phân tầng xã hội theo lý thuyết giai cấp của Các Mác
Từ năm 1945 đến nay:
Thời kỳ (1945 -1954): có sự giảm dần cơ cấu nhiều giai tầng, và thu gọn lại trong kết cấu giai cấp công nhân, nông dân tập thể và tầng lớp tri thức xã hội chủ nghĩa Các giai cấp này tương ứng với hai hình thức sở hữu toàn dân
và tập thể đối với tư liệu sản xuất Các giai cấp đều là anh em Đa số dân cư trong các giai tầng đều sống trong tình trạng đói nghèo Thời kỳ này đã có sự chênh lệch mức sống vật chất giữa các tầng lớp, nhưng không lớn
Sau hòa bình lặp lại (7/5/1945 đến 1975), miền Bắc thực hiện khôi phục
và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách ruộng đất (1955-1957), cải tạo XHCN đối với kinh tế nông nghiệp và cải tạo thủ công nghiệp và tiểu th-ương tư sản công thương nghiệp, đồng thời vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ và huy động đến mức cao nhất sức người, sức của cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc Với cách quản lý tập trung của Nhà nước, bao cấp sản xuất, lưu thông, tiêu
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
dùng trong xã hội tăng cường; ở nông thôn nhân dân làm ăn theo mô hình hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, tỷ lệ đói nghèo ở giai đoạn này tăng cao hơn trước, ở mức 60 - 70% dân số
Thời kỳ 1976-1980: Cơ chế quẩn lý kinh tế – xã hội vẫn là quan liêu bao cấp đã làm cho kinh tế của đất nước nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng gặp nhiều khó khăn và sa sút nghiêm trọng Nhiều mục tiêu kinh tế – xã hội không đạt kế hoạch, thu nhập quốc dân chỉ tăng 0,4% trong khi dân số tăng thêm 4,5 triệu người Vì thế, tỷ lệ đói nghèo vẫn còn khá cao, thậm trí còn có phần tăng hơn trước, (chiếm 54 -72% dân số); trong đó các hộ nghèo tuyệt đối chiếm từ 33 – 39
Thời kỳ 1981 – 1986: Ban Bí Thư Trung Ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13/01/1981 Đây được coi là khâu đột phá, tạo ra giải pháp tình thế, khơi dậy sinh khí mới cho nông thôn, nông nghiệp, nông dân, đã hạn chế
sự sa sút trong nông nghiệp Sản lượng lương thực tăng bình quân 1 triệu tấn/ năm Tình trạng đói trong thời kỳ này giảm đáng kể, chỉ còn 30 – 40%; trong
đó, tỷ lệ thiếu đói 7 -14%
Từ năm 1986 đến nay: Do thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nền kinh tế cũng được đổi mới chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản ký của Nhà nước theo định hướng XHCN Trong thời gian này (từ Đại hội VI đến Đại hội X) Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách phù hợp nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế,XĐGN, giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo Tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã khẳng định: “cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh
tế, phải tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo vượt quá sự cho phép”.[13]
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định thực hiện chủ trương XĐGN gắn với khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp Phấn đấu: “Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10 – 11% vào năm 2010”.[4] (Theo chuẩn mới tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 ở Việt Nam khoảng 22%)
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Từ những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, Ban chủ nhiệm Chương trình mục tiêu XĐGN quốc gia, các Bộ, Ngành, đoàn thể và các địa phương đã đề ra những giải pháp cụ thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo tự vươn lên cứu mình, góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình XĐGN bền vững, giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo thời gian qua Kết quả là trong 5 năm 2001 – 2005 thực hiện mục tiêu quốc gia về XĐGN, cả nước đã có 4.354 triệu lượt hộ được vay vốn tín dụng ưu đãi, trên 2 triệu lượt người nghèo được hướng dẫn cách làm ăn, hơn 1.000 công trình thiết yếu đã được đầu tư ở 997 xã nghèo, trên 11 triệu lượt người được cấp thẻ BHYT, đã có 15 triệu lượt học sinh nghèo và dân tộc thiểu số được miễn giảm học phí, 2,5 triệu lượt học sinh được hỗ trợ sách giáo khoa và hỗ trợ vở viết Đặc biệt chương trình đã hỗ trợ làm mới và sửa chữa được 432,700 căn nhà cho hộ nghèo, qua đó nâng tổng số tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành xóa nhà tranh tre dột nát lên con số 21 bộ mặt của các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã được cải thiện một cách rõ rệt điều
đó được thể hiện qua các công trình xã hội có ý nghĩa như trường học, trạm y
tế, thủy lợi nhỏ, đường giao thông…kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân ở các xã nghèo được nâng lên nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc ở miền núi Đặc biệt trong năm 2006, những kết quả về xóa đói giảm nghèo ngày càng được khẳng định, cả nước đã có 1556 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi, triển khai 12.000 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho người nghèo, xây dựng mô hình và trình diễn và hội nghị đầu bờ với hơn 700 lượt người nghèo tham gia.[5]
Để giúp huyện nghèo phát triển, nâng cao thu nhập bình quân đầu người
từ năm 2015 – 2020 gấp 5 – 6 lần hiện nay, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 30A/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về chương trình hỗ trợ giảm nhèo nhanh và bền vững đối với 61 hộ nghèo Đây là nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng có ý nghĩa to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng, vì thế Chính phủ đã giao các Bộ, Ngành nghiên cứu tham mưu cơ chế chính sách
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
cụ thể, phù hợp để quyết tâm chỉ đạo đạt hiệu quả chương trình này, góp phần làm giảm chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, cùng cả nước XĐGN bền vững
1.2.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh về xoá đói giảm nghèo
* Xoá đói giảm nghèo của Hà Tĩnh
Về xây dựng các mô hình, chỉ đạo ở cấp xa để rút kinh nghiệm triển khai cho các huyện và toàn tỉnh
Từ nhận thức, nguyên nhân cụ thể về đói nghèo của từng hộ, từng xã, từng vùng rất đa dạng, nên những biện pháp cụ thể về XĐGN cho từng hộ, từng xã cũng khác nhau Trên cơ sở phân loại theo vùng sinh thái, các giải pháp XĐGN phải được triển khai làm thí điểm, xây dựng mô hình để rút ra bài học, cách làm để nhân rộng Để nghiên cứu các giải pháp XĐGN, Hà Tĩnh đã phân chia và đi sâu nghiên cứu đặc điểm của từng vùng sinh thái khác nhau Chẳng hạn, huyện Thạch Hà chỉ có 44 ngàn ha đất tự nhiên nhưng được chia làm 5 vùng kinh tế - sinh thái rất rõ rệt
- Các xã vùng 1 (vùng biển bãi ngang): Có 10 xã thì 5 xã nghèo, đồng dân những ít đất, hầu như không có công trình thuỷ lợi
- Các xã vùng Bắc Hà: Thuỷ lợi khó khăn, đất đai khô cằn, ngành nghề, dịch vụ chưa phát triển
- Các xã vùng cửa biển: Tuy không có công trình thuỷ lợi, dân đông, đất cát, đất bạc màu nhưng làm nghề biển và phát triển được các ngành nghề dịch vụ nên kinh tế và mức sống khá hơn hai vùng đã nêu trên
- Các xã vùng núi phía Tây huyện: Đất nông nghiệp nhiều nhưng là những xã mới hình thành nên thiếu thốn về kết cấu hạ tầng KT - XH Tỷ lệ nghèo cao, có 02 xã tỷ lệ hộ nghèo đói trên 40% số hộ
- Các xã vùng trung tâm huyện: Có truyền thống thâm canh lúa nước, thuận tiện về giao thông, thuỷ lợi nhưng bình quân đất nông nghiệp cho một
hộ nhân khẩu thấp lại độc canh nên cũng gặp không ít khó khăn trong XĐGN Qua việc nghiên cứu nghèo đói ở những vùng sinh thái khác nhau, Hà Tĩnh nhận ra rằng: Nghèo đói vừa có điểm chung, vừa có tính đặc thù riêng
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
của từng địa bàn cụ thể Do vậy, trong chỉ đạo phải sau sát, vận dụng cơ chế chính sách chung và điều kiện cụ thể một cách năng động Từ nhận thức đó, các huyện đều có chỉ đạo điểm hoặc xây dựng các mô hình điểm Một điển hình tiêu biểu là xã Kỳ Thọ (Kỳ Anh) đã xây dựng được mô hình tốt về XĐGN Xã Kỳ Thọ là xã thuần nông nhưng đất đai bị nhiễm mặn nên đời sống nhân dân rất khó khăn Đến năm 1997 vẫn còn 43% số
hộ trong xã thuộc diện hộ nghèo Trước hết, xã tập trung đầu tư nâng cấp những điều kiện sản xuất chung, tạo môi trường thuận lợi cho các hộ: Xây dựng đê ngăn mặn, xây dựng trạm biến thế điện 200 KVA, nâng cấp hệ thống kênh mương thuỷ lợi, làm đường trục chính Đồng thời, các cấp chính quyền và đoàn thể quần chúng đi sâu nắm rõ hoàn cảnh cụ thể từng
hộ nghèo đói Hình thành tổ chức chỉ đạo xoá đói giảm nghèo trên cơ sở lồng ghép các chương trình đầu tư và kết hợp sức mạnh của cả cộng đồng, v.v Nhờ đó, chỉ trong 2 năm (1997 - 1999) lương thực bình quân đầu người từ 408 kg lên 477 kg, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 43% xuống còn 22,2%,
số hộ khá, hộ giàu từ 129 hộ tăng lên 242 hộ, v.v Mô hình Kỳ Thọ đã tác dụng tích cực đối với một số xã trong vùng, trong huyện và có tác dụng tích cực trong phạm vị cả tỉnh
* XĐGN của Tỉnh Đắc Lắc
Thực hiện xây dựng mô hình phát triển kính tế gắn với tăng cường cán
bộ chuyên trách xoá đói giảm nghèo cho vùng đồng bào Dân tộc
Đắc Lắc là một tỉnh Miền núi nằm ở phía Nam Tây Nguyên, Đắc Lắc
có diện tích tự nhiên trên 13.120Km2, dân số trên 1,8 triệu người với 44 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có khoảng 30% là đồng bào dân tộc thiểu số Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo từ 25,55% Năm
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
2001 xuống còn 9,04% Năm 2005, vượt mục tiêu Nghị quyết Tỉnh, Đảng
bộ lần thứ XIII đề ra
Điểm nổi bật trong công tác giảm nghèo ở Đắc Lắc đó là:
- Hội đồng nhân dân tỉnh đã có nghị quyết tập trung ưu tiên nguồn lực cho chương trình giảm nghèo Ngoài nguồn lực của trung ương hỗ trợ theo chính sách chung Hàng năm ngân sách địa phương dành tối thiểu 1,5% Tổng chi ngân sách địa phương, hỗ trợ cho các xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 50% trở lên mỗi xã 400 triệu đồng/năm, hỗ trợ cho các xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% đến 50% mỗi xã 200 triệu đồng Đồng thời bố trí mỗi xã phường 1 cán
bộ chuyên trách làm công tác xoá đói giảm nghèo với mức phụ cấp 450.000đ/tháng Hộ thoát nghèo tiếp tục được hưởng chính sách về tín dụng, y tế, giáo dục, khuyến nông-khuyến lâm, dạy nghề trong vòng 2 năm
kể từ ngày công bố thoát nghèo
- Tập trung sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền và các ban ngành thông qua việc xây dựng mô hình giảm nghèo điểm gắn với từng vùng, từng dân tộc để chỉ đạo nhân ra diện rộng như: mô hình “10 giúp 1”
ở huyện EaHleo; mô hình “Đào tạo và tuyển dụng lao động nghèo và người dân tộc thiểu số”, mô hình “Khoán quản lý bảo vệ rừng” ở Huyện Krông Pắc và EaHleo Với cách làm đó, qua 2 năm (2006-2007), tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 27,55% đầu năm 2006 xuống còn 18,66% cuối năm 2007, bình quân giảm 4,4%/năm
- Thực hiện tốt các chính sách đã ban hành: Trong 2 năm qua ngân hàng chính sách tỉnh đã giải quyết cho 63.400 hộ nghèo vay vốn với tổng
số tiền 432 tỷ đồng gắn với tập huấn hướng dẫn cách làm ăn cho 24.000 lượt hộ nghèo, xây dựng 178 mô hình, điểm trình diễn gắn với sự vào cuộc của các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thực hiện cuộc vận động gây quỹ: “Ngày vì người nghèo” hỗ trợ xây dựng trên 1000 căn nhà Đại đoàn kết; Hội Phụ nữ “Phong trào hỗ trợ phụ nữ
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
nghèo”, “giúp đỡ hội viên nghèo” của Hội cựu chiến binh; “Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng” của đoàn Thanh niên v.v
- Làm tốt công tác rà soát, xác định hộ nghèo, theo dõi biến động hộ nghèo và triển khai các chính sách, dự án đến với người nghèo đúng đối tượng, các thủ tục hỗ trợ người nghèo về vay vốn, cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí… đã có nhiều đổi mới linh hoạt, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng chính sách, chế độ kịp thời…
Tóm lại: Xác định rõ tầm quan trọng cũng như những khó khăn và
thách thức đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Đắc Lắc đã kiên quyết chỉ đạo các sở, ban ngành, các cấp cơ sở tiếp tục khắc phục khó khăn, tồn tại, đề ra các biện pháp giải pháp, cách làm mới có tính sáng tạo, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, tập trung huy động nhiều nguồn lực, tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia công tác xoá đói giảm nghèo với bài học kinh nghiệm rút ra
từ thực tiễn đó là:
Một là, tập trung nguồn lực và thực hiện hiệu quả chính sách hỗ trợ
cho đồng bào dân tộc thiểu số, các dự án phát triển kinh tế xã nghèo, xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo có hiệu quả Đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo tới các xã nghèo
Hai là, từng bước cải tiến các thủ tục vay vốn, tăng cường phối hợp
chặtchẽ giữa cho vay vốn với các ngành, Hội, đoàn thể trong việc hướng dẫn cách làm ăn giúp đỡ hộ nghèo vay vốn và sử dụng vốn vay hiệu quả
Ba là,đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền với nhiều hình thức
qua đó nâng cao nhận thức và quyết tâm của người nghèo tự vươn lên thoát nghèo gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn hay, mô hình mới Thực hiện đối thoại trực tiếp giữa người nghèo với các cơ quan chức năng nhằm xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan đối với công tác xoá đói giảm nghèo…
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.3 Một số chương trình, chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Sơn Động
1.3.1 Chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện
Sơn Động là huyện duy nhất của tỉnh Bắc Giang được thụ hưởng chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững dành cho 62 huyện nghèo trong cả nước theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Đối với những người nông dân nghèo nơi đây thì Nghị quyết 30a là cơ hội tốt để giúp họ thoát khỏi cuộc sống khó khăn như hiện nay Trong những năm gần đây Nhà nước đã đầu tư các công trình trọng điểm cho công tác xóa đói, giảm nghèo các xã đặc biệt khó khăn như chương trình 135, chính sách theo QĐ 134, dự án World bank, định canh định cư, Trung tâm cụm xá, chính sách trợ giá, trợ cước, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số v.v và các chương trình hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
1.3.1.1 Chương trình 30a
- Tình hình triển khai:
Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ đã được huyện Sơn Động huy động các nguồn lực triển khai tích cực Đến nay, tổng nguồn vốn các dự án, chính sách thuộc chương trình này đầu tư trên địa bàn huyện là hơn 131 tỷ đồng; trong đó, vốn đầu tư phát triển hơn 96 tỷ đồng và vốn sự nghiệp hơn 35 tỷ đồng Ngoài ra, các ngân hàng đã
hỗ trợ cho vay hộ nghèo và vay hỗ trợ lãi suất được hơn 159 tỷ đồng; riêng cho vay hỗ trợ 50% lãi suất của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn được 109 tỷ đồng cho 4370 hộ Từ nguồn vốn đầu tư, huyện đã hoàn thành 21 công trình và đang thực hiện nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân Toàn huyện đã có 2910 hộ gia đình
và 18 cộng đồng dân cư được giao rừng và đất lâm nghiệp với tổng diện tích hơn 9366 ha; có 809 hộ nghèo với hơn 4000 nhân khẩu được hỗ trợ hơn 140 tấn gạo Ngoài việc lập quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2010-
2020, huyện đã phân bổ hơn 28 tấn giống lúa lai; cung ứng 488 con bò cái
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
sinh sản và 840 con lợn nái Móng Cái cho các xã để góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp Sơn Động cũng thực hiện bước đầu có hiệu quả các chính sách tăng cường nguồn lực, dân số kế hoạch hóa gia đình, phát triển giáo dục và y tế, dạy nghề, nâng cao dân trí thông qua các lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật, quản lý, dạy nghề, đưa người đi xuất khẩu lao động…[16]
- Những tồn tại, vướng mắc trong quá trình triển khai:
Quá trình thực hiện Nghị quyết 30a ở huyện Sơn Động cũng gặp những khó khăn, vướng mắc như nguồn kinh phí của Trung ương bố trí cho huyện nghèo còn thấp so với nhu cầu thực tế của địa phương; việc bố trí và giải ngân vốn của một số dự án, chính sách thuộc chương trình này còn chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả thực hiện dự án Việc phê duyệt đầu tư công trình của các cấp nhìn chung còn rất chậm nên khó khăn cho chủ đầu tư triển khai thực hiện Một số đơn vị, địa phương của huyện được giao nhiệm vụ thực hiện Đề án này còn lúng túng trong quản lý tài chính, nghiệp vụ triển khai và tổ chức thực hiện Dự án Do Đề án này không bố trí kinh phí cho hoạt động quản lý nên việc thực hiện gặp khó khăn, chưa khuyến khích được tâm huyết của đội ngũ cán bộ trong quá trình thực hiện.[16]
- Một số giải pháp:
Để thực hiện có hiệu quả Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững, trong thời gian tới, huyện Sơn Động tiếp tục tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, nhân dân vùng hưởng lợi, nhất là các hộ dân tộc thiểu số hiểu rõ về mục đích,
ý nghĩa, các chính sách được thụ hưởng từ Dự án để họ có trách nhiệm cùng tham gia Chính quyền cơ sở kết hợp chặt chẽ với người dân địa phương trong việc sử dụng, bảo quản, khai thác có hiệu quả các công trình đã được đầu tư đưa vào sử dụng và hướng dẫn người dân sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
hỗ trợ trực tiếp cho các hộ để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, giảm nghèo nhanh và bền vững Tỉnh tăng cường công tác tập huấn cho cán bộ các cấp huyện, xã, thôn ở Sơn Động để nâng cao trình độ quản lý và năng lực chỉ
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
đạo, điều hành thực hiện các dự án, chính sách của chương trình này Các cấp chính quyền ở địa phương thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, nhất là công tác tự kiểm tra, giám sát của cấp huyện, cấp xã và người dân trong quá trình thực hiện các dự án, chính sách tại huyện
1.3.1.2 Chương trình 135
- Giai đoạn I: (1999 - 2005) Nhà nước đã đầu tư 53, 93 triệu đồng đầu tư
xây dựng 189 công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu, 12.910 triệu đồng đầu tư xây dựng 04 trung tâm cụm xã, 543 triệu đồng đầu tư cho công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ cơ sở cho các xã, thông ĐBKK Kết thúc giai đoạn I, có 4 xã (Bồng Am, Tuấn Đạo, Long Sơn, Thanh Sơn) đã hoàn thành mục tiêu của Chương trình
- Giai đoạn II: UBND huyện Sơn Động được giao tổng vốn đầu tư
103.985 triệu đồng Trong đó, đầu tư 94.710 triệu đồng xây dựng 326 công trình cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống cho đồng bào, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi cho trên 12.312 hộ nghèo kinh phí 15.644,25 triệu đồng Hỗ trợ 39.633 lượt học sinh con hộ nghèo ở các bậc học tổng kinh phí 12.045,74 triệu đồng,
hỗ trợ cải thiện vệ sinh môi trường cho 5.535 hộ nghèo kinh phí 5.535 triệu đồng Đầu tư 2.578 triệu đồng đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 13.074 người dân và cộng đồng, đào tạo nghề ngắn hạn cho 929 thanh niên DTTS Thực hiện QĐ 32/QĐ-TTg đã giải ngân 3.600 triệu đồng đầu tư vốn vay cho 722 hộ nghèo, Hỗ trợ trực tiếp cho 25.843 khẩu thuộc hộ nghèo kinh phí 2.384 triệu đồng theo QĐ 102/QĐ-TTg
Thông qua thực hiện CT 135 giai đoạn II và các chính sách dân tộc cơ sở
hạ tầng ở các xã thôn bản ĐBKK vùng đồng bào dân tộc được nâng lên một bước rõ rệt, có nhiều công trình phát huy được hiệu quả đem lại ý nghĩa to lớn
và thiết thực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đời sống của đồng bào không ngừng được được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm từ 60,47 % năm 2006 xuống còn 42,74 % năm 2009, bình quân 4,43 %/ năm
- Giai đoạn III (2011-2015): Chương trình tập trung ưu tiên đầu tư, hỗ
trợ 2 nội dung: Hỗ trợ cơ sở hạ tầng và Hỗ trợ phát triển sản xuất Cụ thể, về
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng: ” Năm 2012 bằng nguồn vốn Trung ương phân
bổ để thực hiện Chương trình 135, huyện Sơn Động dành gần 18 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng tại 13 xã đặc biệt khó khăn và 8 xã khu vực II Nguồn vốn này được sử dụng để xây mới và nâng cấp gần 50 công trình gồm: nhà lớp học trường mầm non, đường bê tông liên thôn, trạm bơm, kênh mương nội đồng, nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà ở giáo viên, đập dâng và kè chắn nước… Một số xã được đầu tư xây dựng nhiều là: An Bá, Hữu Sản, An Lạc, Chiên Sơn, Phúc Thắng, Thạch Sơn [17]
Về hỗ trợ sản xuất: Trong năm 2012, Huyện đã hỗ trợ nông dân 11 tấn giống lúa lai, hơn 20 nghìn con gà giống, 175 con lợn nái Móng Cái, 88 con trâu, 359 nghìn liều vắc-xin phòng bệnh cho vật nuôi, trồng 9 ha chè và 3 ha dong riềng Ngoài ra còn hỗ trợ nông dân mua máy làm đất và máy tuốt lúa Sang năm 2013 huyện sẽ phân bổ 5 tỷ đồng, dự kiến hỗ trợ nông dân mua
máy làm đất, nuôi gà, lợn và trâu, trồng chè giống mới Theo đó, huyện đã có
kế hoạch hướng dẫn nông dân đăng ký giống cây trồng, vật nuôi và mua công
cụ sản xuất theo chương trình hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bằng nguồn vốn chương trình 30a
Cơ chế phân bổ vốn đầu tư có điểm mới là các địa phương căn cứ vào điều kiện thực tế về vị trí địa lý, diện tích, dân số, số thôn bản, số hộ nghèo, kết cấu hạ tầng, điều kiện sản xuất, trình độ cán bộ cơ sở… tiến hành phân loại các xã thuộc diện đầu tư của Chương trình thành 3 loại: Xã loại III là xã có điều kiện khó khăn nhất trong các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh; xã loại II là xã có điều kiện khó khăn ở mức trung bình so với xã đặc biệt khó khăn của tỉnh; xã loại I
là các xã còn lại Trên cơ sở phân loại xã và vốn phân bổ của Trung ương, các địa phương xây dựng hệ số K để phân bổ vốn theo nguyên tắc xã khó khăn hơn được phân bổ vốn cao hơn
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Tồn tại, vướng mắc trong quá trình triển khai:
+ Tinh thần trách nhiệm, năng lực của các chủ đầu tư nhất là cấp xã còn nhiều hạn chế yếu kém dẫn đến chất lượng nhiều công trình không đảm bảo; công tác khảo sát thiết kế kỹ thuật, lập hồ sơ quyết toán công trình còn chậm
và chưa đúng quy định…, một số công trình còn có biểu hiện thất thoát lãng phí như công trình Trạm y tế xã Quế Sơn có quy mô không hợp lý gây lãng phí NSNN Trong quá trình thực hiện, một số xã còn lúng túng khi chọn đơn
vị tư vấn, khảo sát, thiết kế, dẫn đến tình trạng dù biết sai nguyên tắc nhưng vẫn nhờ bên B (nhà thầu xây dựng) hoặc cán bộ chuyên môn huyện làm hộ các thủ tục ban đầu Cũng do năng lực của chủ đầu tư còn hạn chế nên nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số xã khác không bảo đảm chất lượng, nghiệm thu sai đối tượng như công trình nhà chức năng Trường tiểu học xã Lệ Viễn.[ 17]
+ Mục tiêu “xã có công trình, dân có thêm việc làm, nâng cao thu nhập” chưa đạt yêu cầu Việc thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất còn lúng túng, mang tính bình quân, chia đều, sai đối tượng, không bảo đảm tính thời
vụ Nguyên nhân, do huyện chưa làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng đến các đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước; việc khảo sát, xét duyệt đối tượng thụ hưởng chưa chặt chẽ Đặc biệt, ngành chức năng và chủ đầu tư chưa phối hợp chặt chẽ trong việc đánh giá hiệu quả sau đầu tư đối với một số loại cây trồng, vật nuôi để nhân rộng
+ Chất lượng đào tạo nâng cao năng lực trình độ cho cán bộ cơ sở và công tác đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, bất cập…
- Giải pháp
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả Chương trình 135, thời gian tới, chính quyền, ngành chức năng cần tuyên truyền sâu rộng để người dân hiểu ý nghĩa của chương trình; Ban chỉ đạo Chương trình 135 các cấp phân công nhiệm vụ
cụ thể, xác định rõ trách nhiệm từng thành viên trong việc khảo sát địa bàn, kiểm tra, giám sát thực hiện các dự án; rà soát trình độ, năng lực của cán bộ
xã trong việc phân cấp làm chủ đầu tư, không giao cho các xã chưa đủ điều