Nhiều năm qua Nhà nước đã đầu tư rất lớn nguồn ngân sách hàng năm cho việc thu hồi đất phục vụ các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài xây dựng các khu đô thị mới, phát triển, xây dựng c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ TIẾN QUÂN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ TIẾN QUÂN
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TAM ĐẢO - TỈNH VĨNH PHÚC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Tiến Sỹ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vấn đề thu hồi đất phục vụ cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
và phát triển kinh tế đang là vấn đề nhạy cảm, là mối quan tâm của Nhà nước, chính quyền địa phương, chủ đầu tư và người sử dụng đất bị thu hồi đất, nó không chỉ tác động về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến yếu tố chính trị - xã hội
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (Khóa IX) đưa ra những chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, trong đó có giải pháp thực hiện chính sách điều tiết hữu hiệu nhất đối với đất đai nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ
sở hữu về đất đai và là nhà đầu tư lớn nhất về phát triển hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH thời kỳ CNH-HĐH đất nước Nhiều năm qua Nhà nước đã đầu tư rất lớn nguồn ngân sách hàng năm cho việc thu hồi đất phục vụ các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài xây dựng các khu đô thị mới, phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng… Luật Đất đai năm 2003 có nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế nhằm điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật đối với các chủ thể quản
lý, sử dụng đất, trong đó có công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
Những năm gần đây, công tác thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC - GPMB gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, hiệu quả thấp, kể cả việc thu hồi đất để xây dựng cơ sở
hạ tầng phục vụ cho chính cộng đồng dân cư có đất bị thu hồi Nhiều địa phương phải điều chỉnh lại quy hoạch, sửa đổi thiết kế dự án, chờ đợi do không giải phóng được mặt bằng hoặc do cơ sở hạ tầng không đảm bảo Hậu quả là làm ảnh hưởng tiến độ, gây thiệt hại lớn về kinh tế của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất và Nhà nước, làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương Tồn tại lớn nhất và xảy ra ở hầu hết các địa phương là thực hiện không đúng quy trình, áp giá đền bù thấp, không công khai, thiếu dân chủ, cơ chế, chính sách trong bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư đối với người bị ảnh hưởng có nhiều bất cập, phát sinh tiêu cực, tham nhũng dẫn tới khiếu kiện về thu hồi đất ngày càng tăng…
Trang 4Tam Đảo là một huyện mới được tái lập từ tháng 01 năm 2004 Huyện có vị trí địa lý thuận lợi chỉ cách thủ đô Hà Nội khoảng 65 km vì vậy trong tương lai huyện Tam Đảo có khả năng thực hiện giao thương kinh tế du lịch với các khu vực lân cận, đặc biệt
là thủ đô Hà Nội và các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang Trong những năm qua, việc thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC để xây dựng các dự án phát triển kinh tế - xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất, việc làm và môi trường của người dân trên địa bàn huyện Đây là vấn đề đang được các cấp chính quyền huyện đặc biệt quan tâm nhất là đối với hai dự án Đường dây 500 KV Sơn La - Hiệp Hoà đoạn qua địa bàn huyện Tam Đảo và dự án Trại gà giống Bố Mẹ của Công ty Cổ phần Japfa Comfeed Việt Nam tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Nhằm tìm hiểu tác động của việc thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC - GPMB để thực hiện các dự án phát triển kinh tế đến đời sống, việc làm của người dân và góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, hạn chế khiếu kiện trong nhân dân cần có những nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với các dự án phát triển kinh tế, từ đó rút ra những kinh nghiệm, đề ra giải pháp hợp lý, hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho
những dự án tiếp theo Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa bàn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đối với địa bàn nghiên cứu
2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá, nghiên cứu việc thực hiện chính sách bồi thường, HT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (Dự án Đường dây 500 KV Sơn La - Hiệp Hòa đoạn qua địa bàn huyện Tam Đảo và
dự án Trại gà giống Bố Mẹ của Công ty Cổ phần Japfa Comfeed Việt Nam tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc)
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất bồi thường, HT&TĐC đến đời sống và việc làm của người dân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC
* Yêu cầu nghiên cứu
- Các nghiên cứu, số liệu đưa ra phải đảm bảo chính xác, tin cậy, có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tế
Trang 5- Nắm vững hiểu rõ các chính sách trong công tác bồi thường, HT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Phản ánh được sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC GPMB đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC trên địa bàn nghiên cứu
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1.1 Bồi thường
“Bồi thường” hay “đền bù” có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác [21] Việc bồi thường có thể vô hình hay hữu hình, có thể do các quy định của pháp luật điều tiết hoặc do sự thỏa thuận giữa các chủ thể
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [18]
Theo quy định của pháp luật đất đai hiện nay, người sử dụng đất khi bị thu hồi đất sẽ được bồi thường về đất, tài sản trên đất và các chi phí đầu tư vào đất [17]
1.1.1.2 Hỗ trợ
Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào [21] Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [18]
Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: (1) Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ TĐC đối với trường hợp thu hồi đất ở; (2) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; (3) Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; (4) Hỗ trợ khác Việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại các điều 18, 19, 20, 21, 22 và 23 của Nghị định 69/2009/NĐ-CP [9]
Trang 61.1.1.3 Tái định cư
Tái định cư (TĐC) là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó [18]
Như vậy, Tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT - XH đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Hiện nay, ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau: (1) Bồi thường bằng nhà ở; (2) Bồi thường bằng giao đất ở mới; (3) Bồi thường bằng tiền
để người dân tự lo chỗ ở [9], [11], [14]
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB
1.1.2 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
Để thực hiện được dự án theo đúng tiến độ, thì trước hết các chủ đầu tư cần phải giải phóng mặt bằng (GPMB); đó là công việc trọng tâm, hết sức quan trọng, nhưng phức tạp, tốn kém nhiều thời gian, công sức và tiền của Ngày nay, việc giải phóng mặt bằng ngày càng trở nên khó khăn hơn do đất đai ngày càng có giá trị và khan hiếm GPMB liên quan đến lợi ích của nhiều cá nhân, tập thể và của cả cộng động dân cư trên một địa bàn nhất định với những đặc điểm chủ yếu như sau:
- Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau
Tính đa dạng của đối tượng GPMB dẫn đến quá trình thực hiện công tác bồi thường, HT&TĐC - GPMB có những đặc điểm khó khăn, phức tạp khác nhau, đòi hỏi việc thực hiện GPMB và giá đất tính bồi thường, hỗ trợ cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt với từng địa bàn
- Tính phức tạp: Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do
đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê; tình hình đó đã
Trang 7dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó khăn
và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này Ở khu vực đô thị, việc thu hồi đất, bồi thường GPMB liên quan đến đất ở lại càng phức tạp hơn do đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở; nguồn gốc sử dụng đất phức tạp, tình trạng lấn chiếm, xây dựng nhà trái phép chưa được xử lý dẫn đến việc phân tích hồ sơ đất đai và áp giá phương án bồi thường gặp rất nhiều khó khăn Tình trạng chung thiếu quỹ đất dành cho xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu Sự tồn tại cơ chế
2 giá với sự chênh lệch lớn giữa giá đất Nhà nước và giá thị trường làm cho việc áp dụng gia đất ở để tính bồi thường không được sự đồng thuận của những người dân
1.1.3 Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải tuân thủ pháp luật và thực hiện theo một quy trình chặt chẽ được tiến hành
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên có liên quan
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải gắn với việc tái định cư, ổn định đời sống và việc làm cho người có đất bị thu hồi
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải được thực hiện công khai, dân chủ với sự tham gia của cộng đồng
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó biện pháp tuyên truyền, giáo dục, tư vấn thuyết phục để người dân tự giác thực hiện là quan trọng
1.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường
1.1.4.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và
Trang 8triển các dự án đầu tư Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Hệ thống văn bản pháp luật đất đai còn có những nhược điểm như là số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, chưa
đồng bộ, chặt chẽ gây lúng túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật
1.1.4.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực sự trở thành vấn đề cần quan tâm của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò là người tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư nào đều dựa trên quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế- xã hội cao nhất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất
để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền SDĐ; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường, HT&TĐC
1.1.4.3 Yếu tố giao đất, cho thuê đất
Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường, HT&TĐC Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch là điều kiện bắt buộc, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản
lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường GPMB
1.1.4.4 Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính (HSĐC) có vai trò quan
trọng hàng đầu để quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản, là cơ sở
xác định tính pháp lý của đất đai Trước tháng 12 năm 2004, rất nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính Để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCNQSD đất
1.1.4.5 Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng của hệ thống quản lý
Trang 9đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất
Trong công tác bồi thường, HT&TĐC, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn hạn chế, đặc biệt công tác đăng ký biến động về sử dụng đất
1.1.4.6 Yếu tố giá đất và định giá đất
Hiện nay, nước ta giá cả đất đai dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng, là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm Một trong những điểm mới của Luật Đất đai 2003 là các quy định về giá đất Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau thì Luật Đất đai 2003
đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau
Trước khi có Luật đất đai năm 2003, việc xác định giá đất, bồi thường, GPMB, TĐC được quy định tại các văn bản dưới luật như Nghị định số 87/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ quy định khung giá các loại đất; Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ ban hành quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, Khung giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Nghị định số 87/CP đã được áp dụng trong một thời gian khá dài (trên mười năm), mặc dù trong quá trình áp dụng có quy định việc điều chỉnh khung giá đất để tính bồi thường bằng hệ số K nhưng mức tăng cao nhất cũng chỉ là 1, 2 lần mức giá của cùng loại đô thị, cùng loại đường phố và
vị trí đất quy định trong bảng khung giá đất đô thị Do vậy, giá đất để tính bồi thường vẫn thấp hơn nhiều so với giá thực tế, dẫn đến phát sinh hàng loạt các khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các địa phương
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay
là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện [18]
Trang 10Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, thị trường bất động sản được hình thành và ngày càng phát triển Ngày nay, thị trường bất động sản đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các loại thị trường của nền kinh tế quốc dân, nó có những đóng góp vào ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong thời gian qua và trong tương lai
Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường) Đồng thời, người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường và tái định cư
1.2 Chính sách bồi thường thiệt hại ở một số nước và các tổ chức trên thế giới
1.2.1 Thái Lan
Không có chính sách đền bù tái định cư quốc gia, vì tại nước này có hình thức đa sở hữu đất đai Tuy nhiên, Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại
do việc trưng dụng gây ra và quy định việc đền bù phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các qui định này, các ngành có qui định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào các mục đích xây dụng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật qui định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị đền bù các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các qui định cụ thể về trình tự tiến hành đền bù TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị đền bù, các bước lập và phê duyệt dự án đền bù, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán đền bù TĐC, trình
tự đàm phán, nhận tiền đền bù, quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa ra toà án
1.2.2 Singapore
Trang 11Luật pháp Singapore quy định Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất và người dân có nghĩa vụ chấp hành quyết định thu hồi đất Việc thu hồi đất được thực hiện dựa trên quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt và tuân thủ các nguyên tắc chủ yếu sau đây: (i) Thu hồi đất bắt buộc để sử dụng đất vào mục đích công cộng; (ii) Hạn chế việc thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân (chỉ thu hồi trong các trường hợp cần thiết); (iii) Việc thu hồi đất phải được sự đồng ý của Chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến của cộng đồng; (iv) Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy trình chặt chẽ do pháp luật quy định Nhà nước thông báo cho người bị thu hồi đất biết trước từ
2 đến 3 năm trước khi ra quyết định thu hồi đất Trường hợp người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi đất sẽ bị nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc bị phạt theo Luật xâm chiếm đất công (State Lands Encroachment Act)[19]
Về mức bồi thường thiệt hại, được xác định căn cứ vào giá trị thực tế bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua nguyên liệu xây dựng nhà ở mới; thuế nhà ở mới Trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với phương án bồi thường thiệt hại do nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại Nhà nước trả tiền thuê định giá lại [19]
Việc xác định mức bồi thường được xác định là giá trị bất động sản do người
bị thu hồi đất đầu tư, không phải là giá trị thực tế của bất động sản Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước được bóc tách khỏi giá trị bồi thường Điều này có nghĩa là nhà nước không bồi thường theo giá bất động sản hiện tại mà bồi thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá trị bất động sản tăng thêm từ sự đầu
tư cơ sở hạ tầng của nhà nước [19]
Bên cạnh đó, nhà nước cũng xem xét bồi thường cho người bị thu hồi đất các thiệt hại sau đây: Trường hợp công trình công cộng đi ngang qua bất động sản gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người sử dụng đất như tiếng ồn, khói bụi, người đi đường có thể nhìn vào nhà v.v; trường hợp công trình công cộng gây chia cắt manh mún mảnh đất hiện hữu; chi phí để hoàn tất thủ tục đứng tên chủ sở hữu hoặc chủ
sử dụng đối với phần diện tích đất còn lại [19]
Trang 12Nhà nước chi trả 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện việc tháo
dỡ nhà ở Phần giá trị bồi thường còn lại được thanh toán khi người bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu cấp bách
về chỗ ở sẽ được nhà nước cho thuê nhà ở với giá thuê phù hợp [19]
Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất của Singapore được tiến hành thận trọng (đặc biệt đối với đất thuộc sở hữu tư nhân) trên cơ sở các quy định chặt chẽ của pháp luật Nguyên tắc công bằng, minh bạch được đề cao trong quá trình thực hiện nên đã nhận được sự đồng thuận của người dân Tỷ lệ cưỡng chế khi thu hồi đất thấp (dưới 1% tổng số các trường hợp thu hồi đất) [19]
Vấn đề tái định cư cho người bị thu hồi đất ở rất được Chính phủ Singapore rất chú trọng thực hiện Chính sách này được triển khai gắn với việc bố trí nhà ở do nhà nước xây dựng (nhà ở công) và cung cấp với giá rẻ đi kèm với một số điều kiện Cục Phát triển nhà (HDB) được thành lập năm 1960 có nhiệm vụ cung cấp nhà ở công cho người dân, trong
đó chủ yếu phục vụ công tác tái định cư Tính từ khi thành lập đến nay, HDB đã cung cấp nhà ở cho 85% dân số; trong đó có 2% người dân được thuê căn hộ [19]
Việc tái định cư được thực hiện trên cơ sở điều tra xã hội học một cách cẩn thận, tỉ mỉ nhằm thu thập, xác minh các thông tin: Số lượng thành viên trong hộ gia đình; nguồn thu nhập; nghề nghiệp; nơi làm việc; tình trạng pháp lý của bất động sản
tạo căn cứ vững chắc cho quá trình thực hiện tái định cư chính xác, công bằng [19] 1.2.3 Trung Quốc
Theo pháp luật đất đai của Trung Quốc, chỉ có Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh mới có thẩm quyền thu hồi đất Quốc vụ viện (Chính phủ) quyết định thu hồi đất nông nghiệp từ 35ha trở lên, đối với loại đất khác là 70ha trở lên Dưới hạn mức đất này, chính quyền cấp tỉnh ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ chế độ sở hữu tập thể thành chế độ sở hữu nhà nước Trách
nhiệm bồi thường thuộc về người sử dụng đất sau khi thu hồi [19]
- Tiền bồi thường khi thu hồi đất gồm: lệ phí sử dụng đất và tiền bồi thường cho người bị thu hồi đất [19]
- Về nguyên tắc và cách thức bồi thường nhà ở, tái định cư: Theo pháp luật Trung Quốc, khoản tiền bồi thường cho giải tỏa mặt bằng phải đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Việc giải quyết vấn
Trang 13đề nhà được thực hiện thông qua hình thức trả tiền bồi thường về nhà ở Số tiền này được xác định bao gồm: (i) Giá cả xây dựng lại nhà ở, sự chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; (ii) Giá đất tiêu chuẩn; (iii) Trợ cấp về giá cả Giá xây lại nhà ở mới được xác định là khoản chênh lệch giữa giá trị còn lại của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới Giá đất tiêu chuẩn do nhà nước xác định căn cứ theo giá đất của những nhà thương phẩm trong cùng một khu vực, rồi quyết định Việc trợ cấp về giá cả do chính quyền xác định [19]
1.2.4 Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Theo Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thì bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho mục đích
an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đồng thời phải đảm bảo lợi ích của những người bị ảnh hưởng để họ có một cuộc sống tốt hơn trước về mọi mặt: giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất Để thực hiện được phương châm đó thì trong công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC phải lấy phát triển con người là trung tâm, không chỉ là các chính sách bồi thường về vật chất Từ quan điểm đó, chính sách bồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình trạng như không có dự án được áp dụng, sao cho đời sống của người dân bị ảnh hưởng sau khi được bồi thường phải đạt được ngang với mức cũ của họ trước khi có dự án Tuy vậy, các chính sách này cũng có những khác biệt so với chính sách của Nhà nước Việt Nam như:
- Khái niệm hợp pháp hay không hợp pháp trong chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC là một trong những khác biệt có khả năng gây ra những vấn đề xã hội lớn khi áp dụng chính sách TĐC của WB, ADB Theo các tổ chức này thì thiếu chứng thư hợp pháp về đất sẽ không ảnh hưởng tới bồi thường cho một số nhóm dân bị ảnh hưởng và được mở rộng đối với cả đối tượng không bị thiệt hại về đất và tài sản mà chỉ bị ảnh hưởng tới mặt tinh thần Ở Việt Nam, trước kia chỉ bồi thường cho những người có chứng thư hợp pháp nhưng ở Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP đã mở rộng hơn khái niệm hợp pháp, đồng thời có quy định rõ ràng các trường hợp không được bồi thường về đất, nếu xét thấy cần được
hỗ trợ thì UBND tỉnh ra quyết định đối với từng trường hợp cụ thể [9]
- Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC bao giờ cũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành thực hiện dự án, trong khi ở Việt Nam
Trang 14chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (rất nhiều dự án vừa giải tỏa mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ nào GPMB xong thì thi công trước khi tránh lấn chiếm đất đai); do vậy, nhiều gia đình còn chưa kịp thời sửa chữa, xây dựng lại hoặc xây dựng nhà ở mới ổn định trước khi bị giải tỏa
- Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, TĐC của dự án cho các hộ mà còn phải tham khảo ý kiến và tìm cách thỏa mãn các yêu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình thực hiện Ở Việt Nam, thực tế cho thấy việc thực hiện đầy đủ nội dung này là rất khó khăn, vì lịch sử sử dụng đất rất phức tạp và khó có thể thỏa mãn được yêu cầu rất lớn của người bị thu hồi đất
- Theo quy định của ngân hàng ADB, ngoài giám sát nội bộ, cơ quan thực hiện
dự án phải thuê một số tổ chức bên ngoài giám sát độc lập để đảm bảo những thông tin khách quan Nhiệm vụ của cơ quan giám sát độc lập phải kiểm tra quá trình triển khai của TĐC Từ đó, có những kiến nghị về biện pháp giải quyết sao cho công tác TĐC đạt mục tiêu cuối cùng là giải quyết hết những vướng mắc nảy sinh Các chính sách hiện hành ở Việt Nam chưa áp dụng cơ chế giám sát độc lập về TĐC Vì vậy, việc giám sát độc lập công tác TĐC là công tác khá mới mẻ ở Việt Nam nên cần có thời gian phù hợp để ban hành quy định và làm quen với công việc này
- Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo ADB là rất rộng còn theo chính sách hiện hành của Việt Nam thì phạm vi ảnh hưởng vẫn còn hạn hẹp
1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, nước ta tiến hành xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân và ban hành Hiến pháp năm 1959 [15] Nghị định số 151/TTg ngày 15/04/1959 của Hội đồng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất trong đó có quy định về bồi thường thiệt hại về đất Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 151/TTg, ngày 06/07/1959 Liên bộ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Nội vụ đã ban hành Thông
tư liên bộ số 1424/TT-LB quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước trưng dụng
Trang 15ruộng đất Theo các văn bản này, nguyên tắc thu hồi và trưng dụng ruộng đất được quy định cụ thể như sau:
+ Đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất
+ Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng thừa, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt; tận dụng đất hoang để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân
+ Tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa
- Nguyên tắc bồi thường:
+ Bồi thường bằng đất (là cách tốt nhất và là chủ yếu): vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhường ruộng đất cho người có đất bị thu hồi
+ Bồi thường bằng tiền: căn cứ vào sản lượng đã dùng để tính thuế đất nông nghiệp và tình hình thực tế tại địa phương (đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng ít hay nhiều, tốt hay xấu) để xác định giá bồi thường cho thích đáng Giá bồi thường tương ứng bằng 1- 4 năm sản lượng thường niên
Hiến pháp năm 1980 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất, quản lý” Theo đó, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất Quyết định này đã quy định rõ hơn các chức năng quản lý Nhà nước về đất đai Quyết định 201/CP cũng có quy định về chính sách thu hồi, bồi thường, cụ thể “Cấp nào có quyền giao đất thì cấp ấy có thẩm quyền thu hồi đất” đồng thời cũng quy định rõ người có đất bị thu hồi, trưng dụng mà cần có đất sử dụng thì được cấp đất khác Ngoài ra, tài sản được bồi thường một cách thích đáng [16]
Sau khi Luật Đất đai năm 1988 được ban hành, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 186/HĐ-BT ngày 31/5/1990 quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác, cụ thể: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường tài sản trên đất
1.3.2 Thời kỳ 1993 đến 2003
Trang 16Luật Đất đai năm 1993 được ban hành ngoài việc quy định các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai còn quy định các quyền của người sử dụng đất đồng thời lần đầu tiên khẳng định đất đai có giá
Sau khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực, Chính phủ và các bộ ngành có liên quan đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư quy định về thu hồi, bồi thường, HT&TĐC, cụ thể:
- Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường, hỗ trợ và TĐC theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ quy định về việc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định số 90/CP Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 quy định chi tiết hơn, hoàn chỉnh hơn, toàn diện hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định 90/CP về thu hồi đất và phạm vi được bồi thường cho người bị thu hồi đất Giá đất để tính bồi thường được tính trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K Ngoài
ra, Nghị định số 22/NĐ-CP quy định thêm một số chính sách hỗ trợ cũng như một
số điều khoản mới về việc lập khu TĐC cho các hộ phải di chuyển [8]
- Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 quy định phương pháp xác định
hệ số K để định giá đất bồi thường, lập lại phương án đền bù và bổ sung thêm một số nội dung như: điều kiện đền bù về đất, nhà, công trình kiến trúc, đền bù cho người thuê nhà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, đền bù cho doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp Điểm cần lưu ý trong Thông tư này là giao trách nhiệm cho chủ đầu tư là thành viên của Hội đồng GPMB xem xét, thẩm định Trên cơ sở đó, trình UBND tỉnh phê duyệt hoặc Hội đồng thẩm định để UBND cấp huyện phê duyệt [1]
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai Nghị định 22/NĐ-CP có những hạn chế nhất định vì nó chưa đáp ứng hết được yêu cầu thực tế, chưa phù hợp với thực tiễn Đặc biệt, chưa giải quyết được những tồn tại do yếu tố lịch sử để lại khi thực hiện chính sách bồi thường, GPMB cũng như chưa có quy định chi tiết về vấn đề TĐC
Trang 17các cấp trong việc tạo lập và bố trí TĐC, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở, các biện pháp khôi phục đời sống và sản xuất tại khu TĐC); quy định rõ ràng về điều kiện để được bồi thường hoặc không đủ điều kiện bồi thường về đất; việc bồi thường đối với trường hợp chủ sử dụng đất có tài sản, nhà cửa nằm trên đất không đủ điều kiện được bồi thường và chưa quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, đối với các trường hợp cố tình không thực hiện quyết định của Nhà nước, gây khó khăn trong việc bồi thường, GPMB
1.3.3 Từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay
Luật Đất đai 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Sau khi Luật Đất đai
2003 được ban hành, chính sách về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta đã có nhiều thay đổi và ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường đặt ra như: Nhà nước hạn chế thu hồi đất mà khuyến khích các nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để xin chuyển mục đích sử dụng đất đã giảm áp lực cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai; Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế [18]
Từ khi ban hành Luật Đất đai 2003, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT-
XH và cụ thể hoá các nội dung về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành hàng loạt các Nghị định, Thông tư trực tiếp liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất;
Trang 18- Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư 69/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/06/2007 của Bộ Tài nguyên & Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ;
- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP;
- Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Trang 19- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và TĐC;
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên & Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/04/2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
1.4 Một số quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.4.1 Chính sách bồi thường
1.4.1.1 Bồi thường đất
* Nguyên tắc bồi thường đất
Nguyên tắc bồi thường đất được quy định tại điều 14 Nghị định 69/2009, cụ thể: (1) Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đất đai thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét để hỗ trợ; (2) Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm
có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền; (3) Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước [9]
* Điều kiện để được bồi thường đất
Người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi thường [9] [14]
- Có GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai
- Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai
Trang 20- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây: Những giấy tờ
về quyền được sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được UBND cấp xã xác nhận; Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà
ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương
và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận sử dụng ổn định, không có tranh chấp
- Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà
án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng
- Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn từ ngân sách nhà nước
Trang 21- Đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 và được
Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định tại Điều 44 Nghị định 84/2007/NĐ-CP
- Đất đã sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền
sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 45 Nghị định 84/2007/NĐ-CP
- Đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau thì người có hành vi lấn, chiếm hoặc được giao đất, thuê đất không đúng thẩm quyền không được bồi thường về đất khi thu hồi đất (Khoản 2 Điều 45 Nghị định 84/2007/NĐ-CP)
- Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng người đang
sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất mà chưa được cấp GCNQSDĐ thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định: (1) Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao; (2) Trường hợp sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau: Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở; đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất của Luật Đất đai; Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất quy định của Luật Đất đai nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP (Điều 46 Nghị định 84/2007/NĐ-CP)
1.4.1.2 Bồi thường tài sản
* Nguyên tắc bồi thường
Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại, thì được bồi thường; trường hợp thuộc đối tượng không được bồi thường thì tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi thường hoặc hỗ trợ tài sản
Trang 22- Đối với công trình xây dựng của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới theo đơn giá xây dựng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Trường hợp bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ
* Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất được quy định tại Điều 24 Nghị định 69/2009/NĐ-CP [9]
* Bồi thường về di chuyển mồ mả: Người có mồ mả tự tổ chức di chuyển, mức bồi thường gồm có chi phí đào, đắp, vận chuyển tiểu sành bình thường, khối lượng xây cụ thể, lệ phí nghĩa trang và một số chi phí tín ngưỡng khác cho cả hai nơi (cũ và mới) Mồ mả chưa có người nhận thì giao cho chủ dự án chủ trì phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện việc di chuyển
* Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi: Mức bồi thường đối với cây hàng năm được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch và được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 3 năm trước liền kề của cây trồng chính và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất; Mức bồi thường đối với cây lâu năm, được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây (không bao hàm giá trị quyền sử dụng đất) theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất (Điều 24 Nghị định 197/2004/NĐ-CP) [9]
1.4.2 Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Đối với Nhà nước ta hiện nay, khi thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư không được làm ảnh hưởng xấu tới đời sống của người dân có đất bị thu hồi, đặc biệt là thuộc diện hộ nghèo Ngoài các chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp như trước đây, chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trong thời kỳ này đã được quy định theo hướng tạo điều kiện cho các hộ vượt nghèo
Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông
Trang 23nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở; Hỗ trợ khác (Điều 17 Nghị định 69/2009/NĐ-CP) [9]
1.4.3 Chính sách tái định cư
Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường bằng giao đất
ở mới; Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới [9]
* Điều kiện bắt buộc đối với khu tái định cư
Khu tái định cư phải xây dựng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy hoạch xây dựng, tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng; Khu tái định cư phải được
sử dụng chung cho nhiều dự án [9]
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện các dự án TĐC trước khi thu hồi đất Trước khi bố trí đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người
sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ [9]
Trường hợp không có khu TĐC thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với các khu vực đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn Trường hợp
hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở phải TĐC thì việc bố trí TĐC phải gắn với tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Khi thực hiện dự án người sử dụng đất được thông báo về việc thu hồi đất và phương án tổng thể về bồi thường GPMB; quá trình lập phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC có sự tham gia của người dân có đất
bị thu hồi trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
1.5 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư GPMB của tỉnh Vĩnh Phúc và của huyện Tam Đảo năm 2012
1.5.1 Thực trạng công tác bồi thường, GPMB của tỉnh Vĩnh Phúc
Năm 2012, trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc Vĩnh Phúc thực hiện bồi thường GPMB 298 dự án với tổng số diện tích đất thu hồi để lập phương án bồi thường là 1.094,98 ha Trong đó: 108 dự án chuyển tiếp và 180 dự án lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mới
Đến nay, tỉnh đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được 165 dự án
Trang 24(chiếm 55,4%), còn lại 135 dự án (45,6%) chưa hoàn thành do gặp nhiều khó khăn vướng mắc Một số dự án tồn tại từ những năm trước do không giải quyết dứt điểm các khó khăn vướng mắc, trong đó có các dự án kéo dài như là dự án xây dựng Khu công viên văn hóa thể thao; hạ tầng khu dân cư nhà máy cơ khí; dự án đất dịch vụ thôn Hán
Lữ, đất dịch vụ xã Định Trung; dự án cải tạo nâng cấp đường Nguyễn Tất Thành - Lam Sơn, các dự án kè hồ, dự án đất ở và đất giãn dân… (thành phố Vĩnh Yên); Dự án đường Nguyễn Tất Thành kéo dài (huyện Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên); dự án đường Tôn Đức Thắng kéo dài; Dự án cải tạo nâng cấp đường tỉnh lộ 310; Dự án XD khu đô thị mới cho Công ty cổ phần thép Việt Đức; Dự án xây dựng Bá Thiện II; Dự án XD
khu đô thị mới Nam Vĩnh Yên (thành phố Vĩnh Yên)… Một số dự án có thông báo
công khai quy hoạch, thu hồi đất để thực hiện lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhưng vẫn còn một số hộ dân không chấp hành các quy định của Nhà nước đã
cố tình xây dựng mới, trồng mới các loại cây trên đất bị thu hồi: Dự án đường QL2B (Đường 42m) từ KM2 đến KM13 xã Hợp Châu, Quốc lộ 2C, Đường tránh Vĩnh Yên,
dự án hồ chứa nước Đồng Mỏ, dự án nâng cấp cải tạo đường 310 nhằm mục đích được hưởng chế độ bồi thường đã gây khó khăn cho công tác kiểm kê, kiểm đếm lập phương án bồi thường
Thực tế triển khai công tác này trên địa bàn tỉnh còn gặp rất nhiều vướng mắc, cụ thể:
- Quá trình thực hiện kiểm kê số liệu diện tích giữa bản đồ thu hồi đất với bản đồ giải thửa 299 và sổ giao khoán của các hộ gia đình còn nhiều sai lệch, nguồn gốc về đất, hạng đất còn nhiều tồn tại vướng mắc chưa cụ thể rõ ràng, diện tích đất
đo đạc thực tế so với diện tích bản đồ giải thửa 299 một số thửa đất không khớp diện tích, công tác quản lý hồ sơ, sổ sách bản đồ ở địa phương không thường xuyên cập nhật chỉnh lý biến động qua các thời kỳ gây rất nhiều khó khăn trong công tác kiểm kê đất đai, tài sản, xác định nguồn gốc đất đai, tính toán phương án, chưa chính xác, phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần
- Một số dự án ở thị xã Phúc Yên gặp vướng mắc do các hộ dân bị thu hồi
đất đòi hỏi đơn giá bồi thường, hỗ trợ tương đương với đơn giá bồi thường, hỗ trợ của các huyện giáp ranh của thành phố Hà Nội, và đề nghị đơn giá bồi thường đất nông nghiệp hạng 2, 3, 4, 5 bằng đơn giá đất nông nghiệp hạng 1
Trang 25- Một số dự án trên địa bàn huyện Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên đã giải phóng
mặt bằng nhưng chưa giải quyết đất dịch vụ nên khi thực hiện dự án mới các hộ dân không phối hợp trong công tác quy chủ, kê khai kiểm đếm, các hộ dân đề nghị phải được cấp đất dịch vụ của những dự án trước mới đồng ý cho thu hồi đất của dự án sau
- Việc thu hồi đất ở, nhiều người dân không muốn di chuyển chỗ ở do nơi ở
cũ quen với phong tục tập quán lâu đời, diện tích đất tái định cư thực hiện theo quy hoạch chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất
- Một số dự án việc đo đạc bản đồ thu hồi đất còn sai sót, xác định mốc chỉ
giới thu hồi trên thực địa không đúng theo hồ sơ phê duyệt dẫn đến việc kiểm kê, kiểm đếm có sự sai lệch gây khó khăn trong quá trình thực hiện dự án
- Một số chủ đầu tư thi công san lấp mặt bằng không đúng theo mốc giới thu
hồi đất, san lấp cả phần đất không bị thu hồi làm ảnh hưởng đến việc sản xuất đất nông nghiệp gây bức xúc cho người dân dẫn đến các hộ dân viết đơn thư khiếu nại, các cấp các ngành phải giải quyết
1.5.2 Thực trạng công tác bồi thường, GPMB của huyện Tam Đảo
* Thực trạng công tác bồi thường, GPMB của huyện Tam Đảo năm 2011 Năm 2011, trên địa bàn huyện Tam Đảo đã triển khai thực hiện 53 dự án thu hồi đất GPMB để đầu tư các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và hạ tầng xã hội với tổng diện tích 46,69 ha (Trong đó, đất nông nghiệp 40,78 ha và đất
ở là 5,94 ha) liên quan đến 3.250 hộ dân, trong đó đã thu hồi với tổng diện tích 46,29 ha, số hộ đã nhận tiền bồi thường là 3.235 hộ
Trong năm 2011, Hội đồng bồi thường, HT&TĐC huyện đã nhận được 93 đơn đến nay đã giải quyết 91 đơn chiếm tỷ 97,84%, nội dung đơn thư chủ yếu là đơn kiến nghị về chính sách, đơn giá bồi thường, HT&TĐC đề nghị Nhà nước thu hồi hết diện tích đất còn lại
Các dự án thực hiện năm 2011, các dự án này về cơ bản đã hoàn thành xong công tác bồi thường GPMB, thu hồi và bàn giao mặt bằng triển khai dự án đảm bảo đúng tiến độ đề ra
* Thực trạng công tác bồi thường, GPMB của huyện Tam Đảo năm 2012 Năm 2012 trên địa bàn huyện Tam Đảo đã triển khai thực hiện 61 dự án với
Trang 26tổng diện tích thu hồi 57,30 ha (Trong đó đất nông nghiệp 50,63 ha và đất ở là 6,67 ha) liên quan đến 4.610 hộ dân, trong đó đã thu hồi với tổng diện tích 56,49 ha, số
hộ đã nhận tiền bồi thường là 4.558 hộ
Tháng 8/2012 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện đã sáp nhập vào Ban QLDAXD và GPMB huyện Do vậy, công tác bồi thường GPMB đã đạt được kết quả cao hơn
Trong năm 2012, Ban QLDAXD và GPMB huyện đã nhận được 120 đơn đến nay đã giải quyết trả lời cho 115 đơn chiếm tỷ lệ 95,83%, tất cả các đơn gửi về Ban QLDAXD và GPMB huyện là đơn dân nguyện, kiến nghị chủ yếu về chính sách bồi thường, HT&TĐC và không có đơn tố cáo với các cán bộ thực hiện thực hiện dự án cũng như các cơ quan chức năng liên quan
Nhìn chung, việc xây dựng phương án bồi thường, HT&TĐC đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, vận dụng cụ thể, linh hoạt vào điều kiện của từng địa phương trong từng thời điểm; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất; góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện
Tuy nhiên cũng gặp không ít những khó khắn vướng mắc trong quá trình tiến hành như: người dân có đất bị thu hồi không chấp thuận khoản đền bù mà Nhà nước đưa ra vì nó thấp hơn so với giá trị sinh lời mà mảnh đất đó tạo ra; sự vướng mắc trong quá trình giải tỏa, khiến cho tiến trình thi công bị chậm; còn nhiều hộ dân không có đủ chứng từ xác minh thửa đất đang sử dụng là hợp pháp
Bảng 1.1 Tình hình công tác thu hồi đất, GPMB trên địa bàn huyện Tam Đảo
Trang 27II Kết quả thực hiện Dự án 53 61
(Nguồn: Ban quản lý dự án Xây dựng và GPMB huyện Tam Đảo)
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chịu sự ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC để xây dựng 02 dự án:
* Đường dây 500KV Sơn La - Hiệp Hoà đoạn qua huyện Tam Đảo
* Trại gà giống Bố Mẹ của Công ty CP Japfa Comfeed VN tại huyện Tam Đảo Phạm vi nghiên cứu tại địa bàn 02 xã Minh Quang và xã Yên Dương, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 - 2012
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Tam Đảo
+ Điều kiện tự nhiên huyện Tam Đảo
Trang 282.2.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai huyện Tam Đảo năm 2012
+ Hiện trạng quản lý đất đai
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Khảo sát đo đạc, đánh giá phân hạng đất; lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng đất
- Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thống kê - kiểm kê đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
- Công tác thanh tra, kiểm tra chế độ sử dụng đất
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
+ Hiện trạng sử dụng đất đai
2.2.3 Giới thiệu khái quát dự án nghiên cứu và các chính sách liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
+ Các văn bản pháp lý có liên quan đến các dự án
+ Khái quát 02 dự án nghiên cứu
* Đường dây 500KV Sơn La - Hiệp Hoà đoạn qua huyện Tam Đảo;
* Trại gà giống Bố Mẹ của Công ty CP Japfa Comfeed VN tại huyện Tam Đảo;
+ Trình tự thực hiện thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC gồm:
- Thông báo chủ trương thu hồi đất
- Thành lập Hội đồng bồi thường, HT&TĐC, lập kế hoạch GPMB
- Tổ chức họp dân, phát tờ khai, thực hiện kê khai
- Xác minh nội dung kê khai, điều tra hiện trạng sử dụng đất
- Lập phương án bồi thường niêm yết, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Lập và trình quyết định thu hồi và giao đất
Trang 29- Thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ & TĐC và bàn giao mặt bằng
- Giải quyết khiếu nại
- Cưỡng chế thu hồi đất
- Quyết toán kinh phí bồi thường, thu hồi đất
2.2.4 Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện 02 dự án nghiên cứu
+ Đánh giá Bồi thường, hỗ trợ về đất
- Đánh giá Bồi thường thiệt hại hoa màu, vật nuôi và vật kiến trúc
- Đánh giá chính sách hỗ trợ
- Đánh giá chính sách TĐC
- Đánh giá chung về kết quả thực hiện chính sách tại 02 dự án nghiên cứu
2.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống của các hộ dân bị thu hồi đất
+ Thay đổi về nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp
+ Tác động đến lao động việc làm
+ Thay đổi về thu nhập
+ Thay đổi về tài sản của hộ
+ Đánh giá của người dân về việc tiếp cận CSHT, phúc lợi XH sau khi bị thu hồi đất 2.2.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, HT&TĐC
+ Giải pháp về chính sách
+ Giải pháp về tổ chức thực hiện
+ Giải pháp đảm bảo đời sống cho người dân có đất bị thu hồi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu liên quan đến đề tài tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính và Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Phòng Tài chính - kế hoạch, Phòng Thống kê, Hội đồng Bồi thường, HT&TĐC và Ban Quản lý Dự án Xây dựng và Giải phóng mặt bằng huyện Tam Đảo
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng mẫu phiếu điều tra có sẵn để điều tra ngẫu nhiên 80 hộ (mỗi dự án
40 hộ), với các tiêu chí điều tra về đặc điểm, thu nhập, tài sản trước và sau khi thực
Trang 302.3.3 Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu
Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tiến hành thống kê, phân loại theo các nhóm, nhập dữ liệu và xử lý số liệu để từ đó mô tả, so sánh, phân tích và dự báo, đánh giá cho các kết quả nghiên cứu, các số liệu thống kê xử lý bằng phần mềm EXCEL
2.3.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ trực tiếp tham gia công tác thu hồi đất bồi thường, HT&TĐC - GPMB và đặc biệt là những người dân sản xuất sau khi bị thu hồi đất và tổ chức đời sống có hiệu quả cao qua phỏng vấn trực tiếp theo các chủ đề nghiên cứu, xin ý kiến về các giải pháp và tâm tư, nguyện vọng của người dân để nắm bắt tình hình rộng hơn so với nội dung các phiếu điều tra
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Tam Đảo
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Tam Đảo nằm ở phía Đông - Bắc tỉnh Vĩnh Phúc, gần ngã ba ranh giới của tỉnh Vĩnh Phúc với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên Tổng diện tích tự nhiên là: 23.587,62 ha Tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:
- Phía Tây Bắc giáp huyện Sơn Dương, Tuyên Quang
- Phía Tây giáp huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc
- Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc
- Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Phía Đông Bắc giáp huyện Đại Từ, Thái Nguyên
Trang 31Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
(Nguồn: Trung tâm Thông tin sở Tài nguyên & Môi trường Vĩnh Phúc)
Tam Đảo cách thành phố Vĩnh Yên 10 km và cách thành phố Hà Nội 65 km, những nơi có dân số đông, có sự phát triển kinh tế năng động, có sức lan tỏa lớn Vì vậy, Tam Đảo có những điều kiện nhất định trong việc khai thác các tiềm năng về khoa học công nghệ, về thị trường cho các hoạt động nông, lâm sản, du lịch và các hoạt động kinh tế khác
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Tam Đảo là huyện miền núi, nằm trên phần chính, phía Tây Bắc của dãy núi Tam Đảo, nơi bắt nguồn của sông Cà Lồ (sông này nối với sông Hồng và sông Cầu) Địa hình của Tam Đảo khá phức tạp, đa dạng vì có cả vùng cao và miền núi, vùng gò đồi và vùng đất bãi ven sông Vùng miền núi và núi cao với diện tích khoảng 11.000
ha, chủ yếu do Vườn Quốc gia Tam Đảo và Lâm trường Tam Đảo quản lý Diện tích còn lại bao gồm các vùng núi thấp, vùng bãi do các xã quản lý và sử dụng
Trang 32Các vùng của huyện chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, mỗi vùng đều
có những điều kiện tự nhiên, những nguồn lực kinh tế đặc thù tạo nên những sắc thái riêng trong phát triển Kinh tế - Xã hội, nhất là kinh tế nông, lâm nghiệp và dịch vụ du lịch Tam Đảo nổi bật với địa hình vùng núi bởi dãy núi Tam Đảo, vùng rừng quốc gia tạo cảnh quan và những điều kiện đặc thù về yếu tố lịch sử, tín ngưỡng cho sự phát triển du lịch, nhất là du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và du lịch tâm linh
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Do địa hình phức tạp, nhất là sự khác biệt về địa hình giữa vùng núi cao với đồng bằng thấp ven sông nên khí hậu, thời tiết của huyện Tam Đảo được chia thành 2 tiểu vùng
rõ rệt (các tiểu vùng về khí hậu, không trùng với địa giới hành chính cấp xã) Cụ thể:
Tiểu vùng miền núi, gồm toàn bộ vùng núi Tam Đảo thuộc trị trấn Tam Đảo
và các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù có khí hậu mát
mẻ, nhiệt độ trung bình 180
C-190C, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù tạo cảnh quan đẹp Khí hậu tiểu vùng miền núi mang sắc thái của khí hậu ôn đới, tạo lợi thế trong phát triển nông nghiệp với các sản vật ôn đới và hình thành các khu nghỉ mát, phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng vào mùa hè
Tiểu vùng khí hậu vùng thấp, bao gồm phần đồng bằng của các xã Minh Quang, Hồ Sơn, Tam Quan, Đại Đình, Đạo Trù và toàn bộ diện tích của các xã còn lại Tiểu vùng khí hậu của vùng mang các đặc điểm khí hậu gió mùa nội chí tuyến vùng Đông Bắc Bắc Bộ Nhiệt độ của tiểu vùng trung bình ở mức 220
C-230C, độ ẩm tương đối trung bình khoảng 85-86%, lượng mưa trung bình 2.570 mm/năm và thường tập trung vào tháng 6 đến tháng 9 trong năm
Tam Đảo nằm trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc nên chịu ảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa ẩm Mưa bão có sự tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống Chế độ gió theo mùa, mùa hè chủ đạo là gió Đông Nam, mùa đông chủ đạo là gió mùa Đông Bắc
Nhìn chung, khí hậu ở của huyện Tam Đảo tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt vùng Tam Đảo núi có chế độ khí hậu lý tưởng cho việc phát triển các khu du lịch nghỉ mát và phát triển du lịch sinh thái
3.1.1.4 Tài nguyên đất
Trang 33Theo số liệu thống kê năm 2012, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện có 23.587,62 ha, chiếm 19,07% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Trong số 09 đơn vị hành chính của huyện, xã Đạo Trù có diện tích lớn nhất
là 7.456,00 ha, chiếm 31,61% tổng diện tích toàn huyện và thị trấn Tam Đảo có diện tích nhỏ nhất là 214,87 ha, chiếm 0,91% tổng diện tích tự nhiên của huyện Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người toàn huyện là 0,34 ha/người (cao hơn
so với mức bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người của tỉnh là 0,12 ha/người)
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
Tam Đảo là huyện miền núi có nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội, nhưng sau 8 năm được tái lập và đi vào hoạt động, Tam Đảo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Liên tục trong 6 năm, từ 2007 - 2012, kinh tế Tam Đảo luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất tăng bình quân 18,22%, đặc biệt giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn các năm 2007 - 2012 tăng bình quân 18,53%/năm Giá trị sản xuất tính theo giá
so sánh bình quân đầu người tăng từ 3,6 triệu đồng năm 2007 lên 7,96 triệu đồng năm 2012 và từ 4,7 triệu đồng năm 2007 lên 17,75 triệu đồng năm 2012 tính theo giá thực tế
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất huyện Tam Đảo giai đoạn 2007 - 2012
Giá cố định: 2007
BQ 07-12 (%)
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo)
Giá trị tổng sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Tam Đảo từ năm
Trang 342007 - 2012 được thể hiện chi tiết ở bảng 3.1
Bảng 3.2 Cơ cấu ngành kinh tế huyện Tam Đảo giai đoạn 2007 - 2012
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo)
Giá trị tổng sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất kinh tế trên địa bàn huyện Tam Đảo giai đoạn từ năm 2007 - 2012 được thể hiện chi tiết ở bảng 3.2
20,04
Nông nghiệp CN, TTCN, XD TM, DV
3.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
* Dân số
Hình 3.2 Cơ cấu GTSX trên địa bàn
huyện Tam Đảo năm 2007
Hình 3.3 Cơ cấu GTSX trên địa bàn huyện Tam Đảo năm 2012
Trang 35Là huyện miền núi, có nhiều dân tộc sinh sống như: Kinh, Sán Dìu, Lào, Mường, Hoa, Mông, Dao, Khơ me Trong đó dân tộc Kinh và Sán Dìu chiếm phần lớn dân số cả huyện Năm 2012 dân số của toàn huyện Tam Đảo là 75.734 người, mật độ dân số trung bình là 309 người/km2, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 41,9% (bảng 3.3) So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Vĩnh Phúc, Tam Đảo là một trong các huyện có mật độ dân số thấp Mật độ dân số không đều giữa các xã trong huyện, tập trung cao ở các xã vùng thấp và thưa thớt tại vùng thị trấn Tam Đảo, các thôn, xóm vùng ven núi của các xã vùng Đồng bằng
* Lao động, việc làm
Tam Đảo là huyện miền núi mới được tái lập, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu, trình độ dân trí còn thấp và chưa đồng đều, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng núi (bảng 3.3) Tỷ lệ dân số hoạt động trong các ngành nông, lâm, thủy sản khá thấp ở địa bàn cấp huyện (52,6% năm 2012) Một bộ phận khá lớn dân cư
đã chuyển sang các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 7.400 người, chiếm 21,4%) và các ngành dịch vụ (8.990 người, chiếm 26,0%)
Nhìn chung, nguồn lao động của Tam Đảo có chất lượng thấp Số người lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn, trên 90% năm 2012 Lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng nhỏ và tập trung vào đội ngũ công chức cấp xã, huyện và viên chức các ngành giáo dục, y tế
Với những đặc trưng về dân số và nguồn lao động như trên, Tam Đảo vừa có thuận lợi trong phát triển kinh tế, vừa có những khó khăn, đặc biệt là trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành thương mại, dịch vụ
du lịch và tiểu thủ công nghiệp
Bảng 3.3 Hiện trạng về dân số và lao động huyện Tam Đảo năm 2012
Trang 362.1 Nông nghiệp Hộ 9188
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo) 3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Hệ thống giao thông của Tam Đảo chủ yếu là giao thông đường bộ Ngoài ra,
có vận tải thủy trên các hồ và sông Phó Đáy, nhưng rất hạn chế
Hệ thống giao thông của huyện hiện nay về cơ bản thuận lợi, đảm bảo 100% các thôn làng, bản đều có đường ô tô đến nơi Đường Quốc lộ 2B từ thành phố Vĩnh Yên lên thị trấn Tam Đảo có chiều dài 24 km, trong đó thuộc địa phận huyện Tam Đảo 16,4 km đã được đầu tư nâng cấp, đi lại thuận tiện
Trên địa bàn huyện có đường tỉnh 302 chiều dài 40 km chạy dọc từ xã Minh Quang lên Yên Dương (dọc và cách chân dãy núi Tam Đảo khoảng 5 km) và nối liền Quốc lộ 2C đi Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang); tuyến đường Tỉnh lộ 309 nối từ xã Tam Quan với Quốc lộ 2C có chiều dài 3,2 km, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu, buôn bán và đi lại của du khách đặc biệt là giữa hai huyện Tam Đảo và Tam Dương
Ngoài ra, huyện Tam Đảo còn có 96,25 km đường liên xã, hầu hết các tuyến đường này đã và đang được đầu tư nâng cấp đáp ứng nhu cầu đi lại, giao lưu, buôn bán của nhân dân Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng các sản phẩm và các tour, tuyến du lịch trong vùng
* Thuỷ lợi
- Nước cho nông nghiệp được lấy từ 2 nguồn: nước mưa và nước từ hệ thống sông, suối trên địa bàn Huyện Nguồn nước mặt của Tam Đảo khá phong phú với sông Phó Đáy và các sông nhỏ như: Vực Chuông, Đình cả Đặc biệt là hệ thống hồ chứa nước lớn như: Xạ Hương dung tích 12,78 triệu m3, Làng Hà 2,3 triệu m3, Hồ
Trang 37Vĩnh Thành 2,7 triệu m3, Bản Long 2,5 triệu m3
và hàng loạt các hồ chứa nước nhỏ (25 hồ) Hệ thống hồ, đập trên địa bàn huyện có 38 cái không chỉ cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, còn phục vụ cho sân gôn, nhà máy Z95, nuôi trồng thủy sản và tạo nguồn nước ngầm cho các giếng của dân cư trong huyện
Ngoài ra, trên địa bàn huyện Tam Đảo còn có công ty khai thác các công trình thủy lợi, với năng lực tưới 5.523 ha Hiện tại, hệ thống công trình của công ty
đã phục vụ tưới cho 3.271 ha đất nông nghiệp của huyện, số còn lại phục vụ cho các huyện khác thuộc vùng quản lý của công ty
- Thực trạng cấp nước sinh hoạt: tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh của huyện Tam Đảo chiếm 93% Nguồn nước phục vụ sinh hoạt trong huyện
có ba nguồn: nước mưa, nước mặt và nước ngầm
- Thực trạng thoát nước: Về thoát nước, trên địa bàn huyện chỉ có khu vực thị trấn Tam Đảo và khu vực sân gôn đã xây dựng hệ thống thoát nước thải Tuy nhiên, hệ thống thoát nước vẫn rất đơn giản, chủ yếu là công trình nổi, lộ thiên và chưa qua xử lý Còn ở các khu vực khác, nước thải sinh hoạt ở mỗi hộ dân, nước mưa chủ yếu được thoát xuống các ruộng trũng, ao hồ, mương rãnh hiện có sau đó chảy ra hệ thống các mương tiêu chính rồi cuối cùng đổ ra sông Tình trạng trên gây
ô nhiễm cho môi trường chung và cần phải được xem xét xử lý trong thời gian tới
3.1.2.4 Văn hóa xã hội
* Giáo dục - đào tạo
Trong những năm qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-TU, ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc về nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân Nghị quyết số 15/2007/NQ-HĐND ngày 04 tháng 7 năm 2007 của Hội Đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển Giáo dục - đào tạo giai đoạn 2007 - 2015 sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Tam Đảo được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý và về thiết bị giảng dạy và học tập Hệ thống giáo dục được hình thành
ở tất cả các cấp học bậc học, từ mầm non đến trung học phổ thông, với 37 đơn vị trường học Quy mô và chất lượng đào tạo ở các cấp bậc được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Quy mô và chất lƣợng giáo dục - đào tạo huyện Tam Đảo năm 2012
Trang 38STT Cấp trường Số Số lớp Số
phòng
Số giáo viên
Số học sinh
Tỷ lệ theo học (%)
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tam Đảo)
Về giáo dục không chính quy, đến nay huyện Tam Đảo có 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên và 09 trung tâm học tập cộng đồng tại các xã, thị trấn Hàng năm, thông qua hệ thống giáo dục không chính quy đã thu hút, động viên hàng nghìn lượt người tham gia học tập nâng cao trình độ, tư vấn, trợ giúp về công nghệ, kỹ thuật sản xuất kinh doanh và pháp luật
Có thể nói, sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được Tam Đảo coi trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển Kinh tế - Xã hội của huyện trước mắt và lâu dài Do vậy, ngoài chương trình chung của cả nước, huyện Tam Đảo và Tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều giải pháp quan tâm đầu tư, lấy phát triển giáo dục làm khâu đột phá để vươn lên làm giàu
* Y tế
Sau khi huyện được thành lập, hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã nhanh chóng được đầu tư nâng cấp Đến nay, cơ sở vật chất của ngành y tế huyện Tam Đảo đã có 01 Trung tâm y tế huyện, 01 phòng khám đa khoa khu vực và 09 trạm y tế
xã, thị trấn Tổng số 125 giường bệnh, trong đó có 70 giường tại trung tâm y tế huyện,
10 giường tại phòng khám đa khoa khu vực, còn lại ở các trạm y tế xã, thị trấn
Năm 2004, toàn huyện có 85 cán bộ y tế, trong đó có 10 bác sỹ đến năm 2012
đã tăng lên đến 172 người, trong đó có 22 bác sỹ, đảm bảo 100% số trạm y tế ở các
xã, thị trấn có bác sỹ Vì vậy, cơ sở vật chất như số giường nằm và số cán bộ ngành y bình quân trên 01 vạn dân có xu hướng tăng Điều kiện phục vụ sức khỏe nhân dân có điều kiện tăng lên Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn huyện chưa có cán bộ dược
Trang 39* Văn hoá, thể thao, thông tin, phát thanh truyền hình
- Thực trạng các hoạt động văn hóa:
Ngay từ khi mới thành lập huyện Tam Đảo đã chú trọng đến xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, củng cố các thiết chế văn hóa Hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của huyện đa dạng, phong phú, được quan tâm đầu tư trùng tu, tôn tạo và bảo tồn như: Lễ hội Tây Thiên, hệ thống các đền, chùa từ đền Thõng lên đền Thượng khu danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm, đến các đền, chùa thuộc địa phận các xã và thị trấn Tam Đảo… Các lễ hội, hoạt động tín ngưỡng ở các đền, chùa, các điểm di tích mỗi năm đã thu hút hàng triệu lượt du khách đến tham quan và du lịch
Cùng với việc khôi phục và phát triển bản sắc văn hoá các dân tộc trên địa bàn, công tác chỉ đạo xây dựng các làng văn hoá trọng điểm của huyện cũng đã được quan tâm Nhờ đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng các thiết chế văn hóa hoạt động văn hóa đã đạt được những kết quả khích lệ Tính đến đầu năm 2012, toàn huyện có 5/9 xã, thị trấn có nhà văn hóa xã 79/104 thôn, làng có nhà văn hóa thôn
Hệ thống thư viện gồm: cấp xã có xã Đạo Trù và 06 phòng đọc ở các xã, thị trấn; cấp huyện có 01 thư viện; 7/9 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hóa xã
- Thực trạng mạng lưới thông tin truyền thông:
Hệ thống hạ tầng bưu chính, viễn thông được đầu tư đồng bộ, hiện đại nhằm phục vụ kịp thời nhu cầu của nhân dân và khách du lịch Đến nay 100% các xã có điểm bưu điện văn hoá, điểm cung cấp dịch vụ internet, phủ sóng điện thoại, đến hết năm 2012, bình quân có 35 máy điện thoại trên 100 người dân, hầu hết các công sở trên địa bàn, các cơ sở lưu trú đều có điểm truy cập mạng internet, các cơ sở kinh doanh du lịch đều thiết lập được website… Dịch vụ bưu chính, viễn thông trên địa bàn khá hoàn thiện, đồng bộ và hiện đại, chất lượng phục vụ ngày càng tốt hơn
3.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất đai
3.2.1 Hiện trạng quản lý đất đai
Tam Đảo là một huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004 trên cơ sở sáp nhập các xã, thị trấn của các huyện, thị trên địa bàn tỉnh, công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, quá trình thu hồi đất chuyển mục đích sử
Trang 40dụng đất biến động đất chủ yếu từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp với các mục đích như: Xây dựng hạ tầng xã hội, hệ thống giao thông, thuỷ lợi, Giáo dục - đào tạo Trong quá trình thực hiện công tác quản lý đất đai trên địa bàn, huyện Tam Đảo được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn của Chính Phủ; Bộ Tài nguyên và Môi trường; UBND tỉnh Vĩnh Phúc;
Sở Tài nguyên và Môi trường, cụ thể như sau:
* Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản
Từ khi thành lập đến nay, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, nhằm cụ thể hóa các văn bản của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác quản lý Nhà nước về đất đai, góp phần quan trọng đưa công tác quản lý sử dụng đất đi vào nề nếp, cụ thể:
- Quyết định số 60/2009/QĐ-UBND ngày 31/12/2011 của UBND tỉnh về ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn huyện Tam Đảo năm 2012
- Quyết định số 18/2011/QĐ-UBND ngày 20/4/2011 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành quy định về thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Quyết định 51/2008/QĐ-UBND tỉnh về việc thực hiện nghị quyết số 19/2008/NQ-HĐND ngày 25/7/2008 của HĐND tỉnh về việc ban hành quy định hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu cho các xã, phường, thị trấn khi nhà nước thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích phát triển kinh
tế - xã hội và an ninh - quốc phòng
- Quyết định số 562/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh về ban hành đơn giá bồi thường đối với cây trồng trên địa bàn huyện Tam Đảo
- Nghị quyết số 08/2008/NQ-HĐND ngày 30 tháng 5 năm 2008 Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển du lịch đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015
- Nghị quyết số 23/2009/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày 28 tháng 12 năm 2009 về việc thông qua đề án thành lập thị trấn Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc