1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang

100 651 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, cơ quan chủ quản, Trung tâm n

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Luân Thị Đẹp

Thái Nguyên - năm 2013

Trang 2

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Tất cả các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa có ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Duy Hạnh

Trang 3

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của

cô giáo hướng dẫn, cơ quan chủ quản, Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi – Viện nghiên cứu ngô và các cá nhân trong và ngoài nước Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Luân Thị Đẹp, với cương vị người hướng dẫn khoa học đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Phòng quản lý Đào tạo Sau Đại học, khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã truyền thụ cho tôi những kiến thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường

Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Hạnh

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích 3

3 Yêu cầu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới 5

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới 5

1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam 13

1.3.1 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 13

1.3.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống ngô lai ở Việt Nam 15

1.3.3 Tình hình sản xuất ngô ở Hà Giang 22

1.3.4 Định hướng nghiên cứu phát triển ngô lai trong thời gian tới của tỉnh Hà Giang 24

Chương 2:VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU27 2.1 Vật liệu nghiên cứu thí nghiệm 27

2.2 Địa điểm, thời gian 27

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27

2.2.2 Thời gian nghiên cứu thí nghiệm 27

2.3 Nội dung nghiên cứu thí nghiệm 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm 28

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28

2.4.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm 29

2.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Một số đặc điểm sinh trưởng của các giống ngô thí nghiệm 36

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng chính của các giống ngô thí nghiệm 36

TT 37

3.1.2 Một số đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống ngô thí nghiệm41 3.2 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm 48 3.2.1 Tình hình sâu bệnh hại 48

3.2.2 Tỷ lệ đổ gãy của các giống ngô thí nghiệm 54

3.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 55

3.3.1 Số bắp trên cây 57

3.3.2 Số hàng trên bắp 57

3.3.3 Số hạt trên hàng 57

3.3.4 Khối lượng 1000 hạt 58

3.3.5 Năng suất lý thuyết 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Đề nghị 62

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NSTT : Năng suất thực thu

NSLT : Năng suất lý thuyết

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ và lúa nước 5

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong giai đoạn 2003 - 2012 6

Bảng 1.3: Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012 7

Bảng 1.4: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 9

Bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2012 14

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất ngô ở Hà Giang giai đoạn 2003 – 2012 23

Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng chính của các giống ngô thí nghiệm 37

Bảng 3.2: Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân 2012 và vụ Xuân năm 2013 41

Bảng 3.3: Số lá và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm

vụ Xuân 2012 và vụ Xuân 2013 43

Bảng 3.4: Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân 2012 và vụ Xuân 2013 46

Bảng 3.5: Tình hình nhiễm sâu hại của các giống ngô thí nghiệm 49

Bảng 3.6: Tình hình nhiễm bệnh của các giống ngô thí nghiệm 52

Bảng 3.7: Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm 54

Bảng 3.8: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân năm 2012 56

Bảng 3.9: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân năm 2013 56

Bảng 3.10: Kết quả thử nghiệm giống SB 12-2 vụ Xuân 2013 60

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng trong nền kinh

tế toàn cầu bên cạnh lúa mì và lúa nước Cây ngô được coi là nguồn cung cấp lương thực chính cho con người Ngoài ra, ngô còn được biết đến với vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi, công nghiệp và nguồn hàng xuất khẩu

Trong chăn nuôi: Bên cạnh làm lương thực, ngô con là nguồn thức ăn gia súc vô cùng quan trọng, có tới 70% chất tinh trong thức ăn của gia súc là

từ ngô Ngoài ra, ngô còn làm thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa Ở các nước phát triển, tỉ lệ ngô làm thức ăn cho chăn nuôi chiếm > 70%, như Mỹ 76%, Bồ Đào Nha 91%, Italia 93%, Trung Quốc 76%, Malaixia 91%, Thái Lan 96% và nước ta là xấp xỉ 90% (trích theo Ngô Hữu Tình, 1997)[14]

Trong công nghiệp: Ngô đã được sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi tổng hợp, nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm như sản xuất rượu, cồn, tinh bột Từ ngô người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng để phục vụ cho các ngành kinh tế khác nhau Hơn nữa, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ, ngô còn được sử dụng để chế biến sinh học- Ethanol, nguồn nay được dùng để thay thế trong tương lai khi nguồn nguyên liệu tự nhiên bị cạn kiệt Ngoài ra, ngô còn là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như ngô rau bao tử

Ở Việt Nam, cây ngô chiếm một vị trí khá quan trọng trong hệ thống cây trồng, chỉ đứng sau cây lúa, cây ngô đang dần được coi là cây trồng chính cung cấp nguồn lương thực và nguyên liệu phục vụ cho các ngành kinh tế khác Trong những năm gần đây, cây ngô đã và đang được Đảng và Nhà nước

ta chú trọng phát triển Tuy nhiên, năng suất ngô của nước ta vẫn thấp hơn

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trung bình thế giới, năm 2012 đạt 86,9% (42,95/49,44 tạ/ha) và bằng 55,5% so với Mỹ (77,4 tạ/ha) (FAOSTAT, 2013)[24] Nhu cầu ngô ở nước ta trong thời gian tới là rất lớn Theo chiến lược của Bộ Nông nghiệp & PTNT đến năm

2020 sản lượng ngô của Việt Nam cần đạt 8 - 9 triệu tấn/năm để đảm bảo cung cấp đầy đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tham gia xuất khẩu

Tại Hà Giang ngô là cây trồng chính cung cấp nguồn thức ăn chính phục vụ cho ngành chăn nuôi, ngoài ra còn là nguồn lương thực chính của đồng bào các dân tộc Mông, Dao chủ yếu ở các huyện vùng cao như: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ Tuy nhiên năng suất ngô của Hà Giang còn thấp (năm 2012 năng suất đạt 32,1 tạ/ha) so với năng suất trung bình của cả nước (42,9 tạ/ha) Hiện nay tỉnh Hà Giang đang tiến hành cơ cấu lại giống ngô trong cơ cấu diện tích ngô toàn tỉnh Tỉnh ưu tiên mở rộng giống sản xuất trong nước chiếm 40% cơ cấu giống của các giống ngô lai, vì những năm qua phụ thuộc nhiều vào giống sản xuất ngoài nước nên có thời điểm bị thiếu giống

Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi - Viện nghiên cứu ngô là cơ quan chọn tạo giống ngô của Việt Nam Trung tâm đã chọn tạo được nhiều giống ngô có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu sản xuất Năng suất các giống ngô mới do Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi - Viện nghiên cứu ngô chọn tạo tương đương với giống ngô của các công ty nước ngoài sản xuất, khả năng chịu hạn, chịu sâu bệnh khá hơn, giá bán thấp hơn

Chính vì vậy, để nâng cao năng suất và sản lượng ngô đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất những giống ngô lai mới có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao là cần thiết

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố Hà Giang”

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2 Mục đích

Xác định được giống ngô lai cho năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của Hà Giang để giới thiệu cho sản xuất

3 Yêu cầu

- Theo dõi một số giai đoạn chính của các giống ngô thí nghiệm

- Theo dõi, đánh giá một số đặc điểm hình thái, sinh lý

- Theo dõi tình hình sâu bệnh hại và chống đổ của các giống ngô lai trong thí nghiệm

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô lai trong thí nghiệm

4 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:

+ Đối với học tập: Giúp học viên củng cố kiến thức đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tế

+ Đối với nghiên cứu khoa học: Giúp học viên xác định được hướng nghiên cứu để thực hiện một luận văn thạc sĩ phù hợp với nhu cầu thực tế nơi công tác

- Ý nghĩa trong sản xuất: Đề tài góp phần chọn ra giống ngô mới bổ sung cho bộ giống của tỉnh nhằm nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở

Hà Giang

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Ngày nay, các giống ngô lai mới đóng góp quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng của cây trồng nhưng do mỗi giống chỉ có thể thích ứng với một điều kiện sinh thái nhất định do vậy để phát huy hiệu quả của bất

kỳ một giống ngô nào thì nhất thiết chúng phải được trải qua một quá trình khảo nghiệm và đánh giá một cách chính xác trong thực tiễn để từ đó có cơ sở đưa chúng vào sản xuất

Vì vậy, khi lai tạo ra một giống ngô tốt thì việc cần làm là cần phải tiến hành khảo nghiệm, đánh giá qua nhiều vụ và nhiều năm nếu không sẽ tạo nên tình trạng giống kém chất lượng được đưa vào sản xuất, tạo ra sự bất ổn định trong sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến việc sản xuất ngô, gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất thâm canh

Trong những năm gần đây, việc chọn tạo và đưa vào thử nghiệm vào sản xuất những giống ngô lai mới có năng suất cao, ổn định và thích nghi với những vùng sinh thái khác nhau là vấn đề rất quan trọng góp phần đưa nhanh các giống ngô tốt vào sản xuất đại trà nhằm nâng cao năng suất, sản lượng ngô

Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xét công nhận được nhiều giống ngô lai mới, các giống này đã phát huy hiệu quả tốt trên đồng ruộng

Ở Việt Nam, chương trình nghiên cứu và phát triển ngô lai được bắt đầu chậm hơn so với các nước trên thế giới và khu vực nhưng tốc độ phát triển rất nhanh Các cơ quan nghiên cứu và sản xuất giống ngô đã đáp ứng được yêu cầu về giống ở các vùng trồng ngô Việt Nam với bộ giống ngô lai rất phong phú Tuy nhiên mỗi giống ngô chỉ thích nghi với điều kiện sinh thái nhất định, giống mới sẽ đạt năng suất cao hơn nếu được trồng trong điều

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

kiện thích hợp Vì vậy các giống mới trước khi mở rộng sản xuất cần đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển khả năng thích nghi của giống với điều kiện sinh thái của vùng

Đề tài nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống ngô lai tại thành phố Hà Giang nhằm đánh giá một cách khách quan, kịp thời, có cơ

sở khoa học về tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như tiềm năng cho năng suất của các giống ngô lai

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới

Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Có thể nói rằng, trong 3 cây ngũ cốc chính của loài người: lúa nước, lúa mỳ và ngô thì không có cây nào sánh kịp với cây ngô về tiềm năng năng suất Từ những năm cuối thế kỷ 20, nghề trồng ngô trên thế giới đã có những bước phát triển kỳ diệu nhờ ứng dụng rộng rãi thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Đặc biệt, từ 10 năm trở lại đây cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản đã đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mỳ và lúa nước

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ và lúa nước

của thế giới năm 2012 Loại cây

trồng

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: FAOSTAT, 2013) [24]

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Qua bảng số liệu 1.1 cho thấy: Năm 2012 diện tích ngô trên toàn thế giới đã cao hơn lúa nước, chỉ kém lúa mì Vì năng suất ngô cao (49,44 tạ/ha) nên tổng sản lượng ngô trên thế giới cũng cao hơn lúa mì

và lúa nước

Ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Năm 2012 diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 176,99 triệu ha, năng suất 49,44 tạ/ha và sản lượng đạt 875,09 triệu tấn Trong hơn 40 năm qua, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu So với năm 1961, năm 2011 năng suất ngô trung bình của thế giới tăng thêm 32,6 tạ/ha (từ hơn 19,0 tạ/ha lên 51,85 tạ/ha), lúa nước tăng 25,04 tạ/ha (từ 19,0 lên 44,04 tạ/ha), còn lúa mì thêm 21,05 tạ/ha (từ 10,9 lên 31,95 tạ/ha) (FAOSTAT, 2013) [24]

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong giai đoạn 2003 - 2012

Năm (triệu ha) Diện tích Năng suất (tạ/ha) (triệu tấn) Sản lƣợng

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Qua bảng số liệu 1.2 cho thấy diện tích trồng ngô tăng liên tục, từ 144,70 triệu ha (năm 2003) tăng lên 176,99 triệu ha (năm 2012) Năng suất tăng từ 44,6 tạ/ha năm 2003 tăng lên 51,55 tạ/ha (năm 2010), sản lượng tăng

từ 645,2 triệu tấn tăng lên 885,29 triệu tấn (năm 2011) Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Đặc biệt từ năm 1996, cùng với những thành tựu mới trong chọn giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước, năng suất ngô đã tăng 1,83 lần trong vòng

30 năm (1960 - 1990), nhất là các nước có điều kiện thâm canh như Mỹ, Trung Quốc, Brazil…) Theo dự đoán xu thế phát triển ngô trong những năm tới là diện tích có thể giảm dần do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp bởi nhiều nguyên nhân (dân số tăng, công nghiệp hóa mạnh, hiện tượng sa mạc hóa…) Song do nhu cầu ngô của thị trường ngày càng lớn, do vậy phải tăng năng suất và sản lượng bằng cách tạo ra nhiều giống ngô có khả năng chịu thâm canh, cho năng suất cao, chống chịu tốt

Tuy nhiên tình hình sản xuất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, các nước trên thế giới:

Bảng 1.3: Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012

Khu vực (triệu ha) Diện tích Năng suất (tạ/ha) (triệu tấn) Sản lƣợng

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Số liệu bảng 1.3 cho thấy diện tích trồng ngô giữa các châu lục có sự chênh lệnh nhau trong đó Châu Mỹ là khu vực có diện tích lớn nhất là 67,54 triệu ha năm 2012 Châu Mỹ là cái “nôi” của cây ngô - Trung tâm phát sinh cây ngô, ngành sản xuất ngô đã sớm được hình thành và phát triển mạnh mẽ Ở Châu Mỹ, nổi lên hàng loạt các nước có nền sản xuất ngô chiếm tỷ trọng cao của thế giới cả về diện tích cũng như sản lượng, điển hình là Mỹ Nước Mỹ luôn được coi là cường quốc số một về ngô

Các nước phát triển có năng suất ngô cao hơn năng suất trung bình của thế giới và ngược lại các nước đang phát triển năng suất ngô thấp hơn rất nhiều Những quốc gia đi đầu về năng suất ngô như: Israel 255,5 tạ/ha, Kuwait 211,1,0 tạ/ha, Netherlands 123,4 tạ/ha, Qatar 130 tạ/ha, Tajikistan 121,9 tạ/ha Những nước có diện tích trồng ngô lớn là: Mỹ 31,8 triệu ha,

Trung Quốc 34,9 triệu ha, Brazil 14,2 triệu ha … (FAOSTAT, 2013) [24] Các

nước này đã đóng góp rất lớn đối với sản lượng ngô của thế giới, trong đó Mỹ

là nước có đóng góp lớn nhất và luôn là nước dẫn đầu về sản xuất ngô Theo

số liệu của trường Đại học Tổng hợp Nebraska (2005) lý do năng suất ngô ở

Mỹ tăng lên trong 50 năm qua là 50% do cải tạo nền di truyền của các giống lai, 50% do cải thiện chế độ canh tác Ngoài ra một trong những lý do năng suất ngô ở Mỹ tăng cao là nhờ việc áp dụng ngô chuyển gen vào sản xuất

Hiện nay thị trường ngô trên thế giới được đánh giá là một thị trường tương đối khả quan, lượng tiêu thụ ngô trên toàn cầu có xu hướng tăng trong những năm gần đây, sản phẩm ngô chủ yếu dùng làm thức ăn cho chăn nuôi

Với hiện trạng chung ngành sản xuất ngô của thế giới cho thấy: cây ngô đã

và đang dần chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong các cây lương thực chính của thế giới

Trên thị trường quốc tế ngô đứng đầu trong danh sách những mặt hàng

có giá trị khối lượng hàng hóa giao dịch ngày càng tăng, tỷ trọng lưu thông lớn, thị trường tiêu thụ rộng và nhu cầu ngày càng cao Sở dĩ nhu cầu ngô

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tăng mạnh là do dân số thế giới tăng nên nhu cầu về thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng trong chăn nuôi tăng Hơn nữa trong những năm gần đây khi nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt thì ngô được coi là nguồn nguyên liệu chính để chế biến ethanol, một loại nhiên liệu sạch dùng

để thay thế một phần nguyên liệu xăng dầu Trong bối cảnh giá xăng dầu đang liên tiếp lập những kỷ lục mới, nhiên liệu sinh học đang trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết Tại Mỹ, nước sản xuất ethanol lớn nhất thế giới, 1/4 sản lượng ngô được dùng để sản xuất ethanol, như vậy chỉ riêng lượng ngô dùng cho chương trình ethanol của Mỹ đã tương đương hơn một nửa nhu cầu ngũ cốc của thế giới

Thách thức đặt ra là 80% nhu cầu ngô trên thế giới tăng (266 triệu tấn) lại tập trung ở các nước đang phát triển, trong khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước này Vì vậy, các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình trên diện tích ngô hầu như không tăng (IFPRI, 2007) [25]

Bảng 1.4: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020

(triệu tấn)

2020 (triệu tấn) % thay đổi

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Như vậy đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Á nhu cầu tăng 85% so với năm 1997

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới

Người Châu Âu biết đến cây ngô sau khi tìm ra Châu Mỹ nhưng chính

họ đã có công rất lớn cho sự phát triển tiếp theo của nó Ngô được đưa vào Châu Âu sau chuyến thám hiểm thứ hai của Columbus nhưng lúc này chỉ là

sự phổ biến rộng của nó ra các nơi, việc nghiên cứu còn ít được quan tâm Năm 1716 Cotton Mather là người đầu tiên thí nghiệm về giới tính của cây ngô, ông quan sát thấy sự thụ phấn chéo của cây ngô tại Massachuseter (Trích theo Phạm Thị Tài, 1998) [12]

Darwin trong tác phẩm " Tác động của việc giao phối và tự phối trong

thế giới thực vật" xuất bản năm 1876 lần đầu tiên đã đưa ra lý thuyết về ưu

thế lai qua việc nghiên cứu hàng loạt những cá thể giao phối và tự phối ở các loài khác nhau như: Ngô, đậu đỗ Ông đã nhận thấy sự hơn hẳn của các cây giao phối so với tự phối về cao cây, tốc độ nảy mầm, số quả, sức chống chịu

và năng suất hạt Có thể nói trong công cuộc cải tạo giống cây trồng trên cơ

sở ưu thế lai thì ngô lai là thành công kỳ diệu Năm 1880 nhà nghiên cứu người Mỹ tên là Beal đã áp dụng thực tế ưu thế lai trong tạo giống ngô lai giữa các giống, ông thu được những cặp lai hơn hẳn các giống bố mẹ từ 10-15% Năm 1904 Shull lần đầu tiên tiến hành tự thụ cưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần và đã tạo ra các giống lai từ các dòng thuần này và cũng chính ông đã đưa vào tài liệu khoa học thuật ngữ "Heterosis" để chỉ ưu thế lai

Từ năm 1918 Jones đề xuất sử dụng giống lai kép trong sản xuất thì áp dụng

ưu thế lai trong sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển mạnh

Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) được thành lập năm 1966 đã tạo bước tiến mới cho việc nghiên cứu, phát triển ngô và lúa

mỳ, tạo cơ hội cho sự phát triển của các nước nghèo Trung tâm đã đưa ra

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiều giải pháp như tạo giống ngô thụ phấn tự do (OPV) làm bước chuyển tiếp giữa ngô địa phương và ngô lai, hay tạo ra các giống "Ngô bán nhiều" ngắn ngày (SPE - Semi - Prolific Ealy) dài ngày (SPL - Prolific Late) và cho

độ cao trung bình (CPMAT - Semi Prolific Mid - Altitude Tropical) đã được nhiều nước chấp nhận Chủ yếu các giống ngô trên được tạo ra phục vụ cho các vùng khô hạn và ít đầu tư thâm canh ở các nước thứ ba

Sự phát triển ngô lai diễn ra một cách mạnh mẽ và rộng khắp nhưng

Mỹ và Châu Âu chính là những nước đi đầu về phát triển ngô lai Các nhà di truyền cải lương giống ngô Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn lọc và lai tạo giống cây trồng này (cuối thế kỷ XIX) Mỹ đã có 770 giống cải lương (trích theo Trần Hồng Uy, 1985) [18] Việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ diễn

ra từ rất sớm 1930, lai ba, lai kép 1957, sau đó sự phát triển của giống lai đơn

và lai cải tiến , lai đơn được sử dụng 80% đến 85% tổng số giống ngô lai (ERINKE, 1979) [23]

Người ta đã tính được rằng giống ngô lai đóng góp 60% và canh tác đóng góp 40% vào mức tăng năng suất (trích theo Đỗ Năng Vịnh, 2001) [22] Hiện nay Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới, 100% diện tích

sử dụng giống ngô lai trong đó 90% diện tích sử dụng giống lai đơn Trên diện rộng những nước tiên tiến trong đó có Mỹ bằng việc sử dụng giống ngô lai đã đạt 15-18 tấn/ ha (trích theo Trần Hồng Uy, 2000) [20]

Ở Châu Âu sự phát triển nghiên cứu chọn tạo có muộn hơn Mỹ 20 năm nhưng đã có nhiều thành công rực rỡ, tỷ lệ sử dụng giống ngô lai cũng rất lớn

và đạt năng suất cao ở nhiều nước như Áo 9,7 tấn/ha, Italia 9,6 tấn/ha, Tây Ban Nha 9,3 tấn/ha, Hy Lạp 9,1 tấn/ha, Pháp 8,8 tấn/ha (giai đoạn 1997-1999) Theo CIMMYT 1999- 2000, các nước có năng suất bình quân trên 5 tấn/ ha là: Bồ Đào Nha, Đức, Canada, Ba Lan, Slovakia

Châu Á là khu vực phát triển gần như muộn nhất nhưng ngô lai cũng đang phát triển mạnh mẽ ở một số nước như: Thái Lan, Ấn Độ, Philippin và

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đặc biệt là Trung Quốc nước láng giềng của chúng ta có một nền sản xuất ngô phát triển và tăng trưởng rất nhanh, trong giai đoạn 1997-1999 Trung Quốc hàng năm sản xuất 24,996 triệu ha với năng suất bình quân 4,9 tấn/ha và tồng sản lượng là 121,363 triệu tấn, tăng trưởng diện tích hàng năm 2,3%, năng suất tăng 2,0% và sản lượng tăng 4,3% (trích theo Ngô Hữu Tình, 2003) [15]

Nhìn chung tình hình nghiên cứu và phát triển của cây ngô trên thế giới

đã có những bước nhảy vọt, cùng với phát triển của khoa học kĩ thuật từ việc

sử dụng những giống ngô địa phương các nhà khoa học phát triển chọn tạo những giống ngô thụ phấn tự do, các giống lai, giống lai 1 bắp , nhiều bắp các giống có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và các nhà khoa học còn thành công trong việc ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống ngô như:

- Nuôi cấy bao phấn (Peolio, Jones, Thomson,1995)

- Tạo dòng thuần bằng phương pháp nuôi cấy invitro

- Nuôi cấy hạt phấn tách rời chưa thụ tinh (Pescitelli, 1989, Conmans,

1954, Butter, 1992)

- Đa bội thể và tái sinh cây lưỡng bội (Wiliam và Wan, 1993)

Bên cạnh việc nghiên cứu và chọn tạo các giống ngô lai cho năng suất cao các nhà chọn tạo giống ngô lai CIMMYT đã nghiên cứu phát triển các giống ngô QPM, đã nghiên cứu và phương pháp đánh dấu ADN cho việc chuyển việc các gen chất lượng protein vào giống ngô thường ưu tú, ngô chất lượng protein cao đã được đưa vào sản xuất và đem lại hiệu quả sử dụng to lớn khi sử dụng làm lương thực cho con người Các nước Châu Á phát triển chương trình nghiên cứu và sản xuất ngô QPM đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam (trích theo Trần Hồng Uy, 2000) [20]

Từ những thành tựu nổi bật đó chắc chắn nông nghiệp thế giới sẽ có những bước tiến triển mới về sản lượng và năng suất trong đó cây ngô sẽ có một vị trí chủ đạo

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam

Ở nước ta ngô là cây trồng nhập nội và mới được đưa vào trồng khoảng hơn 300 năm nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực của Việt Nam Do có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện sinh thái khác nhau, bên cạnh đó điều kiện ở nước ta rất thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng và phát triển, nên cây ngô đã được mở rộng ra sản xuất và khẳng định được vị trí của mình trong sản xuất nông nghiệp Cây ngô đã trở thành cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa, đồng thời là cây màu số một, góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Việt Nam

Tình hình sản xuất ngô ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử phát triển không đồng đều Quá trình phát triển của cây ngô ở Việt Nam được chia thành 3 giai đoạn chính, đó là:

Giai đoạn từ 1960 - 1980: Giai đoạn này chủ yếu sử dụng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng suất và sản lượng ngô rất thấp Theo thống kê năng suất ngô ở Việt Nam những năm 1960 chỉ đạt trên

10 tạ/ha, với diện tích hơn 200 nghìn ha; đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 11 tạ/ha và sản lượng hơn 400 nghìn tấn

Giai đoạn từ 1981 - 1992: Diện tích tăng chậm, năng suất ngô tăng không đáng kể, từ 11 tạ/ha (1980) lên 15 tạ/ha (1992), bình quân mỗi năm tăng 3,5% Mặc dù giai đoạn này đã sử dụng các giống thụ phấn tự do nhưng chủ yếu là giống tổng hợp, hỗn hợp nên năng suất vẫn còn thấp

Giai đoạn từ 1993 đến nay: Đây là giai đoạn sản xuất ngô ở Việt Nam thực sự có những bước tiến nhảy vọt, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới Ngô lai là nguồn động lực mới, một nhân tố mới, một định hướng chiến lược trong chương trình nghiên cứu và phát triển ngô ở

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Việt Nam Năm 1990 chúng ta mới bắt đầu trồng ngô lai với diện tích thử nghiệm 5 ha, năm 2006 diện tích ngô lai đã đạt 84%, đưa năng suất ngô từ 15,5 tạ/ha lên 37,3 tạ/ha Việt Nam có tốc độ phát triển ngô rất nhanh trong lịch sử ngô lai thế giới Đây là bước tiến vượt bậc so với một số nước trong vùng đã được CIMMYT đánh giá cao

Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.5

Bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2012

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (nghìn tấn)

Trong 10 năm trở lại đây Việt Nam đã phát triển mạnh cây ngô trên cả

3 mặt: diện tích, năng suất và sản lượng Diện tích trồng ngô được mở rộng từ 912,7 nghìn ha (năm 2003) lên đến 1200 nghìn ha (năm 2010), năng suất tăng

từ 34,4 tạ/ha (2003) tới 43,1 tạ/ha (2011), sản lượng ngô năm 2010 tăng gấp 1,6 lần so với năm 2003 Tổ chức lương thực thế giới FAO và Trung tâm Ngô quốc tế CIMMYT đã đánh giá Chương trình phát triển cây ngô của Việt Nam

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

là một trong 3 chương trình ngô lai mạnh nhất ở châu Á (Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan), đó là kết quả rất đáng khích lệ

Mặc dù năng suất ngô của chúng ta liên tục tăng nhưng so với bình quân chung của thế giới và khu vực thì hiện tại năng suất ngô nước ta còn thấp (năm 2012 năng suất ngô của Việt Nam đạt 42,9 tạ/ha, bằng 86,7% năng suất trung bình của thế giới; 19,1% năng suất của Kuwait; 72,3% năng suất

của Trung Quốc) (FAOSTAT, 2013) [24]; điều này đang đặt ra cho ngành sản

xuất ngô trong nước những thách thức và khó khăn trên con đường phát triển, đòi hỏi đội ngũ chuyên gia cũng như các nhà khoa học trong cả nước nỗ lực nghiên cứu nhanh chóng đưa ra sản xuất những giống ngô mới, những biện pháp kỹ thuật hiệu quả nhằm nâng cao năng suất và sản lượng ngô Việt Nam

xứng tầm khu vực và quốc tế

Từ những kết quả đạt được đã chứng tỏ vị thế của cây ngô trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta Tuy vậy so với thế giới thì năng suất ngô ở nước ta còn thấp hơn nhiều, do đó sản xuất ngô ở nước ta rất cần có phương hướng phát triển một cách cụ thể để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cũng như theo kịp thế giới và bè bạn năm châu

1.3.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo giống ngô lai ở Việt Nam

Có rất nhiều tài liệu đề cập đến sự xuất hiện về ngô ở Việt Nam, từ bao giờ, phát triển mạnh vào lúc nào nhưng nhìn chung đều thống nhất ngô được đưa vào nước ta khoảng 300 năm trước đây

Do nước ta trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh nên chúng ta không thể đánh giá đầy đủ về tình hình phát triển của cây ngô dưới chế độ phong kiến trước khi thực dân Pháp xâm lược

Đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp thi hành chính sách khai thác thuộc địa cây ngô mới được chú ý đến nhưng năng suất ngô còn rất thấp, xấp xỉ 11,8 tạ/ha (trích theo Nguyễn Trần Trọng, 1997) [16] Đặc trưng thời kì này diện tích nhỏ, năng suất thấp, kĩ thuật canh tác lạc hậu cho nên sản lượng liên tục

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giảm Các nghiên cứu về ngô trong nước dường như chưa phát triển, các giống địa phương và một số giống nhập nội mở rộng là:Yellow, Hogan, Kenia, No1, Mexique Blanc Hatif được sử dụng chính trong sản xuất

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công để giải quyết nạn đói chính quyền cách mạng mới thành lập đã phát động toàn dân tham gia sản xuất lương thực trong đó ngô, khoai được chú trọng nên đã tạo điều kiện cho sự phát triển của cây ngô, trong thời kì này sự phát triển về diện tích ở các khu vực mà thực dân Pháp chiếm đóng giảm, khu căn cứ cách mạng lại tăng nhanh, các kỹ thuật mới được áp dụng như: mật độ, bón lót phân, làm cỏ sớm, vun cao, cắt cờ, thụ phấn bổ khuyết đã được áp dụng, các giống sử dụng chủ đạo vẫn là các giống địa phương và các giống tốt nhập nội

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ở Miền Bắc sản xuất ngô có chiều hướng tăng, đặc biệt là diện tích tăng nhanh năng suất ổn định và sản lượng

đã đạt gần 300 nghìn tấn, nhưng sau đó sản xuất ngô giảm do phá hoại của đế quốc Mỹ ra Miền Bắc Các yếu tố mới như giống, kỹ thuật đã được quảng bá song do điều kiện vật chất còn khó khăn không có khả năng áp dụng nên năng suất thấp chỉ đạt 10,75 tạ/ha Các giống giai đoạn này là các giống địa phương tốt như: Gié Bắc Ninh, ngô Đại Phong, ngô Vạn Xuân, ngô Việt Trì Ngoài

ra còn có các giống ngô nhập nội như: ngô Xiêm (Thái Lan), Kim Hoàng Hậu (Trung Quốc), Ganga - 5 (Ấn Độ)

Ở Miền Nam Việt Nam năm 1955 diện tích là 26.360 ha sản xuất được 26.895 tấn và tăng dần qua các năm đến năm 1964 diện tích là 37.000 ha và sản lượng 46.000 tấn, giống ngô được gieo trồng chủ yếu ở Miền Nam vào thời kì này là các giống nếp Lù địa phương và một số giống hỗn hợp vàng nhập nội như: Guatemala, Zorca và một số giống lai Đài Loan như: Taiwan-5

và Taiwan-11

Nhìn chung giai đoạn này tình hình sản xuất ngô ở Viêt Nam thấp và không ổn định, giống được sử dụng chủ yếu là giống địa phương, gần cuối

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giai đoạn này có được đưa một số giống thụ phấn tự do cải tiến tuy nhiên năng suất cũng rất thấp chỉ trên dưới 10 tạ/ha

Sau khi đất nước thống nhất nhà nước đã có nhưng quan tâm đầu tư khôi phục lại nền nông nghiệp sau chiến tranh, nhờ đó trong suốt 30 năm qua nông nghiệp nói chung và cây ngô nói riêng đã liên tục phát triển cả về 3 chỉ tiêu chính là diện tích, năng suất và sản lượng, giống được sử dụng giai đoạn

từ 1988- 1994 chủ yếu là giống thụ phấn tự do cải tiến, do đó năng suất cải thiện đáng kể từ 11 tạ/ha lên 17 tạ/ha

Nước ta tiếp cận với ngô lai từ năm 1960, những thử nghiệm và nghiên cứu ngô lai được thực hiện trong những năm 1961-1962 tại Học viện nông lâm - Hà Nội với sự kết hợp của các chuyên gia Rumani và Hunggari thử nghiệm về một số giống ngô lai có nguồn gốc ôn đới như: 308, 360, VIR-42 nhưng vẫn chưa thu được thành công do điều kiện sinh thái khác nhau phải đến những năm 1972-1973 cùng với sự thành lập của Trung tâm ngô Sông Bôi tiền thân của Viện nghiên cứu ngô các nhà chọn tạo giống ngô lai ở Việt Nam mới bắt đầu cho chương trình chọn tạo giống ngô và tập trung cao độ từ năm 1990 đến nay (trích theo Nguyễn Hữu Phúc, 2002) [11]

Trong những năm qua công tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã được triển khai theo những nội dung sau:

- Thu thập, nghiên cứu các giống ngô nhập nội

- Thu thập, bảo tồn giống và quần thể ngô địa phương

- Nghiên cứu phục tráng các giống ngô địa phương tốt

- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô thụ phấn tự do

- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô lai cho năng suất cao phẩm chất tốt

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Chọn tạo hàng loạt các giống ngô thụ phấn tự do, ngô nếp, ngô đường, các giống ngô lai cho năng suất cao

- Xác định 62 nguồn vật liệu có tỉ lệ tạo phôi cao trên 15% và tái sinh cây trên 12% cho công tác tạo dòng bằng nuôi cấy bao phấn và tạo đựơc 114 dòng bằng phương pháp này

- Đã ứng dụng kĩ thuật RAPD, SSR để phân nhóm ưu thế lai của 230 dòng ngô

Hiện nay Việt Nam đã có nhưng cơ sở nghiên cứu đầu ngành về ngô như Viện nghiên cứu ngô, Viện Di Truyền nông nghiệp, các trường đại học nông nghiệp cũng như các Trung tâm khảo nghiệm giống trên toàn quốc Các nhà khoa học trong nước đã được sự quan tâm đầu tư của nhà nước tạo

cơ hội cho họ có thể cống hiến hết mình cho khoa học

Các giống ngô lai mới do Việt Nam chọn tạo rất phong phú, bao gồm: + Nhóm giống dài ngày: T6 (2000), LVN98 (2002)

+ Nhóm giống trung ngày: LVN12 (1995), LVN17 (1999), T9 (2004), VN8960 (2004), LHC9 (2004), LVN145 (2007)…

+ Nhóm giống ngắn ngày: LVN20 (1998), LVN25 (2000), LVN99 (2004), V98 (2004), VN6 (2005), HN45,…

- Nhóm giống ngô lai mới có tiềm năng, năng suất thấp hơn 10 tấn/ha đang được thử nghiệm như: SCI184, TB61, TB66, VN885, SX2017, SX2004, TT04-B1, LVN66, MB069,…(trích theo Nguyễn Khôi, 2008) [9]

Từ năm 2001 - 2005, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với Viện Nghiên cứu Ngô đã tiến hành khảo nghiệm một số giống ngô chất lượng protein cao và thu được kết quả như sau: Thí nghiệm ở vụ Xuân và vụ Thu Đông 2002 cho kết quả hai giống QP2 và QP3 khá đồng đều và ổn định qua hai vụ, có thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, có năng suất thực thu tương đương với hai giống đối chứng (Q2 và HQ2000) Đặc biệt, hai giống này có hàm lượng protein đạt 11,1 và 11,4% tương

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đương HQ2000 (11,3%) và cao hơn hẳn Q2 (8,2%); hàm lượng lysine/protein đạt 4,1 và 4,3% cao hơn hẳn hai đối chứng (2,6 và 3,9%) (Phan Xuân Hào, Trần Trung Kiên, 2004) [3]

Kết quả so sánh 6 giống ngô TPTD QPM với 2 đối chứng là Q2 (giống TPTD thường) và HQ2000 (giống lai QPM) vụ Thu Đông 2004 tại Thái Nguyên đã chọn được giống QP4 có độ đồng đều tốt, thời gian sinh trưởng trung bình, thấp cây, chống chịu sâu bệnh khá, chịu hạn tốt, cho năng suất tương đương cả 2 đối chứng (đạt 67,3 tạ/ha) Đặc biệt, QP4 có hàm lượng Protein đạt 10,76% tương đương HQ2000 (10,88%) và cao hơn hẳn Q2 (8,95%) QP4 có hàm lượng Lysine/Protein đạt 3,77%, Methionine/Protein đạt 2,89% tương đương HQ2000 (3,84%, 2,96%) và cao hơn Q2 (2,71%, 1,98%) (Đỗ Tuấn Khiêm Trần Trung Kiên, 2005) [5]

Kết quả khảo nghiệm 6 giống QPM với 2 đối chứng Q2 (giống ngô thường) và HQ2000 (giống QPM) tại Thái Nguyên trong vụ Xuân và Thu Đông (2004 - 2005) đã chọn được giống QP4 khá đồng đều và ổn định qua 4

vụ thí nghiệm, có thời gian sinh trưởng trung bình, thấp cây, chống chịu sâu bệnh khá, cho năng suất ổn định và cao tương đương đối chứng Q2 và HQ2000 (đạt 53,7 tạ/ha trong vụ Xuân và 63,3 tạ/ha trong vụ Thu Đông) Đặc biệt, hàm lượng Protein đạt 11,06% tương đương HQ2000 (11,05%) và cao hơn hẳn Q2 (8,65%) Hàm lượng Lysine trong Protein đạt 3,98% cao hơn so với Q2 và tương đương HQ2000 (2,50 và 3,98%); Methionine trong Protein đạt 3,00% cao hơn so với Q2 và tương đương HQ2000 (1,92 và 3,01%) (Phan Xuân Hào và cs, 2008) [4]

Viện nghiên cứu ngô đã ứng dụng các kỹ thuật RAPD, SSR để phân tích

đa dạng di truyền của 230 dòng ngô Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tuy chỉ mới bắt đầu 10 năm trở lại đây nhưng đã thu được kết quả bước đầu đáng khích lệ Viện nghiên cứu ngô đang ngày càng hoàn thiện kỹ

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thuật kỹ thuật nuôi cây bao phấn và đã cho ra đời hơn 10 dòng đơn bội kép, được đánh giá là rất có triển vọng trong công tác tạo giống lai

Ngô Thị Minh Tâm, 2004 [13], đã phối hợp chỉ thị phân tử đánh giá đặc điểm năm suất của một số tổ hợp ngô lai… tương lai gần, các kỹ thuật mới này ngày càng có vai trò quan trọng hơn, kết hợp với các phương pháp chọn tạo giống truyền thống để tạo ra những giống ngô lai tốt

Theo tác giả Trần Trung Kiên và cs (2013) [8], kết quả khảo nghiệm 3 giống ngô lai nhập nội từ Trung Quốc với giống đối chứng NK4300 trong vụ Xuân và Đông năm 2011, vụ Xuân 2012 tại một số tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc đã chọn được giống GY135 là giống triển vọng Trong thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản vụ Xuân và vụ Đông 2011, giống GY135 có năng suất đạt cao nhất và khá ổn định ở cả 2 thời vụ (82,7 tạ/ha, vụ Xuân 2011 và 67,8 tạ/ha vụ Đông 2011) Khảo nghiệm sản xuất tại 6 điểm ở 4 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Yên Bái trong vụ Đông 2011 và vụ Xuân

2012 cho thấy giống GY135 đạt năng suất 61,7 tạ/ha (vụ Đông 2011) và đạt

từ 57,8 - 73,4 tạ/ha (vụ Xuân 2012) cao hơn đối chứng NK4300 từ 101,1 - 105,5% Giống GY135 được người dân lựa chọn để mở rộng diện tích gieo trồng ở các vụ sau

Theo Nguyễn Văn Vinh và cs (2013) [21] , thí nghiệm nghiên cứu tại huyện Vị Xuyên – Hà Giang năm 2012, các giống ngô thí nghiệm có thời gian sinh trưởng biến động từ 111 - 117 ngày (vụ Xuân) và từ 99 - 101 ngày (vụ Thu Đông), thuộc nhóm sinh trưởng trung ngày, phù hợp với vụ Xuân và vụ Thu Đông tại tỉnh Hà Giang Các giống ngô tham gia thí nghiệm có các đặc điểm hình thái tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh hại khá Năng suất thực thu của các giống tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2012 biến động từ 71,41 – 90,03 tạ/ha và từ 68,08 – 92,98 tạ/ha (vụ Thu Đông) Qua 2 vụ nghiên cứu cho thấy năng suất thực thu của hai giống CP111 và NK7328 đạt cao và ổn định Giống

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NK7328 là giống có nhiều ưu việt, phù hợp với điều kiện canh tác của vùng

và được người dân chấp nhận, mong muốn mở rộng ra sản xuất

Nghiên cứu của tác giả Trần Trung Kiên và cs (2013) [6], thí nghiệm nghiên cứu được tiến hành trên 6 giống ngô lai do Viện Nghiên cứu Ngô mới chọn tạo và giống đối chứng LVN4 vụ Xuân 2012 và 2013 tại Thái Nguyên Kết quả thí nghiệm cho thấy: Thời gian sinh trưởng của các giống vụ Xuân biến động từ 109-119 ngày, đều thuộc nhóm sinh trưởng trung ngày phù hợp với công thức luân canh tại Thái Nguyên Các giống ngô thí nghiệm có chiều cao cây thấp, chiều cao đóng bắp đạt gần tối ưu, có số lá nhiều và ổn định, chỉ

số diện tích lá đạt cao; khả năng chịu đổ gãy khá Giống SB11-5 và SB12-9

có khả năng chịu hạn tốt nhất (điểm 2) ở cả hai vụ Các giống ngô lai mới chọn tạo đều bị nhiễm sâu đục thân và sâu đục bắp mức độ nặng Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm ở vụ Xuân 2012 đạt từ 49,87- 65,71 tạ/ha; vụ Xuân 2013 biến động từ 64,57 - 79,30 tạ/ha Các giống có năng suất thực thu tương đương đối chứng ở mức độ tin cậy 95% Giống SB12-6 là giống đạt năng suất thực thu cao và ổn định ở cả 2 vụ đạt từ 65,71 - 76,94 tạ/ha

Theo tác giả Trần Trung Kiên và cs (2013) [7], nghiên cứu 8 giống ngô tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cho thấy các giống ngô tham gia thí nghiệm có thời gian sinh trưởng vụ Xuân là 111 - 115 ngày, vụ Thu Đông từ 101-104 ngày Tất cả các giống ngô thí nghiệm đều có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung ngày, thích hợp cho điều kiện tăng vụ tại Hà Giang Các giống ngô thí nghiệm có chiều cao cây thấp, chiều cao đóng bắp đạt gần tối

ưu, có số lá nhiều và ổn định, chỉ số diện tích lá đạt cao; khả năng chống chịu sâu bệnh, đổ gãy khá Giống LVN092 có khả năng chống đổ, sâu bệnh tốt nhất NSTT của các giống ngô thí nghiệm vụ Thu Đông 2012 biến động từ 61,1 - 84,1 tạ/ha Vụ Xuân 2013, NSTT của các giống biến động từ 66,8 - 87,5 tạ/ha

Mô hình trình diễn giống LVN092 cho năng suất đạt 85,4 tạ/ha cao hơn giống

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đối chứng NK4300 từ 19,8% Giống LVN092 được người dân lựa chọn để

mở rộng diện tích gieo trồng ở các vụ sau

Như vậy với ưu thế lai về năng suất, chịu thâm canh và chống chiụ tốt với điều kiện ngoại cảnh cây ngô ở Việt Nam đã có những bước tiến mới đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Qua đó càng đòi hỏi các nhà khoa học phải làm việc hết mình để tạo ra các giống ngô mới đáp ứng với

nhu cầu phát triển nông nghiệp mà "Ngô lai là nguồn động lực mới, một nhân

tố mới, một định hướng chiến lược trong chương trình nghiên cứu và phát triển ngô ở Việt Nam"

Sự phát triển sản xuất ngô ở Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học mà là mối quan tâm của cả xã hội Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách tích cực khuyến khích các nhà khoa học và hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất ngô Tháng 3 năm 2008 Chính phủ đã ban hành cho phép trồng thử nghiệm cây trồng chuyển gen tại nước ta

1.3.3 Tình hình sản xuất ngô ở Hà Giang

Tỉnh Hà Giang có diện tích tự nhiên 7.884,3 km2

và dân số 724.537

người Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai nên có nhiều khả năng phát triển nông lâm nghiệp Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 134.184 ha chiếm 17% diện tích tự nhiên Với địa hình đặc trưng là đồi núi xen kẽ với ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi dạng bát úp, nên việc canh tác nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do hệ thống tưới tiêu không thuận lợi Diện tích trồng ngô chủ yếu trên đất hai lúa vụ đông và trên đất đồi dốc

vụ xuân hè Trước năm 1995, diện tích trồng ngô chủ yếu vẫn dùng các giống thụ phấn tự do, giống địa phương có năng suất thấp Cùng với sự chuyển biến của đất nước, Hà Giang cũng mạnh dạn thay đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là thay thế các giống thụ phấn tự do bằng các giống ngô lai Do đó cho đến nay diện tích và năng suất không ngừng tăng lên Tình hình sản xuất ngô ở Hà Giang được thể hiện qua bảng 1.6

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất ngô ở Hà Giang giai đoạn 2003 – 2012

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (nghìn tấn)

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang, 2012)[2]

Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Hà Giang cũng đạt được những tiến bộ đáng kể Từ năm 2003 đến nay diện tích trồng ngô toàn tỉnh tăng từ 45,1 nghìn ha lên 52,5 nghìn ha, đạt tốc độ tăng trưởng 0,74 nghìn ha mỗi năm nhưng tốc độ tăng không đều qua các năm, có năm tăng có năm giảm Tuy nhiên, năng suất ngô của vùng này còn thấp, năm

2012 năng suất đạt tới 32,1 tạ/ha, tăng 12,6 tạ/ha so với năm 2003, nhưng vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với năng suất trung bình của cả nước, nguyên nhân chủ yếu là: Tập quán sử dụng gống địa phương năng suất thấp để sản xuất còn phổ biến, mức đầu tư cho thâm canh còn thấp, tỷ lệ sử dụng phân bón chưa cân đối, hợp lý theo quy trình kỹ thuật Thị trường giống ngô lai khan hiếm, giá giống vật tư phân bón tăng cao, thời tiết, khí hậu luôn có những biến động phức tạp, thiên tai, dịch bệnh và tình hình hạn hán, lũ lụt xảy ra liên tục và

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

kéo dài, đặc biệt từ cuối năm 2007 đầu năm 2008, xảy ra đợt rét đậm, rét hại

đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng ngô và gây thiệt hại lớn đối với nền kinh tế của tỉnh nói chung và tốc độ tăng trưởng của ngành Nông nghiệp nói riêng Do đó, để tăng sản lượng ngô của tỉnh thì tăng năng suất là vấn đề chủ đạo Để tăng năng suất, vấn đề quan trọng đầu tiên là sử dụng giống năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, đồng thời kết hợp các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất ngô

1.3.4 Định hướng nghiên cứu phát triển ngô lai trong thời gian tới của tỉnh Hà Giang

Hà Giang là một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới khó khăn nhất của

cả nước địa hình chia cắt phức tạp với nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, sản phẩm nông nghiệp chủ yếu phục

vụ nhu cầu trong tỉnh, chưa thành hàng hoá

Mục tiêu của Đại hội XV của tỉnh đến năm 2015, tổng sản lượng lương thực đạt mức 40 vạn tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 500 kg /người /năm Tập trung đầu tư, tạo bước phát triển vững chắc sản xuất nông nghiệp

và kinh tế nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực, với các giải pháp tập trung thâm canh diện tích lương thực (như lúa, ngô) Khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về lao động, đất đai, năng suất cây trồng vật nuôi Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoán tập trung, tạo thành vùng chuyên canh với quy mô lớn, gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu nâng cao giá trị sản phẩm, có thị trường ổn định Tiếp tục nghiên cứu, thí điểm các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, giá trị kinh tế cao vào sản xuất, phấn đấu tăng hệ số sử dụng đất lên 2 lần; giá trị sản phẩm/1ha canh tác đạt từ 30 triệu đồng trở lên/năm (trích theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XV, 2010)

Nhiệm vụ trọng tâm phải tập trung giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp – nông dân- nông thôn, thông qua việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết 30a của

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chính phủ; các chương trình phát triển nông thôn miền núi và đẩy mạnh thực hiện xây dựng nông thôn mới, nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân

Xuất phát từ những vấn đề trên, trên cơ sở kết quả đẩy mạnh sản xuất ngô giai đoạn 2003 – 2012, về cơ bản đã đảm bảo an ninh lương thực, vì vậy giai đoạn 2011 – 2015 và các năm tiếp theo việc thực hiện sản xuất, mở rộng diện tích ngô nói chúng và ngô hàng hóa nói riêng sẽ tạo được một bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, dần thay đổi tập quán canh tác, nâng cao hiệu quả trên diện tích canh tác và tăng thu nhập cho nông dân trong giai đoạn tới chúng ta cần:

Đẩy mạnh phát triển sản xuất ngô tạo sản phẩm hàng hoá gắn với xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, góp phần ổn định đời sống của nhân dân, người dân có thể làm giàu thông qua việc phát triển sản xuất - chế biến

và tiêu thụ sản phẩm

Gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, tạo sự gắn kết giữa 4 nhà “Nhà nông – Nhà doanh nghiệp – Nhà khoa học – Nhà nước”, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tích cực

Tập trung phát triển vùng ngô hàng hóa tại các huyện: Hoàng Su Phì, Xín Mần, Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê, Vị Xuyên, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ

Sử dụng các giống ngô hiện đang sản xuất tại địa phương như: NK4300, NK66, Bioseed 9698, DK888, KD999, C919, LVN10, LVN4 và các giống ngô thuần như Q2, ngô địa phương Ngoài những giống ngô đang được sản xuất, hàng năm cần khảo nghiệm những bộ giống có tiềm năng, năng suất cao để đưa vào sản xuất, liên kết chặt chẽ với các Viện nghiên cứu, Trung tâm của Trung ương để đưa các giống tiến bộ kĩ thuật mới vào sản xuất nhằm phát huy hiệu quả đầu tư

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tiếp tục thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư thâm canh theo quy định của tỉnh như: Chương trình 30a/2008/NQ-CP; Chương trình 135; Nghị quyết số 12/2009/NQ-H§ND của Hội đồng nhân dân tỉnh và các nguồn vốn khác; căn cứ tình hình thực tế quy định cụ thể của từng cơ chế để

áp dụng mức hỗ trợ, tập trung đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất lúa ngô theo Chỉ thị 14 của Ủy ban nhân dân tỉnh

Trong giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới, mặc dù có nhiều khó khăn và thách thức nhưng với những định hướng cụ thể và sự cố gắng nỗ lực chúng ta vẫn tin tưởng rằng cây ngô ở Hà Giang nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng sẽ ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu quan trọng hơn nữa

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu thí nghiệm

11-5, SB 11-6, SB 11-4, SB 12-11-5, SB 12-3, SB 12-2 và LVN4 có nguồn gốc từ Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi - Viện nghiên cứu ngô tạo ra, trong đó giống LVN4 được chọn làm giống đối chứng

Vụ Xuân 2013: Do trong năm 2012 Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi -Viện nghiên cứu ngô tiến hành thí nghiệm ở nhiều nơi kết quả các giống SB 11-6, SB 11-14, SB 12-5, SB 12-3 là những giống không có triển vọng và khả năng chống chịu với sâu bệnh kém hơn so với các giống trong thí nghiệm Do đó Vụ Xuân 2013 Trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống ngô Sông Bôi -Viện nghiên cứu ngô chỉ cung cấp 3 giống làm thí nghiệm gồm giống SB 099, SB 11-5, SB 12-2 và giống LVN4 được chọn làm giống đối chứng

2.2 Địa điểm, thời gian

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm so sánh giống và Mô hình trình diễn được thực hiện trên đồng ruộng của nông dân tại xã Phương Độ, thành phố Hà Giang

2.2.2 Thời gian nghiên cứu thí nghiệm

- Thí nghiệm được tiến hành trong 2 vụ

+ Vụ Xuân 2012, thời gian gieo ngày 25/2/2012

+ Vụ Xuân 2013, thời gian gieo ngày 28/2/2013

- Mô hình trình diễn tiến hành vào vụ Xuân 2013, thời gian gieo ngày 02/3/2013

Trang 35

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.3 Nội dung nghiên cứu thí nghiệm

+ Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng của các giống ngô thí nghiệm; Đánh giá tình hình sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ; Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở cả 2 vụ Xuân

+ Xây dựng mô hình thử nghiệm đối với giống có triển vọng vào vụ Xuân 2013

2.4 Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm

Sơ đồ bố trí thí nghiệm vụ Xuân 2012:

Trang 36

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vệ), khoảng cách giữa các khối 1m Trên khối các công thức thí nghiệm được gieo liên tiếp nhau

Sơ đồ bố trí thí nghiệm vụ Xuân 2013

- Đất được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại, đảm bảo độ ẩm đất lúc gieo khoảng

75 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng

- Kỹ thuật gieo: mỗi ô trồng 4 hàng, gieo sâu 4 - 5 cm, mỗi hốc gieo 2

hạt, khi ngô có 3 - 5 lá thì tỉa định cây chỉ để mỗi hốc 1 cây

+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và phân lân + 1/4 lượng đạm

+ Bón thúc lần 1 khi ngô 3 - 4 lá: 1/4 lượng đạm + 1/2 lượng Kali + Bón thúc lần 2 khi ngô 6 - 7 lá: 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng Kali

Trang 37

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Chăm sóc:

- Khi ngô 3 - 4 lá: Xới nhẹ quanh gốc kết hợp với bón thúc lần 1

- Khi ngô 6 - 7 lá: Xới xáo diệt cỏ dại kết hợp bón thúc lần 2 và vun cao chống đổ

- Tưới nước: Nếu hạn tưới nước, đảm bảo cho đất đủ ẩm (khoảng 70 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng) ở 3 thời kỳ:

+ Khi ngô 6 - 7 lá

+ Khi ngô xoáy nõn (trước trỗ cờ 10 - 12 ngày)

+ Khi ngô thụ phấn xong - chín sữa (sau ngô trỗ cờ từ 10 - 15 ngày)

- Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh khi đến ngưỡng phòng trừ

theo hướng dẫn chung của ngành Bảo vệ thực vật

- Thu hoạch: thu hoạch khi ngô chín sinh lý (khi chân hạt có vết sẹo

đen hoặc 75% số cây có lá bi khô)

2.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

- Áp dụng quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và

sử dụng của giống ngô: (QCVN 01-56: 2011/BNN&PTNT) [1]

* Chỉ tiêu sinh trưởng của các giống ngô

- Ngày gieo là ngày bắt đầu gieo hạt

- Ngày mọc: Là ngày có trên 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất (mũi chông)

- Ngày trỗ cờ: Là ngày có trên 50% số cây có hoa nở ở 1/3 trục chính (quan sát đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô)

- Ngày phun râu: Là ngày có trên 50% số cây có râu nhú dài từ 2-3cm (quan sát đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô)

- Ngày chín: Ngày có trên 75% cây có lá bi khô hoặc chân hạt có chấm đen (quan sát đếm 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô)

* Chỉ tiêu hình thái:

- Chiều cao cây (cm): Đo từ gốc, sát mặt đất đến đốt phân nhánh cờ đầu tiên của 10 cây ở hai hàng giữa của mỗi ô, đo ở giai đoạn chín sữa

Trang 38

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Chiều cao đóng bắp (cm): Đo từ gốc, sát mặt đất đến đốt đóng bắp trên cùng (bắp thứ nhất) của 10 cây ở hai hàng giữa của mỗi ô, đo vào giai đoạn chín sữa

- Trạng thái cây: Quan sát đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, độ đồng đều về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, chống đổ của 10 cây ở hai hàng giữa của mỗi ô vào giai đoạn bắp bắt đầu chín sáp theo thang điểm:

+ Điểm 1: Rất kín lá bi kín đầu bắp và vượt khỏi bắp

+ Điểm 2: Kín lá bi bao kín đầu bắp

+ Điểm 3: Hơi hở lá bao không chặt đầu bắp

+ Điểm 4: Hở lá bi không che kín bắp để hở đầu bắp

+ Điểm 5: Rất hở báo bắp rất kém đầu bắp hở nhiều

- Số lá: Đếm tổng số lá trong thời gian sinh trưởng Để xác định chính xác dùng phương pháp đánh dấu lá

- Chỉ số diện tích lá: Đo toàn bộ số lá xanh trên cây ở thời kỳ trỗ cờ + Phương pháp tiến hành: Tiến hành đo chiều rộng, dài, của các lá trên

10 cây mẫu/ô vào giai đoạn trỗ cờ, sau đó áp dụng công thức:

Diện tích lá (m2) = Dài x Rộng x 0,75

Chỉ số diện tích lá (m2

lá/m2 đất) = Diện tích lá/ cây x số cây/m2

- Chống chịu với một số sâu bệnh hại chính:

Trang 39

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Sâu đục thân: Đánh giá toàn bộ số cây ở hai hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại, đánh giá ở giai đoạn chín sáp Tính tỷ lệ % số cây bị sâu, rồi đánh giá theo thang điểm

Điểm 1: < 5% số cây bị sâu

Điểm 2: 5 - < 15% số cây bị sâu

Điểm 3: 15 - < 25% số cây bị sâu

Điểm 4: 25 - < 35% số cây bị sâu

Điểm 5: 35 - < 50% số cây bị sâu

+ Sâu ăn lá: Đánh giá theo thang điểm từ 1 – 5 Đánh giá toàn bộ số cây

ở hai hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại, đánh giá ở giai đoạn chín sữa và chín sáp Đánh giá theo thang điểm

Điểm 1: Không bị sâu hại

Điểm 2: Lớn hơn 5-15% cây bị hại

Điểm 3: Lớn hơn 15-30% cây bị hại

Điểm 4: Lớn hơn 30-50% cây bị hại

Điểm 5: Lớn hơn 50% cây bị hại

+ Rệp hại cờ: Đánh giá toàn bộ số cây ở hai hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại, đánh giá ở giai đoạn chín sữa và chín sáp Đánh giá theo thang điểm

Điểm 1: Không có rệp

Điểm 2: Rất nhẹ có từ một đến một quần tụ rệp trên lá, cờ

Điểm 3: Nhẹ xuất hiện một vài quần tụ rệp trên lá, cờ

Điểm 4: Trung bình số lượng rệp lớn không thể nhận ra các quần tụ rệp Điểm 5: Nặng số lượng rệp lớn, đông đặc, lá và cờ kín rệp

+ Bệnh đốm lá lớn: Tính tỷ lệ diện tích là bị bệnh Đánh giá toàn bộ số cây ở hai hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại, đánh giá ở giai đoạn chín sữa và chín sáp Đánh giá theo thang điểm

Điểm 0: Không bị bệnh

Trang 40

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Điểm 1: Rất nhẹ (1-10%)

Điểm 2: Nhiễm nhẹ 11-25%)

Điểm 3: Nhiễm vừa ( 26-50% )

Điểm 4: Nhiễm nặng (51-75% )

Điểm 5: Nhiễm rất nặng, trên >75%

+ Bệnh khô vằn (%): Tỷ lệ cây bị bệnh (%)= số cây bị bệnh tổng số cây điều tra)x 100 Đánh giá toàn bộ số cây ở hai hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại

- Khả năng chống chịu điều kiện bất thuận: Quan sát và đánh giá toàn

bộ cây ở hai hàng giữa trên ô vào giai đoạn chín sáp hoặc sau gặp điều kiện bất thuận

+ Đổ rễ (%): Đếm các cây bị nghiêng một góc bằng hoặc lớn hơn 30 độ

so với chiều thẳng đứng của cây ở giai đoạn chín sáp

+ Đổ gãy thân (%): Đếm các cây bị gãy ở đoạn thân phía dưới bắp khi thu hoạch

Điểm 1: Tốt: < 5% cây gãy

Điểm 2: Khá: 5 – 15% cây gãy

Điểm 3: Trung bình: 15 – 30% cây gãy

Điểm 4: Kém: 30 – 50% cây gãy

Điểm 5: Rất kém: > 50% cây gãy

* Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (Đo đếm

Ngày đăng: 22/11/2014, 14:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ và lúa nước - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mỳ và lúa nước (Trang 12)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong giai đoạn 2003 - 2012 - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất ngô của thế giới trong giai đoạn 2003 - 2012 (Trang 13)
Bảng 1.4: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 1.4 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 (Trang 16)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm vụ Xuân 2012: - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm vụ Xuân 2012: (Trang 35)
Bảng 3.2: Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 3.2 Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các giống ngô thí (Trang 48)
Bảng 3.3: Số lá và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 3.3 Số lá và chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 3.5: Tình hình nhiễm sâu hại của các giống ngô thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 3.5 Tình hình nhiễm sâu hại của các giống ngô thí nghiệm (Trang 56)
Bảng 3.7: Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 3.7 Khả năng chống đổ của các giống ngô thí nghiệm (Trang 61)
Bảng 3.9: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô - luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống ngô lai tại thành phố hà giang
Bảng 3.9 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm