Bột cỏ được chế biến từ các phần non của cây, vì vậy chúng chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng tự nhiên, sắc tố, protein, khoáng đa vi lượng và các vitamin,… Việc chế biến bột cỏ tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU BÁ TRUNG
SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU
VÀ BỘT CỎ STYLO TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA
GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU BÁ TRUNG
SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU VÀ BỘT CỎ STYLO TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Người hướng dẫn khoa học: TS TỪ TRUNG KIÊN
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là từ đề tài do bản thân tôi thực hiện, chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào ở trong và ngoài nước Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ
Chu Bá Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo và cán bộ Bộ môn cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y, Khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu Nhà trường, Ban Giám đốc trung tâm thực hành thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên và Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi tỉnh Thái Nguyên - Viện chăn nuôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này
Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn TS Từ Trung Kiên trong suốt quá trình thực hiện luận án Nhân dịp hoàn thành luận án này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ, động viên, an ủi của bạn bè đồng nghiệp, thân hữu gần xa đã chia sẻ cùng tôi trong thời gian hoàn thành luận án này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ
Chu Bá Trung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU i
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích của đề tài 3
3 Ý nghĩa của đề tài 4
3.1 Ý nghĩa khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Giới thiệu cỏ Stylo và cây keo giậu 5
1.1.1 Giới thiệu cỏ Stylo 5
1.1.1.1 Tên gọi 5
1.1.1.2 Nguồn gốc phân bố 5
1.1.1.3 Năng suất chất xanh 6
1.1.1.4 Thành phần hóa học trong bột cỏ Stylo: 7
1.1.2 Giới thiệu về cây keo giậu 11
1.1.2.1 Tên gọi 11
1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố 12
1.1.2.3 Năng suất chất xanh 12
1.1.2.4 Thành phần hóa học trong bột lá keo giậu 14
Trang 61.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 20
1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố 20
1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố 20
1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật 21
1.2.1.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 25
1.2.2 Vai trò của sắc tố đối với gia cầm sinh sản 26
1.3 Các kết quả nghiên cứu về sử dụng bột cỏ Stylo và bột lá keo giậu 29
1.3.1 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo 29
1.3.2 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá keo giậu 31
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Nội dung 1: Xác định ảnh hưởng của BLKG và BCStylo đến năng
suất trứng 35
2.3.2 Nội dung 2: Xác định ảnh hưởng của BLKG và BCStylo đến một số chi tiêu lý học và hóa học của trứng 38
2.3.3 Nội dung 3: Xác định ảnh hưởng của BLKG và BCStylo đến chất lượng trứng giống 39
2.3.4 Phương pháp theo dõi và tính các chỉ tiêu 39
2.3.5 Phương pháp xử lý các số liệu 43
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Tỷ lệ nuôi sống và khả năng sản xuất trứng của gà thí nghiệm 44
3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống 44
Trang 73.1.2 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 45
3.1.3 Năng suất và sản lượng trứng của gà thí nghiệm 48
3.2 Một số chỉ tiêu lý, hóa học của trứng 51
3.2.1 Một số chỉ tiêu lý học của trứng 51
3.2.2 Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng 54
3.2.3 Thành phần hóa học của lòng trắng trứng 56
3.2.4 Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng 58
3.3 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu về trứng ấp 61
3.3.1 Tỷ lệ trứng có phôi 61
3.3.2 Tỷ lệ trứng ấp nở 63
3.3.3 Tỷ lệ gà con loại 1 65
3.4 Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà con loại I 67
3.4.1 Tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng 67
3.4.2 Chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà con loại I 69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
I Tài liệu tiếng Việt 73
II Tài liệu tiếng Anh 77
Trang 8DXKN : Dẫn xuất không chứa nitơ
DCP : Di canxi phôt phat
TCPTN : Tiêu chuẩn phòng thí nghiệm
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TN : Thí nghiệm
TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
VCK : Vật chất khô
VTM : Vitamin
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36
Bảng 2.2: Công thức thức ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 37
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua 10 tuần thí nghiệm (%) 44
Bảng 3.2: Tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (%) 46
Bảng 3.3: Năng suất và sản lượng trứng của gà trong 10 tuần thí nghiệm 49
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lý học của trứng 52
Bảng 3.5: Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng 54
Bảng 3.6: Thành phần hóa học của lòng trắng trứng 56
Bảng 3.7: Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng 58
Bảng 3.8: Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) 62
Bảng 3.9: Tỷ lệ trứng nở/trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) 64
Bảng 3.10: Tỷ lệ gà con loại 1/ấp nở ở các giai đoạn thí nghiệm (%) 65
Bảng 3.11: Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống 68
Bảng 3.12: Chi phí thức ăn cho 10 trứng, 10 trứng giống và 1 gà con loại I 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ sắc tố trong thực vật 22
Hình 1.2: Sơ đồ carotenoid tổng số 26
Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm 48
Hình 3.2: Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm 51
Hình 3.3: Đồ thị hàm lượng carotenoids trong lòng đỏ trứng theo thời gian
thí nghiệm 61
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm (%) 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ngày nay, chăn nuôi sạch, an toàn đang trở thành vấn đề cấp thiết của
cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Để thực hiện được mục tiêu của chăn nuôi sạch, an toàn, người ta thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: con giống, chuồng trại, phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường và thức ăn dinh dưỡng,… Trong những năm gần đây tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng, các sản phẩm động vật và sản phẩm tổng hợp nhìn chung đều chịu sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, nhất là việc tồn dư kháng sinh, hoocmon, kim loại nặng và kim loại độc Vì vậy, việc sử dụng nguyên liệu sạch có nguồn gốc từ tự nhiên để sử dụng trong chăn nuôi là một trong các giải pháp trong chăn nuôi sạch, an toàn, góp phần cung cấp cho thị trường những sản phẩm sạch có lợi cho sức khỏe con người
Trên thế giới việc sử dụng thức ăn thực vật, đặc biệt là bột cỏ dùng làm thức ăn cho chăn nuôi khá phổ biến Bột cỏ được chế biến từ các phần non của cây, vì vậy chúng chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng tự nhiên, sắc tố, protein, khoáng đa vi lượng và các vitamin,…
Việc chế biến bột cỏ trong chăn nuôi còn nhằm những mục đích khác như: tận dụng nguồn thức ăn trong mùa nhiều cỏ để sử dụng vào mùa thiếu
cỏ, bổ sung vitamin vào khẩu phần ăn cho động vật mà thành phần này trong thức ăn hỗn hợp thường bị thiếu hụt do quá trình chế biến ở nhiệt độ cao và bảo quản trong thời gian dài Đặc biệt, bột lá cây họ đậu còn cung cấp một nguồn protein và sắc tố đáng kể cho động vật
Nước ta là một nước thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp quanh năm với sự phong phú về chủng loại cây trồng
và vật nuôi để cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ cho con người và vật nuôi
Trang 12Stylo (Stylosanthes guianensis)là cây họ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, được trồng phổ biến tại nhiều nước Châu Á và trên thế giới Các nghiên cứu đã cho thấy
Stylosanthes guianensis là cỏ trồng có năng suất và chất lượng khác nhau tùy
thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác Nhìn chung, đây là cỏ
có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, β caroten, khoáng,… Trên thế giới đã
có một số công trình nghiên cứu về cỏ Stylosanthes như là một nguồn protein
và chất tạo màu trong khẩu phần cho gia súc, gia cầm Cỏ Stylosanthes có
protein thô dao động từ 12,1 - 18,1% chất khô trong thân lá (Sukkasem và cs, 2002) [113], và có thể lên đến 21% chất khô ở lá (Huy và cs, 2000) [78] Cỏ chứa β caroten có thể chuyển đổi với hiệu quả khác nhau trong cơ thể động vật
để thành vitamin A và cùng với các xanthophylls, nó có thể là một nguồn sắc tố tốt cho lòng đỏ trứng, da và chân gà Stylosanthes đã được sử dụng như là
nguồn protein thực vật cho lợn, vịt và gà tại Trung Quốc (Guptan và Singh,
1983) [71] Stylosanthes có thể cho ăn ở dạng tươi hoặc bột khô (Horne và
Stur, 1999) [77] Trong quá trình sử dụng cho thấy: dễ chế biến và bảo quản
Đối với gà đẻ, bột cỏ Stylosanthes đã được sử dụng ở mức dưới 10% trong
khẩu phần ăn (Onwudike và Adegbola, 1978) [97] Tại Việt Nam, đã có một số
công trình nghiên cứu trồng và sử dụng cỏ Stylosanthes cho bò sữa và cho lợn
Cây keo giậu (Leucaena) là cây họ đậu có tiềm năng về dinh dưỡng, cải
tạo và chống xói mòn cho đất dốc Vì vậy, từ lâu cây keo giậu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu để ứng dụng vào sản xuất Những nghiên cứu ban đầu cho thấy, cây keo giậu là một cây dễ trồng,
có năng suất chất xanh cao, giàu protein, vitamin, khoáng chất và các chất sắc
tố, đặc biệt là caroten Keo giậu có khả năng sống trên nhiều loại đất thoát nước có độ PH từ 5 - 7, thời gian sinh trưởng dài suốt từ mùa xuân đến mùa thu, khả năng sinh trưởng và tái sinh nhanh, có khả năng cải tạo đất và chống
Trang 13xói mòn Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu biến động từ 24,0 - 34,4% và trong hỗn hợp cành, lá từ 10 - 30% VCK Như vậy, hàm lượng protein trong bột lá keo giậu khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi (là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao) (Garcia và cs, 1996 [64]) Hàm lượng protein có trong lá keo giậu cao và chúng cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao,
lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0% VCK (Deshumkh và cs, 1987 [57]) Ronia và cs, (1979) [106] cho biết hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân bố ở giữa
có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2% VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1% VCK
Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bột lá keo giậu (BLKG) và bột cỏ Stylo (BCStylo) trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào so sánh ảnh hưởng của chúng trên cùng một giống gà đẻ, để biết được loại bột lá nào tốt hơn, cũng chưa có các nghiên cứu nào về ảnh hưởng của thời gian sử dụng BLKG và BCStylo đến chất lượng của trứng (tỷ lệ trứng có phôi, ấp nở, gà con loại I)
Để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên
cứu: “So sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ Stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng”
Trang 143 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của việc sản xuất cây thức ăn gia súc cung cấp cho chăn nuôi tạo nên sự phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng và nền nông nghiệp cả nước nói chung
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu cỏ Stylo và cây keo giậu
1.1.1 Giới thiệu cỏ Stylo
1.1.1.1 Tên gọi
Stylosanthes là một chi thực vật có hoa thuộc họ Fabaceae Nó thuộc
phân họ Faboideae và được APGII phân loại như sau:
Giới (regnum): Phantae
Không phân hạng: Angiospermae
Không phân hạng: Eudicots
Không phân hạng: Rosids
Bộ (ordo): Fabales
Họ (familia): Fabaceae
Phân họ (subfamilia): Faboideae
Tông (tribus): Aeschynomeneae
Chi (genus): Stylosanthes Sw
Bốn giống Stylosanthes là S scabra, S hamata, S humilis và S
guianensis được sử dụng rộng rãi làm thức ăn gia súc ở các vùng nhiệt đới 1.1.1.2 Nguồn gốc phân bố
Là loại cỏ có nguồn gốc từ châu Mỹ La Tinh Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawaii, và một số nước Châu Phi như Kenya, Uganda, Nigieria, được phân bố rộng rãi từ Mexico đến Argentina
Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brazil nhập vào
Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến Đây là loại thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công gô, Nam
Trung Quốc Ở Việt Nam, cỏ Stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ
Singapore, Australia
Trang 16- Các giống cỏ đang gieo trồng:
Stylosanthes guianensis (common Stylo): cây lâu năm
Stylosanthes hamata (Caribbcan Stylo): cây hàng năm
Stylosanthes scabra (Shrubby Stylo): cây lâu năm
Stylosanthes humilis (Townsville Stylo): cây hàng năm
1.1.1.3 Năng suất chất xanh
Cỏ Stylosanthes được các nhà khoa học quan tâm trong thời gian gần đây Stylosanthes đến nay là cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới thành công nhất trên toàn thế giới Stylosanthes có ý nghĩa trong hệ thống sản xuất nông
nghiệp và môi trường (Cameron và cs, 2004) [48]
Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ những năm trước đây,
từ các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào vùng chăn nuôi, vào mức phân bón và
nước tưới, đất đai… khác nhau Stylosanthes sẽ cho năng suất khác nhau
Tại Đắc Lắc, năng suất chất xanh của cỏ Stylo CIAT 184 đạt 12,34 tấn/ha/lứa; cho năng suất 3,08 chất khô/ha/lứa (tương ứng với 21,56 tấn/ha/năm) cao hơn so với trồng ở các vùng sinh thái khác của Việt Nam (Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn, 2009) [11]
Theo Lê Hà Châu (1999b) [3], giống Stylo Cook có thể cho năng suất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) hoặc giống Stylosanthes guianensis FM05-
2 và Stylo CIAT 184 được trồng ở các vùng khác có khả năng cho năng suất
chất khô đạt 11,4 - 12,5 tấn/ha/năm (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1995) [7]; (Trương Tấn Khanh và cs, 1999)[14]
Hoàng Văn Tạo và cs, (2010)[22], cho biết Stylosanthes CIAT 184
trồng tại Nghĩa Đàn đạt sản lượng chất xanh từ 52,5 đến 65,2 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau Cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus, Hoàng Văn Tạo và cs (2010)[22], cho biết năng suất chất xanh đạt từ 49,70 đến 62,00 tấn/ha; năng suất chất khô đạt từ 11,70 đến 14,92
Trang 17tấn/ha; năng suất protein từ 1,99 đến 2,53 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và
3 mức phân hữu cơ khác nhau
Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay
cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn Năng suất xanh đạt 40-50 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, lipit 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cỏ Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ, đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [20]
Cỏ Stylo (Stylosanthes hamata): trồng một lần có thể thu hoạch 4-5 năm
Năng suất có thể đạt 90- 100 tấn/ha/ năm nếu được chăm sóc, thâm canh tốt
Cỏ Stylosanthes trồng ở Brazil đạt năng suất chất xanh từ 15 - 20 tấn/ha; 35 tấn/ha/năm ở Zaire Tại Madagascar cỏ Stylosanthes trồng sau 1 năm đạt 43 tấn/ha
trên vùng đất cao và 70 tấn/ha vùng đất thấp (Ecoport, 2001) [59]
Trên cả 3 vùng nghiên cứu, khi thâm canh với 20-30 tấn phân hữu cơ/ha/năm với năng suất VCK đạt tương tự với lá keo giậu và Stylo (20 tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Wong Choi Chee và cs, (1999) [119]
Có thể trồng cỏ Stylo bằng hạt hoặc trồng bằng cành giâm Năng suất trên một ha từ 40 đến 50 tấn mỗi năm Thời gian gieo trồng: từ tháng 3 đến tháng 6 Thu hoạch tháng 6 đến tháng 12 Trồng một lần, có thể thu hoạch 4-5 năm
1.1.1.4 Thành phần hóa học trong bột cỏ Stylo:
* Protein
Cây họ đậu được xác định là cây thức ăn xanh tiềm năng bổ sung protein cho vật nuôi, vì chúng có chứa protein thô cao (15% - 30% chất khô (CK)), khoáng chất và vitamin cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi
Trang 18(Norton và Poppi, 1995) [94] Trong khẩu phần có bổ sung protein của cỏ có chứa 70g protein thô/kg CK hoặc ít hơn cho thấy: lượng chất khô thu nhận, khả năng tiêu hóa và năng suất vật nuôi tăng (Osuji và cs, 1993) [98]; (Umuna
và cs, 1995) [117]
Theo Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009) [11], cây đậu Stylo có năng suất không cao như một số giống hòa thảo nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, tỉ lệ protein thô đạt 16,86%, tỉ lệ sử dụng cỏ Stylo cũng tương đối cao (87,6%) Theo Nguyễn Thị Mùi và cs, (2006) [19]: trên cả 3 vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Ba
Vì, Lâm Đồng) hàm lượng protein bình quân ở cỏ Stylo Plus đạt 17% Theo Đặng Thuý Nhung (2008) [21] cho biết: hàm lượng protein của thân lá cỏ Stylo khô là 16,3%
Đối với cỏ Stylosanthes cùng việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa
học cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó
Hàm lượng nitơ của Stylosanthes guianensis vào khoảng 1,5 đến 3% tính theo
CK (Mannetje và Jone, 1992) [89]
Trong những năm gần đây, Stylosanthes cũng được trồng phổ biến tại Thái Lan và Lào Stylosanthes trồng tại Thái Lan có chứa protein thô 17,1%
(Kiyothong và cs, 2004a) [81] Chứa 14 - 18% protein thô trong CK
(Satjipanon và cs, 1995) [108] Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4
lứa cắt tính theo CK dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô (CP) (Kiyothong và
Wanapat, 2004b) [82] Một số kết quả phân tích cho thấy: cỏ Stylosanthes
tươi 40 - 45 ngày tại Lào chứa 20,2% CK; tính theo CK có 19% protein thô (Phengsanvanh, 2003b) [101] Theo Chanphone và cs, 2003 [50],
Stylosanthes có 22,3% CK; protein thô 19,3% Hàm lượng CK đạt từ 20,0 -
28,0%; protein thô 13,3% (Toum Keopaseuht, 2004) [116]
Omole và cs (2007) [96], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có CK 19,75%; protein thô 19,91%; DXKĐ 56,03% CK Stylosanthes
Trang 19scabra trồng tại Rwanda có hàm lượng của protein thô là 21% (Mupenzi và
cs, 2008) [92] Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylosanthes guianensis khô 6 tuần
sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1% CK; tính theo CK có 10,6% protein thô (Bamikole và Ezenwa, 1999) [43]
Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động từ
15-17% protein thô tính theo vật chất khô (Ecoport, 2001) [59]
Hỗn hợp cỏ Stylosanthes bao gồm 45% Stylosanthes guianensis, 45%
Stylosanthes hamata và 10% Stylosanthes scabra có chứa 13% protein thô
trong CK (Liu Guodao và cs, 2004) [87]
* Lipit
Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay cả
ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn Hàm lượng lipit 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [20]
Omole và cs, (2007) [96] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có 1,34% lipit thô Cỏ Stylosanthes guianensis, khi trồng - các nước, các
vùng sinh thái khác nhau, thời gian thu mẫu, phương pháp phân tích khác nhau thì hàm lượng lipit trong cỏ cũng khác nhau: lipit dao động từ 1,34% - 2,7%
* Chất xơ
Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [50], Stylo CIAT 184
có hàm lượng xơ thô chiếm 30% VCK Hàm lượng CK đạt từ 20 - 28%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo CK (Toum Keopaseuht,
2004 [116]) Theo Kiyothong và cs (2004a) [81] hàm lượng xơ trung tính 39,1% và xơ axit 56,8%
Trang 20Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao
động từ 49,1 - 61,5% xơ trung tính (NDF); 34,1 - 47,3% xơ axit (ADF) (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [82]
Một số kết quả phân tích cho thấy: cỏ Stylosanthes tươi 40 - 45 ngày tại
Lào chứa 20,2% CK; tính theo CK có 64,2% xơ trung tính (Phengsanvanh, 2003b) [101]
Omole và cs (2007) [96], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại
Nigeria có CK 19,75%; 13,28% xơ thô Giá trị dinh dưỡng của cỏ
Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1% CK;
tính theo CK có 32,8% xơ thô (CF) (Bamikole và Ezenwa, 1999) [43]
Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động từ
33-40% xơ thô 0,1-0,2% P, 0,8-1% Ca, 1,2-1,8% K, 0,3-0,8% Mg, 0,02% Na
và 0,1-0,8% Cl tính theo vật chất khô (Ecoport, 2001)[59]
Hỗn hợp cỏ Stylosanthes bao gồm 45% Stylosanthes guianensis, 45%
Stylosanthes hamata và 10% Stylosanthes scabra có chứa 2,7% chất béo thô,
32% chất xơ thô, 37,4% DXKĐ, tro 4,1%; 1,13% Ca và 0,11% P trong CK (Liu Guodao và cs, 2004) [87]
* Các chất khoáng
Theo Chanphone Keoboualapheth và cs, (2003) [50], Stylo CIAT 184
có chứa 5,1% chất khoáng, trong đó khoáng Ca chiếm 0,2% và P chiếm 0,4%
Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao
động từ 6,3 - 8,7% khoáng (Ash) (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [82]
Tại Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày chứa 20,2% CK, còn chất khoáng tính theo CK có 5,5% (Phengsanvanh, 2003b) [101])
Omole và cs (2007) [96], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại
Nigeria có CK 19,75%; 9,38% khoáng tổng số Giá trị dinh dưỡng của cỏ
Trang 21Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1% CK;
tính theo CK có 7,3% khoáng (Bamikole và Ezenwa, 1999) [43]
* Các chất sắc tố
Nhìn chung các sắc tố có trong cây họ đậu thì carotenoid là nhóm nhiều nhất và phổ biến rộng rãi của các sắc tố trong tự nhiên trong đó có
Stylo là một loài cây giàu chất sắc tố, chủ yếu là caroten và xanthophyll
Caroten là tiền vitamin A với hiệu suất chuyển hóa khác nhau tùy theo loài
động vật và mức độ thừa hoặc thiếu vitamin A trong khẩu phần
Xanthophyll không có hoạt tính của vitamin nhưng nó có thể được dự trữ
trong các mô cơ, da và lòng đỏ trứng của gia cầm
1.1.2 Giới thiệu về cây keo giậu
1.1.2.1 Tên gọi
Keo giậu là một cây thuộc bộ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa
học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit Tên gọi “Leucaena” là danh
pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này
Ngoài ra, keo giậu còn có các tên khác như: Leucaena glauca (Wind)
Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L.) Moenth Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên khác nhau
Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Moxico và Tây Ban Nha gọi là
Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul;
Indonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kao haole; Trung Quốc gọi là Yin
hue huan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan…
Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng bằng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [15])
Ở các địa phương khác nhau, keo giậu cũng có các tên khác nhau Miền
Bắc gọi là Keo giậu; Miền Trung gọi là Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình
Trang 22linh Giống keo giậu mọc hoang ở nước ta thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu
Thời và cs, (1982) [24])
1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố
Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS, 1984) [93] Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500m so với mặt biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay axit nhẹ
Năm 1965, Người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin
để trồng làm thức ăn cho đàn dê (Brewbaker, 1985) [47] Cuối thế kỷ XVII
và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Indonexia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984) [93]
Keo giậu được nhập vào Hawaii, Fijii, Bắc Austrailia, Ấn Độ, Đông Phi, vùng biển Caribbean Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều Trong những năm 70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Indonexia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi
1.1.2.3 Năng suất chất xanh
Ở Việt Nam keo giậu là loài cây dễ trồng và dễ thích nghi, năng suất chất xanh cao, phù hợp với nhiều loài động vật nên được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu để đưa vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi
tùy theo giống, đất đai, sự chăm sóc N
giàu đạm cho đất thông qua bộ rễ có nốt sần
4
Trang 23-, sau 5 - NAS (1984) [93], cũng cho biết, năng suất và chất lượng keo giậu tươi đạt mức tối ưu ở chế độ gieo trồng và thu hoạch như sau: mật độ gieo trồng là 100.000 - 140.000 cây/ha; độ cao thu hoạch của cây là 60 - 70 cm; chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày Với chế độ gieo trồng và thu hoạch như trên, trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm Trong những vùng nhiệt đới khô hạn năng suất keo giậu giảm ở mùa khô Các nhân tố thời tiết, khí hậu, năng suất keo giậu còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố giống, mật độ cây trồng, tần số khai thác và chiều cao thu hoạch của cây
Lê Thị Hòa Bình và cs, (1990) [1] đã khảo sát năng suất của các giống
keo giậu Ipil-ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn Độ Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil-ipil và Ấn Độ cho
năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tương đương khoảng 10.000 đơn vị thức ăn Tuy nhiên, về mùa khô keo giậu sinh trưởng kém, chỉ đạt gần 50 % so với mùa mưa Riêng giống Ba Vì hạt lớn, sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác
Nguyễn Ngọc Hà (1996) [8] cho biết năng suất chất khô trung bình của các giống keo giậu đạt 11,5 tấn/ha/năm, giống Peru - Cunningham có năng suất cao hơn cả, đạt 11,36 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh trung bình có thể đạt 40 - 45 tấn/ha/năm Thời gian trồng tốt nhất vào tháng 4 Chu kỳ kinh tế 5
- 6 năm
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, keo giậu là một loại cây có khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất chất xanh cao, giàu protein, vitamin, sắc tố và các khoáng vi lượng rất phù hợp trong chăn nuôi Tuy nhiên, năng suất của keo giậu còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu và độ mầu mỡ của đất nơi cây sống
Trang 241.1.2.4 Thành phần hóa học trong bột lá keo giậu
* Protein
Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu (BLKG) biến động từ 24,0 - 34,4%, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30% VCK Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi
là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao (Garcia và cs, 1996 [64])
Hàm lượng protein có trong lá keo giậu cao và chúng cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0% CK (Deshumkh và cs, 1987 [57]) Ronia và cs, (1979) [106] cho biết hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân
bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2% VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1% VCK
El - Ashry và cs, (1993) [61] cho biết, hàm lượng protein của lá đạt mức cao nhất ở giai đoạn đầu sinh trưởng và nó giảm dần với tuổi của cây
Gupta và cs, (1986) [39] khi nghiên cứu hàm lượng protein ở 9 loài keo giậu cho biết, hàm lượng protein trong lá của giống K454, loài
L.diversifolia là cao nhất (15,65 % VCK)
D’Mello và Fraser (1981) [51] đã quan sát thấy, hàm lượng protein thô của các mẫu BLKG thu hoạch tại Thái Lan (Châu Á) thấp hơn so với mẫu BLKG thu hoạch tại Malawi (Châu Phi)
Mùa vụ là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân, cành, lá của keo giậu Garcia (1988) [63] cho biết, hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân cành lá được thu hoạch vào tháng 2, 3,
4, 5, 6 trong năm lần lượt là: 34,2; 25,8; 20,5; 19,4; 20,5 % VCK
Phương pháp chế biến cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein của keo giậu D’Mello và Fraser (1981) [52] nhận thấy, hàm lượng
Trang 25protein thô của BLKG thu hoạch tại Malawi được chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời cao hơn hàm lượng protein thô của BLKG chế biến bằng phương pháp sấy khô trong lò sấy ở nhiệt độ cao (29,41 so với 28,13 % VCK)
Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giàu các axit amin không thay thế như isoleucine, leucine, phenylalanine và histidine, còn hàm lượng lysine và methionine ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn của động vật Các axit amin chứa lưu huỳnh trong lá và hạt keo giậu ở mức thấp nhưng động vật nhai lại có khả năng tự tổng hợp những axit amin này, còn đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì sự thiếu hụt các axit amin chứa lưu huỳnh phải bổ sung chúng vào trong khẩu phần (Garcia và cs, 1996 [64])
* Lipit
Các kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi quốc gia (1995) [36], cho thấy, BLKG chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có 4,30 % lipit và giá trị năng lượng trao đổi của 1 kg BLKG ở gà là 2195 Kcal
Thành phần lipit của cây keo giậu được trồng ở một số nước trên thế giới như sau: Indonexia 5,0%; Philippin 6,4%; Thái Lan 4,6%; Malawi 4,7%; Việt Nam 4,1% và trung bình trên thế giới là 5,3%
Nguyễn Ngọc Hà và cs, (1993) [5], cũng cho biết, loài keo giậu
Leucaena leucocephala trồng tại Viện Chăn nuôi quốc gia, được chế biến
bằng phương pháp phơi kết hợp với sấy, cho thấy trong 1 kg vật chất khô BLKG có 48 g lipit
Từ Quang Hiển và cs, (2008) [10], cho biết, thành phần lipit của BLKG
Leucaena leucocephala ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam có sự biến
động tương đối thấp về thành phần lipit ở các vùng sinh thái khác nhau Như: Hà Nội 4,05%; Huế 3,93%; Thành phố Hồ Chí Minh 5,58%; Thái Nguyên 4,71%
Trang 26* Chất xơ
Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc khác nhưng lại thấp hơn nhiều so với các loại thức ăn xanh khác Do hàm lượng chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, đặc biệt là đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm Hàm lượng chất
xơ trong keo giậu cũng thay đổi theo giống và các phần khác nhau của cây, ngay trong cùng một loài hàm lượng chất xơ cũng khác nhau
Garcia và cs, (1996) [64], cho biết, hàm lượng chất xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35% (biến động từ 32 - 38% VCK), trong BLKG là 19,2% VCK (biến động từ 18,0 - 20,4% VCK)
* Các chất khoáng
Keo giậu là loài cây giàu các chất khoáng đặc biệt là trong thân và lá, hàm lượng các chất khoáng là khá cao và có nhiều biến động, nó phụ thuộc vào các loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống, các phần và các giai đoạn sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đoạn thu hoạch, vị trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất nơi cây sinh sống
Garcia và cs, (1996) [64], đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65 báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong keo giậu như sau: canxi là 1,80% (biến động từ 0,88 - 2,90%); phốt pho là 0,26% (biến động 0,14 - 1,38%); lưu huỳnh là 0,22% (biến động 0,14 - 0,29%); magie là 0,33% (biến động từ 0,17 - 0,48%); natri là 1,34% (biến động 0,22 - 2,66%); kali là 1,45% (biến động từ 0,79 - 2,11%)
El - Ashry và cs, (1993) [61], cũng cho biết, hàm lượng khoáng tổng số tăng lên với tuổi của cây, hàm lượng canxi, kali và magie tăng lên dần dần với
sự tăng lên của tuổi cây, trong khi đó hàm lượng phốt pho, sắt, kẽm, mangan lại giảm đi khi tuổi của cây tăng lên
Các kết quả nghiên cứu của Garcia (1988) [63] cho biết, hàm lượng
Trang 27khoáng tổng số của keo giậu biến đổi qua các tháng thu hoạch (từ tháng 2 đến tháng 6) lần lượt là: 8,6; 6,3; 5,5; và 6,1 % VCK
* Các chất sắc tố và caroten
Keo giậu là một loài cây giàu chất sắc tố mà chủ yếu là caroten và
xanthophyll Caroten là tiền vitamin A và hiệu suất chuyển hóa thành vitamin
A giữa các loài là khác nhau BLKG chứa nhiều xanthophyll mà đó là nguồn
cung cấp sắc tố cho động vật, nó có thể được dự trữ trong các mô cơ, da và
lòng đỏ trứng gia cầm Người ta đã chứng minh được rằng, xanthophyll được
dự trữ trong da, cơ và lòng đỏ trứng gia cầm có nguồn gốc từ thức ăn vì gia cầm không có khả năng tự tổng hợp nên sắc tố này Mầu đỏ của lòng đỏ trứng gà và mầu vàng của da gà là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng sản phẩm của gia cầm
Wood và cs, (1983) [120], đã nhận thấy, hàm lượng caroten và đạt ở
mức cao trong BLKG được thu hoạch ở Malawi và chế biến bằng phương
pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có thể chứa tới 480 mg caroten và 932
mg xanthophyll/kg VCK
Hàm lượng caroten và xanthophyll phụ thuộc khá nhiều vào phương pháp chế biến và bảo tồn sản phẩm keo giậu Các chất sắc tố và caroten dễ
dàng bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, như sấy khô trong lò sấy hoặc phơi khô
dưới ánh nắng mặt trời Thời gian bảo quản càng dài thì hàm lượng caroten
và xanthophyll càng giảm
D’Mello và Acamovic (1989) [53], cho biết, hàm lượng caroten trong BLKG giảm từ 19 - 40 mg/kg/tháng và hàm lượng xanthophyll giảm từ 29 - 53 mg/kg/tháng Nếu phơi BLKG dưới ánh nắng mặt trời thì các carotenoid bền hơn các carotenoid sấy khô trong lò sấy
Wood và cs, (1983) [120], cho biết, việc viên thành hạt và bổ sung thêm các chất chống oxy hóa như ethoxyquin vào BLKG có tác dụng làm
Trang 28chậm lại sự suy giảm hàm lượng caroteniod của BLKG trong thời gian bảo
quản hoặc trong quá trình chế biến
* Độc tố mimosine trong cây keo giậu
Mimosin là một axit amin phi protein có trong thành phần của cây keo
giậu, hàm lượng mimosine biến động giữa các loài, giống, tuổi, các phần
khác nhau của cây, khoảng cách thu hoạch và phương pháp chế biến
Rushkin (1977) [107], đã cho thấy, hàm lượng mimosine thay đổi trong
phạm vi rộng giữa các loài keo giậu Hàm lượng này có mức cao là 5,4 % VCK ở
loài L macrophylla và mức thấp 1,2 % VCK ở loài L diversifolia
Hauad và Foroughbakhch (1991) [73], cho biết, ngay trong cùng loài,
hàm lượng mimosine trung bình cũng rất biến động (từ 3 - 9 % VCK đối với loài L leucocephala; từ 1 - 2 % VCK đối với loài L gregii, từ 2- 5 % VCK đối với loài L pulverulenta)
Chandrasekhran và Govindaswamy (1985) [49], cho thấy, loài L diversifolia
có hàm lượng mimosine trung bình từ 2,0 - 2,8 % VCK là thấp hơn so với loài
L.lanceolata là 6,2 % VCK, cây lai giữa loài L.diversifolia với loài L.leucocephala
có hàm lượng mimosine ở mức thấp từ 2,0 - 3,8 % VCK
Gupta và cs, (1992) [70], cho biết, tương quan âm giữa hàm lượng
mimosine và tuổi của lá cây keo giậu
Hauad và Foroughbakhch (1991) [73], nhận thấy, hàm lượng mimosine
có xu hướng tăng lên theo tuổi của cây và hàm lượng mimosine thấp nhất
lúc cây bắt đầu thời kỳ ra hoa
Gupta và cs, (1992) [70], cho biết, hàm lượng mimosine tăng trong mùa
nóng và ẩm (tháng 7 và 8) Hauad và Froughbakhch (1991) [73], cũng cho biết,
hàm lượng mimosine của keo giậu cao trong mùa hè (tháng 6 đến 8) và thấp
trong mùa đông và đầu mùa xuân
Takahashi và Ripperton (1949) [115], cho biết, khoảng cách giữa các
Trang 29lần thu hoạch càng lớn hàm lượng mimosine càng thấp và khi tuổi của cây tăng lên thì hàm lượng mimosine lại giảm
Akbar và cs, (1984a) [40], đã nhận thấy, hàm lượng mimosine của giống K8, loài L.leucocephala có 5,1 % VCK trong lá non, 3,1 % VCK trong
lá trưởng thành 2,2 % VCK trong cành, 1,8 % VCK trong cuống lá, 2,4 % VCK trong vỏ quả tươi, 5,9 % VCK trong hạt, 4,9 % VCK trong búp non và 3,7 % VCK trong hoa
* Độc tính của mimosine đối với động vật
Nhiều nghiên cứu cho thấy mimosine là nguyên nhân chính gây ra các rối
loạn trao đổi chất ở động vật khi sử dụng keo giậu trong khẩu phần ăn quá giới
hạn Độc tính của mimosine đã được Jones (1979) [79]; Brewbaker và Hutton (1979) [46], nghiên cứu và cho biết, mimosine là tác nhân gây ra hội chứng
chán ăn, chứng rụng lông, tiết nhiều nước bọt quá mức, sưng tuyến giáp trạng, sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản khi trong khẩu phần
ăn chứa một lượng keo giậu cao quá giới hạn
Proverbs (1984) [102], cho rằng, mimosine có thể gây ra những tác
động xấu đối với động vật dạ dày đơn khi khẩu phần ăn có một lượng keo
giậu lớn hơn 10 %, trong khi đối với động vật nhai lại, mimosine chỉ có ảnh
hưởng độc khi trong khẩu phần lớn hơn 30 %
Szyska và cs, (1984) [114], đã chứng minh, liều lượng mimosine mà
không gây độc biến động theo loài động vật là: gà thịt 0,16 g/kg thể trọng/ngày; gà đẻ là 0,21 g/kg thể trọng/ngày; bò và dê là 0,18 g/kg thể trọng/ngày; cừu là 0,14 g/kg thể trọng/ngày
Kamada và cs, (1997) [80], cho biết, gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu
phần chứa 10 g mimosine/kg VCK đã có những biểu hiện như: giảm tiêu thụ
thức ăn, giảm tăng trọng cơ thể, có những khuyết tật ở chân và tổn thương ở thận
Trang 301.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi
1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố
1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố
Carotenoid là sắc tố hữu cơ được tìm thấy ở thực vật và các loại vi sinh
vật khác có thể tiến hành tự quang hợp được như tảo, một số loài nấm và vi khuẩn Các sắc tố này đóng hai vai trò là (1) hấp thụ năng lượng từ ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp; (2) bảo vệ tế bào cây trồng khỏi thối rữa
Hiện nay, người ta đã tìm được 750 loại carotenoid Do sự có mặt hay không có của phân tử oxy, carotenoid được chia thành hai nhóm là caroten
(Beta caroten, lycopen hay alpha caroten) và xanthophyll (astaxanthin, lutein
và zeaxanthin)
Trong khoảng 750 loại carotenoid khác nhau, có 50 loại carotenoid
hiện diện trong thức ăn của người và động vật Thế nhưng, trong máu của người và động vật chỉ có khoảng 15 loại được tìm thấy và chúng đang được chứng minh và đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và động vật Khác với cây cỏ, con người và động vật không tự tổng hợp ra
carotenoid mà sử dụng carotenoid từ việc ăn thực vật nhằm bảo vệ bản thân
mình vì chúng giúp chống lại các tác nhân oxy hóa từ bên ngoài
Carotenoid không phải là tên riêng của một chất nào mà là tên của một
nhóm các hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo tương tự nhau và tác dụng bảo
vệ cơ thể động thực vật cũng tương tự nhau Carotenoid được biết đến sớm nhất
và có vai trò lớn trong đời sống là beta-caroten hay còn gọi là tiền vitamin A Trong những năm gần đây, người ta mới biết thêm về vai trò của các carotenoid khác như astaxanthin, lycopen, lutein, và zeaxanthin; đó là những sắc tố quan
trọng nhất có tác động đến sức khỏe con người và động vật Chúng có hoạt tính
gấp 10 lần so với beta caroten Nó có tác động tốt đến não và hệ thần kinh trung
ương và có tác động rất tốt trong quá trình miễn dịch của cơ thể, làm giảm 1000
lần tác động của tia cực tím so với beta caroten
Trang 31Carotenoid là sắc tố tự nhiên tạo ra màu vàng, da cam, đỏ của rất nhiều
các loại quả (gấc, chanh, đào, mơ…), rau (cà rốt, cà chua…), nấm và hoa Chúng cũng có mặt trong các sản phẩm động vật như trứng, tôm hùm, cá…
Ngày nay, các hợp chất carotenoid rất được quan tâm nghiên cứu
Carotenoid là chất màu tự nhiên, chúng được tìm thấy trong lục lạp của
thực vật bậc cao, mặc dù trong mô quang hợp những màu sắc này được che đậy bởi chất diệp lục Những chất này cũng được tìm thấy trong tảo, vi khuẩn, nấm và nấm men
1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật
Sắc tố trong thực vật được chia thành các nhóm sau: Chlorophyll,
carotenoid (caroten và xanthophyll), flavonoid (chalcon, anthocyanin, flavon, flavonol) và betalain (betaxanthin, betacyanin) Người ta đã phát hiện được
khoảng 750 loại carotenoid, 7.000 flavonoid và hơn 500 anthocyanin (Davies, 2004)[55] Sắc tố tồn tại ở các bộ phận khác nhau của thực vật, flavonoid và
carotenoid tồn tại ở hầu hết các mô thực vật như lá, củ, hoa, quả, và hạt Anthocyanin, chlorophyll có một vị trí cụ thể ở tế bào hoặc dưới cấp độ tế
bào Anthocyanin thường được tìm thấy trong các tế bào biểu bì của cánh hoa, trong khi chlorophyll và carotenoid trong thể hạt của thế bào dưới biểu bì quang hợp của lá Anthocyanin, betalain xuất hiện trong không bào (Davies,
2004)[55] Tất cả các đặc tính hình thức vẻ đẹp của các thực vật là thông tin cho động vật, côn trùng, chim và dơi, tìm đến thực vật để kiếm thức ăn
Một số sắc tố thường gặp trong thực vật được hệ thống hóa bằng sơ đồ dưới đây:
Trang 32Hình 1.1: Sơ đồ sắc tố trong thực vật
Rất khó đánh giá vai trò sinh học của sắc tố ở trong thực vật, nhưng
người ta đã cho biết chlorophyll là sắc tố quan trọng nhất đối với thực vật
Chlorophyll và carotenoid là những chất quan trọng cho chức năng quang
Chlorophyll
Chlorophyll b Chlorophyll a
Caroten phytofluen
Lutein Zeaxanthin Astasanthin Canthaxanthin Xitranaxanthin Capxanthi
n
α, β cryptoxanthin Violaxanthin
Xanthophyl
l Carotenoid
Auron Flavon Flavonol Anthocyanin Chancon Flavonoid
Betacyanin
Trang 33hợp Một vài sắc tố quan trọng khác là flavonoid có vai trò chủ yếu trong
tương tác giữa thực vật và động vật như tín hiệu để thụ phấn và phát tán hạt
Chlorophyll ở thực vật có hai loại đó là chlorophyll a màu xanh nhạt và chlorophyll b màu vàng xanh Số lượng loại này phụ thuộc vào loài thực vật,
điều kiện ánh sáng và điều kiện dinh dưỡng khoáng magie
Bình thường chất diệp lục a nhiều hơn 2-4 lần so với chất diệp lục b trong lá bạc hà tươi được triết suất bằng aceton, chất diệp lục a/b thay đổi từ 3:1 trong melissa, cây tầm ma là 1:1 Cây trồng trong bóng dâm chứa chất diệp lục a ít hơn so với chất diệp lục b Thay thế Mg bởi ion Fe sẽ tạo ra sản
phẩm chất diệp lục màu xám-nâu của chlorophyll và sự hiện diện của các ion
Zn và Cu làm tăng sự ổn định của màu xanh lá cây tự nhiên
Các phân tử chất diệp lục là một dẫn xuất porphyrin chính là một sự sắp xếp của bốn pyrrol vòng có chứa một ion Mg ở trung tâm Sự hiện diện của Mg ở trung tâm của một phân tử chất diệp lục đóng một vai trò quan trọng trong việc hấp thụ năng lượng ánh sáng và vòng pyrrol tạo ra một cấu trúc nối đơn, đôi, tạo điều kiện cho việc hấp thụ photon ánh sáng Một đuôi phytol bao gồm 20 nguyên tử carbon được gắn liền với phần tetrapyrrol chất
diệp lục Sự khác biệt trong cấu trúc giữa chlorophyll a và b là tối thiểu và
liên quan đến việc khác nhau nhóm gắn liền với các nguyên tử carbon thứ ba
trong vòng pyrrol II Chlorophyll a gắn nhóm CH3, trong khi chất diệp lục b liên kết với CHO (Heldt, 2005)[74] Loại bỏ Mg từ các phân tử chất diệp lục
và kết quả trong chuyển đổi của nó là tạo thành pheophytin có màu xám nâu Pheophytin tích lũy ở lá trong quá trình lão hóa của thực vật hoặc kết quả gây
ra do ô nhiễm môi trường, chẳng hạn như mưa axit
Carotenoid tồn tại ở sắc lạp và lục lạp ở màng tế bào thực vật, sắc tố
trong carotenoid được chia thành 2 nhóm: caroten màu đỏ da cam và
xanthophyll vàng da cam
Trang 34Caroten C4H56 là một loại cacbua hydro chưa bão hòa, chỉ tan trong dung môi hữu cơ Trong thực vật thường có 4 loại tiền vitamin A là: β, α, δ
caroten và kriptoxantin Nếu cắt đôi phân tử β caroten ta có 2 phân tử vitamin
A, nên β caroten được xem là tiền vitamin A (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976)[37] Trong đó β caroten chiếm trên 90% trong tổng số carotenoid ở thực vật Các carotenoid không chỉ cung cấp tiền vitamin A mà còn có tiềm năng chống oxy hóa, chống ung thư Hàm lượng β caroten trong cỏ tươi tự
nhiên: 150 - 250 mg/kg VCK, cây ngô già: 15 - 60 mg/kg VCK, của cà rốt
150 - 200 mg/kg VCK, rơm rạ: 4 mg/kg VCK (Từ Quang Hiển, 2001)[9] β
caroten trong bột lá keo giậu từ 227 - 248 mg/kg VCK Caroten là một trong
những nhóm sắc tố quan trọng nhất trong tự nhiên Nó tạo nên mầu sắc rực rỡ của màu vàng, đỏ cho nhiều loại trái cây, rau, củ, hoa và lá mùa thu, tạo ra màu sắc lòng đỏ trứng gà, tảo, nấm men và nấm, màu lông và da của nhiều loại chim
Xanthophyll là nhóm sắc tố vàng sẫm Công thức hóa học của chúng là
C40H56On (n từ 1-6) Vì số lượng nguyên tử oxy có thể từ 1 đến 6 nên có nhiều
loại xanthophyll: Kriptoxantin (C40H56O1), lutein (C40H56O2), violacxantin
(C40H56O4), (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976)[37] Trong đó violaxanthin và lutein
chủ yếu tạo ra màu sắc vàng của lá cây, cỏ trong mùa thu (Davies, 2004)[55]
Flavonoid bao gồm anthocyanin, chalcon, auron, flavon và flavonol
tồn tại ở trong không bào Trong các sắc tố thuộc nhóm flavonoid thì
anthocyanin là phổ biến nhất và tạo ra các màu đỏ tươi, đỏ, xanh và màu tím
cho hoa, quả và thân cây Màu của anthocyanin bị ảnh hưởng bởi rất nhiều
các nhân tố Một trong các nhân tố đó là số lượng nhóm hydroxyl và methoxyl Nếu có gốc OH thì màu sắc có màu xanh Nếu xuất hiện nhiều gốc OCH3 thì màu sắc chủ yếu là đỏ (Grotewold, 2006) [68] Các loại sắc tố này
có màu đỏ khi ở pH axit và có màu xanh khi ở môi trường kiềm Ngoài ra,
Trang 35màu sắc còn phụ thuộc vào các nguyên tố khoáng như Al, Fe, Mg ở một số loài thực vật
Betalain là các chất thay thế anthocyanin ở các loài caryophyllal
Chúng cũng có thể tìm thấy ở một số loài nấm Betalain có nguồn gốc từ
tyrosin Chúng được chia thành 2 nhóm là betaxanthin có màu vàng và betacyanin có màu đỏ, màu tím
Ngoài ra trong thực vật còn có các tiền chất của axit abscisic (ABA), phytohormon; các chất này có khả năng điều chỉnh sinh trưởng và quá trình stress của con vật (Koornneef, 1986) [83]
1.2.1.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi
Sắc tố trong thực vật gồm có bốn nhóm (chlorophyll, carotenoid, flavonoid
và betalain) Trong thức ăn chăn nuôi chỉ đề cập đến một trong bốn nhóm nói
trên, đó là carotenoid Khi nói đến hàm lượng sắc tố trong thức ăn, có nghĩa là nói đến carotenoid tổng số Nó gồm hai nhóm là xanthophyll và caroten
Xanthophyll còn có tên gọi là oxy - carotenoid Nó cũng có hai nhóm là carotenoid không màu và có màu Carotenoid không màu có hai đại diện
chính là cryptoxanthin và violaxanthin, còn carotenoid có màu đỏ thì có hai nhóm nhỏ, nhóm thứ nhất là xanthophyll với đại diện là lutein và zeaxanthin, còn nhóm thứ hai có các đại diện như apoester, canthaxanthin,
citranaxanthin, capxanthin (capsorubin), astaxanthin Chính vì vậy, khi nói
đến hàm lượng xanthophyll trong thức ăn, có nghĩa là nói đến xanthophyll
tổng số, chứ không phải là một sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này
Caroten có các đại diện là anpha (α), beta (β), zeta (z), gama (γ) caroten, lycopen và phytofluen Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong
thức ăn, có nghĩa là nói đến caroten tổng số trong thức ăn (không phải là một
sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này)
Trang 36Sắc tố trong thức ăn được hệ thống hóa bằng sơ đồ dưới đây:
Carotenoid có màu Carotenoid không
Cryptoxanthin Violaxanthin
Hình 1.2: Sơ đồ carotenoid tổng số 1.2.2 Vai trò của sắc tố đối với gia cầm sinh sản
Động vật hoàn toàn không có khả năng tự tổng hợp carotenoid nên bắt
buộc phải được cung cấp từ thức ăn (Marusich, 1981, [90], Liufa và cs, 1997,
[86]) Đối với khẩu phần ăn thông thường thì nguồn carotenoid sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng gia cầm là xanthophyll hay oxycarotenoid của
ngô, gluten ngô và bột lá thực vật (Latscha, 1990 [84]) Khi cho gia cầm ăn
thức ăn giàu xanthophyll thì có thể tìm thấy xanthophyll ở trong máu, cơ, gan, chất béo, da, lông của chúng (Goodwin, 1986 [66]) Ở gà đẻ, xanthophyll tích
trữ ở cơ, da sẽ được huy động mạnh mẽ vào buồng trứng khi thành thục và một phần được chuyển vào lòng đỏ (Gouveia và cs, 1996 [67]; Goodwin,
1986 [66]) Sau khi thu nhận được sắc tố có từ thức ăn thì gà đẻ có thể huy động từ 20-60% tổng lượng sắc tố thu nhận vào lòng đỏ (Bornstein, 1966
[45]) Do đó màu sắc tự nhiên của lòng đỏ chính là màu sắc của xanthophyll
(Sirri và cs, 2007 [110]) Ngày nay các oxycarotenoid được phân lập từ thực
Trang 37vật, tảo và nấm được sử dụng nhiều trong khẩu phần ăn của gia cầm và được đánh giá là rất tốt (Gierhart, 2002 [65]; Lorenz, 2002a [88]), còn các loại sắc
tố tổng hợp thì ít được sử dụng và thậm chí còn bị cấm ở một số nước Khi sử dụng ngô đến 50% khẩu phần thì sắc tố có trong ngô có thể cho màu sắc lòng
đỏ đạt từ 5,6 - 7 điểm và tương đương với lòng đỏ ở mức bình thường theo thang điểm màu của Roche (1998)[105] Nhưng yêu cầu của các nước châu
Mỹ thì màu sắc lòng đỏ phải đạt thang điểm từ 7 - 10, còn châu Âu và châu Á
là 10 - 14 theo thang điểm của Roche (1998)[105] Như vậy, nếu chỉ sử dụng khẩu phần tự nhiên để cung cấp sắc tố cho lòng đỏ thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu nêu trên, ngoài ra oxycarotenoid còn dễ bị biến tính do tác động của các nhân tố gây oxy hóa như ánh sáng, nhiệt độ hay quá trình đề hydrat và điều kiện bảo quản nên việc thiếu hụt sắc tố trong thức ăn và trong sản phẩm chăn nuôi là khó tránh khỏi
Trong khối EU, màu sắc lòng đỏ là một tiêu chí quan trọng cho người tiêu dùng lựa chọn trứng Màu sắc được sử dụng như một công cụ để đánh giá chất lượng của trứng Màu sắc lòng đỏ thực sự ở vị trí thứ ba trong thuộc tính chất lượng trứng (Hernandez và Blanch, 2000a [75], Hernandez và Blanch, 2000b [76]) Ngoài màu sắc thì tính đồng nhất màu sắc của lòng đỏ là quan trọng và gắn liền với chất lượng trứng tốt Sự ưa chuộng lòng đỏ trứng có màu sắc khác nhau là khác nhau trên khắp châu Âu Các nước phía Bắc, với ngoại lệ là Đức, thích màu lòng đỏ nhạt, trong khi các nước Tây Nam của châu Âu thích màu lòng đỏ đậm hơn Việc lựa chọn màu sắc lòng đỏ của người tiêu dùng cũng khác nhau giữa các vùng trong nước Ngoài ra, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của trứng, mức độ bột màu bổ sung vào là khác nhau trong chế độ ăn của gà mái
Màu lòng đỏ trứng trực tiếp phản ánh sự tập trung của sắc tố trong chế
độ ăn của gà mái đẻ Nó thường được đo theo thị hiếu của người tiêu dùng với
Trang 38cấp độ khác nhau của màu sắc (từ vàng nhạt đến màu cam và màu đỏ) và
phản ánh các kết hợp khác nhau của màu vàng và màu đỏ của carotenoid
trong chế độ ăn Phương pháp xác định màu sắc của trứng được sử dụng nhiều nhất là dùng quạt so màu lòng đỏ Roche (RYCF) hiển thị theo thang điểm từ
1 (màu vàng nhạt) đến 15 (màu lòng đỏ) Do sự đóng góp của carotenoid
khác nhau có trong thành phần thức ăn quyết định màu sắc trứng
Sắc tố không chỉ phụ thuộc vào tổng số lượng sắc tố mà còn phụ thuộc
vào tỷ lệ các chất carotenoid màu vàng và màu đỏ được hấp thụ vào trong cơ
thể Thức ăn có hàm lượng thấp các sắc tố đỏ nếu được thêm vào sắc tố màu vàng với hàm lượng cao kết quả làm màu sắc lòng đỏ đậm hơn (De Groote,
1970 [56]), khi bổ sung vào khẩu phần cơ sở canthaxanthin làm cho lòng đỏ
trứng có màu sắc vàng nhạt thành màu đỏ tươi
Sidibe (2001)[109], cũng đã nghiên cứu và công bố kết quả về
canthaxanthin lắng đọng trong lòng đỏ trứng sau khi cho gà đẻ ăn thức ăn có
chứa 2 - 6 mg canthaxanthin/kg thức ăn Cường độ màu sắc của lòng đỏ trứng đạt đến đỉnh điểm sau 10 ngày và hàm lượng canthaxanthin trong lòng đỏ
trứng được đo giữa ngày 19 và 25 là như nhau, điều đó phản ánh mối quan hệ
ổn đinh giữa canthaxanthin trong thức ăn và lòng đỏ trứng SCAN cho biết
điểm số trung bình RYCF ở các quốc gia đòi hỏi màu trứng đỏ đậm nhất là
13, nhưng màu bị giảm đi trong quá trình chế biến vì vậy trứng tươi phải có
điểm ban đầu là 14 Hàm lượng canthaxanthin cao nhất được tìm thấy trong
trứng tương ứng điểm số này là 0,35 mg/quả trứng hay 5,9 mg/kg trứng Vì vậy, cần phải tính toán hàm lượng sắc tố trong thức ăn để đáp ứng được sự tích tụ sắc tố với hàm lượng nêu trên trong lòng đỏ trứng
Thực tế, các thành phần màu đỏ của màu sắc lòng đỏ trứng chủ yếu là
do bổ sung canthaxanthin ở mức từ 2 đến 6 mg/kg thức ăn hỗn hợp Ngoài ra
Trang 39citranaxanthin có thể sử dụng ở nồng độ 1,5 lần cao hơn của canthaxanthin
để có được một hiệu ứng tương tự
Nói chung mức bổ sung carotenoid tổng hợp trong thức ăn chăn nuôi
có thể thay đổi từ 0 đến 8 mg/kg thức ăn cho cả bột màu vàng và đỏ, tổng cả hai loại là từ 10-15 mg/kg khẩu phần
Astaxanthin tự nhiên cũng được sử dụng bởi các nhà sản xuất thức ăn
cho gà Lý do người ta sử dụng cho gà là để tăng sắc tố lòng đỏ trứng Tuy
nhiên, khi khẩu phần có astaxanthin thì người ta thấy nhiều lợi ích khác nhau
như: làm giảm tỷ lệ tử vong của gà, tăng khả năng sinh sản và cải thiện tình trạng sức khỏe tổng thể của chúng Ngoài sản xuất trứng tăng lên thì các bệnh
nhiễm trùng do Salmonella lại giảm đáng kể
1.3 Các kết quả nghiên cứu về sử dụng bột cỏ Stylo và bột lá keo giậu
1.3.1 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo
Việc đầu tiên xem xét khi cho gà đẻ ăn bột cây họ đậu là hàm lượng protein, đặc biệt là các axit amin Cung cấp khoảng 13% protein trong khẩu phần
từ nguồn protein bột cây bộ đậu sẽ giảm đáng kể kích cỡ trứng trong khi mức protein thấp hơn sẽ làm giảm rõ rệt số lượng trứng (Leeson và Summers, 1997) [85], (Perry và cs, 1999) [100], (D’Mello 1995) [54], đã thử nghiệm bổ sung bột cây họ đậu làm thức ăn cho gà đẻ và cho rằng, ngoài hàm lượng protein cao, bột
cây họ đậu còn cung cấp carotenoid cho gà Bởi vì, các sắc tố ở trong trứng, gia
cầm không tự tổng hợp được, mà phải cung cấp từ bên ngoài
Trong các cây họ đậu thì cỏ Stylosanthes là cây được sử dụng phổ biến
trong chăn nuôi đại gia súc và có tiềm năng lớn trong việc sản xuất bột cỏ sử dụng trong khẩu phần của gia cầm Cây giàu protein (16 - 24%), không có hoặc nồng độ thấp chất kháng dinh dưỡng
Onwudike và Adegbola (1978)[97], nghiên cứu những tác động của việc
tăng số lượng bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần đến sản xuất trứng, vitamin A
Trang 40trong lòng đỏ, màu sắc lòng đỏ và tỷ lệ ấp nở của gà mái đẻ Kết quả cho thấy nếu
bổ sung dưới 10% không ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng trứng của gà
đẻ Nếu bổ sung bột cỏ Stylosanthes hơn 10 % trong khẩu phần làm giảm khả
năng sản xuất trứng (P < 0,01) Nhưng màu sắc lòng đỏ, vitamin A trong lòng đỏ
và tỷ lệ ấp nở được cải thiện đáng kể khi ăn bột cỏ Stylosanthes
Trong ngành công nghiệp gia cầm của Thái Lan, cây họ đậu thường được thêm vào khẩu phần ăn của gia cầm như một nguồn protein bổ sung
hoặc là nguồn bổ sung carotenoid để cải thiện màu sắc lòng đỏ Chúng cũng
có thể là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng khác
Stylosanthes là một cây họ đậu được trồng để làm thức ăn thô xanh và
sản xuất bột lá Nó được sử dụng như là nguồn protein thực vật cho lợn, vịt,
và gà tại Trung Quốc, Guptan và Singh, (1983) [71] Stylo được sử dụng ở Trung Quốc từ những năm 1990 và Ấn Độ năm 2000 Trong quá trình sử
dụng cho thấy bột cỏ Stylosanthes có tính đa dụng và tăng giá trị thương mại Theo Liu Guodao và cs, (2004) [87], thì Stylosanthes giàu protein, vitamin và
dưỡng chất khác, bao gồm cả “dưỡng chất chưa biết, nhân tố sinh trưởng” mà
có thể thúc đẩy tăng trưởng của vật nuôi
Trong các cây họ đậu thì cỏ Stylosanthes là cây được sử dụng phổ biến
trong chăn nuôi đại gia súc và có tiềm năng lớn trong việc sản xuất bột cỏ sử dụng trong khẩu phần của gia cầm Cây giàu protein (16 - 24%), không có các yếu tố kháng dinh dưỡng hoặc có nhưng không đáng kể (chứng minh chưa
tìm thấy chất kháng dinh dưỡng) Bột cỏ Stylosanthes có chứa beta - caroten,
có thể được động vật chuyển đổi với hiệu quả khác nhau để hình thành
vitamin A và các xanthophyll
Như vậy, bột cỏ không chỉ cải thiện được hàm lượng protein trong khẩu phần mà còn cải thiện được chất lượng trứng và thịt, tỷ lệ ấp nở, tăng sức đề kháng của gà, Tuy nhiên, mỗi một loại bột cỏ khác nhau thì tỷ lệ sử dụng khác