Để khôi phục và phát triển giống quýt Sen, việc đánh giá hiện trạng sản suất, nghiên cứu các yếu tố đất đai, khí hậu, tập quán canh tác, đặc điểm nông sinh học cũng như ảnh hưởng của một
Trang 1ĐINH TRỌNG VĂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG QUÝT SEN TRỒNG
TẠI HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Quốc Hùng
2 TS Nguyễn Thế Huấn
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được các thông tin trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Đinh Trọng Văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình và quý báu của các cơ quan: Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên; Ủy ban nhân dân huyện Lục Yên; Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa; các hộ dân và các đồng nghiệp
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Quốc Hùng
và TS Nguyễn Thế Huấn 2 thầy là những người trực tiếp hướng dẫn tận
tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo bộ môn Sinh
lý thực vật, khoa Nông học; phòng quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô
đã tham gia giảng dạy chương trình cao học - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tham gia các ý kiến quý báu cho luận văn Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí, đồng nghiệp trong
và ngoài cơ quan công tác; những người thân, bàn bè đã cổ vũ và giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Đinh Trọng Văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.2 Yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
3.1 Ý nghĩa khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học 5
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá: 5
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng 6
1.1.4 Cơ sở khoa học của việc áp dụng biện pháp thụ phấn bổ sung 6
1.1.5 Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp cắt tỉa 6
1.1.6 Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp bao quả 7
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới và trong nước 7
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 10
1.3 Nguồn gốc và phân loại cam quýt 13
1.3.1.Nguồn gốc 13
1.3.2 Phân loại cam quýt 14
1.4 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh cam quýt 15
1.5 Đặc điểm ra hoa, đậu quả của cam quýt 18
1.6 Cơ sở sinh lý của hiện tượng rụng quả 19
1.7 Một số nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam quýt 21
Trang 51.7.1.Nghiên cứu về việc cung cấp phân bón qua lá cho cây cam quýt 21 1.7.2 Một số nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng GA3
(Gibberllin) cho cây cam quýt 23
1.8 Hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất cây có múi tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái 25
1.8.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái25 1.8.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả và cây quýt Sen tại huyện Lục Yên 41 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 44
2.2 Vật liệu 44
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 45
2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 45
2.4.1 Nội dung nghiên cứu 45
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 50
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
3.1.3 Kết quả điều tra về hiện trạng trồng và chăm sóc cây quýt Sen tại Lục Yên, tỉnh Yên Bái 51
3.2 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của giống quýt Sen 54
3.2.1 Đặc điểm hình thái cây quýt Sen 54
3.2.2 Đặc điểm hình thái lá quýt sen 55
3.2.3 Đặc điểm hình thái quả quýt Sen 56
3.2.4 Đặc điểm sinh trưởng các đợt lộc 57
3.2.5 Tỷ lệ các loại cành của giống Quýt sen tại Lục Yên 58
3.3 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống quýt Sen tại huyện Lục Yên, Yên Bái 59
3.3.1 Ảnh hưởng một số loại phân bón lá đến năng suất, chất lượng cho giống quýt Sen 59
Trang 63.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các nông độ Gibberellin khác nhau đến
khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống quýt Sen 65
3.3.3 Ảnh hưởng của biện pháp thụ phấn bổ sung đến năng suất, chất lượng giống quýt Sen 70
3.3.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất, chất lượng giống quýt Sen 74
3.3.5 Ảnh hưởng của biện pháp bao quả đến năng suất, chất lượng của giống quýt Sen 79
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7HCHC : Hữu cơ sinh học
NSTB : Năng suất trung bình
PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011 8
Bảng 1.2: Các nước xuất khẩu chính đối với các loại quả có múi khác nhau xếp theo thứ tự 9
Bảng 1.3: Sản lượng cây có múi ở một số nước điển hình năm 2011 (tấn) 9
12
Bảng 1.5: Một số yếu tố thời tiết, khí hậu vùng nghiên cứu 38
Bảng 1.6: Hiện trạng sử dụng đất huyện Lục Yên, Yên Bái 40
Bảng 1.7: Diễn biến DT, năng suất, SL một số cây ăn quả chính từ năm 2010 - 2012 42
Bảng 1.8: Diện tích, cấp độ tuổi cây quýt Sen tại Lục Yên năm 2012 42
Bảng 1.9: Cơ cấu các giống cam quýt hiện đang được trồng tại huyện Lục Yên 43
Bảng 3.1: Số hộ, tỷ lệ hộ áp dụng biện pháp kỹ thuật chăm sóc quýt Sen 53
Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái cây giống quýt Sen 54
Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái lá của giống quýt Sen 56
Bảng 3.4: Đặc điểm hình thái quả quýt Sen 56
Bảng 3.5: Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc trong năm 57
Bảng 3.6: Tỷ lệ các loại cành của giống quýt Sen 58
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng lộc của quýt Sen 59
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả của quýt Sen 61
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất của quýt Sen 62
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của phân bón lá đến một số chỉ tiêu sinh hóa của quýt Sen 64
Trang 9Bảng 3.11: Ảnh hưởng của các nồng độ Gibberellin khác nhau đến
tỷ lệ lộc của quýt Sen 65Bảng 3.12: Ảnh hưởng của các nông độ Gibberellin khác nhau đến
sinh trưởng lộc của quýt Sen 66Bảng 3.13: Ảnh hưởng của các nông độ Gibberellin khác nhau đến
thời gian ra hoa và tỷ lệ đậu quả của quýt Sen 68Bảng 3.14: Ảnh hưởng của nông độ Gibberellin khác nhau đến các
yếu tố cấu thành năng suất của quýt Sen 69Bảng 3.15: Ảnh hưởng của thụ phấn bổ sung đến tỷ lệ đậu quả của
quýt Sen 71Bảng 3.16: Ảnh hưởng của thụ phấn bổ sung đến các yếu tố cấu
thành năng suất của quýt Sen 72Bảng 3.17: Ảnh hưởng của thụ phấn bổ sung đến một số chỉ tiêu
sinh hóa của quýt Sen 74Bảng 3.18: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến sinh trưởng lộc
quýt Sen Lục Yên 75Bảng 3.19: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tỷ lệ đậu quả quýt
Sen Lục Yên 76Bảng 3.20: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất quýt Sen Lục Yên 77Bảng 3.21: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến một số chỉ tiêu sinh
hóa quýt Sen Lục Yên 79Bảng 3.22: Ảnh hưởng của biện pháp bao quả đến hình thái quả quýt
Sen 80Bảng 3.23: Ảnh hưởng của biện pháp bao quả đến các yếu tố cấu
thành năng suất quýt Sen Lục Yên 81Bảng 3.24: Ảnh hưởng của biện pháp bao quả đến một số chỉ tiêu
sinh hóa quýt Sen Lục Yên 83
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất của quýt Sen 63
Hình 3.2: Ảnh hưởng của nông độ Gibberellin khác nhau đến năng suất của quýt Sen 70
Hình 3.3 Ảnh hưởng của thụ phấn bổ sung đến năng suất của quýt Sen 73
Hình 3.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất quýt Sen 78
Hình 3.5: Ảnh hưởng của biện pháp bao quả đến năng suất quýt Sen 82
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi con người cũng như trong nền kinh tế quốc dân của mỗi Quốc gia Ở Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nghề trồng cây ăn quả đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu đối với nền nông nghiệp của cả nước nói chung và của mỗi vùng miền nói riêng
Việt Nam là giải đất hình cong chữ S, trải dài từ 23o23’ đến 08o02’ vĩ độ Bắc và chiều ngang từ 102o08’ đến 109o28’ kinh độ Đông; nằm trong vùng nhiệt đới nên khí hậu chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độ gió mùa châu Á (chủ yếu là gió mùa Đông Bắc và Đông Nam) Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.000mm, độ ẩm trên dưới 85% Chính vì vậy đã tạo nên
sự đa dạng về sinh thái, rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả Trong những năm qua nghề trồng cây ăn quả ở nước ta đã có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nền kinh tế nông nghiệp, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động từ nông thôn đến thành thị
Mỗi loại cây ăn quả có vai trò riêng biệt cũng như khả năng thích nghi đối với từng vùng sinh thái khác nhau Ở nước ta trong những năm qua, nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả đã được hình thành và làm thay đổi bộ mặt kinh tế của vùng, ví dụ vùng Cam quýt ở Bắc Quang (Hà Giang), Phủ Quỳ (Nghệ An); Vải Thiều - Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương); Thanh Long - Bình Thuận, Long An;
Cây quýt (Citrus reticurata) là một trong những loại cây ăn quả có giá
trị kinh tế cao trên thị trường Quả quýt ăn tươi có tác dụng bồi bổ sức khoẻ cho con người, hàng năm tạo ra một lượng hàng hoá lớn trên thị trường
Trang 12Quýt ở Việt Nam được coi là một trong những loại quả quý vì có mã quả đẹp, vị ngọt, hương thơm nên rất hợp với khẩu vị của người á đông Hiện tại
có rất nhiều giống quýt ngon như: quýt Bắc Sơn, quýt Quang Thuận Bắc Kạn, quýt đường canh, quýt Sen Yên Bái
Quýt Sen là cây ăn quả đặc sản của tỉnh Yên Bái, có đặc điểm quả hình
cầu dẹt dạng bánh xe, đáy quả bằng hoặc hơi lõm, vỏ quả màu vàng da cam, hơi dai, dễ bóc vỏ Màu sắc thịt quả vàng đậm chín vào cuối tháng 11-12 hàng năm Trọng lượng quả từ 130-250gam, có từ 9-15 hạt/1 quả Theo thống kê, diện tích trồng cam quýt của 2 huyện Văn Chấn và Lục Yên năm khoảng
1000 ha, sản lượng 4500-5000 tấn/năm, tập trung chủ yếu ở thị trấn nông trường Trần Phú và các xã Nghĩa Tân, Minh An, Thượng Bằng La, Cát Thịnh Văn Chấn và Khánh Hòa Lục Yên Riêng quýt Sen có diện tích 412,5ha, sản lượng hàng năm đạt 1743 tấn Tuy nhiên, cây cam quýt vẫn chưa đạt được hiệu quả kinh tế cao và còn nhiều điều bất cập, đặc biệt là trồng tràn lan, giống chưa được tuyển chọn kỹ, dẫn đến tuổi thọ cây ngắn, năng suất thấp, chất lượng quả chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng và phục vụ chế biến Đặc biệt, số cam quýt đã trồng đều do các hộ tự nhân giống bằng phương pháp chiết cành nên chất lượng cây kém, cành còi cọc và nhiễm bệnh
Đã có hàng trăm ha đã suất hiện bệnh Greening, nhiều cây chết và không ra
quả hoặc cây ra quả chất lượng rất kém, vị chua, không còn mùi vị đặc trưng
Quả có hình cầu dẹt dạng bánh xe, đáy quả bằng hoặc hơi lõm Quả không có cùi (lớp mô xốp trắng giữa vỏ và múi), trục tâm bì rỗng, hình sao; vỏ quả có
độ dày 2,65 mm, dễ tách khỏi phần múi, hơi sần, túi tinh dầu nhiều, dễ dập khi bóc vỏ, khi chín màu đỏ da cam, dai Các múi dễ tách rời nhau Màu sắc thịt quả vàng đậm, thời gian chín từ cuối tháng 11 – 12 trong năm: Khối lượng quả (gr): 134 -250 gr Đường kính quả (cm): 5,9- 7,0 cm Cao quả (cm): 4,9- 6,5 cm Số múi trên quả: 12,5- 14,0.Số hạt/quả: 9,0- 15,0 [19]
Trang 13Yên Bái là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, và cũng là địa phương rất thành công trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản suất hàng hóa, tăng thu nhập cho người nông dân rất tốt
Trong những năm gần đây, diện tích và năng suất của giống quýt Sen suy giảm rõ rệt do sâu bệnh hại, người dân ít đầu tư thâm canh; khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế; đặc biệt là hiện tượng mất mùa xảy ra liên tục khiến cho người dân không yên tâm đầu tư chăm sóc, chất lượng quýt Sen đang gặp một số khó khăn về thị trường tiêu thu nên người dân trồng quýt Sen rất cần được đầu tư nghiên cứu để khôi phục lại cây ăn quả truyền thống này
Để khôi phục và phát triển giống quýt Sen, việc đánh giá hiện trạng sản suất, nghiên cứu các yếu tố đất đai, khí hậu, tập quán canh tác, đặc điểm nông sinh học cũng như ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật là một cách tiếp cận quan trọng, góp phần xác định các yếu tố hạn chế của hiện tượng suy giảm năng suất và đưa ra các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng giống quýt Sen Yên Bái Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
”Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối
với giống quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái”
2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các chất điều hoà sinh trưởng GA3; phân bón qua lá và ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng phát triển, sự đậu quả và năng suất của giống quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, từ đó đề xuất những phương pháp xử
lý thích hợp góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật và các biện pháp thâm canh tăng năng suất cho quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng sản xuất giống quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái từ năm 2009-2011
Trang 14- Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sự ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng của giống quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái, cụ thể các biện pháp sau:
+ Nghiên cứu áp dụng thử nghiệm một số loại phân bón lá để cải tiến năng suất, chất lượng cho giống Quýt sen;
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng nhằm tăng khả năng ra hoa, đậu quả cho giống quýt sen;
+ Nghiên cứu tác động của biện pháp thụ phấn bổ xung đến năng suất, chất lượng giống quýt Sen;
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất, chất lượng giống quýt Sen;
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp bao quả đến chất lượng quả quýt
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về một
số đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng, sự đậu hoa, đậu quả và năng suất sản lượng của giống quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học, phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu đối với cây quýt ở nước ta
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây quýt Sen trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học
Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng,
ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông) Quá trình ra lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc
sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt [9]
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá:
Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun phân bón cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, nhất là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả [15]
Trang 161.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng
Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại cơ chế các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây
Gibberellin (GA3) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây
và được vận chuyển không phân cực Giberellin có tác dụng nhiều đối với cây
ăn qua như: thúc đẩy phát triển cây non; kích thích mọc mầm; nảy mầm, nảy chồi của hạt; sự ra hoa, ra quả của cây [16, 33]
1.1.4 Cơ sở khoa học của việc áp dụng biện pháp thụ phấn bổ sung
Thụ phấn bổ sung là một trong những biện pháp kĩ thuật có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành quả và đậu quả của cây trồng Bằng phương pháp thụ phấn bổ sung nguồn phấn hoa của những cây khác giống đã cải thiện tỷ lệ đậu quả, khắc phục hiện tượng mất mùa liên tục trong nhiều năm đối với những cây thuộc họ cam quýt [22]
1.1.5 Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp cắt tỉa
Sự sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quả thường không đáp ứng yêu cầu
về cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóc tán cây Cần phải tác động tích cực tạo hình tạo khung tán cho phù hợp với loại cây ăn quả và cấu trúc vườn cây Cắt tỉa nhằm mục đích điều hòa sinh trưởng, ra hoa kết quả của cây, làm giảm chiều dài cành, tỉa bớt cành nhánh, hướng cành ra phía ngoài khiến cho trong tán cây giảm số lượng mầm sinh trưởng, dẫn tới việc phân phối lại các chất giữa các cơ quan còn lại làm cho quả phát triển to hơn
Cắt tỉa nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệu suất thoát hơi nước trong điều kiên khô hạn Đây là một trong những biện pháp cải thiện chế độ ẩm cho cây [23, 24]
Trang 171.1.6 Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp bao quả
Bên cạnh các biện pháp hóa học, sinh học và biện pháp canh tác; cần phải áp dụng biện pháp bao quả để giảm thiểu thiệt hại do sâu đục quả hại cây
có múi gây ra Biện pháp bao quả vừa bảo vệ quả tốt, vừa bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm mang lại an toàn cho con người và môi trường
Khi áp dụng biện pháp bao quả trên cây cam quýt sẽ giúp cho quả cam quýt cũng không bị côn trùng, sâu (sâu đục cuống, bọ xít, ruồi đục quả, bệnh thán thư, ) cắn, chính và làm vỏ quả có màu sắc đậm, nhạt, đẹp theo ý muốn, không có các vết rám do sâu bệnh hoặc bị sém nắng và không làm thay đổi chất lượng trái [23, 24]
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng
có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng Á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu Ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu Đại dương
Các nước trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay đó là:
- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria
- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico
- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay
- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản
- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa Dominica
Hiện nay có 3 nước sản xuất quả có múi lớn nhất thế giới là Braxin, Mỹ
và Trung Quốc, chiểm khoảng 60% tổng sản lượng quả có múi toàn cầu Các thống kê về thị trường tiêu thụ quả tươi cũng cho thấy khoảng 60% sản lượng quả có múi được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, 40% còn lại là đưa vào chế biến
Trang 18Sao Paulo (Braxin) và Florida (Mỹ) là 2 vùng sản xuất cam chủ lực, chiếm khoảng 90% sản lượng nước cam toàn cầu Braxin là nước xuất khẩu quả có múi lớn nhât, chiếm 20% tổng sản lượng quả có múi của thế giới, tiếp theo là
Mỹ (14%), Trung Quốc (12%) và Mexico (6%)
Bảng 1.1: Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn)
Theo thống kê của FAO, xuất khẩu quả có múi hiện nay ước tính khoảng 10% sản lượng thu hoạch của cây ăn quả có múi Phần lớn lượng quả có múi xuất khẩu
là ở vùng Bắc bán cầu, chiếm 62% sản lượng quả có múi xuất khẩu của thế giới Quả có múi chủ yếu được tiêu thụ ở các nước phát triển, mặc dù tiêu thụ quả có múi bình quân trên đầu người ở các nước đang phát triển đang tăng lên theo thu nhập tăng
Trang 19Bảng 1.2: Các nước xuất khẩu chính đối với các loại quả có
múi khác nhau xếp theo thứ tự
Lan, Thổ Nhỉ Kỹ, Ai Cập, Úc, Italia,
2 Quả có múi loại nhỏ Trung Quốc, Israen, Nam Mỹ, Cyprus, Ấn Độ,
Hà Lan, Pakistan, Mỹ, Tây Ban Nha, Ma Rốc
3 Chanh tây và chanh ta
Lemons and Limes
Tây Ban Nha, Argentina, Mexico, Thổ Nhỉ Kỳ,
Mỹ, Nam Phi, Hà Lan, Italia, Hy Lạp
Tây Ban Nha, Argentina, Cyprus, Banamas
Nguồn: FAOSTAT, 2013
Theo thống kê của FAO, các nước nhập khẩu quả có múi tươi trên thế giới tính theo tỷ lệ % có : CHLB Đức 10%, CH Pháp 9%, Hà Lan 8%, Nhật Bản 6% ; Anh 6%, Nga 6%, Mỹ 4%, Canada 4%, Arập 4%, Ba Lan 3%, Các nước còn lại 37%
Bảng 1.3: Sản lượng cây có múi ở một số nước điển hình năm 2011 (tấn)
Trang 201.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt
Theo sử sách "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn có viết: Nước Việt Nam
cũng có rất nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là Liên Cam), cam Vú (Nhũ cam) loại quả có vỏ mỏng và mỡ, vừa chua vừa ngọt; cam sành vỏ dày, vị chua; cam Mật (mật cam) vỏ mỏng, vị chua; cam Động Đình quả to, vỏ dày, vị chua; cam Giấy (chỉ cam) tức là Kim quýt, vỏ rất mỏng, sắc hồng, trông mã đẹp, vị chua; quất Trục (cây quýt) ghi trong Thiên Vũ Cống và sách Thu Thư
là tài sản rất quý của Nam Phương đem sang Trung Quốc trước tiên [5]
* Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến
10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có
độ cao từ 3 - 5m so với mặt nước biển Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi Lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả
có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, Bưởi, chanh Giấy, quýt [20]
Theo Gurdwer, cam của Nam Bộ trái lớn, hương vị tuyệt hảo, vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa Các giống được ưa chuộng và trồng nhiều hiện nay là: Cam sành, cam Mật, quýt Tiều (quýt hồng), quýt Siêm, quýt Đường, bưởi Đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn Năng suất các giống kể trên ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu long tương đối cao [29]
Trang 21đó là cam Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây nhanh giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp [9],[2]
+ Vùng miền núi Phía Bắc
Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Gâm, Sông Thương, Sông Chảy Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1000 ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Kạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất Do loại hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc
là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng [3], [1] ,[9]
Cam quýt của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp
Trang 22nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức [11], [7], [24]
Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước
là chủ yếu và một phần dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng trên 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên
Tập quán tiêu thụ quả của nhân dân ta từ xưa đã thành truyền thống Quả
là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân đô thị Trong các ngày giỗ chạp, ngày hội, ngày tết, thăm hỏi lẫn nhau nhân dân cũng dùng đến quả tươi, với mức sản xuất hiện tại mới đạt 48 kg quả các loại bình quân cho một đầu người/năm (kể cả hơn 1-1,5 vạn tấn quả có múi nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam theo
số liệu của tổng cục Hải Quan) [17]
Theo Faostat, diện tích, năng suất và sản lượng cây ăn quả có múi ở nước ta từ năm 2000 đến năm 2011 có biến động tương đối
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất /ha)
Sản lƣợng (tấn)
Trang 23Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả có múi cũng rất đa dạng, ngoài hệ thống chỉ đạo sản xuất lưu thông phân phối của nhà nước và Tổng Công ty Rau quả Trung ương với các đơn vị trực thuộc, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ thống tổ chức tiêu thụ quả tươi của tư nhân được hình thành một cách rộng khắp và chặt chẽ từ khâu thu mua đến khâu vận chuyển đường dài, bán buôn, bán lẻ cũng tỏ ra có hiệu quả hơn Chính hình thức tổ chức kinh tế nhiều thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miền đất
nước Đây là một động lực phát triển sản xuất cây ăn quả ở nước ta
Nhìn chung, cam quýt là một trong những cây ăn quả rất quan trọng ở Việt Nam Dự báo trong những năm tới, diện tích và sản lượng cam quýt sẽ tiếp tục phát triển; các vùng cam quýt trọng yếu trên cả nước đã và đang tiếp tục chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nhân dân để áp dụng sản xuất theo hướng chuyên canh, tập trung Điều này cho thấy, mặc dù có một số hạn chế
về mặt sinh thái, khoa học kỹ thuật song cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam
1.3 Nguồn gốc và phân loại cam quýt
1.3.1.Nguồn gốc
Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng các giống cam quýt được trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á Trần Thế Tục )[20]; (1995) [21]; Tanaca (1979) đã vạch đường ranh giới vùng xuất xứ của giống thuộc chi Ctrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy núi Hymalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản [39] Theo Trần Thế Tục (1980) nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3.000 - 4.000 năm trước; Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “ Quýt lục’’ đã ghi chép và phân loại các giống ở Trung Quốc Điều này cũng khẳng định thêm
rằng nguồn gốc của các giống cam, chanh (Citrus sinensis Obeck) và các giống
quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc [38]
Việt Nam cũng nằm trong khu vực này, nên có nhiều giống cây có múi có
Trang 24nguồn gốc ở nước ta Ví dụ: Quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) Thực tế ở Việt
Nam địa phương nào cũng có trồng cam sành với rất nhiều vật liệu giống và tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có: Cam Sành (Bố Hạ,
Hàm Yên, Yên Bái); cam Sen (Yên Bái, Đình Cả) cam bù (Hà Tĩnh) [21]
1.3.2 Phân loại cam quýt
Việc nghiên cứu phân loại cam quýt đã được các nhà nghiên cứu thực vật học tiến hành từ hơn 200 năm trước Lần đầu tiên K Line(1753) đã sắp xếp và đưa giống Citrus vào hệ thống thực vật học Ở lần xuất bản đầu tiên
trong tác phẩm " Species Platarium" ông đã chia giống citrus thành hai loài đó là: Ctrus medica (L) và Citrus aurantium (L) Tác phẩm được hoàn thành vào lần xuất bản thứ hai (1763) với loài bổ sung "Citrus Trifloliata" Năm 1767
trong tác phẩm "Systema Nature" ông đưa thêm một vài loài Citrus decumana(L) - Bưởi (Lux - xơ, 1947) Có thể mô tả hệ thống phân loại theo
Trang 25Trong hệ thống phân loại hiện nay có 3 hệ thống được sử dụng hơn cả đó
là hệ thống phân loại của Swingle và R.V Hogdson Theo sự phân loại này
thì cam, quýt, chanh, bưởi đều thuộc họ cam (Rutaceae), họ phụ cam, quýt (Aurantoideae) Theo Varoxop, Steiman - 1982 có gần 250 loài được chia ra
làm nhiều chi và loài khác nhau Trong đó có 3 chi được trồng từ lâu đời để
lấy quả là chi cam quýt (Citus), chi cam 3 lá (Poncirus), chi quất (Fortunella)
Chi Citrus là quan trọng nhất được chia thành 2 chi phụ là Eucitrus (các loài
quan trọng là Cam, chanh, quýt, bưởi) và Papeda [32]
1.4 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh cam quýt
Cam quýt được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới do có phổ thích nghi rộng, tuy nhiên năng suất cao và chất lượng cam quýt ngon, mẫu
mã quả đẹp khi được trồng ở vùng á nhiệt đới [4]
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập ứng do có bộ
rễ cộng sinh với nấm Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa lượng như N, P, K cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như:
Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu.v.v Nếu thiếu hụt một trong các nguyên
tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm [35]
- Nhiệt độ
Theo Trần Thế Tục (1980) [20], và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39 oC, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27oC Tại nhiệt độ thấp -5oC có một số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 400
C kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt
độ không khí lên đến 50 - 570
C [2], [3], [7]
Trang 26Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1960) cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 -
23oC Khi nhiệt độ tới 26oC cây hút đạm mạnh Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho hoạt động này kém đi [7]
Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm
vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn [11], [10]
Những vùng có mùa hè quá nóng và mùa đông quá lạnh, nhiệt độ bình quân năm >150C, tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao từ 1.700 - 1.800m so với mực nước biển vì những vùng này mùa đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới - 40
C [7], [30]
- Ánh sáng
Theo Vũ Công Hậu và một số tác giả thì cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8 -9h sáng và 4 - 5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậy chúng
ta cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời
có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh [7], [36]
- Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt
là cây ưa ẩm, ít chịu hạn, cần nhiều nước nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con và thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả đang phát triển Trong năm
Trang 27cam quýt cần nước từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tuy ưa ẩm nhưng cam quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ là cho cây rụng lá, hoa, quả [20], [9],[35]
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng và nứt quả [13]
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000 a), lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500, quýt cần nhiều hơn từ 1.500 - 2.000, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước
tự do bằng 1% và độ đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng [13]
- Gió
Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió có ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây, đặc biệt là gió lớn
Ở nước ta, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh trưởng
và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn [13], [9]
- Đất đai
Ở nước ta, theo Trần Thế Tục (1980) và một số tác giả cho rằng cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ đất cát pha,
Trang 28đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng cam quýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn [9], [40]
Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử Eh > 300mV Ở độ pH này các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất Đất trồng cam quýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh trưởng Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ và đất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất
có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát được nước [9], [20]
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam [7], [21]
1.5 Đặc điểm ra hoa, đậu quả của cam quýt
Cam quýt có 2 loại hoa, hoa đủ và hoa dị hình Hoa đủ cánh dài màu trắng mẫu 5, mọc thành chùm hoặc đơn độc Nhị có thể có phấn hoặc không
có phấn, số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa Bầu nhụy thường có 10 - 14 ô (múi), hoa có mùi thơm hấp dẫn Quả có 8 - 14 múi và có thể có từ 0 - 20 hạt Cam quýt đậu quả nhờ thụ phấn chéo hoặc tự thụ Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ, cuống hoặc cánh hoa ngắn, thường số lượng rất ít Hạt cam quýt phần lớn là đa phôi (0 - 13 phôi); chỉ riêng bưởi và các giống lai của chúng là đơn phôi
Cây họ cam quýt thường ra hoa đồng thời với cành non và ra tập chung,
số lượng hoa rất nhiều Một cây cam có thể ra tới 60.000 hoa, chỉ cần 1% đậu trái cũng có thể đạt năng suất 100 kg/cây Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc vào đặc tính di truyền, đặc điểm sinh lý của cây và điều kiện ngoại cảnh Cần chọn
Trang 29cây khoẻ, phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái, kỹ thuật chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, tăng cường phân hữu cơ, giảm tối đa lượng phân bón vô cơ và thuốc hoá học để tăng tỷ lệ đậu quả và cho sản phẩm trái cây sạch, an toàn, đáp ứng nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng
Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả và sự phát dục của quả cam quýt Muốn tỷ lệ đậu quả cao, quả sinh trưởng bình thường, phẩm chất tốt thì trong kỹ thuật trồng trọt cần tác động sao cho bộ lá của cây
luôn xanh, chuyển lục đều và không bị rụng lá sớm (tuổi thọ lá dài) [15] 1.6 Cơ sở sinh lý của hiện tƣợng rụng quả
Trong đời sống của cây trồng thường xảy ra hiện tượng rụng hoa, rụng quả, đây là một hiện tượng sinh lý hoàn toàn bình thường của cây, do quá trình hình thành tầng rời ở cuống Sự rụng quả là sự thích ứng của cây khi thiếu dinh dưỡng, nước và hoocmon cho sự sinh trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một lượng nhất định các quả non, để tập trung dinh dưỡng
và hoocmon cho những quả khác Sự rụng quả thường mạnh mẽ vào lúc phôi sinh trưởng nhanh và lúc phình to của quả Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do 2 yếu tố đó là yếu tố môi trường và yếu tố nội tại
* Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự rụng
Các nghiên cứu về môi trường ảnh hưởng đến sự rụng các bộ phận của cây như: Lá, hoa, quả đã được quan tâm từ lâu Trong triết học Hy Lạp đã có nhận xét: điều kiện ẩm sẽ làm cho cây giữ lá tốt hơn nơi khô hạn Nói chung đất bạc màu lá rụng sớm hơn hoặc cây già lá rụng sớm hơn cây non
Theo Addoicott, Lynch (1957) [26], thì nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến
sự rụng, khi cây gặp nhiệt độ thấp sẽ kích thích sự hình thành tầng rời ở cuống, nhiệt độ quá cao thúc đẩy nhanh chóng sự rụng
Theo Lockhart, J.A (1960) (1961) [32],[33] cho rằng ánh sáng liên quan đến sự rụng theo nhiều cách khác nhau Khi cây thiếu ánh sáng sẽ hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa, quả Theo Heinicke (1919), sự rụng ở cây còn liên quan chặt chẽ đến chế độ chiếu sáng trong ngày, chế độ ánh sáng ngày dài sẽ làm hạn chế sự rụng
Trang 30Theo Reuther W Smith PE (1973), thì hạn cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự rụng Khi bị hạn các bộ phận của cây sẽ bị rụng vì hạn liên quan đến sự thoái hóa của lá, tuy nhiên nếu thừa nước cũng thúc đẩy sự rụng
ở cây
Theo Trần Thế Tục (1980), cho rằng rụng quả là do hạn hán, khi mưa đột ngột làm cho tốc độ lớn của quả mạnh hơn so với vỏ quả do đó làm cho quả nứt và quả bị rụng [20]
Theo Abeles, F.B.and R.E.Holm (1966), thì thành phần khí trong khí quyển cũng ảnh hưởng đến quá trình rụng Hàm lượng oxygen như là một nhân tố thiết yếu liên quan đến sự rụng, do vậy nếu thiếu oxy sẽ kìm hãm
sự rụng
Vai trò của etylen ảnh hưởng đến quả trình rụng đã được xác nhận Hiện nay do không khí bị ô nhiễm, hàm lượng etylen tăng làm tăng sự rụng hoa, rụng quả trên cây Ngoài ra khí NH3 cũng là một trong những nhân tố điển hình cảm ứng sự rụng của cây [16], [23], [25]
Theo Skoog, F (1940) [37], hàm lượng khí cacbonic (CO2) trong không khí cũng ảnh hưởng đến sự rụng Thông thường CO2 có tác động ngăn cản sự rụng nhưng trong một số thực nghiệm nó lại có tác dụng như một chất cảm ứng rộng
Ngoài ra theo Addicott sự thiếu hụt một số chất như: N, Zn, Ca, S, Mg,
Bo, Fe sẽ kích thích sự rụng Tuy nhiên khi quá dư thừa các chất trên cũng có thể gây ra sự rụng, đặc biệt là sự dư thừa Zn, Fe, Cl, nhất là khi phun lên lá sẽ làm cho quá trình rụng tăng nhanh [25], [26] [27]
Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và các cộng sự khi chúng
ta đã hiểu được bản chất của sự rụng thì chúng ta có thể điều chỉnh sự rụng các cơ quan có lợi cho sản xuất Muốn kìm hãm sự rụng thì người ta thường phun các hợp chất chứa auxin, hoặc gibberellin cho lá hoặc hoa, quả non đồng thời kết hợp với việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi [23], [26]
Trang 31* Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến sự rụng
Như chúng ta đã biết quá trình quang hợp giúp cây tích lũy chất khô về các sản phẩm thu hoạch, cung cấp nguyên liệu cho hô hấp và cấu tạo thành tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc và ngăn cản sự rụng
Hiệu quả của quang chu kỳ đến quá trình rụng có liên quan đến các phytocrom, qua phytocrom tác động đến quá trình tổng hợp các hoocmon Theo Nitsch (1963) dưới điều kiện ngày dài thì auxin và bibberellin được tổng hợp nhiều hơn axit abxixic, tổ hợp các chất này làm tăng sinh trưởng và chống lại sự rụng Trong điều kiện ngày ngắn thì cân bằng này theo hướng làm tăng sự rụng [23], [35]
Các yếu tố nội tại đều được sản sinh nhờ tác động của yếu tố môi trường,
ví dụ nhiệt độ gây ra sự rụng là do nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình hô hấp và các quá trình tổng hợp các enzyme [23] Vì vậy việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt là việc làm cần thiết có tác dụng ngăn cản quá trình rụng của cây
1.7 Một số nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam quýt
1.7.1.Nghiên cứu về việc cung cấp phân bón qua lá cho cây cam quýt
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Theo Hoàng Minh Tấn [23], trong thế giới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất đinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây
Trang 32Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông Poster (Nguyễn Thị Thuận et, al, 1966) [15]
Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn
Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên nông, FoFer và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: Rau, cà phê và một số cây ăn quả Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Nhuận, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hồng, Huỳnh Văn Tần tại Tiền Giang (1995 - 1996) cho thấy chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả[15]
Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cùng cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho cây thì việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt là rất cần thiết
Trang 33Bộ môn Sinh lý thực vật-Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử dụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm α-NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ xung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng N,
P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng [23]
Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2006) cho biết phân bón lá dạng phức hữu
cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi [14], [16]
1.7.2 Một số nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng GA 3 (Gibberllin) cho cây cam quýt
Các chất điều hòa sinh trưởng còn được gọi là hoocmon thực vật, nó có tác dụng điều hòa sự sinh trưởng và phát triển của cây Các hoocmon thực vật
là các chất hữu cơ được tổng hợp một lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác để điều hòa các hoạt động sinh
lý, các quá trình sinh trưởng phát triển và duy trì mối quan hệ hài hòa giữa các
cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất [23]
Do chức năng điều chỉnh sự hình thành cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ hoocmon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc xử lý các chất điều tiết sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất các sản phẩm nông nghiệp [2], [10], [14]
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, sự hình thành hoa
là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sang sang giai
Trang 34đoạn sinh trưởng sinh sản, chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Sau thụ phấn thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin
và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa nở Để tăng cường sự đậu quả người ta bổ sung thêm auxin và gibbrellin ngoại sinh cho hoa và quả non, hai chất này có tác dụng bổ sung thêm cho nguồn phytohocmon có trong phôi hạt vốn không đủ cho quá trình nảy mầm Vì vậy, mà sự sinh trưởng của quả được kích thích và quả khó có thể rụng ngay được [33], [31]
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000b) [14], phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam, quýt để nhằm:
- Nâng cao tỷ lệ đậu quả
- Làm quả to hơn
- Làm cho quả ít hạt hay không có hạt
- Làm rụng bớt hoa những năm cây ra quả nhiều, tránh hiện tượng ra quả cách năm
- Hạn chế rụng quả
Cụ thể về vai trò và tác dụng của các chất điều hòa sinh trưởng GA 3
(Gibberllin) như sau:
Lịch sử phát hiện ra gibberellin gắn liền với những nghiên cứu bệnh lúa von mà các nhà nghiên cứu người Nhật đã quan tâm từ lâu Triệu chứng điển hình là cây lúa tăng trưởng chiều cao quá mức, làm cây yếu, giảm năng suất trên 40% Các nhà bệnh cây Nhật bản cho rằng bệnh von là do loại nấm ký sinh ở cây lúa có tên là gibberela fujikuroi gây nên, loại nấm này đã tiết ra một chất nào đó kích thích sự sinh trưởng chiều cao của cây lúa và gây nên
bệnh lý [23]
Sau đó các nhà nghiên cứu khoa học đã chiết tách và xác định được
GA (gibberellin) từ các thực vật bậc cao khác nhau và xác định gibberellin là một phytohormon quan trọng và phổ biến của toàn thế giới thực vật Ngày nay, người ta đã xác định được hơn 50 loại gibberellin khác nhau và được ký hiệu là G1, GA2, GA3 trong đó GA3 (axit
gibberellic) là có hoạt tính mạnh nhất [23]
Trang 35Theo Lockhanrt, J.A,(1961) [33], trong nhiều trường hợp GA3 kích thích
sự ra hoa rõ rệt, ảnh hưởng đặc trưng của GA3 đến sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng và phát triển của trụ nằm dưới hoa (ngồng), nó được coi là thành phần hoocmon ra hoa, có thể xử lý GA3 để có hoa quả trái vụ
GA3 cũng có tác dụng trong việc phân hóa các cơ quan sinh sản đặc biệt
là sự phân hóa giới tính đực và cái, kích thích sự hình thành hoa đực và ức chế quá trình hình thành hoa cái, chính vì vậy mà người ta đã sử dụng GA để
điều khiển số lượng hoa đực của các cây họ bầu bí [23], [16]
GA3 có vai trò đối với sự sinh trưởng của cây non, thúc đẩy các lộc cành phát triển, tăng tỷ lệ đậu quả, làm quả nhanh lớn, giúp cho quả chín muộn, ức chế quá trình phân hoá mầm hoa, đặc biệt là tạo quả không hạt Tuy nhiên cần khảo nghiệm đối với từng giống cụ thể, ở các địa phương khác nhau Ngoài ra cần nắm vững nồng độ, thời kỳ phun, liều lượng và kỹ thuật phun thích hợp, trong đó nồng độ và thời kỳ phun có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng tỷ lệ đậu quả [16]
1.8 Hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất cây có múi tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái
1.8.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
1.8.1.1 Vị trí địa lý, địa hình:
* Vị trí địa lý:
Lục Yên là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái, có tổng diện tích đất tự nhiên 80.898,36 ha; với 24 đơn vị hành chính xã, thị trấn Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Yên Thế cách thành phố Yên Bái 93km và Thủ đô Hà Nội 270km, có tuyến quốc lộ 70 chạy qua nối Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai
Phía Đông giáp huyện Hàm Yên (Tuyên Quang), phía Tây giáp huyện Văn Yên, phía Nam giáp Hồ Thác Bà của huyện Yên Bình, phía Bắc giáp huyện Bắc Quang (Hà Giang)
* Địa hình:
Địa hình huyện bị chia cắt bởi 2 dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo ra các thung lũng bằng phẳng là nơi dân cư tập trung sản xuất và sinh sống từ lâu đời
Trang 36Phía hữu ngạn sông Chảy là dãy núi Con Voi chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có độ cao trung bình 300 – 400m, đỉnh cao nhất 1,148m, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình 400 Địa bàn bị chia cắt tạo thành những thung lũng nhỏ và các khe suối Toàn bộ vùng này là đất đá cổ phong hóa mạnh, rừng tự nhiên còn 50% diện tích, có khả năng phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp và nông nghiệp
Phía tả ngạn sông Chảy là dãy núi đá lớn chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trung bình 935m, đỉnh cao nhất 1.035m, có độ dốc lớn, đỉnh nhọn, sườn núi bị cắt xẻ, có độ dốc 700 trở lên, hầu hết vùng núi đá có rừng tự nhiên, độ che phủ rừng hiện tại là 42,6% Đây là dãy núi đá vôi có nguồn tài nguyên mỏ quý hiếm đã từng bước được đầu tư nghiên cứu, thăm
dò và khai thác
Vùng đất thấp bằng phẳng được xen kẽ giữa 2 dãy núi và triền sông Chảy đất đai phì nhiêu là những khu tập trung dân cư sinh sống và sản xuất lâm nghiệp
Vùng hồ Thác Bà được hình thành từ năm 1970 sau khi xây dựng nhà máy Thủy điện Lục Yên có 11 xã ven hồ với diện tích lúa nước khoảng 1.600 ha
Do địa hình bị chia cắt gây không ít khó khăn cho việc xây dựng cơ sở
hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội như giao thông vận tải, điện, thông tin liên lạc, phát thanh truyền hình…
1.8.1.2 Điều kiện khí hậu thời tiết
Nhiệt độ trong nhiều năm chênh lệch từ 14,69oC (tháng 1) đến cao nhất
là 35,70C (vào tháng 6) Lượng mưa qua các năm khá cao khoảng từ 1.800 - 2.000mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung
từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 90% lượng mưa trong cả năm Vì vậy mùa đông thường xảy ra hiện tượng thiếu nước Ngược lại với lượng mưa là lượng bốc hơi nước bề mặt, với các loại cây trồng đặc biệt là cam quýt thời gian này đang vào thời kỳ đậu quả nếu gặp hạn rất dễ bị rụng quả non, do vậy việc đầu
tư tưới nước cho cây trồng ở những tháng này sẽ làm cho khả năng ra hoa, đậu quả tốt hơn
Trang 37Bảng 1.5: Một số yếu tố thời tiết, khí hậu vùng nghiên cứu Yếu tố
Tháng
Lƣợng mƣa TB (mm) Ẩm độ TB (%) Nhiệt độ TB ( 0
C) Nhiệt độ tối cao ( 0
C) Nhiệt độ tối thấp
( 0 C)
10 năm (2003- 2012)
8 tháng năm
2013
10 năm (2003- 2012)
8 tháng năm
2013
10 năm (2003- 2012)
8 tháng năm
2013
10 năm (2003- 2012)
8 tháng năm
2013
10 năm (2003- 2012)
8 tháng năm 2013
Trang 381.8.1.3 Điều kiện đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Lục Yên là: 80.898,36 ha; phân loại đất bao gồm một số loại đất chính:
- Nhóm đất phù sa: Ký hiệu (p) (Fhivisols ) (FL)
Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của các con sông suối trong huyện; nhóm đất này có đặc tính xốp lớn, hàm lượng chất hữu
cơ giảm theo chiều sâu của đất, ngoài tầng A bị xáo trộn có màu xám hoặc tơi mềm hoặc tối màu hoặc có tầng H tích lũy chất hữu cơ
Khả năng khai thác, sử dụng của loại đất này thích hợp trồng lúa, cây màu, các loại và hiện nay đã và đang được đưa vào khai thác, sử dụng cơ bản hết
Nhóm đất đỏ (F) Ferralsols ( FR):
Tập trung trên các khu vực địa hình núi phát triển trên đá vôi, đá macma bazơ hoặc trung tính Đây là loại đất hình thành tại chỗ do sự phong hoá của các loại đá macma bzơ hoặc trung tính đá vôi; có độ dốc trên 150, có tầng dày trên 30cm, có khả năng trao đổi cation (CEC) nhỏ hơn hoặc bằng 16me/100gam đất,
có dưới 10% khoảng có thể phong hoá, có dưới 10% sét phân tán trong nước
Trang 39Nhìn chung đây là nhóm đất có khả năng phản ứng chua, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét chủ yếu là kaolinit, có quá trình tích luỹ Fe và Al cao, hạt kết vón tương đối bền Đây là khả năng thích hợp cho sản xuất nông - lâm nghiệp
* Hiện Trạng sử dụng đất của huyện Lục Yên:
Kết quả trình bày tại bảng 1.6 cho thấy, tính đến tháng 12/2012, tỉ lệ sử dụng đất nông nghiệp của huyện chiếm 86,4% Trong đó, diện tích đất trồng cây hàng năm 8,2% so với tổng diện tích đất tự nhiên; đất đất trồng cây lâu năm chiếm 5,8%; đất nuôi trồng thủy sản chiếm 0,3%; đất trồng cây Lâm nghiệp có diện tích lớn nhất, chiếm 72,1% so với tổng diện tích đất tự nhiên
và chiếm 83,5% so với tổng diện tích đất nông nghiệp
Bảng 1.6: Hiện trạng sử dụng đất huyện Lục Yên, Yên Bái
6 1.2 Đất trồng cây lâu năm (CAQ) 4.704,19 5,8
7 1.4 Đất mặt nước nuoi trồng thuỷ sản 219,74 0,3
Trang 401.8.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái:
- Tính đến tháng 12/2012, dân số của huyện là 105.104 người; mật độ dân số bình quân là 130 người/km2 Toàn huyện có 16 dân tộc anh em cùng chung sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Cao Lan, Dáy, Ngái, Pa Cô, Pa Dí, Xá, Tu Dí, Lô Lô, Mông Trong đó Tày chiếm 53,3%, Kinh chiếm 21,1%, Nùng chiếm 10,4%, Dao chiếm 14,5%, còn lại là các dân tộc khác
Số lao động chính chiếm 58.850 người chiếm 56% tổng số dân; lao động
có khả năng lao động là 57.680 người chiếm 98% tổng lao động Trong đó: Lao động khu vực nông thôn 52.777 người chiếm 91,5%; lao động khu vực thành thị 4.903 người chiếm 8,5%
Nhìn chung, huyện có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lao động nông thôn, tuy nhiên trình độ lao động còn thấp, lực lượng lao động phân bố không đều do sự phát triển của các ngành kinh tế, chủ yếu lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 90%, còn lại 10% lao động thuộc các ngành kinh tế khác
1.8.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả và cây quýt Sen tại huyện Lục Yên
Kết quả thống kê trình bày tại bảng 1.7 cho thấy, cây cam có diện tích lớn nhất; năm 2010 đạt 250,3 ha, sản lượng đạt 1.338 tấn/năm, năm 2012 diện tích đạt 283,7 ha, sản lượng đạt 1.487 tấn/năm; tiếp đến là diện tích cây Chuối năm 2010 đạt 138 ha; sản lượng đạt 1.496 tấn/năm, năm 2012 diện tích đạt 149,3 ha, sản lượng đạt 1.618 tấn/năm; cây quýt năm 2010 có diện tích 108,5
ha, sản lượng đạt 268 tấn/năm; năm 2012 diện tích là 127,4 ha, sản lượng đạt 271,9 tấn/ha
So với các cây trồng khác, diện tích, sản lượng cây có múi của huyện
chiếm 2/3 cả về diện tích và sản lượng cây ăn quả