1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng

115 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bột cỏ được chế biến từ các phần non của cây, vì vậy chúng chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng tự nhiên, sắc tố, protein, khoáng đa vi lượng và các vitamin,… Việc chế biến bột cỏ tron

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CHU BÁ TRUNG

SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU

VÀ BỘT CỎ STYLO TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA

GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CHU BÁ TRUNG

SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU VÀ BỘT CỎ STYLO TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : Chăn nuôi

Người hướng dẫn khoa học: TS TỪ TRUNG KIÊN

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là từ đề tài do bản thân tôi thực hiện, chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào ở trong và ngoài nước Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ

Chu Bá Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận án này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo và cán bộ Bộ môn cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y, Khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu Nhà trường, Ban Giám đốc trung tâm thực hành thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên và Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi tỉnh Thái Nguyên - Viện chăn nuôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt tôi xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn TS Từ Trung Kiên trong suốt quá trình thực hiện luận án Nhân dịp hoàn thành luận án này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ, động viên, an ủi của bạn bè đồng nghiệp, thân hữu gần xa đã chia sẻ cùng tôi trong thời gian hoàn thành luận án này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

TÁC GIẢ

Chu Bá Trung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU i

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Ý nghĩa của đề tài 4

3.1 Ý nghĩa khoa học 4

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Giới thiệu cỏ Stylo và cây keo giậu 5

1.1.1 Giới thiệu cỏ Stylo 5

1.1.1.1 Tên gọi 5

1.1.1.2 Nguồn gốc phân bố 5

1.1.1.3 Năng suất chất xanh 6

1.1.1.4 Thành phần hóa học trong bột cỏ Stylo: 7

1.1.2 Giới thiệu về cây keo giậu 11

1.1.2.1 Tên gọi 11

1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố 12

1.1.2.3 Năng suất chất xanh 12

1.1.2.4 Thành phần hóa học trong bột lá keo giậu 14

Trang 6

1.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 20

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố 20

1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố 20

1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật 21

1.2.1.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 25

1.2.2 Vai trò của sắc tố đối với gia cầm sinh sản 26

1.3 Các kết quả nghiên cứu về sử dụng bột cỏ Stylo và bột lá keo giậu 29

1.3.1 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo 29

1.3.2 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá keo giậu 31

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 35

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 35

2.2 Nội dung nghiên cứu 35

2.3 Phương pháp nghiên cứu 35

2.3.1 Nội dung 1: Xác định ảnh hưởng của BLKG và BCStylo đến năng

suất trứng 35

2.3.2 Nội dung 2: Xác định ảnh hưởng của BLKG và BCStylo đến một số chi tiêu lý học và hóa học của trứng 38

2.3.3 Nội dung 3: Xác định ảnh hưởng của BLKG và BCStylo đến chất lượng trứng giống 39

2.3.4 Phương pháp theo dõi và tính các chỉ tiêu 39

2.3.5 Phương pháp xử lý các số liệu 43

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 Tỷ lệ nuôi sống và khả năng sản xuất trứng của gà thí nghiệm 44

3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống 44

Trang 7

3.1.2 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 45

3.1.3 Năng suất và sản lượng trứng của gà thí nghiệm 48

3.2 Một số chỉ tiêu lý, hóa học của trứng 51

3.2.1 Một số chỉ tiêu lý học của trứng 51

3.2.2 Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng 54

3.2.3 Thành phần hóa học của lòng trắng trứng 56

3.2.4 Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng 58

3.3 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu về trứng ấp 61

3.3.1 Tỷ lệ trứng có phôi 61

3.3.2 Tỷ lệ trứng ấp nở 63

3.3.3 Tỷ lệ gà con loại 1 65

3.4 Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà con loại I 67

3.4.1 Tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng 67

3.4.2 Chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà con loại I 69

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71

1 Kết luận 71

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

I Tài liệu tiếng Việt 73

II Tài liệu tiếng Anh 77

Trang 8

DXKN : Dẫn xuất không chứa nitơ

DCP : Di canxi phôt phat

TCPTN : Tiêu chuẩn phòng thí nghiệm

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TN : Thí nghiệm

TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn

VCK : Vật chất khô

VTM : Vitamin

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36

Bảng 2.2: Công thức thức ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 37

Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua 10 tuần thí nghiệm (%) 44

Bảng 3.2: Tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (%) 46

Bảng 3.3: Năng suất và sản lượng trứng của gà trong 10 tuần thí nghiệm 49

Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lý học của trứng 52

Bảng 3.5: Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng 54

Bảng 3.6: Thành phần hóa học của lòng trắng trứng 56

Bảng 3.7: Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng 58

Bảng 3.8: Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) 62

Bảng 3.9: Tỷ lệ trứng nở/trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) 64

Bảng 3.10: Tỷ lệ gà con loại 1/ấp nở ở các giai đoạn thí nghiệm (%) 65

Bảng 3.11: Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống 68

Bảng 3.12: Chi phí thức ăn cho 10 trứng, 10 trứng giống và 1 gà con loại I 69

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Sơ đồ sắc tố trong thực vật 22

Hình 1.2: Sơ đồ carotenoid tổng số 26

Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm 48

Hình 3.2: Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm 51

Hình 3.3: Đồ thị hàm lượng carotenoids trong lòng đỏ trứng theo thời gian

thí nghiệm 61

Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm (%) 66

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngày nay, chăn nuôi sạch, an toàn đang trở thành vấn đề cấp thiết của

cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Để thực hiện được mục tiêu của chăn nuôi sạch, an toàn, người ta thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: con giống, chuồng trại, phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường và thức ăn dinh dưỡng,… Trong những năm gần đây tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng, các sản phẩm động vật và sản phẩm tổng hợp nhìn chung đều chịu sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, nhất là việc tồn dư kháng sinh, hoocmon, kim loại nặng và kim loại độc Vì vậy, việc sử dụng nguyên liệu sạch có nguồn gốc từ tự nhiên để sử dụng trong chăn nuôi là một trong các giải pháp trong chăn nuôi sạch, an toàn, góp phần cung cấp cho thị trường những sản phẩm sạch có lợi cho sức khỏe con người

Trên thế giới việc sử dụng thức ăn thực vật, đặc biệt là bột cỏ dùng làm thức ăn cho chăn nuôi khá phổ biến Bột cỏ được chế biến từ các phần non của cây, vì vậy chúng chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng tự nhiên, sắc tố, protein, khoáng đa vi lượng và các vitamin,…

Việc chế biến bột cỏ trong chăn nuôi còn nhằm những mục đích khác như: tận dụng nguồn thức ăn trong mùa nhiều cỏ để sử dụng vào mùa thiếu

cỏ, bổ sung vitamin vào khẩu phần ăn cho động vật mà thành phần này trong thức ăn hỗn hợp thường bị thiếu hụt do quá trình chế biến ở nhiệt độ cao và bảo quản trong thời gian dài Đặc biệt, bột lá cây họ đậu còn cung cấp một nguồn protein và sắc tố đáng kể cho động vật

Nước ta là một nước thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp quanh năm với sự phong phú về chủng loại cây trồng

và vật nuôi để cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ cho con người và vật nuôi

Trang 12

Stylo (Stylosanthes guianensis)là cây họ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, được trồng phổ biến tại nhiều nước Châu Á và trên thế giới Các nghiên cứu đã cho thấy

Stylosanthes guianensis là cỏ trồng có năng suất và chất lượng khác nhau tùy

thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác Nhìn chung, đây là cỏ

có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, β caroten, khoáng,… Trên thế giới đã

có một số công trình nghiên cứu về cỏ Stylosanthes như là một nguồn protein

và chất tạo màu trong khẩu phần cho gia súc, gia cầm Cỏ Stylosanthes có

protein thô dao động từ 12,1 - 18,1% chất khô trong thân lá (Sukkasem và cs, 2002) [113], và có thể lên đến 21% chất khô ở lá (Huy và cs, 2000) [78] Cỏ chứa β caroten có thể chuyển đổi với hiệu quả khác nhau trong cơ thể động vật

để thành vitamin A và cùng với các xanthophylls, nó có thể là một nguồn sắc tố tốt cho lòng đỏ trứng, da và chân gà Stylosanthes đã được sử dụng như là

nguồn protein thực vật cho lợn, vịt và gà tại Trung Quốc (Guptan và Singh,

1983) [71] Stylosanthes có thể cho ăn ở dạng tươi hoặc bột khô (Horne và

Stur, 1999) [77] Trong quá trình sử dụng cho thấy: dễ chế biến và bảo quản

Đối với gà đẻ, bột cỏ Stylosanthes đã được sử dụng ở mức dưới 10% trong

khẩu phần ăn (Onwudike và Adegbola, 1978) [97] Tại Việt Nam, đã có một số

công trình nghiên cứu trồng và sử dụng cỏ Stylosanthes cho bò sữa và cho lợn

Cây keo giậu (Leucaena) là cây họ đậu có tiềm năng về dinh dưỡng, cải

tạo và chống xói mòn cho đất dốc Vì vậy, từ lâu cây keo giậu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu để ứng dụng vào sản xuất Những nghiên cứu ban đầu cho thấy, cây keo giậu là một cây dễ trồng,

có năng suất chất xanh cao, giàu protein, vitamin, khoáng chất và các chất sắc

tố, đặc biệt là caroten Keo giậu có khả năng sống trên nhiều loại đất thoát nước có độ PH từ 5 - 7, thời gian sinh trưởng dài suốt từ mùa xuân đến mùa thu, khả năng sinh trưởng và tái sinh nhanh, có khả năng cải tạo đất và chống

Trang 13

xói mòn Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu biến động từ 24,0 - 34,4% và trong hỗn hợp cành, lá từ 10 - 30% VCK Như vậy, hàm lượng protein trong bột lá keo giậu khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi (là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao) (Garcia và cs, 1996 [64]) Hàm lượng protein có trong lá keo giậu cao và chúng cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao,

lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0% VCK (Deshumkh và cs, 1987 [57]) Ronia và cs, (1979) [106] cho biết hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân bố ở giữa

có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2% VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1% VCK

Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của bột lá keo giậu (BLKG) và bột cỏ Stylo (BCStylo) trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào so sánh ảnh hưởng của chúng trên cùng một giống gà đẻ, để biết được loại bột lá nào tốt hơn, cũng chưa có các nghiên cứu nào về ảnh hưởng của thời gian sử dụng BLKG và BCStylo đến chất lượng của trứng (tỷ lệ trứng có phôi, ấp nở, gà con loại I)

Để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên

cứu: “So sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ Stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng”

Trang 14

3 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của việc sản xuất cây thức ăn gia súc cung cấp cho chăn nuôi tạo nên sự phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng và nền nông nghiệp cả nước nói chung

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu cỏ Stylo và cây keo giậu

1.1.1 Giới thiệu cỏ Stylo

1.1.1.1 Tên gọi

Stylosanthes là một chi thực vật có hoa thuộc họ Fabaceae Nó thuộc

phân họ Faboideae và được APGII phân loại như sau:

Giới (regnum): Phantae

Không phân hạng: Angiospermae

Không phân hạng: Eudicots

Không phân hạng: Rosids

Bộ (ordo): Fabales

Họ (familia): Fabaceae

Phân họ (subfamilia): Faboideae

Tông (tribus): Aeschynomeneae

Chi (genus): Stylosanthes Sw

Bốn giống Stylosanthes là S scabra, S hamata, S humilis và S

guianensis được sử dụng rộng rãi làm thức ăn gia súc ở các vùng nhiệt đới 1.1.1.2 Nguồn gốc phân bố

Là loại cỏ có nguồn gốc từ châu Mỹ La Tinh Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawaii, và một số nước Châu Phi như Kenya, Uganda, Nigieria, được phân bố rộng rãi từ Mexico đến Argentina

Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brazil nhập vào

Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến Đây là loại thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công gô, Nam

Trung Quốc Ở Việt Nam, cỏ Stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ

Singapore, Australia

Trang 16

- Các giống cỏ đang gieo trồng:

Stylosanthes guianensis (common Stylo): cây lâu năm

Stylosanthes hamata (Caribbcan Stylo): cây hàng năm

Stylosanthes scabra (Shrubby Stylo): cây lâu năm

Stylosanthes humilis (Townsville Stylo): cây hàng năm

1.1.1.3 Năng suất chất xanh

Cỏ Stylosanthes được các nhà khoa học quan tâm trong thời gian gần đây Stylosanthes đến nay là cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới thành công nhất trên toàn thế giới Stylosanthes có ý nghĩa trong hệ thống sản xuất nông

nghiệp và môi trường (Cameron và cs, 2004) [48]

Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ những năm trước đây,

từ các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào vùng chăn nuôi, vào mức phân bón và

nước tưới, đất đai… khác nhau Stylosanthes sẽ cho năng suất khác nhau

Tại Đắc Lắc, năng suất chất xanh của cỏ Stylo CIAT 184 đạt 12,34 tấn/ha/lứa; cho năng suất 3,08 chất khô/ha/lứa (tương ứng với 21,56 tấn/ha/năm) cao hơn so với trồng ở các vùng sinh thái khác của Việt Nam (Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn, 2009) [11]

Theo Lê Hà Châu (1999b) [3], giống Stylo Cook có thể cho năng suất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) hoặc giống Stylosanthes guianensis FM05-

2 và Stylo CIAT 184 được trồng ở các vùng khác có khả năng cho năng suất

chất khô đạt 11,4 - 12,5 tấn/ha/năm (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1995) [7]; (Trương Tấn Khanh và cs, 1999)[14]

Hoàng Văn Tạo và cs, (2010)[22], cho biết Stylosanthes CIAT 184

trồng tại Nghĩa Đàn đạt sản lượng chất xanh từ 52,5 đến 65,2 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau Cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus, Hoàng Văn Tạo và cs (2010)[22], cho biết năng suất chất xanh đạt từ 49,70 đến 62,00 tấn/ha; năng suất chất khô đạt từ 11,70 đến 14,92

Trang 17

tấn/ha; năng suất protein từ 1,99 đến 2,53 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và

3 mức phân hữu cơ khác nhau

Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay

cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn Năng suất xanh đạt 40-50 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, lipit 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cỏ Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ, đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [20]

Cỏ Stylo (Stylosanthes hamata): trồng một lần có thể thu hoạch 4-5 năm

Năng suất có thể đạt 90- 100 tấn/ha/ năm nếu được chăm sóc, thâm canh tốt

Cỏ Stylosanthes trồng ở Brazil đạt năng suất chất xanh từ 15 - 20 tấn/ha; 35 tấn/ha/năm ở Zaire Tại Madagascar cỏ Stylosanthes trồng sau 1 năm đạt 43 tấn/ha

trên vùng đất cao và 70 tấn/ha vùng đất thấp (Ecoport, 2001) [59]

Trên cả 3 vùng nghiên cứu, khi thâm canh với 20-30 tấn phân hữu cơ/ha/năm với năng suất VCK đạt tương tự với lá keo giậu và Stylo (20 tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Wong Choi Chee và cs, (1999) [119]

Có thể trồng cỏ Stylo bằng hạt hoặc trồng bằng cành giâm Năng suất trên một ha từ 40 đến 50 tấn mỗi năm Thời gian gieo trồng: từ tháng 3 đến tháng 6 Thu hoạch tháng 6 đến tháng 12 Trồng một lần, có thể thu hoạch 4-5 năm

1.1.1.4 Thành phần hóa học trong bột cỏ Stylo:

* Protein

Cây họ đậu được xác định là cây thức ăn xanh tiềm năng bổ sung protein cho vật nuôi, vì chúng có chứa protein thô cao (15% - 30% chất khô (CK)), khoáng chất và vitamin cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi

Trang 18

(Norton và Poppi, 1995) [94] Trong khẩu phần có bổ sung protein của cỏ có chứa 70g protein thô/kg CK hoặc ít hơn cho thấy: lượng chất khô thu nhận, khả năng tiêu hóa và năng suất vật nuôi tăng (Osuji và cs, 1993) [98]; (Umuna

và cs, 1995) [117]

Theo Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009) [11], cây đậu Stylo có năng suất không cao như một số giống hòa thảo nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, tỉ lệ protein thô đạt 16,86%, tỉ lệ sử dụng cỏ Stylo cũng tương đối cao (87,6%) Theo Nguyễn Thị Mùi và cs, (2006) [19]: trên cả 3 vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Ba

Vì, Lâm Đồng) hàm lượng protein bình quân ở cỏ Stylo Plus đạt 17% Theo Đặng Thuý Nhung (2008) [21] cho biết: hàm lượng protein của thân lá cỏ Stylo khô là 16,3%

Đối với cỏ Stylosanthes cùng việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa

học cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó

Hàm lượng nitơ của Stylosanthes guianensis vào khoảng 1,5 đến 3% tính theo

CK (Mannetje và Jone, 1992) [89]

Trong những năm gần đây, Stylosanthes cũng được trồng phổ biến tại Thái Lan và Lào Stylosanthes trồng tại Thái Lan có chứa protein thô 17,1%

(Kiyothong và cs, 2004a) [81] Chứa 14 - 18% protein thô trong CK

(Satjipanon và cs, 1995) [108] Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4

lứa cắt tính theo CK dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô (CP) (Kiyothong và

Wanapat, 2004b) [82] Một số kết quả phân tích cho thấy: cỏ Stylosanthes

tươi 40 - 45 ngày tại Lào chứa 20,2% CK; tính theo CK có 19% protein thô (Phengsanvanh, 2003b) [101] Theo Chanphone và cs, 2003 [50],

Stylosanthes có 22,3% CK; protein thô 19,3% Hàm lượng CK đạt từ 20,0 -

28,0%; protein thô 13,3% (Toum Keopaseuht, 2004) [116]

Omole và cs (2007) [96], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có CK 19,75%; protein thô 19,91%; DXKĐ 56,03% CK Stylosanthes

Trang 19

scabra trồng tại Rwanda có hàm lượng của protein thô là 21% (Mupenzi và

cs, 2008) [92] Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylosanthes guianensis khô 6 tuần

sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1% CK; tính theo CK có 10,6% protein thô (Bamikole và Ezenwa, 1999) [43]

Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động từ

15-17% protein thô tính theo vật chất khô (Ecoport, 2001) [59]

Hỗn hợp cỏ Stylosanthes bao gồm 45% Stylosanthes guianensis, 45%

Stylosanthes hamata và 10% Stylosanthes scabra có chứa 13% protein thô

trong CK (Liu Guodao và cs, 2004) [87]

* Lipit

Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay cả

ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn Hàm lượng lipit 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [20]

Omole và cs, (2007) [96] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có 1,34% lipit thô Cỏ Stylosanthes guianensis, khi trồng - các nước, các

vùng sinh thái khác nhau, thời gian thu mẫu, phương pháp phân tích khác nhau thì hàm lượng lipit trong cỏ cũng khác nhau: lipit dao động từ 1,34% - 2,7%

* Chất xơ

Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [50], Stylo CIAT 184

có hàm lượng xơ thô chiếm 30% VCK Hàm lượng CK đạt từ 20 - 28%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo CK (Toum Keopaseuht,

2004 [116]) Theo Kiyothong và cs (2004a) [81] hàm lượng xơ trung tính 39,1% và xơ axit 56,8%

Trang 20

Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao

động từ 49,1 - 61,5% xơ trung tính (NDF); 34,1 - 47,3% xơ axit (ADF) (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [82]

Một số kết quả phân tích cho thấy: cỏ Stylosanthes tươi 40 - 45 ngày tại

Lào chứa 20,2% CK; tính theo CK có 64,2% xơ trung tính (Phengsanvanh, 2003b) [101]

Omole và cs (2007) [96], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại

Nigeria có CK 19,75%; 13,28% xơ thô Giá trị dinh dưỡng của cỏ

Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1% CK;

tính theo CK có 32,8% xơ thô (CF) (Bamikole và Ezenwa, 1999) [43]

Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động từ

33-40% xơ thô 0,1-0,2% P, 0,8-1% Ca, 1,2-1,8% K, 0,3-0,8% Mg, 0,02% Na

và 0,1-0,8% Cl tính theo vật chất khô (Ecoport, 2001)[59]

Hỗn hợp cỏ Stylosanthes bao gồm 45% Stylosanthes guianensis, 45%

Stylosanthes hamata và 10% Stylosanthes scabra có chứa 2,7% chất béo thô,

32% chất xơ thô, 37,4% DXKĐ, tro 4,1%; 1,13% Ca và 0,11% P trong CK (Liu Guodao và cs, 2004) [87]

* Các chất khoáng

Theo Chanphone Keoboualapheth và cs, (2003) [50], Stylo CIAT 184

có chứa 5,1% chất khoáng, trong đó khoáng Ca chiếm 0,2% và P chiếm 0,4%

Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao

động từ 6,3 - 8,7% khoáng (Ash) (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [82]

Tại Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày chứa 20,2% CK, còn chất khoáng tính theo CK có 5,5% (Phengsanvanh, 2003b) [101])

Omole và cs (2007) [96], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại

Nigeria có CK 19,75%; 9,38% khoáng tổng số Giá trị dinh dưỡng của cỏ

Trang 21

Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1% CK;

tính theo CK có 7,3% khoáng (Bamikole và Ezenwa, 1999) [43]

* Các chất sắc tố

Nhìn chung các sắc tố có trong cây họ đậu thì carotenoid là nhóm nhiều nhất và phổ biến rộng rãi của các sắc tố trong tự nhiên trong đó có

Stylo là một loài cây giàu chất sắc tố, chủ yếu là caroten và xanthophyll

Caroten là tiền vitamin A với hiệu suất chuyển hóa khác nhau tùy theo loài

động vật và mức độ thừa hoặc thiếu vitamin A trong khẩu phần

Xanthophyll không có hoạt tính của vitamin nhưng nó có thể được dự trữ

trong các mô cơ, da và lòng đỏ trứng của gia cầm

1.1.2 Giới thiệu về cây keo giậu

1.1.2.1 Tên gọi

Keo giậu là một cây thuộc bộ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa

học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit Tên gọi “Leucaena” là danh

pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này

Ngoài ra, keo giậu còn có các tên khác như: Leucaena glauca (Wind)

Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L.) Moenth Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên khác nhau

Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Moxico và Tây Ban Nha gọi là

Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul;

Indonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kao haole; Trung Quốc gọi là Yin

hue huan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan…

Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng bằng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [15])

Ở các địa phương khác nhau, keo giậu cũng có các tên khác nhau Miền

Bắc gọi là Keo giậu; Miền Trung gọi là Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình

Trang 22

linh Giống keo giậu mọc hoang ở nước ta thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu

Thời và cs, (1982) [24])

1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố

Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS, 1984) [93] Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500m so với mặt biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay axit nhẹ

Năm 1965, Người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin

để trồng làm thức ăn cho đàn dê (Brewbaker, 1985) [47] Cuối thế kỷ XVII

và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Indonexia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984) [93]

Keo giậu được nhập vào Hawaii, Fijii, Bắc Austrailia, Ấn Độ, Đông Phi, vùng biển Caribbean Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều Trong những năm 70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Indonexia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi

1.1.2.3 Năng suất chất xanh

Ở Việt Nam keo giậu là loài cây dễ trồng và dễ thích nghi, năng suất chất xanh cao, phù hợp với nhiều loài động vật nên được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu để đưa vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi

tùy theo giống, đất đai, sự chăm sóc N

giàu đạm cho đất thông qua bộ rễ có nốt sần

4

Trang 23

-, sau 5 - NAS (1984) [93], cũng cho biết, năng suất và chất lượng keo giậu tươi đạt mức tối ưu ở chế độ gieo trồng và thu hoạch như sau: mật độ gieo trồng là 100.000 - 140.000 cây/ha; độ cao thu hoạch của cây là 60 - 70 cm; chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày Với chế độ gieo trồng và thu hoạch như trên, trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm Trong những vùng nhiệt đới khô hạn năng suất keo giậu giảm ở mùa khô Các nhân tố thời tiết, khí hậu, năng suất keo giậu còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố giống, mật độ cây trồng, tần số khai thác và chiều cao thu hoạch của cây

Lê Thị Hòa Bình và cs, (1990) [1] đã khảo sát năng suất của các giống

keo giậu Ipil-ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn Độ Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil-ipil và Ấn Độ cho

năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tương đương khoảng 10.000 đơn vị thức ăn Tuy nhiên, về mùa khô keo giậu sinh trưởng kém, chỉ đạt gần 50 % so với mùa mưa Riêng giống Ba Vì hạt lớn, sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác

Nguyễn Ngọc Hà (1996) [8] cho biết năng suất chất khô trung bình của các giống keo giậu đạt 11,5 tấn/ha/năm, giống Peru - Cunningham có năng suất cao hơn cả, đạt 11,36 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh trung bình có thể đạt 40 - 45 tấn/ha/năm Thời gian trồng tốt nhất vào tháng 4 Chu kỳ kinh tế 5

- 6 năm

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, keo giậu là một loại cây có khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất chất xanh cao, giàu protein, vitamin, sắc tố và các khoáng vi lượng rất phù hợp trong chăn nuôi Tuy nhiên, năng suất của keo giậu còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu và độ mầu mỡ của đất nơi cây sống

Trang 24

1.1.2.4 Thành phần hóa học trong bột lá keo giậu

* Protein

Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu (BLKG) biến động từ 24,0 - 34,4%, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30% VCK Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi

là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao (Garcia và cs, 1996 [64])

Hàm lượng protein có trong lá keo giậu cao và chúng cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0% CK (Deshumkh và cs, 1987 [57]) Ronia và cs, (1979) [106] cho biết hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân

bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2% VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1% VCK

El - Ashry và cs, (1993) [61] cho biết, hàm lượng protein của lá đạt mức cao nhất ở giai đoạn đầu sinh trưởng và nó giảm dần với tuổi của cây

Gupta và cs, (1986) [39] khi nghiên cứu hàm lượng protein ở 9 loài keo giậu cho biết, hàm lượng protein trong lá của giống K454, loài

L.diversifolia là cao nhất (15,65 % VCK)

D’Mello và Fraser (1981) [51] đã quan sát thấy, hàm lượng protein thô của các mẫu BLKG thu hoạch tại Thái Lan (Châu Á) thấp hơn so với mẫu BLKG thu hoạch tại Malawi (Châu Phi)

Mùa vụ là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân, cành, lá của keo giậu Garcia (1988) [63] cho biết, hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân cành lá được thu hoạch vào tháng 2, 3,

4, 5, 6 trong năm lần lượt là: 34,2; 25,8; 20,5; 19,4; 20,5 % VCK

Phương pháp chế biến cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein của keo giậu D’Mello và Fraser (1981) [52] nhận thấy, hàm lượng

Trang 25

protein thô của BLKG thu hoạch tại Malawi được chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời cao hơn hàm lượng protein thô của BLKG chế biến bằng phương pháp sấy khô trong lò sấy ở nhiệt độ cao (29,41 so với 28,13 % VCK)

Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giàu các axit amin không thay thế như isoleucine, leucine, phenylalanine và histidine, còn hàm lượng lysine và methionine ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn của động vật Các axit amin chứa lưu huỳnh trong lá và hạt keo giậu ở mức thấp nhưng động vật nhai lại có khả năng tự tổng hợp những axit amin này, còn đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì sự thiếu hụt các axit amin chứa lưu huỳnh phải bổ sung chúng vào trong khẩu phần (Garcia và cs, 1996 [64])

* Lipit

Các kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi quốc gia (1995) [36], cho thấy, BLKG chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có 4,30 % lipit và giá trị năng lượng trao đổi của 1 kg BLKG ở gà là 2195 Kcal

Thành phần lipit của cây keo giậu được trồng ở một số nước trên thế giới như sau: Indonexia 5,0%; Philippin 6,4%; Thái Lan 4,6%; Malawi 4,7%; Việt Nam 4,1% và trung bình trên thế giới là 5,3%

Nguyễn Ngọc Hà và cs, (1993) [5], cũng cho biết, loài keo giậu

Leucaena leucocephala trồng tại Viện Chăn nuôi quốc gia, được chế biến

bằng phương pháp phơi kết hợp với sấy, cho thấy trong 1 kg vật chất khô BLKG có 48 g lipit

Từ Quang Hiển và cs, (2008) [10], cho biết, thành phần lipit của BLKG

Leucaena leucocephala ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam có sự biến

động tương đối thấp về thành phần lipit ở các vùng sinh thái khác nhau Như: Hà Nội 4,05%; Huế 3,93%; Thành phố Hồ Chí Minh 5,58%; Thái Nguyên 4,71%

Trang 26

* Chất xơ

Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc khác nhưng lại thấp hơn nhiều so với các loại thức ăn xanh khác Do hàm lượng chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, đặc biệt là đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm Hàm lượng chất

xơ trong keo giậu cũng thay đổi theo giống và các phần khác nhau của cây, ngay trong cùng một loài hàm lượng chất xơ cũng khác nhau

Garcia và cs, (1996) [64], cho biết, hàm lượng chất xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35% (biến động từ 32 - 38% VCK), trong BLKG là 19,2% VCK (biến động từ 18,0 - 20,4% VCK)

* Các chất khoáng

Keo giậu là loài cây giàu các chất khoáng đặc biệt là trong thân và lá, hàm lượng các chất khoáng là khá cao và có nhiều biến động, nó phụ thuộc vào các loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống, các phần và các giai đoạn sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đoạn thu hoạch, vị trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất nơi cây sinh sống

Garcia và cs, (1996) [64], đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65 báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong keo giậu như sau: canxi là 1,80% (biến động từ 0,88 - 2,90%); phốt pho là 0,26% (biến động 0,14 - 1,38%); lưu huỳnh là 0,22% (biến động 0,14 - 0,29%); magie là 0,33% (biến động từ 0,17 - 0,48%); natri là 1,34% (biến động 0,22 - 2,66%); kali là 1,45% (biến động từ 0,79 - 2,11%)

El - Ashry và cs, (1993) [61], cũng cho biết, hàm lượng khoáng tổng số tăng lên với tuổi của cây, hàm lượng canxi, kali và magie tăng lên dần dần với

sự tăng lên của tuổi cây, trong khi đó hàm lượng phốt pho, sắt, kẽm, mangan lại giảm đi khi tuổi của cây tăng lên

Các kết quả nghiên cứu của Garcia (1988) [63] cho biết, hàm lượng

Trang 27

khoáng tổng số của keo giậu biến đổi qua các tháng thu hoạch (từ tháng 2 đến tháng 6) lần lượt là: 8,6; 6,3; 5,5; và 6,1 % VCK

* Các chất sắc tố và caroten

Keo giậu là một loài cây giàu chất sắc tố mà chủ yếu là caroten và

xanthophyll Caroten là tiền vitamin A và hiệu suất chuyển hóa thành vitamin

A giữa các loài là khác nhau BLKG chứa nhiều xanthophyll mà đó là nguồn

cung cấp sắc tố cho động vật, nó có thể được dự trữ trong các mô cơ, da và

lòng đỏ trứng gia cầm Người ta đã chứng minh được rằng, xanthophyll được

dự trữ trong da, cơ và lòng đỏ trứng gia cầm có nguồn gốc từ thức ăn vì gia cầm không có khả năng tự tổng hợp nên sắc tố này Mầu đỏ của lòng đỏ trứng gà và mầu vàng của da gà là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng sản phẩm của gia cầm

Wood và cs, (1983) [120], đã nhận thấy, hàm lượng caroten và đạt ở

mức cao trong BLKG được thu hoạch ở Malawi và chế biến bằng phương

pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có thể chứa tới 480 mg caroten và 932

mg xanthophyll/kg VCK

Hàm lượng caroten và xanthophyll phụ thuộc khá nhiều vào phương pháp chế biến và bảo tồn sản phẩm keo giậu Các chất sắc tố và caroten dễ

dàng bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, như sấy khô trong lò sấy hoặc phơi khô

dưới ánh nắng mặt trời Thời gian bảo quản càng dài thì hàm lượng caroten

và xanthophyll càng giảm

D’Mello và Acamovic (1989) [53], cho biết, hàm lượng caroten trong BLKG giảm từ 19 - 40 mg/kg/tháng và hàm lượng xanthophyll giảm từ 29 - 53 mg/kg/tháng Nếu phơi BLKG dưới ánh nắng mặt trời thì các carotenoid bền hơn các carotenoid sấy khô trong lò sấy

Wood và cs, (1983) [120], cho biết, việc viên thành hạt và bổ sung thêm các chất chống oxy hóa như ethoxyquin vào BLKG có tác dụng làm

Trang 28

chậm lại sự suy giảm hàm lượng caroteniod của BLKG trong thời gian bảo

quản hoặc trong quá trình chế biến

* Độc tố mimosine trong cây keo giậu

Mimosin là một axit amin phi protein có trong thành phần của cây keo

giậu, hàm lượng mimosine biến động giữa các loài, giống, tuổi, các phần

khác nhau của cây, khoảng cách thu hoạch và phương pháp chế biến

Rushkin (1977) [107], đã cho thấy, hàm lượng mimosine thay đổi trong

phạm vi rộng giữa các loài keo giậu Hàm lượng này có mức cao là 5,4 % VCK ở

loài L macrophylla và mức thấp 1,2 % VCK ở loài L diversifolia

Hauad và Foroughbakhch (1991) [73], cho biết, ngay trong cùng loài,

hàm lượng mimosine trung bình cũng rất biến động (từ 3 - 9 % VCK đối với loài L leucocephala; từ 1 - 2 % VCK đối với loài L gregii, từ 2- 5 % VCK đối với loài L pulverulenta)

Chandrasekhran và Govindaswamy (1985) [49], cho thấy, loài L diversifolia

có hàm lượng mimosine trung bình từ 2,0 - 2,8 % VCK là thấp hơn so với loài

L.lanceolata là 6,2 % VCK, cây lai giữa loài L.diversifolia với loài L.leucocephala

có hàm lượng mimosine ở mức thấp từ 2,0 - 3,8 % VCK

Gupta và cs, (1992) [70], cho biết, tương quan âm giữa hàm lượng

mimosine và tuổi của lá cây keo giậu

Hauad và Foroughbakhch (1991) [73], nhận thấy, hàm lượng mimosine

có xu hướng tăng lên theo tuổi của cây và hàm lượng mimosine thấp nhất

lúc cây bắt đầu thời kỳ ra hoa

Gupta và cs, (1992) [70], cho biết, hàm lượng mimosine tăng trong mùa

nóng và ẩm (tháng 7 và 8) Hauad và Froughbakhch (1991) [73], cũng cho biết,

hàm lượng mimosine của keo giậu cao trong mùa hè (tháng 6 đến 8) và thấp

trong mùa đông và đầu mùa xuân

Takahashi và Ripperton (1949) [115], cho biết, khoảng cách giữa các

Trang 29

lần thu hoạch càng lớn hàm lượng mimosine càng thấp và khi tuổi của cây tăng lên thì hàm lượng mimosine lại giảm

Akbar và cs, (1984a) [40], đã nhận thấy, hàm lượng mimosine của giống K8, loài L.leucocephala có 5,1 % VCK trong lá non, 3,1 % VCK trong

lá trưởng thành 2,2 % VCK trong cành, 1,8 % VCK trong cuống lá, 2,4 % VCK trong vỏ quả tươi, 5,9 % VCK trong hạt, 4,9 % VCK trong búp non và 3,7 % VCK trong hoa

* Độc tính của mimosine đối với động vật

Nhiều nghiên cứu cho thấy mimosine là nguyên nhân chính gây ra các rối

loạn trao đổi chất ở động vật khi sử dụng keo giậu trong khẩu phần ăn quá giới

hạn Độc tính của mimosine đã được Jones (1979) [79]; Brewbaker và Hutton (1979) [46], nghiên cứu và cho biết, mimosine là tác nhân gây ra hội chứng

chán ăn, chứng rụng lông, tiết nhiều nước bọt quá mức, sưng tuyến giáp trạng, sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản khi trong khẩu phần

ăn chứa một lượng keo giậu cao quá giới hạn

Proverbs (1984) [102], cho rằng, mimosine có thể gây ra những tác

động xấu đối với động vật dạ dày đơn khi khẩu phần ăn có một lượng keo

giậu lớn hơn 10 %, trong khi đối với động vật nhai lại, mimosine chỉ có ảnh

hưởng độc khi trong khẩu phần lớn hơn 30 %

Szyska và cs, (1984) [114], đã chứng minh, liều lượng mimosine mà

không gây độc biến động theo loài động vật là: gà thịt 0,16 g/kg thể trọng/ngày; gà đẻ là 0,21 g/kg thể trọng/ngày; bò và dê là 0,18 g/kg thể trọng/ngày; cừu là 0,14 g/kg thể trọng/ngày

Kamada và cs, (1997) [80], cho biết, gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu

phần chứa 10 g mimosine/kg VCK đã có những biểu hiện như: giảm tiêu thụ

thức ăn, giảm tăng trọng cơ thể, có những khuyết tật ở chân và tổn thương ở thận

Trang 30

1.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố

1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố

Carotenoid là sắc tố hữu cơ được tìm thấy ở thực vật và các loại vi sinh

vật khác có thể tiến hành tự quang hợp được như tảo, một số loài nấm và vi khuẩn Các sắc tố này đóng hai vai trò là (1) hấp thụ năng lượng từ ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp; (2) bảo vệ tế bào cây trồng khỏi thối rữa

Hiện nay, người ta đã tìm được 750 loại carotenoid Do sự có mặt hay không có của phân tử oxy, carotenoid được chia thành hai nhóm là caroten

(Beta caroten, lycopen hay alpha caroten) và xanthophyll (astaxanthin, lutein

và zeaxanthin)

Trong khoảng 750 loại carotenoid khác nhau, có 50 loại carotenoid

hiện diện trong thức ăn của người và động vật Thế nhưng, trong máu của người và động vật chỉ có khoảng 15 loại được tìm thấy và chúng đang được chứng minh và đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và động vật Khác với cây cỏ, con người và động vật không tự tổng hợp ra

carotenoid mà sử dụng carotenoid từ việc ăn thực vật nhằm bảo vệ bản thân

mình vì chúng giúp chống lại các tác nhân oxy hóa từ bên ngoài

Carotenoid không phải là tên riêng của một chất nào mà là tên của một

nhóm các hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo tương tự nhau và tác dụng bảo

vệ cơ thể động thực vật cũng tương tự nhau Carotenoid được biết đến sớm nhất

và có vai trò lớn trong đời sống là beta-caroten hay còn gọi là tiền vitamin A Trong những năm gần đây, người ta mới biết thêm về vai trò của các carotenoid khác như astaxanthin, lycopen, lutein, và zeaxanthin; đó là những sắc tố quan

trọng nhất có tác động đến sức khỏe con người và động vật Chúng có hoạt tính

gấp 10 lần so với beta caroten Nó có tác động tốt đến não và hệ thần kinh trung

ương và có tác động rất tốt trong quá trình miễn dịch của cơ thể, làm giảm 1000

lần tác động của tia cực tím so với beta caroten

Trang 31

Carotenoid là sắc tố tự nhiên tạo ra màu vàng, da cam, đỏ của rất nhiều

các loại quả (gấc, chanh, đào, mơ…), rau (cà rốt, cà chua…), nấm và hoa Chúng cũng có mặt trong các sản phẩm động vật như trứng, tôm hùm, cá…

Ngày nay, các hợp chất carotenoid rất được quan tâm nghiên cứu

Carotenoid là chất màu tự nhiên, chúng được tìm thấy trong lục lạp của

thực vật bậc cao, mặc dù trong mô quang hợp những màu sắc này được che đậy bởi chất diệp lục Những chất này cũng được tìm thấy trong tảo, vi khuẩn, nấm và nấm men

1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật

Sắc tố trong thực vật được chia thành các nhóm sau: Chlorophyll,

carotenoid (caroten và xanthophyll), flavonoid (chalcon, anthocyanin, flavon, flavonol) và betalain (betaxanthin, betacyanin) Người ta đã phát hiện được

khoảng 750 loại carotenoid, 7.000 flavonoid và hơn 500 anthocyanin (Davies, 2004)[55] Sắc tố tồn tại ở các bộ phận khác nhau của thực vật, flavonoid và

carotenoid tồn tại ở hầu hết các mô thực vật như lá, củ, hoa, quả, và hạt Anthocyanin, chlorophyll có một vị trí cụ thể ở tế bào hoặc dưới cấp độ tế

bào Anthocyanin thường được tìm thấy trong các tế bào biểu bì của cánh hoa, trong khi chlorophyll và carotenoid trong thể hạt của thế bào dưới biểu bì quang hợp của lá Anthocyanin, betalain xuất hiện trong không bào (Davies,

2004)[55] Tất cả các đặc tính hình thức vẻ đẹp của các thực vật là thông tin cho động vật, côn trùng, chim và dơi, tìm đến thực vật để kiếm thức ăn

Một số sắc tố thường gặp trong thực vật được hệ thống hóa bằng sơ đồ dưới đây:

Trang 32

Hình 1.1: Sơ đồ sắc tố trong thực vật

Rất khó đánh giá vai trò sinh học của sắc tố ở trong thực vật, nhưng

người ta đã cho biết chlorophyll là sắc tố quan trọng nhất đối với thực vật

Chlorophyll và carotenoid là những chất quan trọng cho chức năng quang

Chlorophyll

Chlorophyll b Chlorophyll a

Caroten phytofluen

Lutein Zeaxanthin Astasanthin Canthaxanthin Xitranaxanthin Capxanthi

n

α, β cryptoxanthin Violaxanthin

Xanthophyl

l Carotenoid

Auron Flavon Flavonol Anthocyanin Chancon Flavonoid

Betacyanin

Trang 33

hợp Một vài sắc tố quan trọng khác là flavonoid có vai trò chủ yếu trong

tương tác giữa thực vật và động vật như tín hiệu để thụ phấn và phát tán hạt

Chlorophyll ở thực vật có hai loại đó là chlorophyll a màu xanh nhạt và chlorophyll b màu vàng xanh Số lượng loại này phụ thuộc vào loài thực vật,

điều kiện ánh sáng và điều kiện dinh dưỡng khoáng magie

Bình thường chất diệp lục a nhiều hơn 2-4 lần so với chất diệp lục b trong lá bạc hà tươi được triết suất bằng aceton, chất diệp lục a/b thay đổi từ 3:1 trong melissa, cây tầm ma là 1:1 Cây trồng trong bóng dâm chứa chất diệp lục a ít hơn so với chất diệp lục b Thay thế Mg bởi ion Fe sẽ tạo ra sản

phẩm chất diệp lục màu xám-nâu của chlorophyll và sự hiện diện của các ion

Zn và Cu làm tăng sự ổn định của màu xanh lá cây tự nhiên

Các phân tử chất diệp lục là một dẫn xuất porphyrin chính là một sự sắp xếp của bốn pyrrol vòng có chứa một ion Mg ở trung tâm Sự hiện diện của Mg ở trung tâm của một phân tử chất diệp lục đóng một vai trò quan trọng trong việc hấp thụ năng lượng ánh sáng và vòng pyrrol tạo ra một cấu trúc nối đơn, đôi, tạo điều kiện cho việc hấp thụ photon ánh sáng Một đuôi phytol bao gồm 20 nguyên tử carbon được gắn liền với phần tetrapyrrol chất

diệp lục Sự khác biệt trong cấu trúc giữa chlorophyll a và b là tối thiểu và

liên quan đến việc khác nhau nhóm gắn liền với các nguyên tử carbon thứ ba

trong vòng pyrrol II Chlorophyll a gắn nhóm CH3, trong khi chất diệp lục b liên kết với CHO (Heldt, 2005)[74] Loại bỏ Mg từ các phân tử chất diệp lục

và kết quả trong chuyển đổi của nó là tạo thành pheophytin có màu xám nâu Pheophytin tích lũy ở lá trong quá trình lão hóa của thực vật hoặc kết quả gây

ra do ô nhiễm môi trường, chẳng hạn như mưa axit

Carotenoid tồn tại ở sắc lạp và lục lạp ở màng tế bào thực vật, sắc tố

trong carotenoid được chia thành 2 nhóm: caroten màu đỏ da cam và

xanthophyll vàng da cam

Trang 34

Caroten C4H56 là một loại cacbua hydro chưa bão hòa, chỉ tan trong dung môi hữu cơ Trong thực vật thường có 4 loại tiền vitamin A là: β, α, δ

caroten và kriptoxantin Nếu cắt đôi phân tử β caroten ta có 2 phân tử vitamin

A, nên β caroten được xem là tiền vitamin A (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976)[37] Trong đó β caroten chiếm trên 90% trong tổng số carotenoid ở thực vật Các carotenoid không chỉ cung cấp tiền vitamin A mà còn có tiềm năng chống oxy hóa, chống ung thư Hàm lượng β caroten trong cỏ tươi tự

nhiên: 150 - 250 mg/kg VCK, cây ngô già: 15 - 60 mg/kg VCK, của cà rốt

150 - 200 mg/kg VCK, rơm rạ: 4 mg/kg VCK (Từ Quang Hiển, 2001)[9] β

caroten trong bột lá keo giậu từ 227 - 248 mg/kg VCK Caroten là một trong

những nhóm sắc tố quan trọng nhất trong tự nhiên Nó tạo nên mầu sắc rực rỡ của màu vàng, đỏ cho nhiều loại trái cây, rau, củ, hoa và lá mùa thu, tạo ra màu sắc lòng đỏ trứng gà, tảo, nấm men và nấm, màu lông và da của nhiều loại chim

Xanthophyll là nhóm sắc tố vàng sẫm Công thức hóa học của chúng là

C40H56On (n từ 1-6) Vì số lượng nguyên tử oxy có thể từ 1 đến 6 nên có nhiều

loại xanthophyll: Kriptoxantin (C40H56O1), lutein (C40H56O2), violacxantin

(C40H56O4), (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976)[37] Trong đó violaxanthin và lutein

chủ yếu tạo ra màu sắc vàng của lá cây, cỏ trong mùa thu (Davies, 2004)[55]

Flavonoid bao gồm anthocyanin, chalcon, auron, flavon và flavonol

tồn tại ở trong không bào Trong các sắc tố thuộc nhóm flavonoid thì

anthocyanin là phổ biến nhất và tạo ra các màu đỏ tươi, đỏ, xanh và màu tím

cho hoa, quả và thân cây Màu của anthocyanin bị ảnh hưởng bởi rất nhiều

các nhân tố Một trong các nhân tố đó là số lượng nhóm hydroxyl và methoxyl Nếu có gốc OH thì màu sắc có màu xanh Nếu xuất hiện nhiều gốc OCH3 thì màu sắc chủ yếu là đỏ (Grotewold, 2006) [68] Các loại sắc tố này

có màu đỏ khi ở pH axit và có màu xanh khi ở môi trường kiềm Ngoài ra,

Trang 35

màu sắc còn phụ thuộc vào các nguyên tố khoáng như Al, Fe, Mg ở một số loài thực vật

Betalain là các chất thay thế anthocyanin ở các loài caryophyllal

Chúng cũng có thể tìm thấy ở một số loài nấm Betalain có nguồn gốc từ

tyrosin Chúng được chia thành 2 nhóm là betaxanthin có màu vàng và betacyanin có màu đỏ, màu tím

Ngoài ra trong thực vật còn có các tiền chất của axit abscisic (ABA), phytohormon; các chất này có khả năng điều chỉnh sinh trưởng và quá trình stress của con vật (Koornneef, 1986) [83]

1.2.1.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

Sắc tố trong thực vật gồm có bốn nhóm (chlorophyll, carotenoid, flavonoid

và betalain) Trong thức ăn chăn nuôi chỉ đề cập đến một trong bốn nhóm nói

trên, đó là carotenoid Khi nói đến hàm lượng sắc tố trong thức ăn, có nghĩa là nói đến carotenoid tổng số Nó gồm hai nhóm là xanthophyll và caroten

Xanthophyll còn có tên gọi là oxy - carotenoid Nó cũng có hai nhóm là carotenoid không màu và có màu Carotenoid không màu có hai đại diện

chính là cryptoxanthin và violaxanthin, còn carotenoid có màu đỏ thì có hai nhóm nhỏ, nhóm thứ nhất là xanthophyll với đại diện là lutein và zeaxanthin, còn nhóm thứ hai có các đại diện như apoester, canthaxanthin,

citranaxanthin, capxanthin (capsorubin), astaxanthin Chính vì vậy, khi nói

đến hàm lượng xanthophyll trong thức ăn, có nghĩa là nói đến xanthophyll

tổng số, chứ không phải là một sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này

Caroten có các đại diện là anpha (α), beta (β), zeta (z), gama (γ) caroten, lycopen và phytofluen Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong

thức ăn, có nghĩa là nói đến caroten tổng số trong thức ăn (không phải là một

sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này)

Trang 36

Sắc tố trong thức ăn được hệ thống hóa bằng sơ đồ dưới đây:

Carotenoid có màu Carotenoid không

Cryptoxanthin Violaxanthin

Hình 1.2: Sơ đồ carotenoid tổng số 1.2.2 Vai trò của sắc tố đối với gia cầm sinh sản

Động vật hoàn toàn không có khả năng tự tổng hợp carotenoid nên bắt

buộc phải được cung cấp từ thức ăn (Marusich, 1981, [90], Liufa và cs, 1997,

[86]) Đối với khẩu phần ăn thông thường thì nguồn carotenoid sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng gia cầm là xanthophyll hay oxycarotenoid của

ngô, gluten ngô và bột lá thực vật (Latscha, 1990 [84]) Khi cho gia cầm ăn

thức ăn giàu xanthophyll thì có thể tìm thấy xanthophyll ở trong máu, cơ, gan, chất béo, da, lông của chúng (Goodwin, 1986 [66]) Ở gà đẻ, xanthophyll tích

trữ ở cơ, da sẽ được huy động mạnh mẽ vào buồng trứng khi thành thục và một phần được chuyển vào lòng đỏ (Gouveia và cs, 1996 [67]; Goodwin,

1986 [66]) Sau khi thu nhận được sắc tố có từ thức ăn thì gà đẻ có thể huy động từ 20-60% tổng lượng sắc tố thu nhận vào lòng đỏ (Bornstein, 1966

[45]) Do đó màu sắc tự nhiên của lòng đỏ chính là màu sắc của xanthophyll

(Sirri và cs, 2007 [110]) Ngày nay các oxycarotenoid được phân lập từ thực

Trang 37

vật, tảo và nấm được sử dụng nhiều trong khẩu phần ăn của gia cầm và được đánh giá là rất tốt (Gierhart, 2002 [65]; Lorenz, 2002a [88]), còn các loại sắc

tố tổng hợp thì ít được sử dụng và thậm chí còn bị cấm ở một số nước Khi sử dụng ngô đến 50% khẩu phần thì sắc tố có trong ngô có thể cho màu sắc lòng

đỏ đạt từ 5,6 - 7 điểm và tương đương với lòng đỏ ở mức bình thường theo thang điểm màu của Roche (1998)[105] Nhưng yêu cầu của các nước châu

Mỹ thì màu sắc lòng đỏ phải đạt thang điểm từ 7 - 10, còn châu Âu và châu Á

là 10 - 14 theo thang điểm của Roche (1998)[105] Như vậy, nếu chỉ sử dụng khẩu phần tự nhiên để cung cấp sắc tố cho lòng đỏ thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu nêu trên, ngoài ra oxycarotenoid còn dễ bị biến tính do tác động của các nhân tố gây oxy hóa như ánh sáng, nhiệt độ hay quá trình đề hydrat và điều kiện bảo quản nên việc thiếu hụt sắc tố trong thức ăn và trong sản phẩm chăn nuôi là khó tránh khỏi

Trong khối EU, màu sắc lòng đỏ là một tiêu chí quan trọng cho người tiêu dùng lựa chọn trứng Màu sắc được sử dụng như một công cụ để đánh giá chất lượng của trứng Màu sắc lòng đỏ thực sự ở vị trí thứ ba trong thuộc tính chất lượng trứng (Hernandez và Blanch, 2000a [75], Hernandez và Blanch, 2000b [76]) Ngoài màu sắc thì tính đồng nhất màu sắc của lòng đỏ là quan trọng và gắn liền với chất lượng trứng tốt Sự ưa chuộng lòng đỏ trứng có màu sắc khác nhau là khác nhau trên khắp châu Âu Các nước phía Bắc, với ngoại lệ là Đức, thích màu lòng đỏ nhạt, trong khi các nước Tây Nam của châu Âu thích màu lòng đỏ đậm hơn Việc lựa chọn màu sắc lòng đỏ của người tiêu dùng cũng khác nhau giữa các vùng trong nước Ngoài ra, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của trứng, mức độ bột màu bổ sung vào là khác nhau trong chế độ ăn của gà mái

Màu lòng đỏ trứng trực tiếp phản ánh sự tập trung của sắc tố trong chế

độ ăn của gà mái đẻ Nó thường được đo theo thị hiếu của người tiêu dùng với

Trang 38

cấp độ khác nhau của màu sắc (từ vàng nhạt đến màu cam và màu đỏ) và

phản ánh các kết hợp khác nhau của màu vàng và màu đỏ của carotenoid

trong chế độ ăn Phương pháp xác định màu sắc của trứng được sử dụng nhiều nhất là dùng quạt so màu lòng đỏ Roche (RYCF) hiển thị theo thang điểm từ

1 (màu vàng nhạt) đến 15 (màu lòng đỏ) Do sự đóng góp của carotenoid

khác nhau có trong thành phần thức ăn quyết định màu sắc trứng

Sắc tố không chỉ phụ thuộc vào tổng số lượng sắc tố mà còn phụ thuộc

vào tỷ lệ các chất carotenoid màu vàng và màu đỏ được hấp thụ vào trong cơ

thể Thức ăn có hàm lượng thấp các sắc tố đỏ nếu được thêm vào sắc tố màu vàng với hàm lượng cao kết quả làm màu sắc lòng đỏ đậm hơn (De Groote,

1970 [56]), khi bổ sung vào khẩu phần cơ sở canthaxanthin làm cho lòng đỏ

trứng có màu sắc vàng nhạt thành màu đỏ tươi

Sidibe (2001)[109], cũng đã nghiên cứu và công bố kết quả về

canthaxanthin lắng đọng trong lòng đỏ trứng sau khi cho gà đẻ ăn thức ăn có

chứa 2 - 6 mg canthaxanthin/kg thức ăn Cường độ màu sắc của lòng đỏ trứng đạt đến đỉnh điểm sau 10 ngày và hàm lượng canthaxanthin trong lòng đỏ

trứng được đo giữa ngày 19 và 25 là như nhau, điều đó phản ánh mối quan hệ

ổn đinh giữa canthaxanthin trong thức ăn và lòng đỏ trứng SCAN cho biết

điểm số trung bình RYCF ở các quốc gia đòi hỏi màu trứng đỏ đậm nhất là

13, nhưng màu bị giảm đi trong quá trình chế biến vì vậy trứng tươi phải có

điểm ban đầu là 14 Hàm lượng canthaxanthin cao nhất được tìm thấy trong

trứng tương ứng điểm số này là 0,35 mg/quả trứng hay 5,9 mg/kg trứng Vì vậy, cần phải tính toán hàm lượng sắc tố trong thức ăn để đáp ứng được sự tích tụ sắc tố với hàm lượng nêu trên trong lòng đỏ trứng

Thực tế, các thành phần màu đỏ của màu sắc lòng đỏ trứng chủ yếu là

do bổ sung canthaxanthin ở mức từ 2 đến 6 mg/kg thức ăn hỗn hợp Ngoài ra

Trang 39

citranaxanthin có thể sử dụng ở nồng độ 1,5 lần cao hơn của canthaxanthin

để có được một hiệu ứng tương tự

Nói chung mức bổ sung carotenoid tổng hợp trong thức ăn chăn nuôi

có thể thay đổi từ 0 đến 8 mg/kg thức ăn cho cả bột màu vàng và đỏ, tổng cả hai loại là từ 10-15 mg/kg khẩu phần

Astaxanthin tự nhiên cũng được sử dụng bởi các nhà sản xuất thức ăn

cho gà Lý do người ta sử dụng cho gà là để tăng sắc tố lòng đỏ trứng Tuy

nhiên, khi khẩu phần có astaxanthin thì người ta thấy nhiều lợi ích khác nhau

như: làm giảm tỷ lệ tử vong của gà, tăng khả năng sinh sản và cải thiện tình trạng sức khỏe tổng thể của chúng Ngoài sản xuất trứng tăng lên thì các bệnh

nhiễm trùng do Salmonella lại giảm đáng kể

1.3 Các kết quả nghiên cứu về sử dụng bột cỏ Stylo và bột lá keo giậu

1.3.1 Kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo

Việc đầu tiên xem xét khi cho gà đẻ ăn bột cây họ đậu là hàm lượng protein, đặc biệt là các axit amin Cung cấp khoảng 13% protein trong khẩu phần

từ nguồn protein bột cây bộ đậu sẽ giảm đáng kể kích cỡ trứng trong khi mức protein thấp hơn sẽ làm giảm rõ rệt số lượng trứng (Leeson và Summers, 1997) [85], (Perry và cs, 1999) [100], (D’Mello 1995) [54], đã thử nghiệm bổ sung bột cây họ đậu làm thức ăn cho gà đẻ và cho rằng, ngoài hàm lượng protein cao, bột

cây họ đậu còn cung cấp carotenoid cho gà Bởi vì, các sắc tố ở trong trứng, gia

cầm không tự tổng hợp được, mà phải cung cấp từ bên ngoài

Trong các cây họ đậu thì cỏ Stylosanthes là cây được sử dụng phổ biến

trong chăn nuôi đại gia súc và có tiềm năng lớn trong việc sản xuất bột cỏ sử dụng trong khẩu phần của gia cầm Cây giàu protein (16 - 24%), không có hoặc nồng độ thấp chất kháng dinh dưỡng

Onwudike và Adegbola (1978)[97], nghiên cứu những tác động của việc

tăng số lượng bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần đến sản xuất trứng, vitamin A

Trang 40

trong lòng đỏ, màu sắc lòng đỏ và tỷ lệ ấp nở của gà mái đẻ Kết quả cho thấy nếu

bổ sung dưới 10% không ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng trứng của gà

đẻ Nếu bổ sung bột cỏ Stylosanthes hơn 10 % trong khẩu phần làm giảm khả

năng sản xuất trứng (P < 0,01) Nhưng màu sắc lòng đỏ, vitamin A trong lòng đỏ

và tỷ lệ ấp nở được cải thiện đáng kể khi ăn bột cỏ Stylosanthes

Trong ngành công nghiệp gia cầm của Thái Lan, cây họ đậu thường được thêm vào khẩu phần ăn của gia cầm như một nguồn protein bổ sung

hoặc là nguồn bổ sung carotenoid để cải thiện màu sắc lòng đỏ Chúng cũng

có thể là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng khác

Stylosanthes là một cây họ đậu được trồng để làm thức ăn thô xanh và

sản xuất bột lá Nó được sử dụng như là nguồn protein thực vật cho lợn, vịt,

và gà tại Trung Quốc, Guptan và Singh, (1983) [71] Stylo được sử dụng ở Trung Quốc từ những năm 1990 và Ấn Độ năm 2000 Trong quá trình sử

dụng cho thấy bột cỏ Stylosanthes có tính đa dụng và tăng giá trị thương mại Theo Liu Guodao và cs, (2004) [87], thì Stylosanthes giàu protein, vitamin và

dưỡng chất khác, bao gồm cả “dưỡng chất chưa biết, nhân tố sinh trưởng” mà

có thể thúc đẩy tăng trưởng của vật nuôi

Trong các cây họ đậu thì cỏ Stylosanthes là cây được sử dụng phổ biến

trong chăn nuôi đại gia súc và có tiềm năng lớn trong việc sản xuất bột cỏ sử dụng trong khẩu phần của gia cầm Cây giàu protein (16 - 24%), không có các yếu tố kháng dinh dưỡng hoặc có nhưng không đáng kể (chứng minh chưa

tìm thấy chất kháng dinh dưỡng) Bột cỏ Stylosanthes có chứa beta - caroten,

có thể được động vật chuyển đổi với hiệu quả khác nhau để hình thành

vitamin A và các xanthophyll

Như vậy, bột cỏ không chỉ cải thiện được hàm lượng protein trong khẩu phần mà còn cải thiện được chất lượng trứng và thịt, tỷ lệ ấp nở, tăng sức đề kháng của gà, Tuy nhiên, mỗi một loại bột cỏ khác nhau thì tỷ lệ sử dụng khác

Ngày đăng: 22/11/2014, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Ngọc Hà (1996), “Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo giậu (Leucaena) làm thức ăn bổ sung cho chăn nuôi”.Luận án PTS khoa học Nông nghiệp. Hà Nội, tr.52 - 53, 86, 91- 94, 97- 102, 106 - 108, 115 - 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo giậu (Leucaena) làm thức ăn bổ sung cho chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Nhà XB: Luận án PTS khoa học Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), Thức ăn và dinh dưỡng gia súc, (Giáo trình sử dụng cho đào tạo bậc đại học), Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
10. Từ Quang Hiển, Nguyễn Đức Hùng, Trần Thị Liên, Nguyễn Thị Inh (2008). Nghiên cứu sử dụng keo giậu (Leucaena) trong chăn nuôi. Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng keo giậu (Leucaena) trong chăn nuôi
Tác giả: Từ Quang Hiển, Nguyễn Đức Hùng, Trần Thị Liên, Nguyễn Thị Inh
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2008
11. Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009), “Năng suất chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Pennisetum perpereum, Panicum maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) trồng tại Đắc Lắc”, Tạp chí khoa học và phát triển 2009: Tập 7, số 3: 276 - 281, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Pennisetum perpereum, Panicum maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) trồng tại Đắc Lắc
Tác giả: Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2009
12. Nguyễn Minh Hoàn (2003), “Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của hai giống gà KABIR và Lương Phượng nuôi tại Nghệ An”, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của hai giống gà KABIR và Lương Phượng nuôi tại Nghệ An”, "Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàn
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Hùng (2005), “Nghiên cứu ảnh hưởng của các tỷ lệ và phương pháp xử lý BLKG khác nhau trong khẩu phần ăn đến sức sản xuất của gà sinh sản hướng thịt ISAJA57”. Luận án TS khoa học Nông nghiệp. Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các tỷ lệ và phương pháp xử lý BLKG khác nhau trong khẩu phần ăn đến sức sản xuất của gà sinh sản hướng thịt ISAJA57”
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng
Năm: 2005
14. Trương Tấn Khanh và cs (1999), “Tuyển chọn và sản xuất mở rộng một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu tại vùng M ’ Drak”, Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng và thức ăn, tr.144 - 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng và thức ăn
Tác giả: Trương Tấn Khanh, cs
Năm: 1999
15. Nguyễn Đăng Khôi, 1979, Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam. Nxb khoa học, Hà Nội, 1979, tập 1, tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Khôi
Nhà XB: Nxb khoa học
Năm: 1979
16. Dương Thanh Liêm (1981), “Sản xuất và sử dụng bột cỏ giàu sinh tố trong chăn nuôi nông nghiệp”. Kết quả nghiên cứu KHKT (1976- 1980)- Trường đại học Nông nghiệp IV - Tp. Hồ Chí Minh, tr.200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sản xuất và sử dụng bột cỏ giàu sinh tố trong chăn nuôi nông nghiệp"”. "Kết quả nghiên cứu KHKT (1976-1980)-
Tác giả: Dương Thanh Liêm
Năm: 1981
17. Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc (2004), Kỹ thuật nuôi gà vườn lông màu nhập nội, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà vườn lông màu nhập nội
Tác giả: Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
18. Ngô Văn Mận (1977) “Kết quả nghiên cứu một số giống cỏ trồng tại Miền Nam”. Báo cáo tổng hợp - Tài liệu nội bộ của Trường đại học Nông lâm - TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả nghiên cứu một số giống cỏ trồng tại Miền Nam”
19. Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đồng (2006), “Xác định tỷ lệ thích hợp trong cơ cấu sản xuất của cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây cỏ chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau”, Tạp chí KHCN CN, số 10 - 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ thích hợp trong cơ cấu sản xuất của cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây cỏ chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đồng
Nhà XB: Tạp chí KHCN CN
Năm: 2006
20. Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Bá, Nguyễn Hữu Văn (2006), Thức ăn cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền trung, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền trung
Tác giả: Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Bá, Nguyễn Hữu Văn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
21. Đặng Thúy Nhung (2008), “Thành phần dinh dưỡng của lá cây M.Oleifera trồng làm thức ăn gia súc”, Tạp chí khoa học và phát triển, Tập 6, Số 1:38-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần dinh dưỡng của lá cây M.Oleifera trồng làm thức ăn gia súc
Tác giả: Đặng Thúy Nhung
Nhà XB: Tạp chí khoa học và phát triển
Năm: 2008
22. Hoàng Văn Tạo, Nguyễn Quốc Toản (2010), “Ảnh hưởng của chế độ phân bón đến khả năng sản xuất chất xanh của stylosanthes guianensis CIAT 184 và stylosanthes guianensis Plus tại Nghĩa Đàn - Nghệ An” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chế độ phân bón đến khả năng sản xuất chất xanh của stylosanthes guianensis CIAT 184 và stylosanthes guianensis Plus tại Nghĩa Đàn - Nghệ An
Tác giả: Hoàng Văn Tạo, Nguyễn Quốc Toản
Năm: 2010
23. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
24. Dương Hữu Thời, Dương Thanh Liêm &amp; Nguyễn Văn Uyển (1982), Cây họ đậu nhiệt đới làm thức ăn gia súc. Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr.130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây họ đậu nhiệt đới làm thức ăn gia súc
Tác giả: Dương Hữu Thời, Dương Thanh Liêm, Nguyễn Văn Uyển
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1982
25. Tiêu chuẩn phòng thử nghiệm bằng sắc ký lỏng cao áp (2005), Phương pháp xác định hàm lượng caroten, TCPTN-HPLC (ISO 6985: 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn phòng thử nghiệm bằng sắc ký lỏng cao áp
Năm: 2005
35. Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương (2007), Gà Lương Phượng, http://www.vietnamgateway.org Link
15, 2002]. Available at: http://www.nal.usda.gov/bic/biotech, Patents/ 1994 patents 05308759. html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ sắc tố trong thực vật - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 1.1 Sơ đồ sắc tố trong thực vật (Trang 32)
Hình 1.2: Sơ đồ carotenoid tổng số - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 1.2 Sơ đồ carotenoid tổng số (Trang 36)
Bảng 2.2: Công thức thức ăn và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 2.2 Công thức thức ăn và giá trị dinh dƣỡng của thức ăn (Trang 47)
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm (%) (Trang 54)
Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.1 Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 3.3: Năng suất và sản lƣợng trứng của gà thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.3 Năng suất và sản lƣợng trứng của gà thí nghiệm (Trang 59)
Hình 3.2: Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.2 Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm (Trang 61)
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lý học của trứng - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu lý học của trứng (Trang 62)
Bảng 3.6: Thành phần hóa học của lòng trắng trứng - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.6 Thành phần hóa học của lòng trắng trứng (Trang 66)
Hình 3.3: Đồ thị hàm lượng carotenoids trong lòng đỏ trứng theo thời gian - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.3 Đồ thị hàm lượng carotenoids trong lòng đỏ trứng theo thời gian (Trang 71)
Bảng 3.8: Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.8 Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) (Trang 72)
Bảng 3.10: Tỷ lệ gà con loại I/ số gà con nở ra ở các giai đoạn thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.10 Tỷ lệ gà con loại I/ số gà con nở ra ở các giai đoạn thí nghiệm (%) (Trang 75)
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp của các lô thí nghiệm (%) (Trang 76)
Bảng 3.11: Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống - so sánh ảnh hưởng của bột lá keo giậu và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.11 Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm