1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang

114 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 8,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng trong sản xuất ngô nước ta vẫn còn những vấn đề đặt ra như: Năng suất vẫn còn thấp so với trung bình thế giới khoảng 86%, giá thành

Trang 1

MÙNG XUÂN HUYNH

SO SÁNH MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI VỤ THU NĂM 2012

VÀ VỤ XUÂN NĂM 2013 TẠI THỊ TRẤN TAM SƠN

HUYỆN QUẢN BẠ - HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

MÙNG XUÂN HUYNH

SO SÁNH MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI VỤ THU NĂM 2012

VÀ VỤ XUÂN NĂM 2013 TẠI THỊ TRẤN TAM SƠN

HUYỆN QUẢN BẠ - HÀ GIANG

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NGỌC NGOẠN

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Mùng Xuân Huynh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã hoàn thành bản luận văn Thạc sĩ Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới các thầy giáo, cô giáo trong Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học; Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo GS.TS Trần Ngọc Ngoạn

đã luôn quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và công tâm trong suốt quá trình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình sự biết ơn sâu sắc và xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi sự sơ xuất mong các thầy,

cô, các đồng nghiệp tham gia góp ý kiến./

Thái Nguyên,ngày tháng 11 năm 2013

Tác giả luận văn

Mùng Xuân Huynh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các chữ viết tắt vi

1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

4

1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới 5

1.3 8

1.4 Tình hình sản xuất ngô 16

Chương 2: CỨU 20

20

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 21

2.3.1 Nội dung nghiên cứu 21

2.3.2.Phương pháp nghiên cứu 21

2.3.2.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm 21

2.3.2.2 Quy trình kỹ thuật trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 22

2.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 22

2.5 Phương p 26

Chương 3: NGHIÊN CỨU VÀ 27

2013 27

Trang 6

kiện sản 2013 27

3.1.1.1 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ 28

3.1.1.2 Giai đoạn từ gieo đến tung phấn 30

3.1.1.3 Giai đoạn từ gieo đến phun râu 30

3.1.1.4 Khoảng cách tung phấn - phun râu (ASI) 31

31

2013 32

3.1.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao, chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô lai thí nghiệm 32

, số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm 35

2013 48

3.2.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống ngô lai thí nghiệm 48

3.2.2 45

3.2.2.1 Trạng thái cây của các giống ngô thí nghiệm 45

3.2.3.2 Trạng thái bắp của các giống ngô thí nghiệm 47

3.2.3.3 Độ bao bắp 47

2011 54

54

54

3.3.1.2 Chiều dài bắp của các giống ngô lai thí nghiệm 55 3.3.1.3 Đường kính bắp của các giống ngô lai thí nghiệm

Trang 7

3.3.1.4 Số hàng hạt/ bắp của các giống ngô lai thí nghiệm 57

3.3.1.5 Số hạt/hàng của các giống ngô lai thí nghiệm 58

3.3.1.6 Khối lượng 1000 hạt của các giống ngô lai thí nghiệm 58

59

59

61

Chương 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

4.1 Kết luận 66

4.2 Đề nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của thế giới giai đoạn 2005 - 2010 5

Bảng 1.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 7

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 10

2012 - 2015 11

h Hà Giang giai đoạn 2001 - 2012 17

Bảng 2.1: Nguồn gốc các giống ngô lai tham gia thí nghiệm 20

Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai thí nghiệm 28

của các giống ngô lai thí nghiệm 33

Bảng 3.3: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô lai thí nghiệm vụ Thu 201 2013 40

Bảng 3.4: Tốc độ ra lá của các giống ngô lai thí nghiệm vụ Xuân 2013 37

Bảng 3.5: Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các giống ngô lai 2012 và vụ Xuân 2013 43

Bảng 3.6: Tỷ lệ nhiễm sâu bệnh của các dòng giống ngô lai thí nghiệm vụ Thu 2012 và Xuân 2013 50

Bảng 3.7: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô lai thí nghiệm vụ Thu 2012 và Xuân 2013 546

Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai thí nghiệm vụ Thu 2012 56

Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành năng suất các giống ngô lai thí nghiệm vụ Xuân 2013 57

2013 60

Trang 9

IPRI : Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới

QCVN 01-56; 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo

nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô

Trang 10

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngô (Zea mays L.)

,

i Cây ngô còn là cây thực phẩm có giá trị cao về dinh dưỡng, người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau - một thức ăn cao cấp đang được ưa chuộng

Trên thị trường quốc tế, ngô đứng hàng đầu trong danh sách những mặt hàng có khối lượng hàng hóa giao dịch ngày c

(2n = 10), các giống, các dòng dễ lai tạo và có ưu thế lai cao, đồng thời công tác gây đột biến ngày càng được đẩy mạnh nhằm tạo ra các giống ngô giàu lysine và cải tiến thành phần hóa học

300 năm, tuy số lao động làm nghề nông chiếm gần 80%, nhưng khả năng thâm canh, sử dụng giống, áp dụng khoa học kỹ thuật vẫn chưa được chú trọng Bởi lẽ đó, năng suất và chất lượng ngô chưa cao Mặt khác trong 10 năm trở lại đây sản xuất của nước ta đã không ngừng tăng lên cả về diện tích và

Trang 11

, cây ngô là cây lương thực chính chỉ đứng sau cây lúa,

, Với địa hình chủ yếu là đồi núi, bị chia cắt phức tạp, tưới tiêu phụ thuộc vào nước trời Theo số liệu thống kê năm 2012, diện tích n 52,5 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 32,1 tạ/ha, sản lượng đạt 168,7 nghìn tấn

thấp

, các biện pháp kỹ

Vấn đề an ninh lương thực được

Trong điều kiện

tăng diện tích lúa gặp nhiều khó khăn, thì cây ngô đóng vai trò quan trọng

Vì vậy, để nâng cao năng suất và sản lượng ngô, cần sử dụng các giống ngô lai có năng suất cao, có khẳ năng chịu hạn và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới Để tìm ra được những giống ngô ưu việt nhất để đưa vào sản xuất đại trà, cần tiến hành quá trình nghiên cứu, đánh giá loại bỏ những giống không phù hợp, giúp cho quá trình đánh giá chọn tạo giống đạt hiệu quả

Trang 12

hợp với điều kiện địa phương góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, bổ sung vào cơ cấu giống ngô lai tại địa phương

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai

- Đánh giá được khả năng chống chịu sâu bệnh, chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất lợi của các giống ngô lai nghiên cứu

- Đánh giá được các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô lai nghiên cứu

-

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Những năm gần đây, chương trình ngô lai quốc gia đã có sự phát triển mạnh mẽ về diện tích, năng suất, sản lượng góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực trong nước Việc tăng cường đầu tư thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học kỹ

Trong sản xuất nông lâm nghiệp, giống có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Tuy nhiên một giống chỉ được coi là thực sự phát huy hiệu quả khi có tiềm năng, năng suất cao và thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng

, khả năng thích nghi rộng

nói chung và huyện Quản Bạ nói riêng T

Trang 14

tài: “So sánh một số giống ngô lai vụ Thu năm 2012

-, cũng như của huyện

1.2 Hình hình sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu ngô trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có khoảng 75 nước trồng ngô bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất 100.000

ha ngô Trong 25 nước sản xuất ngô hàng đầu thế giới có 8 nước phát triển,

17 nước đang phát triển Có khoảng 200 triệu nông dân trồng ngô trên toàn cầu, 98% là nông dân ở các nước đang phát triển Mặc dù diện tích trồng ngô của Châu Á nhỏ hơn Châu Mỹ La tinh nhưng 75% số người trồng ngô là ở Châu Á, 15% - 20% ở Châu Phi và 5% ở Châu Mỹ La tinh (FAOSTAT, 2009).[16]

Trong các cây ngũ cốc thì ngô đứng thứ ba về diện tích, đứng đầu về năng suất và sản lượng Ngành sản xuất ngô trên thế giới liên tục tăng từ đ

đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc

độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Vào năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới đạt 20 tạ/ha, năm 2004, đạt 49,9 tạ/ha năm 2007, theo USDA, diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với

157 triệu ha, năng suất 49,6 tạ/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 789,5 triệu tấn, năm 2012 diện tích ngô đạt 176,99 triệu ha, năng suất 49,4 tạ/ha và sản lượng đạt 875,1 triệu tấn

Trang 15

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của thế giới giai đoạn 2005 - 2012 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

Theo dự báo của việc nghiên cứu chương trình lương thực thế giới, năm

2020 tổng nhu cầu ngô của thế giới là 825 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% sản lượng ngô làm lương

Trang 16

thực nhưng ở các nước đang phát triển ngô sử dụng làm lương thực chiếm 22%, (Trần Hồng Uy và cs, 2002) [13]

Thực tế cho thấy, nhu cầu ngô trên thế giới từ 2007 đến 2020 sẽ thay đổi rất lớn, đặc biệt ở các nước phát triển Trong đó Đông Á và cận Sahara - Châu Phi là hai khu vực có mức độ thay đổi lớn nhất dự báo nhu cầu năm 2020 tăng 85% và 79% Nguyên nhân là do dân số thế giới tăng nhanh, nhu cầu sử dụn

chăn nuôi (IRRI 2003).[18]

Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến 2020 (là 852 triệu tấn) chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển Trong khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước đang phát triển Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình bằng cách

thúc đẩy sản xuất ngô trong nước phát triển

Bảng 1.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020

(triệu tấn)

Năm 2020 (triệu tấn) % thay đổi

Trang 17

canh tối ưu nhất nên năng suất và sản lượng ở các nước này có sự tăng trưởng rõ rệt như: Mỹ, Pháp…

Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, ngô, lúa mỳ, lúa nước là những cây thực phẩm vẫn chiếm vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn nhân loại Vì vậy, chọn các giống ngô năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật canh tác là một trong những giải pháp của nhân loại về vấn đề lương thực

Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 2007, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó các nước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020 (85%) Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do dân số tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng mạnh, từ đó đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi

Như vậy trên toàn cầu trong những năm gần đây và thời kì sắp tới diện tích và thị trường ngô không có biến động lớn, chỉ có năng suất ngô sẽ tăng tương đối nhanh Năng suất ngô tăng mạnh sẽ đem lại sự tăng về sản lượng đặc biệt là các nước đang phát triển có sự tăng diện tích ở những nơi có khả năng gieo trồng ngô nhưng là một tỉ lệ nhỏ

Hiện nay thị trường ngô trên thế giới được đánh giá là một thị trường tương đối khả quan Với tình hình sản xuất và tiêu thụ hiện nay thì cây ngô sẽ càng khẳng định được vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới

1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và ô ở Việt Nam

Trước những năm 1980 năng suất ngô ở Việt Nam chỉ đạt trên 10 tạ/ha, với diện tích hơn 200.000 ha, đến đầu năm 1980 năng suất cũng chỉ đạt 11 tạ/ha và sản lượng hơn 400.000 tấn (do vẫn trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu)

Trang 18

Năm 1991 diện tích trồng ngô lai chưa đến 1% trên hơn 400.000 ha trồng ngô, năm 2007 giống ngô lai chiếm khoảng 90% trong số hơn 1.000.000 ha Năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới trong suốt 30 năm qua Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34%

so với trung bình thế giới (11/32 tạ/ha), năm1990 bằng 42% (15,5/37 tạ/ha)

2000 bằng 60% (25/42 tạ/ha), năm 2010 đã đạt 83,6% (43,1/51,5 tạ/ha), năm

2012 đạt 86,9%(42,9/44,5 tạ/ha)

Năm 1994 sản lượng ngô Việt Nam vượt ngưỡng 1.000.000 tấn, Năm

2000 vượt ngưỡng 2.000.000 triệu tấn và năm 2012 chúng ta đã đạt diện tích, năng suất và sản lượng cao nhất từ trước đến nay Diện tích: 1.118,2 ha, năng suất 42,9 tạ/ha, sản lượng 4.803,2 tấn

Năm 2002, diện tích ngô nước ta chỉ là 810,4 nghìn ha, năng suất 28,6 tạ/ha, sản lượng 2.314,7 nghìn tấn nhưng năm 2012 diện tích ngô đã tăng lên đạt 1.118,2 ha nghìn ha, năng suất đạt 42,9 tạ/ha và sản lượng đạt 4.803,2 nghìn tấn Như vậy chỉ trong vòng 10 năm, diện tích ngô đã tăng lên 307,8 nghìn ha, năng suất tăng lên 14,3 tạ/ha, sản lượng là 2.488,5 nghìn tấn

Chương trình nghiên cứu phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao vì có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới Năm

1990 là năm đầu tiên Việt Nam áp dụng công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai với diện tích thử nghiệm 5 ha, đến năm 2012 diện tích trồng ngô lai chiếm hơn 90% diện tích

Mặc dù đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng trong sản xuất ngô nước ta vẫn còn những vấn đề đặt ra như: Năng suất vẫn còn thấp so với trung bình thế giới (khoảng 86%), giá thành năng suất còn cao, sản lượng chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước những năm gần đây phải nhập từ 500 -

1000 nghìn tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi (Theo số liệu thống kê,

Trang 19

trong năm 2012, nhập khẩu ngô Việt Nam là 1.614.473 tấn)

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Nhiều giống ngô lai được nhân rộng, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất, sản phẩm giống cạnh tranh được với sản phẩm giống của ngoại nhập đó là

Trang 20

những nét phác thảo hết sức sơ bộ về thành quả mà Viện nghiên cứu ngô đã đạt được nhờ sự gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với sản xuất

Công tác chuyển gi

thực tế sản xuất kiểm nghiệm và phải được nông dân chấp nhận Hiện nay, hàng năm Viện cung ứng khoảng 5000 tấn hạt giống ngô lai cho cả nước (chiếm khoảng 60% thị phần) với giá trung bình hạt ngô giống là 60.000 đồng/kg Nếu so với giá ngô lai của nước ngoài là trên 70.000 đ/kg (thậm chí

có giống tới 100.000 đ/kg) thì hàng năm Viện đã tiết kiệm cho nhân dân khoảng hai chục tỷ đồng

Trang 21

lẽ sản xuất thì luôn đòi hỏi những giống lai có thế hệ mới tốt hơn với năng suất cao, chất lượng tốt hơn để đáp ứng lương thực cho người và thức ăn cho gia súc đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia

* Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống ngô ở Việt Nam:

Thập kỷ 90 công tác chọn tạo giống ngô lai được các nhà khoa học coi là nhiệm vụ chiến lược chủ yếu Cuộc cách mạng về ngô lai được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt do áp dụng thành tựu về ngô lai vào sản xuất

Chính vì vậy, nó đã làm thay đổi tận gốc những tập quán canh tác lạc hậu, góp phần đưa nghề trồng ngô nước ta đứng vào hàng ngũ những nước tiên tiến Châu Á, chỉ trong vòng 10 năm, nước ta đã tạo ra nhiều giống lai quy ước có năng suất, chất lượng không thua kém các giống ngô lai nước ngoài Các giống lai như: LVN4, LVN10, LVN12, LVN17, LVN23, LVN24, LVN25, đã góp phần quyết định đến năng suất ngô của Việt Nam trong những năm gần đây Đó là kết quả của sự định hướng đúng đắn, sự chỉ đạo sát sao và kiên quyết của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

Bộ Khoa học và Công nghệ, là kết quả của những chính sách có tính chất đòn bẩy của nhà nước và địa phương, của sự phát huy tối đa về lực lượng, đi tắt đón đầu kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của Viện nghiên cứu ngô Trung ương và một số Viện nghiên cứu khác phối hợp với cục Khuyến nông

và các công ty giống Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất là kết quả của sự lao động vô cùng sáng tạo của hàng triệu nông dân và được sự cổ vũ mạnh mẽ của hệ thống thông tin đại chúng Bắt đầu từ những năm 1993 nước

ta mới bắt đầu đưa giống ngô lai vào sản xuất đại trà, đến nay đã đạt được những bước phát triển lớn, sự phát triển ngô lai ở nước ta đã được Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) và Tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc (FAO) cũng như các nước trong khu vực đánh giá cao Trong

Trang 22

vòng 7 - 8 năm chúng ta đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao, đặc biệt là ứng dụng thành tựu công nghệ sinh học của thế giới vào nghiên cứu chọn tạo giống

Trong hơn 20 năm qua công tác chọn tạo giống ngô ở Việt Nam đã đề cập những vấn đề sau và có thành công bước đầu

- Thu thập, bảo tồn giống ngô địa phương

- Thu thập, nghiên cứu các giống ngô nhập nội

- Nghiên cứu phục tráng các giống ngô địa phương

- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô thụ phấn tự do

- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô lai

- Ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật về công nghệ sinh học trong chọn tạo giống ngô

Điều tra thu thập, bảo tồn và phân loại 585 nguồn nguyên liệu ngô Chọn tạo và đưa ra sản xuất hàng loạt các giống ngô thụ phấn tự do, đặc biệt trong giai đoạn 1985 - 1995: giống MSB49, TSB2, HLS công nhận năm 1987; TSB1 công nhận giống năm 1990; Q2(1991), CV1, TSB3 (1996), nếp MX4, MX6, MX10 (2010),…

Trang 23

bằng phương pháp này, một số dòng đã tham gia vào chương trình lai thử Các nghiên cứu về ngô đơn bội nhân tạo đã bắt đầu tại Viện Di truyền Nông nghiệp năm 1995 Viện đã tập trung nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi cấy bao phấn để tạo dòng đồng hợp tử phục vụ công tác chọn tạo giống ngô, kết quả khá ổn định và có hiệu quả ở một số giống

Những nghiên cứu nói trên là cơ sở để lai tạo ra hàng loạt các giống ngô lai mới Trong giai đoạn đầu của chương trình ngô lai Việt Nam nhiều giống ngô lai không quy ước đã ra đời như: LS3, LS5, LS6, LS7, LS8 gồm những giống chín sớm, chín trung bình, chín muộn (năng suất 3 - 7 tấn/ha) Bộ giống này nhanh chóng được mở rộng triển khai trên toàn quốc, hàng năm trồng trên 80 nghìn ha, năng suất tăng 1 tấn/ha

Năm 2000, Viện nghiên cứu ngô tiếp tục đưa ra thử nghiệm giống ngô lai HQ2000 có chất lượng cao, hàm lượng Protein cao hơn hẳn ngô thông thường, đặc biệt là hai loại axit amin thường thiếu ở ngô là Lyzin và Triptophan, nhờ vậy mà nâng cao được giá trị dinh dưỡng của ngô

Trên cơ sở sáng tạo, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại đi thẳng vào công nghệ cao, nhờ đó mà một loạt giống ngô lai quy ước đã ra đời được hội đồng khoa học công nhận và được phép đưa vào sản xuất như: LVN4 (là giống chịu rét, chịu hạn, chua, chịu phèn và có khả năng chống đổ khá, thích hợp cho những vùng khó khăn), LVN5 (giống có khả năng chống đổ, chịu rét và chống sâu bệnh khá), LVN10, LVN12 (có đặc điểm chống sâu đục thân khá, chống bệnh đốm lá, không hở bắp, chống khô vằn trung bình), LVN17 (giống có khả năng chịu rét, chịu phèn, chống đổ, sâu bệnh tốt), LVN20, LVN23 (ngô rau) Những giống ngô này có thể cho năng suất từ 5 -10 tấn/ha, chất lượng tốt, tính chống chịu cao, thích hợp với nhiều vùng sinh thái và mùa vụ khác nhau, không kém các giống ngô nước ngoài Năm 1994 có bốn giống ngô lai chín sớm, chín trung bình được phép khu vực hoá: LVN24, LVN25, LVN32, LVN33, (Trương Đích và CS, 2002).[4]

Trang 24

Trong năm 2002, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương

đã tiến hành khảo nghiệm 43 giống ngô mới nguồn gốc lai tạo trong nước và một số giống nhập nội ở phía Bắc kết quả là các giống ngô đã khảo nghiệm 2

- 3 vụ có triển vọng đề nghị mở rộng diện tích sản xuất thử để khu vực hoá và công nhận chính thức là: Nhóm chín sớm gồm có LVN9, LVN99, NK4300; Nhóm chín trung bình bao gồm các giống T9, CPA963, TX2001; Nhóm chín muộn LVN98, LCH9 Còn các giống LVN35, NMH2002, C5252, TC47HB, NK52 cần được khảo nghiệm cơ bản kết hợp với khảo nghiệm sản xuất

Cũng trong năm này tại Trại khảo nghiệm giống cây trồng Miền Trung

đã khảo nghiệm một số giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định thời gian chín trung bình và chống đổ tốt có nhiều đặc tính nông sinh học quý, có triển vọng cho sản xuất bao gồm: B9999, LVN98, LVN9, VN9860, MT26, CP

989, trong đó các giống B9999, LVN98, VN9860, MT26, CP989 cần được khảo nghiệm sản xuất tại các tỉnh trong vùng (Trần Văn Mạnh, Lê Thị Cúc,

Lê Quý Tường và CTV 2003)

Còn tại phòng khảo nghiệm giống cây trồng quốc gia phía Nam đã tiến hành khảo nghiệm 15 giống ngô lai có triển vọng nhất của các công ty trong

và ngoài nước tại vùng Đông Nam Bộ và Cao nguyên Nam Trung Bộ đã xác định được một số giống ngô có triển vọng như: C5252, NK46, NT5449, NT6271, A8864, VN8960, DK171, H13V00 (kết quả khảo nghiệm và kiểm nghiệm giống cây trồng năm 2003) Bên cạnh công tác khảo nghiệm các giống ngô mới thì công tác lai tạo các giống ngô thích hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau với nhiều đặc tính nông học quý được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Trong giai đoạn 1995 – 2002, nhóm nghiên cứu ngô thuộc Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương đã lai tạo giống ngô lai đơn T9 và giống ngô lai ba T7 triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, trong đó giống T9 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống khu vực hoá tại Miền Trung tháng 9 - 2002

Trang 25

Theo Dương Văn Sơn (dự án CIAT - PRDU) tiến hành thí nghiệm so sánh 6 giống ngô (QP1, QP2, QP3, QP4, QP5, QP6) thụ phấn tự do có chất lượng protein cao (QPM) của Viện nghiên cứu ngô trung ương, thực hiện tại

xã Hùng Đức, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Các giống ngô QPM sử dụng làm thức ăn cho gia súc làm tăng được hiệu quả của chăn nuôi (Nguyễn Thị Minh Huệ, 2007).[7]

Như vậy, trong hơn hai thập kỷ qua, những tiến bộ kỹ thuật mới được đưa vào sản xuất góp phần không nhỏ vào việc tăng năng suất và sản lượng ngô nước ta Song song với việc giới thiệu giống mới là các quy trình kỹ thuật canh tác kèm theo Đã có nhiều công trình nghiên cứu về mật độ, phân bón, chế độ nước được ứng dụng trong sản xuất ngô

1.5 Tình hình sản xuất và t ngô

Sau hơn 20 năm đổi mới tình hình kinh tế nước ta có nhiều thay đổi sâu sắc Cùng chung với sự thay đổi đó các tỉnh miền núi phía Bắc ngày càng phát triển đi lên Hà Giang là tỉnh miền núi cực Bắc của Việt Nam với tổng dân số 737.768 người Trong các cây trồng chính thì cây ngô là cây trồng lương thực hàng đầu Ngoài việc sử dụng ngô làm thức ăn cho gia súc, ngô còn được sử dụng làm thức ăn cho người (Mèn Mén) cho nên cây ngô có vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Hà Giang Trong những năm gần đây sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, trong đó cây ngô được xác định là cây trồng hàng hóa có thế mạnh của tỉnh, hàng năm cơ cấu giống lai chiếm tỷ lệ tương đối cao trong cơ cấu sản xuất, và

đã thu được nhiều kết quả nhất định nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất ngô cho nên diện tích,

Trang 26

năng suất và sản lượng ngô trên địa bàn toàn tỉnh đã tăng nhanh trong những

Sản lượng (nghìn tấn )

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Hà Giang, 2012.[3]

Qua bảng 1.5 cho thấy: Từ năm 2001 đến năm 2012, diện tích ngô của tỉnh Hà Giang tăng từ 43,2 nghìn ha đến 52,51 nghìn ha Năng suất ngô của tỉnh tăng đều từ 18,3 ta/ha năm 2001 lên 32,1 ta/ha vào năm 2012, tăng 13,8 tạ/ha so với năm 2001 Sản lượng tăng từ 79.200 tấn năm 2001 lên 168.705 tấn vào năm 2012, tăng 111.564 tấn so với năm 2001.Tuy nhiên năng xuất ngô của tỉnh Hà Giang vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất ngô của cả nước,

Trang 27

năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 74,7 % năng suất ngô của cả nước Sản lượng ngô năm 2012 đạt 168,705 nghìn tấn Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây ở Hà Giang, cây ngô đã được Đảng bộ và Chính quyền tỉnh chú trọng đầu tư phát triển và đạt được những thành tựu như vậy là nhờ

áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như; sử dụng giống mới, kỹ thuật canh tác Tuy nhiên, sản xuất ngô ở Hà Giang cần được quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn nữa như: tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồng ngô trên đất đồi bãi ở vụ Hè Thu,

sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của tỉnh

Ngoài việc thâm canh ngô lai ở những vùng thuận lợi, cần tăng cường

sử dụng các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở những vùng khó khăn, nhằm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng ngô, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân Đặc biệt phải tiến hành nghiên cứu các tổ hợp phân bón cho ngô lai, kết hợp nghiên cứu các phương thức trồng xen và mở rộng những nghiên cứu ra sản xuất nhằm đảm bảo nhu cầu lương thực, đồng thời nâng cao được chất lượng lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao và góp phần giảm giá thành sản phẩm ngành chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế

Trong những năm gần đây sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, trong đó cây ngô được xác định là cây trồng hàng hóa

có thế mạnh của tỉnh, hàng năm cơ cấu giống lai chiếm tỷ lệ tương đối cao trong cơ cấu sản xuất, cơ cấu giống lai chủ yếu gồm các loại giống: LVN10; Bioseed 9698, CP 888, CP989, CP999, NK4300, NK66, NK54, DK 9901, DK9955, DK9919, Tuy nhiên việc nghiên cứu và đánh giá các giống ngô lai chưa được tổ chức hệ thống bài bản, các tổ hợp ngô lai chịu hạn chưa được nghiên cứu để khuyến cáo cho sản xuất cho nên năng suất ngô của Hà Giang còn thấp so với mặt bằng năng suất ngô của toàn quốc Trước thực trạng về sản xuất ngô tại Hà Giang để

Trang 28

y ngô trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, song vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu phát triển ngô, đặc biệt là khi nước ta trở thành thành viên của WTO Năng suất ngô của nước ta vẫn thấp

so với trung bình thế giới, năng suất thực tế thấp hơn nhiều so với năng suất tiềm năng; giá thành sản xuất ngô ở nhiều vùng vẫn còn cao; bộ giống ngắn ngày, chống chịu tốt, đặc biệt là hạn hán và một số đối tượng sâu bệnh hại chính chưa nhiều; các giống ngô đường và nếp lai chưa có; nhiều biện pháp

kỹ thuật canh tác chưa được nghiên cứu sâu; sản xuất ngô ở một số vùng đang gây nên tình trạng suy thoái môi trường; công nghệ bảo quản và chế biến ngô chưa phát triển, sản phẩm từ

ạo ở phía Bắc đã có thể cạnh tranh được với giống của các công ty nước ngoài, ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống đã đạt được một số kết quả bước đầu, song vẫn còn tụt hậu so với những thành tựu

mà thế giới đã đạt được kể cả trong sử dụng chỉ thị phân tử và biến nạp gen,

-, đặc biệt chú ý việc kết hợp với các địa phương nhằm phát triển nhanh các kết quả nghiên cứu ra sản xuất một cách hiệu quả

Trang 29

Chương 2

2.1.

14 giống và tổ hợp trên là các lai đơn do Viện Nghiên cứu ngô chọn tạo, là các tổ hợp ngô tẻ vàng thuộc nhóm có thời gian sinh trưởng ngắn và trung ngày Trong số đó, có 5 giống (đã được Bộ NN& PTNT công nhận) là VN01, VN03,VN04,VN07,VN08 còn lại là các tổ

Bảng 2.1: Nguồn gốc các giống ngô lai tham gia thí nghiệm

Trang 30

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm hình thái, sinh lý

- Tình hình sâu bệnh hại, khả năng chống chịu trong hai vụ nghiên cứu

- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

2.3.2.Phương pháp nghiên cứu

2.3.2.1.Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm thực hiện trên đồng ruộng của nông dân được bố trí theo

khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), gồm 16 công thức,

: 14 m 2 (5m x 2,8m) Số ô thí nghiệm: 16 x 3 = 48 ô, gieo 4 hàng/ô,các giống được gieo liên tiếp nhau

Trang 31

2.3.2.2 Quy trình kỹ thuật trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm

Tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô QCVN 01-56; 2011/BNNPTNT

- Mật độ: 5,7 vạn cây/ha

- Khoảng cách: 70cm × 25cm

- Phân bón:

+ Phân h : 8 - 10 tấn/ha

+ Phân vô cơ: bón theo công thức150kg N + 80kg P2O5 + 80kgK2O/ha

(tương đương 326 kg urea, 470 kg super lân, 133 kg kaly Clorua/ha)

+ Bón lót: Bón toàn bộ phân chuồng và phân lân + ¼ lượng đạm

+ Bón thúc lần 1 khi ngô 4-5 lá: 1/4 lượng đạm+ ½ lượng Kaly

+ Bón thúc lần 2 khi ngô có 8-9 lá: 1/2 lượng đạm+ ½ lượng ka ly

- Chăm sóc:

+ Khi ngô có 4-5 lá, xới nhẹ quanh gốc kết hợp vun lần 1

+ Khi ngô 8-9 lá xới xáo diệt cỏ dại kết hợp bón thúc lần 2 và vun cao chống đổ

- Tưới tiêu: Đảm bảo đủ ẩm cho ngô trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển chú ý vào các thời kỳ 6-7 lá, xoắn nõn, trổ cờ, chín sữa

- Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh và sử dụng thuốc hóa học của nghành bảo vệ thực vật

- Thu hoạch: Khi ngô chín (chân hạt có vết đen hoặc 75% cây có lá bi

khô), chọn ngày nắng ráo để thu hoạch

2.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu

Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm được tiến hành theo hướng dẫn của CIMMYT, Viện nghiên cứu ngô, QCVN 01-56; 2011/BNNPTNT

Trang 32

a) Chọn cây theo dõi

Cây theo dõi được xác định khi ngô 6-7 lá Theo dõi 5 cây/1 giống ở mỗi lần nhắc lại, lấy 5 cây liên tiếp nhau từ cây thứ 1đến cây thứ 5 ở giữa của mỗi ô

b) Chỉ tiêu sinh trưởng

- Ngày gieo: Ngày bắt đầu gieo hạt

- Ngày mọc: Ngày có 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất

(mũi chông), quan sát toàn bộ số cây/ô

- 3 lá: Được tính từ khi có > 50% số cây đã được 3 lá/ô

- 7 lá: Được tính từ khi có > 50% số cây đã được 7 lá/ô

- Ngày trổ cờ: : Được tính từ khi 50% số cây trong ô tung phấn (khi

hoa nở được 1/3 trục chính), quan sát và đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô

(tính những cây có râu nhú dài 2 - 3cm), quan sát và đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô

- Ngày chín sinh lý: Được tính khi 75% cây có lá bi khô hoặc chân

hạt có chấm đen, quan sát và đếm 5 cây ở hàng giữa của mỗi ô

c) Chỉ tiêu hình thái

- Động thái tăng trưởng chiều cao cây

Được đo 5 lần, lần 1 sau trồng 20 ngày, lần 2, 3, 4, 5 tương ứng với thời gian sau trồng 30, 40, 50, 60 ngày Đo từ mặt đất đến mút lá

- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc sát mặt đất đến đốt phân nhánh cờ đầu tiên của 5 cây ở hai hàng giữa của mỗi ô, (đo vào giai đoạn chín sữa)

- Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ gốc sát mặt đất đến đốt đóng bắp trên cùng (thứ nhất) của 5 cây ở hàng giữa của mỗi ô, đo vào giai đoạn chín sữa

- Số lá/cây(lá): Đếm số lá/cây, để xác định chính xác đánh dấu lá thứ 5, thứ 10; 15;

- Diện tích lá/cây: Đo diện tích lá khi cây thụ phấn, thụ tinh xong, tiến hành đo chiều dài và chiều rộng của tất cả các lá/cây Sau đó áp dụng công thức tính diện tích lá của Montgomery

Trang 33

L L

12

L1: Số lá sau trồng 20 ngày

L2: Số lá sau trồng 30 ngày

T1: Thời gian sau trồng 20 ngày

Tốc độ ra lá sau trồng 40, 50, 60 ngày tính tương tự như 30 ngày

- Trạng thái cây: Quan sát đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển,

độ đồng đều về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, chống đổ của 5 cây ở hàng giữa của mỗi ô theo các thang điểm từ 1 - 5 (điểm

1 - rất tốt, 2 - Khá, 3 - Trung bình, 4 - Kém, 5 - Rất kém), quan sát vào thời kỳ ngô ở giai đoạn chín sáp

- Trạng thái bắp: Đánh giá khi thu hoạch cho điểm 1 - 5 (điểm 1 là rất

tốt, điểm 5 là xấu) dựa vào dạng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh (điểm 1 bắp đồng đều - điểm 5 bắp kém )

- Độ bao bắp: Quan sát và đánh giá 5 bắp của cây hàng giữa của mỗi ô theo thang điểm từ 1-5; điểm 1 rất kín, điểm 2 kín, điểm 3 hơi hở, điểm 4 hở, điểm 5 rất hở, quan sát vào thời điểm bắp chín sáp

- Dạng hạt: Quan sát các cây mẫu khi vừa bóc lá bi ra đánh giá theo thang điểm từ 1-5; điểm 1 hạt dạng đá, điểm 2 hạt dạng bán đá, điểm 3 hạt dạng bán răng ngựa, điểm 4 hạt dạng răng ngựa, quan sát vào thời điểm thu hoạch

- Mầu sắc hạt: Quan sát 15 cây mẫu khi vừa bóc lá bi ra đánh giá theo thang điểm từ 1-7; điểm 1 mầu trắng trong, điểm 2 mầu trắng đục, điểm 3 mầu vàng nhạt, điểm 4 mầu vàng, điểm 5 mầu vàng cam, điểm 6 mầu đỏ,

Trang 34

điiêm 7 mầu tím, quan sát vào thời điểm thu hoạch

d) Chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

- Số bắp/cây: Đếm tổng số bắp hữu hiệu/tổng số cây hữu hiệu của ô vào thời điểm thu hoạch ngô

- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đáy bắp đến mút bắp của 15 cây mẫu, chỉ

đo ở bắp thứ nhất của cây mẫu, đo vào thời điểm thu hoạch ngô

- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp của cây mẫu, chỉ đo ở bắp thứ nhất của cây mẫu, đo vào thời điểm thu hoạch ngô

-/hàng Đếm vào thời điểm thu hoạch

- Số hạt/hàng: Đếm số hạt của hàng có chiều dài trung bình của bắp ở ở giữa bắp trên 15 cây mẫu, chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu Đếm vào thời điểm thu hoạch

- Tỷ lệ khối lượng hạt/khối lượng bắp tươi không có lá bi (%): Tính tỷ

lệ khối lượng hạt ở độ ẩm 14% trên khối lượng bắp tươi của 5 cây mẫu/ô, lấy

1 chữ số sau dấu phẩy

- Khối lượng 1000 hạt (gram): Cân 3 mẫu, mỗi mẫu 100 hạt ở độ ẩm 14% lấy 1 chữ số sau dấu phẩy

- Công thức tinh năng suất lý thuyết

10000

â â

x h¹t/hµng sè

x hµng/b¾p sè

x y b¾p/c Sè

Trang 35

-)

- Đổ gãy thân (điểm): Đếm các cây bị gẫy ở đoạn thân phía dưới bắp khi thu hoạch; Điểm 1: Tốt: < 5 % cây gãy; Điểm 2: Khá: 5 - 15% cây gãy; Điểm 3:Trung bình:15 - 30% cây gãy; Điểm 4: Kém: 30 - 50% cây gãy;Điểm 5: Rất kém: > 50% cây gãy

g) Chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh

Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính được đánh giá hoặc đếm các cây bị

sâu bệnh/ô vào giai đoạn chín sáp

- Sâu đục thân (Chilo partellus), sâu đục bắp (Heliothis zea và H armigera): Ghi số cây bị sâu đục lỗ (chủ yếu là đục dưới bắp), đánh giá mức

độ bị sâu đục thân hại theo thang điểm từ 1 - 5; Điểm 1: < 5% số cây, số bắp

bị sâu; Điểm 2: 5 - < 15% số cây, số bắp bị sâu; Điểm 3: 15 - < 25% số cây,

số bắp bị sâu; Điểm 4: 25 - < 35% số cây, số bắp bị sâu; Điểm 5: 35 - < 50%

số cây, số bắp bị sâu

- Rệp cờ (Rhopalosiphum maidis): Điểm 1- 5; Điểm1: Không có rệp;

Điểm 2: Rất nhẹ, có từ một - một quần tụ rệp trên lá, cờ; Điểm 3: Nhẹ, xuất hiện một vài quần tụ rệp trên lá, cờ; Điểm 4: Trung bình, số lượng rệp lớn, không thể nhận ra các quần tụ rệp; Điểm 5: Nặng, số lượng rệp lớn, đông đặc,

lá và cờ kín rệp

- Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani f.sp Sasakii) (%): Tỷ lệ cây bị

bệnh(%) = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra) × 100

Trang 36

Chương 3 VÀ

3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các giống ngô lai thí nghiệm

h

Phát triển là sự thay đổi về chất bên trong tế bào, mô, cơ quan, dẫn đến thay đổi về hình thái, chức năng của chúng

,

Quá trình sinh trưởng, phát triển của ngô được chia thành 2 giai đoạn: sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực

- Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng - Vegetative (V): là giai đoạn đầu tiên của cây ngô Khởi đầu của giai đoạn này là thời kỳ nảy mầm và mọc (Ve)

và kết thúc là thời kỳ trỗ cờ (Vt)

- Giai đoạn sinh trưởng sinh thực - Reproductive (R): Được tính từ khi phun râu đến khi ngô chín sinh lý Giai đoạn này gắn liền với sự phát triển của hạt ngô, từ lúc hình thành hạt đến khi chín sinh lý

ngô lai Thu

2012 2013

Thời gian

Trang 37

Việc theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển và thời gian sinh trưởng không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí mùa vụ và xác định được các kỹ thuật chăm sóc có hiệu quả mà còn có ý nghĩa trong việc lựa chọn các giống phù hợp với từng vùng sinh thái

thể hiện trong bảng 3.1

Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển

của các giống ngô lai thí nghiệm

Phun râu

Chín sinh

Trỗ

cờ

Tung phấn

Phun râu

Chín sinh

Trang 38

3.1.1.1 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ

Đây là khoảng thời gian sinh trưởng khá dài của cây ngô và được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau Cây ngô từ khi mọc đến khi được 3 - 4 lá thật, cây sinh trưởng chủ yếu dựa vào chất dinh dưỡng dự trữ trong hạt, bộ rễ lúc này chỉ làm nhiệm vụ hút nước, cây sinh trưởng phát triển chậm và chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Khi đạt 3 - 4 lá trở đi cây chuyển

từ trạng thái sống nhờ chất dự trữ trong hạt sang trạng thái hút chất dinh dưỡng của rễ và quang hợp của bộ lá Sau khi đạt 7 - 9 lá đến trỗ cờ, đây là giai đoạn cây ngô sinh trưởng nhanh nhất, giai đoạn này cây tiếp tục phát triển và hoàn thiện các cơ quan sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực Hầu hết các biện pháp kỹ thuật trồng trọt đều được áp dụng trong các giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng như: Bón thúc lần 1, lần 2 và lần 3 trước trỗ 15 - 20 ngày, làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh Đây là giai đoạn quyết định đến khối lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong thân lá và là thời kỳ có ảnh hưởng lớn đến năng suất của ngô, đặc biệt là vào giai đoạn ngô xoáy nõn (trước trỗ 15-20 ngày) nếu gặp hạn làm ảnh hưởng lớn tới chất lượng hạt, giảm số hoa, giảm số hạt, giảm năng suất

Trang 39

3.1.1.2 Giai đoạn từ gieo đến tung phấn

Đây là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với cây ngô vì giai đoạn này tạo nên các cơ quan dinh dưỡng của cây, quyết định đến năng suất và sản lượng sau này Do đó, các biện pháp tác động của con người cần phải chú ý không làm ảnh hưởng tới giai đoạn này, như bố trí thời vụ hợp lý, chăm sóc tốt Khi cây ngô trỗ cờ được coi là kết thúc giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng Cây ngô sau khi trỗ cờ thì sẽ tung phấn, thời gian tung phấn diễn ra vào khoảng 7 - 9 giờ sáng và kéo dài trong 5 - 7 ngày Thời kỳ này cây ngô yêu cầu điều kiện cảnh nghiêm ngặt: nhiệt độ thích hợp nhất cho giai đoạn này là

20 - 220C, ẩm độ thích hợp 80% Nếu nhiệt độ quá cao, ánh sáng quá mạnh, lượng mưa ít sẽ làm cho hạt phấn bị chết khô không thụ tinh được, ngược lại nếu lượng mưa quá lớn thì quá trình thụ phấn thụ tinh cũng sẽ diễn ra không thuận lợi

Thời gian từ gieo đến tung phấn của các giống ngô tham gia thí nghiệm trong điều kiện vụ Thu 2012 giao động từ (63 -73 ngày), trong đó các giống VN01,VN02, VN05, VN06, VN07, VN12 và giống VN13 có thời gian tung phấn sớm hơn 2 giống đối chứng mức độ tin cậy là 95% Các giống còn lại có thời gian tung phấn tương đương hoặc cao hơn 2 giống đối chứng

3.1.1.3 Giai đoạn từ gieo đến phun râu

Khi bắt đầu phun râu, ngô chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực, gắn liền với sự hình thành và phát triển của hạt ngô Thời gian này quyết định

số noãn sẽ được thụ tinh Những noãn không được thụ tinh sẽ không cho hạt

Trang 40

và sẽ bị thoái hóa, gây nên hiện tượng bắp đuôi chuột - bắp mà đỉnh cùi không có hạt

Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy: thời gian từ gieo đến phun râu của

VN01, VN02 và VN12 có thời gian phun râu sớm hơn 2 giống đối chứng mức tin cậy 95% Các giống còn lại có thời gian phun râu sớm hơn hoặc tương đương với 2 giống đối chứng

giống đối chứng mức tin cậy 95%

3.1.1.4 Khoảng cách tung phấn - phun râu (ASI)

Giữa tung phấn và phun râu có một khoảng cách, gọi là khoảng cách tung phấn - phun râu (ASI) Khoảng cách tung phấn - phun râu quyết định số lượng hạt, là một trong các yếu tố cấu thành năng suất Đối với cây ngô thì khoảng cách giữa tung phấn - phun râu càng ngắn càng có lợi cho thụ phấn, thụ tinh để hình thành hạt Khoảng cách giữa tung phấn - phun râu ngắn hay dài phụ thuộc vào giống và điều kiện môi trường, kỹ thuật chăm sóc Nếu trồng ở điều kiện mật độ cao, chăm sóc không kịp thời hạn hoặc bị hạn trong quá trình sinh trưởng thì khoảng cách giữa tung phấn - phun râu bị kéo dài, không có lợi cho ngô thụ phấn thụ tinh

tung phấn phun râu phù hợp, biến động từ 1 - 4 ngày,

là 1 ngày tốt cho quá trình và các giống còn lại có khoảng cách tung phấn – phun râu tương đương với 2 giống đối chứng

3.1

Ngày đăng: 22/11/2014, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Bào (1996), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất ngô ở Hà Giang, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất ngô ở Hà Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Bào
Năm: 1996
5. Trương Đích (1980), Chọn giống lai theo khả năng tổ hợp các giống ngô lai trong quá trình tự thụ phấn, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học 1970 - 1980, ĐHNN III Bắc Thái.6. FAPRI (2009), 2010 – 2015.7 (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống lai theo khả năng tổ hợp các giống ngô lai trong quá trình tự thụ phấn", Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học 1970 - 1980, ĐHNN III Bắc Thái. 6. FAPRI (2009), "2010 – 2015
Tác giả: Trương Đích (1980), Chọn giống lai theo khả năng tổ hợp các giống ngô lai trong quá trình tự thụ phấn, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học 1970 - 1980, ĐHNN III Bắc Thái.6. FAPRI
Năm: 2009
8. Nguyễn Thị Minh Huệ (2007), Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ Xuân 2005 và 2006 tại Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai trong vụ Xuân 2005 và 2006 tại Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Huệ
Năm: 2007
9. Nguyễn Thế Hùng (2002), Ngô lai và kỹ thuật thâm canh, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô lai và kỹ thuật thâm canh
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Nguyễn Đức Lương, Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh, (2000), Giáo trình cây ngô, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây ngô
Tác giả: Nguyễn Đức Lương, Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Ngô Hữu Tình (1997), Cây ngô, Giáo trình cao học Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây ngô
Tác giả: Ngô Hữu Tình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
3. Bộ NN&amp;PTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm và giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô: QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT Khác
4. Cục Thống kê tỉnh Hà Giang (2013), Niên giám thống kê năm 2013 Khác
12. Trần Hồng Uy (2002), Kết quả nghiên cứu, phát triển ngô lai giàu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 1.2 Dự báo nhu cầu ngô thế giới năm 2020 (Trang 16)
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012 (Trang 19)
Bảng 2.1: Nguồn gốc các giống ngô lai  tham gia thí nghiệm - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 2.1 Nguồn gốc các giống ngô lai tham gia thí nghiệm (Trang 29)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 30)
Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển (Trang 37)
Bảng 3.3: Tốc độ ra lá của các  giống ngô  lai thí nghiệm - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.3 Tốc độ ra lá của các giống ngô lai thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 3.4: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các  giống ngô  lai thí - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.4 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của các giống ngô lai thí (Trang 49)
Bảng 3.5: Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các giống ngô lai - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.5 Số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của các giống ngô lai (Trang 52)
Bảng 3.6: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.6 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô (Trang 55)
Bảng 3.7: Tỷ lệ nhiễm sâu bệnh của các  giống ngô lai  thí nghiệm - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm sâu bệnh của các giống ngô lai thí nghiệm (Trang 59)
Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai  thí - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai thí (Trang 65)
Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành năng suất  các  giống ngô lai  thí nghiệm - so sánh một số giống ngô lai vụ thu năm 2012 và vụ xuân năm 2013 tại thị trấn tam sơn huyện quản bạ- tỉnh hà giang
Bảng 3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất các giống ngô lai thí nghiệm (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w