Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ THUỶ TIÊN NGHIÊN CỨU CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH DỤC, KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THUỶ TIÊN
NGHIÊN CỨU CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH DỤC, KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI TÁP NÁ HẬU BỊ VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA LỢN THỊT TÁP
NÁ NUÔI TẠI CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THUỶ TIÊN
NGHIÊN CỨU CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH DỤC, KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI TÁP NÁ HẬU BỊ VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA LỢN THỊT TÁP
NÁ NUÔI TẠI CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngành đào tạo: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 01 05
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Hà Văn Doanh
2 TS Hồ Lam Sơn
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thị Thuỷ Tiên
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian 2 năm học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, các tổ chức và
cá nhân nơi thực hiện đề tài
Nhân dịp hoàn thành bản luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Thầy giáo TS Hà Văn Doanh, thầy giáo TS Hồ Lam Sơn là người hướng
dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn
Th.S Phạm Đức Hồng - Chủ nhiệm đề tài cùng các thành viên thực hiện đề tài nghiên cứu giống lợn Táp Ná đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Phòng Quản lý đào tạo sau đại học , Khoa chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Công ty CP Giống & Thức ăn chăn nuôi Cao Bằng cùng cán bộ nhân viên của trại giống cấp I Đức Chính và bà con nhân dân trong huyện Thông Nông đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài
Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên khuyến khích tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Thuỷ Tiên
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.1 Nguồn gốc và sự thuần hóa giống lợn 4
1.1.2 Đặc điểm sinh học của loài lợn 5
1.1.2.1 Đặc điểm về di truyền 5
1.1.2.2 Đặc điểm về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá 6
1.1.2.3 Lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng, năng suất thịt cao và chất lượng thịt mỡ tốt 6
1.1.2.4 Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn 6
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn 7
1.1.3.1 Sự phát triển của lợn 7
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng 8
1.1.3.3 Các quy luật phát triển của lợn 9
1.1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục 11
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.4 Đặc điểm sinh lý sinh dục, khả năng sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng
đến khả năng sinh sản của lợn nái 13
1.1.4.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục lợn nái 13
1.1.4.2 Khả năng sinh sản của lợn nái 16
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 18
1.1.5 Một số chỉ tiêu sinh lý của máu 23
1.1.5.1 Thành phần vô hình (huyết tương) 23
1.1.5.2 Thành phần hữu hình 24
1.1.6 Vài nét về giống lợn Táp Ná 25
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 26
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chăn nuôi lợn trên thế giới 26
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
2.2 ĐỊA ĐIỂM - THỜI GIAN TIẾN HÀNH 29
2.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 29
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29
2.3.2.1 Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục và sinh lý máu của lợn nái Táp Ná 29
2.3.2.2 Chỉ tiêu về khả năng sinh sản lứa đẻ 1 của lợn nái Táp Ná 30
2.3.2.3 Chỉ tiêu về khả năng sản xuất thịt của lợn thịt Táp Ná 30
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.3.1 Bố trí thí nghiệm 31
2.3.3.2 Phương pháp xác định các đặc điểm sinh lý sinh dục và sinh lý máu 32 2.3.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Táp Ná 32
2.3.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng sản xuất thịt của lợn thịt Táp Ná 32 2.3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC VÀ
SINH LÝ MÁU CỦA LỢN TÁP NÁ 36
3.1.1 Kết quả đánh giá các đặc điểm sinh lý sinh dục 36
3.1.2 Kết quả phân tích các chỉ tiêu sinh lý máu 39
3.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN TÁP NÁ 43
3.2.1 Khả năng sinh sản tính chung 43
3.2.2 Khả năng sinh sản qua các lứa đẻ 48
3.3 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA LỢN TÁP NÁ NUÔI THỊT 50
3.3.1 Khả năng sinh trưởng của lợn Táp Ná nuôi thịt 50
3.3.1.1 Sinh trưởng tích luỹ lợn Táp Ná qua các tháng tuổi 51
3.3.1.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn tuổi 53
3.3.1.3 Sinh trưởng tương đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn tuổi 56
3.3.1.4 Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng lợn 57
3.3.2 Kết quả đánh giá khả năng sản xuất thịt của lợn thịt Táp Ná 59
3.3.2.1 Kết quả mổ khảo sát 59
3.3.2.2 Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
I Tài liệu tiếng Việt 66
II Tài liệu dịch 71
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
g g%
KL
Kg Nxb PTNT
SS
TĂ TCVN
TL VCK
VCN
: Cai sữa : Chiều dài : Công thức : Đơn vị tính : Gam
: Gam % : Khối lƣợng : Kilogam : Nhà xuất bản : Phát triển nông thôn : Sơ sinh
: Thức ăn : Tiêu chuẩn Việt Nam : Tỷ lệ
: Vật chất khô
: Viện Chăn Nuôi
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái Táp Ná 36
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu sinh lý máu lợn Táp Ná 8 tháng tuổi 40
Bảng 3.3: Năng suất sinh sản lứa 1 của lợn nái Táp Ná 44
Bảng 3.4: Khả năng sản xuất của lợn nái Táp Ná qua các lứa đẻ 49
Bảng 3.5: Khối lượng của lợn Táp Ná qua các tháng tuổi 51
Bảng 3.6: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn tuổi 54
Bảng 3.7: Sinh trưởng tương đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn 56
Bảng 3.8: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lợn 58
Bảng 3.9: Tỷ lệ phần thân thịt có giá trị 60
Bảng 3.10: Thành phần hoá học của thịt lợn Táp Ná 62
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tích luỹ của lợn Táp Ná qua các tháng tuổi 53
Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn tuổi 56
Hình 3.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn tuổi 57
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ móc hàm, thịt xẻ, nạc, mỡ, xương, da của lợn Táp Ná 62
`
Trang 11MỞ ĐẦU
Tên đề tài:
“Nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý sinh dục, khả năng sinh sản của lợn nái Táp
Ná hậu bị và năng suất, chất lượng thịt của lợn thịt Táp Ná nuôi tại Cao Bằng”
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi lợn là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam ta Điều kiện sinh thái của nước nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và một nước nông nghiệp là cơ sở để hình thành và phát triển ngành nghề chăn nuôi lợn Trong các ngành chăn nuôi gia súc trên thế giới cũng như ở nước ta thì chăn nuôi lợn chiếm một ví trí rất quan trọng,
đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người như thịt, mỡ và các sản phẩm chế biến từ thịt Theo thống kê của FAO (2007) thì sản lượng thịt trên toàn thế giới là 217,159 triệu tấn; năm 2008 là 217 triệu tấn trong đó 92,992 triệu tấn là thịt lợn và dự tính đến năm 2010 sản lượng thịt lợn là 101,9 triệu tấn Sản lượng thịt trung bình trên thế giới đạt 42 kg/người/năm
Việt Nam là một đất nước có sự đa dạng sinh học cao, nhưng sự đa dạng này
đã bị thu hẹp dần do chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm đầy đủ để duy trì và bảo tồn các nguồn gen động vật nuôi và hoang dã ở khu vực miền núi
Hiện nay ở các cộng đồng dân cư Việt Nam vẫn có nhiều giống lợn bản địa như: Lợn Mẹo ở vùng Tây Nghệ An, lợn Ba Xuyên ở Nam Bộ, lợn Mường Khương
ở Lào Cai, lợn Đen ở vùng Tây Bắc, lợn Hạ Lang ở Cao Bằng Các giống lợn này chủ yếu được bà con các dân tộc miền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến Bình Phước lưu giữ và chăn nuôi ở qui mô nhỏ với phương thức thả rông Việc bảo tồn và nuôi dưỡng lợn bản địa của Việt Nam bắt đầu từ năm 2003 và sau đó đã nhanh chóng phát triển rộng rãi Trong những năm gần đây, nhiều người đang quay lại chăn nuôi các giống lợn bản địa, vì các ưu điểm: thịt ngon, ít bệnh tật, giá trị kinh tế lớn Tuy nhiên, hệ thống chăn nuôi các loại lợn bản địa hiện còn nhiều nhược điểm: chủ yếu nuôi thả rông gây khó khăn cho việc ghép đôi giao phối, năng suất thịt thấp, qui mô nhỏ, sản lượng thấp khó trở thành sản xuất hàng hóa lớn
Trang 12Lợn Táp Ná là giống lợn bản địa của người dân tộc tỉnh Cao Bằng Đây là giống lợn có nhiều nét giống với lợn Móng Cái, đầu lợn Táp Ná to vừa phải, bụng tuy to nhưng không bị xệ, lông và da đều đen, ngoại trừ 6 điểm trắng ở giữa trán, 4 cẳng chân và chóp đuôi Lợn Táp Ná thuộc giống ăn tạp, dễ nuôi vì chúng đã thích nghi với điều kiện sống qua quá trình chọn lọc tự nhiên, khả năng chống chọi với dịch bệnh tốt, hệ thống chuồng trại đơn giản, tuy nhiên lại chậm lớn, tỷ lệ sinh rất thấp, số con nái sinh sản tốt bình quân đạt 2 lứa/ năm mỗi lứa chỉ đạt khoảng 6 - 9 con/ổ, tiêu tốn thức ăn cao và hiệu quả kinh tế nuôi chúng thấp, dẫn đến đàn lợn nội giống Táp Ná ngày càng giảm xuống nhanh chóng và có thể đi đến tuyệt chủng Tại huyện Thông Nông của tỉnh Cao Bằng, hầu hết giống lợn này đã bị lai tạp với các giống lợn khác, rất khó để tìm ra những con lợn Táp Ná thuần chủng dọc các trục đường chính và trung tâm huyện Giống lợn Táp Ná là một trong những nguồn gen thuộc danh sách 20 nguồn gen bản địa vật nuôi ở nước ta đã được công bố và là nguồn vật chất di truyền duy nhất có ở Việt Nam Để phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen quý này vào sản xuất cần phải có những nghiên cứu tổng thể về các đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và khả năng sản xuất của chúng
Do đó, việc tiến hành đề tài: “Nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý sinh dục, khả năng sinh
sản của lợn nái Táp Ná hậu bị và năng suất, chất lượng thịt của lợn thịt Táp Ná nuôi tại Cao Bằng” là thực sự cần thiết và có giá trị về mặt khoa học, có ý nghĩa
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và khả năng sinh sản của lợn Táp Ná,
nhằm cung cấp thông tin kỹ thuật để người chăn nuôi có định hướng trong việc lựa
Trang 13chọn con giống tốt và áp dụng vào sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Theo Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1997) [45]: Tổ tiên xa xưa của tất cả các loài vật nuôi hiện nay đều là các động vật hoang dã được con người thuần hoá, chọn lọc và nhân giống mà thành
Đặc điểm của một giống thường được xác định qua 3 tính trạng:
- Tính trạng hình thái học hoặc ngoại hình: màu sắc lông da, hình dạng đầu, sừng
- Tính trạng sinh lý và năng suất: đó là các tính trạng phản ánh khả năng sản xuất của con vật như khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt
- Tính trạng sinh vật học và bệnh học như nhóm máu, các gen chống đỡ bệnh tật
1.1.1 Nguồn gốc và sự thuần hóa giống lợn
Theo Trần văn Phùng và cs (2004) [31]: Nguồn gốc lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại, đó là lợn
rừng Châu Âu (Sus scrofa ferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus,
Sus vittatus) được con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành
Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [47] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã có nhiều thay đổi Điều trông thấy rõ nhất là thân hình bé hẳn đi, nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, mãi về sau này
do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng hơn về hình dáng, cao chân, móng phát triển Vào thế kỷ 20, ở Việt Nam chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản từ nhiều nơi trên thế giới trong từng thời kỳ khác nhau Ở Miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống Bershire, Yorkshire, Large white, Landrace Miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn Tân Kim, Tân Cương từ Trung Quốc Sau đó, vào những năm 70 - 80 toàn quốc đã nhập các
Trang 15giống có tỷ lệ nạc cao như: Landrace, Yorkshire, Large white và vài chục năm trở lại đây các dòng Hybrid, các tổ hợp siêu nạc từ các nước Đông Âu, Tây Âu, Mỹ
để phát triển lợn lai các loại Các giống lợn lai cao sản thường được dùng để cho lai với các giống lợn địa phương như: Đại Bạch x Ỉ, Landrace x Móng Cái, Yorkshire x
Ba Xuyên hoặc để pha máu với các dòng lợn cao sản khác
1.1.2 Đặc điểm sinh học của loài lợn
Lợn là một loài gia súc có nhiều đặc điểm quý phù hợp với nhu cầu của con người, tuy nhiên phải tạo ra những điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý thì những đặc điểm quý ấy mới có thể phát huy tốt nhất Muốn vậy, chúng ta phải hiểu biết sâu sắc các đặc điểm sinh vật học của lợn, để khai thác ứng dụng trong sản xuất cho có hiệu quả
1.1.2.1 Đặc điểm về di truyền
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[31] cho biết hệ số di truyền đối với một
số tính trạng quan trọng của lợn như sau:
- Số con đẻ ra 0,10 - 0,15
- Khối lượng sơ sinh 0,15 - 0,20
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 0,35 - 0,45
Trang 161.1.2.2 Đặc điểm về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá
Lợn là loài gia súc có dạ dày thuộc loại trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần: dạ dày đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [42]
Theo Nguyễn Thiện (1998) [43] ruột non của lợn dài gấp 14 lần chiều dài
cơ thể bao gồm 3 phần: phần tá tràng, không tràng và hồi tràng Ruột già dài khoảng
4 - 5m gồm 3 phần: manh tràng, kết tràng và trực tràng
Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn nhằm nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn
1.1.2.3 Lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng, năng suất thịt cao và chất lượng thịt mỡ tốt
Lợn là loài gia súc có khả năng thành thục sớm, nhất là các giống lợn nội của Việt Nam, do quá trình chọn lọc, nuôi dưỡng, tập quán chăn nuôi và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới Lợn đực 40 - 50 ngày tuổi đã có biểu hiện động dục và có khả năng giao phối, cơ quan sinh sản có khả năng sản sinh ra tinh trùng Lợn cái 3 - 4 tháng tuổi đã biểu hiện động dục Như vậy, nếu đem so sánh với các giống lợn khác trên thế giới thì lợn nội thành thục rất sớm
Lợn không những có khả năng sản xuất thịt cao mà phẩm chất thịt cũng tốt Thịt lợn có năng lượng trong 1 kg thịt cao đạt tới 2680 Kcal/kg, trong khi đó 1 kg thịt bò có 1710 Kcal Trong thành phần dinh dưỡng của thịt lợn, protein chiếm tỷ lệ tương đối cao Protein của thịt lợn có chứa tất cả các axít min cần thiết cho cơ thể con người Thành phần lipit trong thịt vừa làm cho thịt có giá trị năng lượng cao hơn vừa tăng mùi vị thơm ngon của thịt So với thịt của một số loài gia súc khác, thịt lợn có hàm lượng protein tương đương (đạt 19% trong thịt nạc)
1.1.2.4 Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn
Sinh sản là một chức năng trọng yếu của sự sống Đó là quá trình sinh học rất phức tạp và tinh tế, đáp ứng cho sự sinh sôi nảy nở của động vật (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Trang 17Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng ) Trong chăn nuôi người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong khi đẻ Nhất là các giống lợn nội, con đực 30 ngày tuổi có phản xạ nhảy, 40 ngày tuổi đã có thể có tinh trùng non, 50 - 60 ngày tuổi cho phối thì con cái đã có thể có chửa Lợn cái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục Như vậy, nếu đem so sánh với các giống lợn khác trên thế giới thì lợn nội thành thục rất sớm
Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12 con/lứa (Nguyễn Thiện, 1998) [46]
1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn
Mục đích cuối cùng của người chăn nuôi là hiệu quả kinh tế Để xây dựng được những khẩu phần ăn tiêu chuẩn cho lợn ở từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của con vật, ta cần nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng của lợn, từ đó có cơ sở khoa học để tác động vào quá trình sinh trưởng của
chúng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
1.1.3.1 Sự phát triển của lợn
Sự thay đổi ở một cá thể từ khi còn là hợp tử đến giai đoạn già cỗi được gọi
là sự phát triển của gia súc, gia cầm
Quá trình phát triển bao gồm hai mặt có liên quan chặt chẽ với nhau đó là: sinh trưởng và phát dục
Theo Trần Đình Miên và cs (1974) [28] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các cơ quan bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền
từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này là đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất
Trang 18Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải
qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng
*/ Tốc độ sinh trưởng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [31]: Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí
trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng
Khả năng tăng khối lượng g/ngày tính theo công thức sau:
Tăng khối lượng (g/ngày) = KL lúc kết thúc (g) - KL lúc bắt đầu nuôi (g)
Số ngày nuôi Các chỉ tiêu sinh trưởng thường dùng khi nghiên cứu khả năng sinh trưởng của vật nuôi là:
- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hoặc của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm khảo sát Biểu thị sinh trưởng của gia súc tại một thời điểm nào đó, chính là kết quả sinh trưởng tích lũy tại thời điểm nghiên cứu
- Sinh trưởng tuyệt đối (A): Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ
cơ thể hoặc của từng bộ phận của cơ thể được tăng lên trong một đơn vị thời gian (tháng, tuần, ngày)
- Sinh trưởng tương đối (R): Là phần khối lượng, kích thước, thể tích của
cơ thể hoặc từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước Độ sinh trưởng tương đối được tính bằng số phần trăm
*/ Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng
Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, cùng với chỉ tiêu về tốc độ sinh trưởng của lợn quyết định sự thành công hay thất bại của một cơ sở chăn nuôi Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng được tính theo công thức sau:
Trang 19Tiêu tốn TĂ/kg tăng khối lượng (kg) = Tổng KL TĂ lợn ăn được
Tổng KL tăng trong quá trình khảo nghiệm
Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả sử dụng thức ăn càng cao
*/ Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt:
- Khối lượng sống là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nhịn ăn 24 giờ
Tỷ lệ xương và da phụ thuộc vào giống lợn Các giống lợn nội có tỷ lệ xương thấp hơn các giống lợn đã được cải tiến, tỷ lệ xương biến động trong khoảng
9 - 12%
1.1.3.3 Các quy luật phát triển của lợn
Quá trình sinh trưởng, phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật sau:
*/ Quy luật phát triển theo giai đoạn
Trang 20- Giai đoạn trong thai: Quá trình sinh trưởng trong thai là một phần quan
trọng trong chu kỳ sống của lợn bởi vì thời điểm này có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của lợn Quá trình phát triển trong thai được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phôi thai, tiền thai và bào thai Giai đoạn phôi thai từ lúc trong thụ tinh đến 22 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử dịch chuyển và làm tổ ở sừng tử cung (trong vòng 2 ngày đầu tiên), phân chia nhanh chóng thành khối tế bào và thành các lá phôi Giai đoạn tiền thai từ ngày 23 - 39, hình thành nên hầu hết các cơ quan bộ phận trong cơ thể Giai đoạn thai từ ngày 40 đến khi đẻ là giai đoạn phát triển nhanh về kích thước và khối lượng của thai
- Giai đoạn ngoài thai: Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thời kỳ
bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi Lợn con mới sinh chưa thành thục về sinh lý và thể vóc, có rất nhiều sự thay đổi diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù hợp cho cuộc sống của nó sau này Có một số thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi đó như khối lượng sơ sinh và số con đẻ ra trên ổ, lượng đường glucose trong máu, vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn, sự thay đổi về thành phần hoá học của cơ thể theo tuổi Đối với lợn nái sinh sản chúng ta phải tìm cách để kéo dài thời kỳ trưởng thành để lợn có thể cho nhiều sản phẩm nhất
Thời kỳ bú sữa của lợn Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện nay một số
cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con thời kỳ này là bú sữa mẹ Tuy nhiên, muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện, 1998) [43]
Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho con vật phát
triển tốt ngay lúc còn bào thai, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất giống sau này
*/ Quy luật phát triển không đồng đều
Trang 21Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi
- Không đồng đều về khả năng tăng khối lượng: lúc còn non khả năng tăng khối lượng chậm, sau đó tăng khối lượng nhanh dần, tuỳ theo các giống lợn khác nhau mà tốc độ tăng khối lượng có khác nhau Điều quan trọng nhất là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết thúc vỗ béo cho thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi
- Không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan bộ phận cơ thể: trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể lợn có những cơ quan phát triển nhanh,
có cơ quan phát triển chậm hơn
- Không đồng đều về sự tích luỹ của các tổ chức mỡ, nạc, xương: Sự phát triển của bộ xương có xu hướng giảm dần theo tuổi (tính theo sinh trưởng tương đối); của thịt giữ mức độ bình thường trong giai đoạn đầu sau khi sinh, sau đó giảm dần từ tháng thứ 5, sự tích luỹ mỡ tăng dần từ 6 - 7 tháng tuổi Dựa vào quy luật này, các nhà chăn nuôi cần căn cứ vào mục đích chăn nuôi mà quyết định thời điểm
giết mổ cho phù hợp để có thể đạt tỷ lệ nạc cao nhất
*/ Quy luật phát triển có tính chu kỳ
Theo Nguyễn Hải Quân (2007) [34] cho biết: Quy luật tính chu kỳ phụ thuộc vào tính di truyền của loài, giống và chịu tác động điều kiện môi trường, do
đó tính chu kỳ có thể thay đổi như kéo dài hoặc rút ngắn lại… Dựa vào đặc điểm này, người ta có thể sử dụng những tác nhân kích thích khác nhau làm tăng năng suất sản phẩm chăn nuôi Chẳng hạn như làm tăng lứa đẻ trong năm bằng cách rút
ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ ở lợn…
Tính chu kỳ thể hiện rõ nhất là ở cơ quan sinh dục: chu kỳ đông dục, sự phát triển của tuyến vú Các hoạt động sinh lý, sinh hoá khác: chu trình Krebs trong các tế bào, hoạt động của hệ thần kinh, hưng phấn, ức chế
1.1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục
*/ Các yếu tố bên trong
Trang 22Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [31] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau
về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ
Ngoài ra yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của
tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có
sự tham gia của tuyến yên Hormon của thuỳ trước tuyến yên STH (somatotropin
hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Hormon sinh dục
của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ
Nguyễn Thiện và cs (2005) [47] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60 kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshine…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100
kg lúc 6 tháng tuổi
Trang 23*/ Các yếu tố bên ngoài
- Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có
một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng
đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15 - 180C, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10
- 110C
- Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng
có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
1.1.4 Đặc điểm sinh lý sinh dục, khả năng sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [42] cho biết thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Bộ máy sinh dục
đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng, con đực sinh tinh, tinh trùng
và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
1.1.4.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục lợn nái
*/ Tuổi động dục lần đầu
Tuổi động dục lần đầu là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị
có biểu hiện động dục đầu tiên Tùy theo giống, tuổi động dục lần đầu tiên có khác nhau Lợn nội có tuổi động dục sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động dục lần
Trang 24đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006)[42]: Lợn Ỉ
120 - 135 ngày, lợn Móng Cái 130 - 140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ
203 - 208 ngày, lợn Landrace từ 208 - 209 ngày Ở lợn nội có tuổi động dục sớm nên cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) [15], (Nguyễn Thiện, 1998) [46]
*/ Tuổi phối giống lần đầu
Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu
với thời gian động dục của một hoặc hai chu kì nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu Lơn nội thường được phối giống vào lúc 6 -7 tháng tuổi khi đạt được
40 - 50 kg, đối với lợn nái ngoại do khối lượng động dục lần đầu lớn, cho nên có thể phối giống từ lần động dục đầu tiên Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg và lợn ngoại phối vào lúc 9 tháng tuổi với khối
lượng không dưới 80 kg
Theo Kiều Minh Lực và Jirawit Rachatanam (2005) [27]: Lợn nái có số lứa
đẻ thấp nhất là lứa thứ 1 và cao nhất lứa 11 Tuổi phối giống lần đầu được tính từ tuổi đẻ lứa thứ 1 trừ cho thời gian mang thai trung bình/15 ngày, năng suất sinh sản đạt cao nhất khi lợn nái được phối giống và mang thai lần đầu vào lúc 38 tuần tuổi
và mức độ lớn hơn trung bình đàn 5,67% Nếu lợn mang thai lần đầu ở độ tuổi trước
34 tuần thì năng suất thấp hơn trung bình là 8,27% và nếu mang thai muộn sau 44 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 1,25% Đặc biệt nếu phối giống đậu thai từ lúc 30 tuần tuổi thì mức độ thiệt hại trong suốt đời sống sản xuất của một lợn nái là 17,02%
Vậy tuổi phối giống lần đầu tiên của một lợn nái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm và phối giống cho đúng thời điểm khi lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khỏe đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được phẩm chất đời sau Thực tế đã chứng minh rằng nếu phối giống quá muộn sẽ gây lãng phí kinh tế, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [33]
Trang 25*/ Tuổi đẻ lứa đầu:
Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên
Sau khi phối giống, lợn có chửa 114 ngày (112 - 116 ngày), cộng thêm số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất, tuổi đẻ lứa đầu thường 11 - 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) [12] Theo Trần Quang Hân (2004) [20]: Lợn nái trắng Phú Khánh có tuổi đẻ lứa đầu tương đối muộn (436,05 ngày), nhưng năng suất sinh sản đạt khá cao với số con còn sống, số con cai sữa/lứa tương ứng là 9,11 và 8,00 con; khối lượng trung bình một lợn con khi sơ sinh, ở 21 và 60 ngày tuổi tương ứng là 1,05; 4,29 và 10,55 kg; số lứa
đẻ/nái/năm là 1,78
*/ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau đẻ
Chu kỳ động dục của lợn nái thường kéo dài 18 - 21 ngày nếu chưa phối
giống hoặc phối giống chưa có chửa thì chu kỳ sau sẽ được nhắc lại Lợn nái nuôi con sau khi đẻ 3 - 4 ngày hoặc sau 30 ngày nuôi con thường có hiện tượng động dục trở lại, nhưng không phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều
Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại Cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao Đối với lợn sau cai sữa từ 3 - 7 ngày thường động dục trở lại, (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2006) [23]
Nếu lợn được phối giống ngay lần động dục sau cai sữa, chúng thường dễ thụ thai, trứng rụng nhiều và đẻ có số con đông Cần có biện pháp để tránh sự hao mòn của cơ thể mẹ sau khi đẻ (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, l996) [12]
*/ Đặc điểm động dục, chu kỳ và thời gian động dục của lợn nái
Là sự phát triển mạnh của cơ quan sinh dục lợn cái đặc biệt là buồng trứng
và tử cung xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại, 4 - 5 tháng với lợn nội Toàn
bộ thời gian động dục của lợn nái có thể chia làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước chịu đực (bắt đầu): Đặc điểm chung của lợn cái bắt đầu động dục là thay đổi tính nết Thường kêu rít, kém ăn hoặc bỏ ăn, phá máng, có dáng băn khoăn, nhảy lên con khác, không cho con khác nhảy Âm hộ sưng, xung
Trang 26huyết, đỏ: hơi phù, bóng ướt, dịch nhầy chảy ra Ở giai đoạn này không nên cho lợn phối ngay vì sự thụ thai chỉ thể hiện sau khi có các hiện tượng trên từ 35 - 40 giờ đối với lợn ngoại và 25 - 30 giờ đối với lợn nội
+ Giai đoạn chịu đực (phối giống): Hay còn gọi là giai đoạn mê ì, khi sờ lên lưng thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân choãi rộng ra, lưng võng xuống, có hiện tượng đái són, âm hộ chuyên màu sẫm hoặc màu mận chín và cho con khác nhảy lên lưng
+ Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc): Các dấu hiệu động dục giảm dần lợn trở lại bình thường, ăn uống như cũ, âm hộ giảm bớt độ bóng, se nhỏ thâm, mềm dịch chảy ra ít, trắng đục và rất dễ đứt Với lợn nái không được thụ tinh lại tiếp tục chu kỳ sinh dục mới Lợn nái đã được thụ tinh thì thể vàng tồn tại và chu kỳ động dục sẽ mất đi Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn Trong khi
đó tinh trùng chỉ kéo dài và sống trong tử cung khoảng 45 - 48 giờ Theo các kết quả nghiên cứu, quá trình rụng trứng bắt đầu lúc 30 - 40 giờ sau khi xuất hiện phản
xạ mê ì Như vậy phải cho lợn cái phối giống 10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng tức là
20 - 30 giờ sau khi bắt dầu chịu đực
1.1.4.2 Khả năng sinh sản của lợn nái
Khả năng sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về sinh lý, sinh dục như: Sớm thành thục, chu kỳ động dục, thời gian mang thai, khả năng đẻ con, nuôi con, số lứa đẻ trong năm, số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, thời gian cai sữa
- Quá trình mang thai và đẻ
Thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử (Nguyễn Xuân Tịnh, l996) [37]
Quá trình thụ thai xảy ra ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng, sau đó hợp tử sẽ
di chuyển về sừng tử cung và bám vào nội mạc sừng tử cung, phát triển thành phôi, giữa phôi và tử cung sẽ tạo lên sự liên hệ trao đổi các vật chất dinh dưỡng hình thành nhau thai Sự phát triển của phôi thai gồm 2 giai đoạn chính:
Trang 27- Giai đoạn phôi: Bắt đầu từ lúc thụ tinh, kết thúc vào phía trên 1/3 ống dẫn trứng là thời kỳ đầu có chửa, là giai đoạn hình thành ba lá phôi để từ đó hình thành các cơ quan bộ phận của cơ thể
- Giai đoạn thai: Kéo dài từ cuối thời kỳ phôi đến khi đẻ và là thời kỳ sinh trưởng và phát triển của bào thai để hình thành con non (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [42]
Thời gian chửa được tính từ khi phối giống thụ tinh đến lúc đẻ Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 - 115 ngày)
Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp để đưa thai đã thành thục ra ngoài Trước khi đẻ cơ thể mẹ có nhiều thay đổi như: Dây chằng xương chậu dãn ra, nút cổ
tử cung tan loãng Trước khi đẻ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống, cổ tử cung mở,
bầu vú căng ra, nặn bầu vú có sữa đầu tiết ra
*) Các chỉ tiêu về số lượng
- Số con sơ sinh/lứa
Số con sơ sinh/lứa phụ thuộc vào tính di truyền của giống Trong điều kiện bình thường mỗi giống có khả năng sinh sản khác nhau Theo Vũ Kính Trực (1994) [52]: Lợn Móng Cái xương to có số con trên lứa khá cao 12,8 con sơ sinh, 1 tháng tuổi 8,8 con, 2 tháng tuổi 7,6 con
Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (1996) [12] đưa ra: Lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 - 7 Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang tuổi thứ 5 lợn có thể đẻ tốt, nhưng con đẻ ra bị còi cọc, chậm lớn, lợn nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con, như vậy ta cần thay thế nái sau vài năm
Số con sơ sinh/lứa phụ thuộc vào ưu thế lai của lợn mẹ và sự thích hợp của con đực phối nó Theo Lawrence Evans và cs (1996) [58]: Giống và ưu thế lai của con mẹ có ảnh hưởng tới số lượng con đẻ ra Vì thế sự lựa chọn cái hậu bị từ con
mẹ vào dòng bố mắn đẻ sẽ làm tăng số con sơ sinh/lứa
- Số con cai sữa/lứa
Số lợn con cai sữa/lứa là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào tập quán chăn nuôi, kỹ thuật chăn
Trang 28nuôi và trình độ chế biến thức ăn cho lợn con Ở Việt Nam số lượng lợn con cai sữa của đàn nái ngoại nuôi tại các cơ sở giống lợn đạt khoảng 20 con/nái /năm Lúc cai sữa lợn con đạt 6,5 kg/con, như vậy khối lượng lợn giống đạt: 20 con x 6,5 kg
=130kg/nái (Võ Trọng Thành, 2007) [41]
Nguyễn Thiện và cs (l996) [49] cho biết: Thời gian cai sữa lợn ở nước ta thường là 60 ngày, số lợn con cai sữa trên lứa là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn
*/ Các chỉ tiêu về chất lượng đàn con
- Khối lượng sơ sinh/ổ
Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi,
đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn
phát triển sau (Nguyễn Thiện, 1998) [46]
Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội, Móng Cái: 0,5 - 0,7 kg/con, lợn Ỉ: 0,45 kg/con Lợn ngoại Yorshise nuôi tại Việt Nam: 1,24 kg/con, lợn Duroc: 1,2 - 1,5 kg/con (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [31]
- Khối lượng cai sữa/ổ
Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau Lợn Móng Cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là 58,20 - 60,88 kg; lợn Fl (Đại Bạch x Móng Cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [50]
Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Việc xác định và cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản góp phần phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 29trong chăn nuôi Có 2 yếu tố ảnh tới thành tích sinh sản của bản thân lợn nái là yếu
tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh
*/ Yếu tố di truyền
Trong chăn nuôi, giống là tiền đề và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) [3] Các giống khác nhau biểu hiện thành tích sinh sản khác nhau Chọn lọc là phương pháp đơn giản và được sử dụng sớm nhất để nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi
Theo Phạm Hữu Doanh (1995) [13] lợn Móng cái thành thục về tính lúc 4 tháng tuổi, chu kỳ động dục 21 ngày, thời gian kéo dài động dục 3 ngày
Lê Xuân Cương (1986) [6] lợn Ỉ nuôi tại Nam Phong - Nam Định có tuổi thành thục về tính là 4 tháng 12 ngày
Theo Jiang (1995) [63], gen là nguyên nhân làm biến đổi khối lượng buồng trứng, số lượng nang trứng, số nang trứng chưa thành thục, số lượng nang trứng chín, tỷ lệ trứng rụng và số phôi thai Các giống khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau, gia súc có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn như ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái…) thành thục về tính thường ở tháng thứ 4, thứ
5 (120 - 150 ngày tuổi) sớm hơn so với giống lợn ngoại
Nguyễn Ngọc Phục (2003) [29] cho biết: lợn cái Meishan có tuổi thành thục sinh dục rất sớm so với lợn Landrace và Yorkshire khi nuôi trong cùng điều kiện
*/ Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể Nó đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Thông qua việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng con vật sẽ có điều kiện biểu hiện đầy đủ các đặc điểm di truyền vốn có của chúng
*/ Năng lượng
Năng lượng là sự biến đổi của thức ăn trải qua một quá trình tiêu hoá ở bên trong cơ thể con vật Nếu nguồn năng lượng cung cấp có sự thiếu hụt, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể con vật đặc biệt là gia súc có chửa và nuôi con như: suy dinh dưỡng, còi cọc, sức đề kháng kém, teo hoặc chết thai…
Trang 30*/ Protein
Protein là một chất hữu cơ quan trọng trong việc hình thành tế bào, phát triển của cơ thể và tạo sữa Do vậy cần phải cung cấp đầy đủ protein cho gia súc, nếu thiếu lợn nái sẽ chậm động dục, giảm số lượng con đẻ ra/nái/năm, giảm khối lượng
sơ sinh, giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ
*/ Khoáng
Khoáng rất cần thiết với lợn nái, bởi vì lợn nái phải nuôi thai, nuôi con, đặc biệt trong giai đoạn mang thai con mẹ rất cần cung cấp khoáng chất (Ca, P, Fe, Zn…) để tạo xương phôi thai, tạo máu, cân bằng nội môi… Nguồn khoáng duy nhất
mà phôi thai nhận được là từ cơ thể mẹ
*/ Mùa vụ
Gaustad -Aas và cộng sự (2004) [62] cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm: tỷ lệ chết ở lợn con cao, thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng, tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm
và tỷ lệ thụ thai giảm
*/ Tuổi phối giống lần đầu
Nếu phối giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan sinh sản chưa thật hoàn thiện Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự phát triển của lợn mẹ, nếu phối muộn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ
Trang 31sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/lứa (với P<0,01 và P<0,001) (Tạ Thị Bích Duyên, 2003) [14]
*/ Thời điểm phối giống
Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Nguyễn Thiện và cs (1998) [43] đã tổng kết công trình nghiên cứu xác định thời điểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất phối giống tại các thời điểm: 18, 24,
30, 36, và 42 giờ kể từ khi con vật bắt đầu chịu đực, tỷ lệ thụ thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80% và 70% và số con đẻ ra tương ứng là: 8,20; 11,80; 10,50; 9,80;
và 7,80 con và tác giả đã đi đến kết luận thời điểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 - 30 giờ tính từ giờ chịu đực đầu tiên, dao động từ 15-45 giờ
*/ Khối lượng lợn nái
Theo Phùng Thị Vân và cs (1999) [53] những lợn nái hậu bị có khối lượng
cơ thể đạt 130 kg ở 9 tháng tuổi sẽ cho số con sơ sinh /ổ cao nhất và ngược lại những lợn nái có khối lượng cơ thể thấp hơn 130 kg ở 9 tháng tuổi đều có số con sơ
sinh thấp hơn
*/ Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách này dài sẽ làm giảm số lứa/năm, khoảng cách ngắn sẽ tăng số lứa/nái/năm Khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, chế độ
chăm sóc, nuôi dưỡng, thời gian cai sữa
*/ Tuổi và lứa đẻ
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu và cs, 1998) [64] Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert và cs, 1998) [61]
Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên (Colin, 1998) [59]
*/ Số lần phối và phương thức phối giống
Trang 32Phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và
số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn (0-10%) so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998) [59]
*/ Thời gian cai sữa
Lợn nái cai sữa ở 28 - 35 ngày, thời gian động dục trở lại 4 - 5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998) [59]
Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15, 9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert và cs, 1998) [61]
*/ Số con cai sữa/ổ
Là tính trạng năng suất sinh sản rất quan trọng vì đây là chỉ tiêu để xác định năng suất của đàn lợn giống Tương quan di truyền giữa tính trạng số con sơ sinh/lứa và số con sơ sinh sống/lứa là rất chặt chẽ Tương quan di truyền giữa số con/lứa với khối lượng lợn con/lứa là cao, dao động từ 0,5 - 0,99 (Đặng Vũ Bình, 1994) [2]
Ngoài ra mùa vụ và nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của lợn con, theo Sukemori (1999) [68] thì tăng trọng thấp và tiêu tốn thức
ăn của lợn con cao nhất ở nhiệt độ 330
C so với ở nhiệt độ 210C; 270C, nhưng không ảnh hưởng tới nhiệt độ cơ thể Koketsu và cs (1998) [64] cho biết lợn con sinh ra trong mùa hè có khối lượng cai sữa thấp hơn so với lợn con được sinh ra trong mùa thu, nái đẻ vào mùa xuân, mùa hè có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với các mùa khác trong năm
Lorvelec và cs (1998) [65] nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sinh sản của lợn nái Large White đã đưa ra kết luận rằng số con sơ sinh/lứa của lợn nái đẻ ra trong mùa khô mát, cao hơn 25% so với mùa lạnh ẩm ướt
Đặng Vũ Bình (1999) [3] phân tích một số ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại đã kết luận nhân tố mùa vụ ảnh hưởng đến hầu hết các tính trạng trừ tính trạng số con ở 35 ngày tuổi, khối lượng toàn
ổ lúc sơ sinh và khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi
Trang 33Thời gian từ cai sữa lứa trước đến thụ thai lứa tiếp theo đã tăng lên trong mùa hè (Love và cs, 1993) [66]
Dan và Summer (1995) [60] cũng nhận thấy ảnh hưởng của yếu tố mùa lên tính trạng, tỷ lệ đẻ ở 3 đàn lợn nuôi ở miền Nam Việt nam và 3 đàn lợn ở miền Bắc Australia Yếu tố mùa cũng ảnh hưởng có ý nghĩa đến tính trạng khoảng cách lứa
đẻ, tỷ lệ đẻ giảm ở mùa nóng có thể là do nhiệt độ ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch và hoạt lực của lợn đực
1.1.5 Một số chỉ tiêu sinh lý của máu
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [42]: Máu là một chất dịch lỏng lưu thông trong tim và hệ thống mạch quản Máu là nguồn gốc của hầu hết các dịch trong cơ thể (dịch nội bào, dịch gian bào, dịch bạch huyết, dịch não tuỷ) Máu có 7 chức năng đó là hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, điều hòa thân nhiệt, duy trì cân bằng nội môi, điều hòa thể dịch và bảo vệ cơ thể Mỗi thành phần trong máu đảm nhiệm một hoặc nhiều chức năng khác nhau Số lượng máu thay đổi theo loài động vật, máu là tấm gương phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ của cơ thể, vì vậy những xét nghiệm về máu là những xét nghiệm cơ bản được dùng để đánh giá tình trạng sức khoẻ cũng như giúp cho việc chẩn đoán bệnh
1.1.5.1 Thành phần vô hình (huyết tương)
Huyết tương có màu vàng nhạt do chứa sắc tố màu vàng (caroten, xantophin ) Thành phần hóa học của huyết tương bao gồm có: nước (90 - 92%), vật chất khô (8 - 10%) gồm protein, đường hạt mỡ, các hormone và các muối khoáng
Protein của huyết tương: có 3 loại chính: albumin, globumin và fibrinogen chiếm 6 - 8% tổng lượng huyết tương
- Albumin: là loại protein tham gia cấu tạo nên các mô bào, cơ quan trong cơ thể vì thế hàm lượng albumin trong máu biểu thị khả năng sinh trưởng của gia súc Albumin được tổng hợp ở gan sau đó đi vào máu, rồi theo máu đến các mô bào tổ chức
và tổng hợp thành albumin cho từng loại mô Albumin là tiểu phần chính cấu tạo nên
Trang 34áp suất thẩm thấu thể keo của máu Albumin còn tham gia vận chuyển các chất như acid béo, acid mật và một số chất khác
- Fibrinogen hay chất sinh sợi huyết do gan sản sinh ra, tham gia vào quá trình đông máu Protein huyết tương luôn ở thế cân bằng động, nghĩa là luôn có quá trình phân giải và tổng hợp, thay cũ đổi mới dưới sự điều tiết của hệ thần kinh Ngoài protein ra trong huyết tương còn các hợp chất chứa nitơ như ure, acid uric, creatinin, amoniac, polypeptid, amino acid tự do Nitơ của các hợp chất này được gọi là “nitơ cặn” Lượng nitơ cặn biểu thị cường độ phân giải protein trong
cơ thể Xác định lượng nitơ cặn có ý nghĩa trong lâm sàng
Số lượng hồng cầu thay đổi theo giống, tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng, trạng thái cơ thể và sinh lý, trạng thái khoẻ mạnh hay bệnh tật, khí hậu Hồng cầu
có đường kính nhỏ từ 7 - 8 micromet, dày 2 - 3 micromet Tổng diện tích bề mặt là
27 - 32 m2/kg thể trọng (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [42]
Bạch cầu
Bạch cầu là những tế bào có nhân và có bào tương, kích thước thay đổi là 5 -
20 micromet, có khả năng di động Số lượng bạch cầu thường ít khoảng 1000 lần so với hồng cầu, được tính theo đơn vị nghìn/mm3 máu (Đỗ Ngọc Liên, 1999) [26]
Số lượng bạch cầu thường ít ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sinh lý của
cơ thể Số lượng bạch cầu thường tăng sau khi ăn, khi đang vận động, khi con vật
có thai giảm khi tuổi tăng lên
Hemoglobin (Hb)
Trang 35Là thành phần chủ yếu của hồng cầu chiếm 90% vật chất khô của hồng cầu
và đảm nhận các chức năng của hồng cầu (huyết sắc tố) là vận chuyển các chất khí trong hô hấp và tham gia hoạt động hệ đệm để ổn định độ pH máu
Ở đây số lượng hồng cầu phản ánh phẩm chất con giống, số lượng hồng cầu càng nhiều thì sức sống của con vật càng tốt
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [42] cho biết: Đối với lợn trưởng thành số lượng Hb là 11,5 g%, lợn đực giống là 12,2 g%, lợn con là 10, 5g%
1.1.6 Vài nét về giống lợn Táp Ná
Một vài đặc điểm về giống lợn Táp Ná được Nguyễn Văn Đức (2002) [15];
Nguyễn Văn Đức và cs (2004) [16] cho biết:
- Nguồn gốc, phân bố: Lợn Táp Ná là một giống lợn nội được hình thành và phát triển lâu đời trong điều kiện khí hậu đất đai ở Tỉnh Cao Bằng và một số tỉnh lân cận thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam Giống lợn này có nguồn gốc từ một giống lợn địa phương nhưng do điều kiện địa lý đồi núi cao hiểm trở, việc thông thương có nhiều hạn chế, người chăn nuôi ở vùng núi này chỉ giao dịch mua bán tại chợ Táp Ná Chính vì vậy, giống lợn nội này dần dần được nhân dân đặt tên là “Táp Ná”
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Táp Ná có màu sắc rất đặc trưng: lông và da đều đen, ngoại trừ 6 điểm trắng ở giữa trán, 4 cẳng chân và chóp đuôi, khác hẳn so với lợn Móng Cái ở chỗ bụng của lợn Táp Ná có màu đen và không có dải yên ngựa màu trắng bắt qua vai
Lợn có đầu to vừa phải, tai hơi rủ cúp xuống, bụng to nhưng không to bằng lợn Móng Cái và nét đặc trưng cho giống lợn này là bụng không bị xệ, võng như lợn Móng Cái Chân to, cao và chắc khoẻ như giống lợn Mẹo ở Nghệ An Lưng tương đối thẳng, mặt thẳng, không nhăn nheo như lợn Ỉ Lợn cái Táp Ná thường có từ 8 đến
12 vú, nhưng thông thường là 10 vú Con đực thể chất thô hơn con cái, chân cao, phần đầu cao hơn phần mông, từ đỉnh đầu đến giữa lưng có một dải lông dài và rậm tạo thành bờm Đây là giống lợn cần được nuôi để giữ được nguồn gen tốt của giống
Trang 36lợn địa phương, để cho lai tạo với lợn ngoại nhằm khai thác thịt ở vùng trung du và vùng núi của tỉnh Cao Bằng
- Đặc điểm sinh trưởng: Giống lợn Táp Ná rất dễ nuôi, phàm ăn, ăn khoẻ và
ăn bất cứ loại thức ăn nào kể cả loại thức ăn nghèo chất dinh dưỡng, hầu như không
bị bệnh kể cả nuôi trong điều kiện thiếu vệ sinh, thức ăn hạn chế Lợn Táp Ná có khối lượng trung bình lúc trưởng thành 100 - 120 kg/con, lớn chậm
- Khả năng sinh sản: Khả năng sinh sản thấp, tuổi đẻ lứa đầu là 13,6 tháng,
đẻ từ 6-9 con/ lứa Khối lượng sơ sinh khoảng 0,63 kg/ con
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu chăn nuôi lợn trên thế giới
Chăn nuôi lợn là một trong những ngành quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ở các nước tiên tiến, tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 50% tỷ trọng ngành nông nghiệp Sản phẩm thịt lợn là nguồn cung cấp thịt lớn nhất hiện nay trên thế giới So với các loại thịt khác, thịt lợn vẫn chiếm vị trí hàng đầu ở hầu hết các nước trên thế giới (trừ một số nước do ảnh hưởng của đạo giáo hoặc điều kiện phát triển chăn nuôi khác phát triển hơn) Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn ngày càng cao không chỉ
về số lượng mà cả chất lượng Nước có mức tiêu thụ thịt lợn bình quân trên đầu người trong năm thấp nhất là Ấn Độ (do ảnh hưởng của tôn giáo) chỉ có 0,5 kg/người, trong khi đó nước có mức tiêu thụ thịt lợn cao nhất đạt 66,2 kg/người/năm là Đan Mạch và 50,9 kg/người /năm là Ba Lan Bình quân ở 26 nước tiêu thụ thịt nhiều trên thế giới, thịt lợn vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 24,3 kg/người /năm Mức tiêu thụ thịt bò 19,12 kg/người /năm và thịt gà 12 kg/người /năm Rõ ràng nhu cầu thịt lợn vẫn là nhu cầu lớn nhất hiện nay trên thế giới
Trong các năm qua ngành chăn nuôi lợn ở các nước trên thế giới tăng lên đáng kể Số đầu lợn của năm 1999 là 957.469 nghìn con Trong đó số đầu lợn không đồng đều giữa các Châu lục, Châu Á có số đầu lợn cao nhất: 577.025 nghìn con, Châu Âu 199.254 nghìn con, Bắc và Trung Mỹ 94.070 nghìn con Nam Mỹ (Mỹ la tinh) 59.075 nghìn con, Châu Phi 22.398 nghìn con và ít nhất là Châu Đại Dương 5.016 nghìn con (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [31]
Trang 37Do điều kiện kinh tế, kỹ thuật của từng vùng có khác nhau, nên phân bố và phát triển các giống lợn cũng khác nhau Những nước có nền công nghiệp phát triển, hầu hết lợn của họ là các giống cao sản (Yorkshire, Landrace, Duroc, Hampshire, Berkshire, Pietrain…), các nước đang phát triển phổ biến là các giống lợn địa phương có năng suất thấp, nhất là các vùng Châu Á và Châu Phi (Lê Thanh Hải và
cs, l997) [19]
Bảo tồn đa dạng sinh học đã và đang được thế giới xếp vào những hoạt động quan trọng bậc nhất nhằm ngăn chặn đà suy thoái, mất mát Bảo tồn nguồn gen vật nuôi cũng thế Từ năm 1980 các tổ chức đặc biệt là FAO đã đưa ra nhiều dự án nhằm bảo tồn các giống/dòng vật nuôi bản địa vốn đang bị giảm với tốc độ chóng mặt: 1 giống/tuần Những giống mất đi đa số là những giống của các nước nghèo hoặc các vùng dân tộc thiểu số và thậm chí cả những nước phát triển
Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trên thế giới có khoảng 5000 giống vật nuôi trong đó có khoảng 1500-1600 giống đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng Theo FAO sự suy giảm giống vật nuôi như trên là do những nguyên nhân sau đây:
+ Sự du nhập nguyên liệu di truyền mới
+ Do chính sách nông nghiệp chưa hợp lý
+ Việc tạo giống mới còn nhiều hạn chế
+ Hệ thống kinh tế địa phương bị suy giảm
+ Sự tàn phá của thiên nhiên
Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều xây dựng chiến lược bảo tồn nguồn gen động vật và đa dạng sinh học Mục tiêu của bảo tồn là: + Bảo vệ các giống khỏi tình trạng nguy hiểm, bảo vệ nguồn gen, đáp ứng nhu cầu tương lai về nguồn đa dạng di truyền
+ Cung cấp nguồn nguyên liệu cho các chương trình giống
+ Duy trì đa dạng trong hệ thống chăn nuôi bền vững, phục vụ cho kinh tế, giáo dục, sinh thái trong hiện tại và cho tương lai
Trang 381.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu bảo tồn và phát huy tiền năng các giống vật nuôi bản địa được Nhà nước Việt Nam khởi động từ năm 1990 đến nay, Bộ Nông nghiệp & PTNT giao cho Viện Chăn nuôi chủ trì, đã phối hợp với các cơ quan, các nhà khoa học trong
và ngoài nước thực hiện Sau 20 năm nghiên cứu, phát hiện và bảo tồn đã thu được kết quả và có nhiều báo cáo khoa học được đánh giá cao trong và ngoài nước
Trong khuôn khổ dự án Biodia (Việt - Pháp 2005-2007), đã phát hiện các giống lợn như: lợn Hung (Hà Giang), lợn Táp Ná (Cao Bằng), Lợn Lũng Pù (Hà Giang)
Xuất xứ từ kết quả nhiệm vụ bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vật nuôi giai đoạn
2000 - 2010 lợn Táp Ná được điều tra phát hiện năm 2002 Theo quyết định số 430 KHCN ngày 13 tháng 2 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và PTNN về việc quyết định giao nhiệm vụ và cấp kinh phí để lưu giữ và bảo tồn nguồn gen lợn từ năm
2003 đến nay
Giống lợn Táp Ná là giống lợn địa phương lâu đời trong điều kiện khí hậu ở huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng Ngoài ra, giống lợn Táp Ná còn sinh sống tại một số huyện lân cận trong tỉnh như: Bảo Lạc, Hòa An, Bảo Lâm… và một số tỉnh lân cận
Giống lợn nội Táp Ná của nước ta thuộc lớp động vật có vú (Mamalia), thuộc bộ guốc chẵn (Artiodactyla), thuộc họ Sllidae, thuộc chủng Sus và thuộc loài
Sus dometicus
Năm 2004, các tác giả Nguyễn Văn Đức, Giang Hồng Tuyến và Đoàn Công Tuân đã nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của giống lợn Táp Ná nuôi tại Cao Bằng Sử dụng phép lai giữa lợn Táp Ná x Móng Cái để đánh giá khả năng tăng trọng của con lai đưa ra kết luận sử dụng lợn Táp Ná x Móng Cái để khai thác thịt trong vùng sinh thái miền núi Đông Bắc Bộ là có triển vọng tốt
Năm 2009, các tác giả Nguyễn Văn Trung, Tạ Thị Bích Duyên, Đặng Đình Trung, Nguyễn Văn Đức và Đoàn Công Tuân đã điều tra, đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng và sản xuất của giống lợn nội Táp Ná của Việt Nam
Việc nghiên cứu về giống lợn Táp Ná tại Cao Bằng trong thời gian qua mới chỉ dừng lại ở mức độ lưu giữ và bảo tồn giống, chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh
về đối tượng này
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đàn lợn nái Táp Ná hậu bị được chọn từ đàn trong dân thuộc Huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng và thế hệ đàn con được sinh ra từ đàn trong trại thuộc Công ty cổ phần Giống và Thức ăn chăn nuôi Cao Bằng Số lượng theo dõi gồm:
- Lợn nái hậu bị: 20 nái chọn lọc từ đàn trong dân và 20 nái thế hệ con sinh
ra từ đàn trong trại
- Lợn thịt: 30 con (15 cái và 15 đực thiến)
2.2 ĐỊA ĐIỂM - THỜI GIAN TIẾN HÀNH
- Nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh lý sinh dục, sinh sản và sinh trưởng tại Công ty cổ phần Giống và Thức ăn chăn nuôi Cao Bằng
- Phân tích mẫu tại: Bệnh viện Đại học Y Thái Nguyên và Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: 6/2012 đến 8/2013
2.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm sinh lý sinh dục và sinh lý máu của giống lợn Táp Ná
- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái hậu bị giống Táp Ná
- Đánh giá khả năng sản xuất của lợn thịt Táp Ná
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
2.3.2.1 Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục và sinh lý máu của lợn nái Táp Ná
*/ Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái Táp Ná hậu bị
- Tuổi động dục lần đầu (ngày)
- Thời gian động dục/ chu kỳ (Ngày)
- Chu kỳ động dục (Ngày)
- Tuổi phối giống lần đầu (Ngày)
- Khối lượng phối giống lần đầu (Kg)
Trang 40- Tuổi đẻ lứa đầu (Ngày)
- Khoảng cách lứa đẻ (Ngày)
- Thời gian mang thai (Ngày)
*/ Chỉ tiêu về sinh lý máu của lợn Táp Ná 8 tháng tuổi
- Hồng cầu (Triệu/ 1mm3 máu)
- Hemoglobin (g%)
- Bạch cầu (Nghìn/ 1mm3 máu)
2.3.2.2 Chỉ tiêu về khả năng sinh sản lứa đẻ 1 của lợn nái Táp Ná
- Số con đẻ ra/ổ (Con)
- Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ/ ổ (Con)
- Tỷ lệ con sơ sinh còn sống đến 24 giờ (%)
- Khối lượng sơ sinh/con (Kg)
- Khối lượng sơ sinh/ổ (Kg)
- Ngày cai sữa (Ngày)
- Số con sống đến cai sữa (Con)
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%)
- Khối lượng cai sữa/con (Kg)
- Khối lượng cai sữa/ổ (Kg)
- Thời gian động dục trở lại (Ngày)
- Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh sản khoa (%)
2.3.2.3 Chỉ tiêu về khả năng sản xuất thịt của lợn thịt Táp Ná
*/ Chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của lợn thịt Táp Ná
- Sinh trưởng tích luỹ (kg/con): Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn
cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm thực hiện phép đo
- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày): Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian
- Sinh trưởng tương đối (%): Là tỷ lệ phần trăm của khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng thêm so với trung bình của hai thời điểm sinh trưởng sau và trước