Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với cây hồng kh
Trang 1Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
GIANG ĐỨC HIỆP
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI CÂY HỒNG KHÔNG HẠT TRỒNG
TẠI HUYỆN YÊN MINH - TỈNH HÀ GIANG
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
Ọ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huấn
Thái Nguyên, 2013
Trang 2Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với cây hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang” là do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học
của TS.Nguyễn Thế Huấn Mọi số liệu trong luận văn là trung thực và chưa
được sử dụng bảo vệ bất cứ một công trình khoa học nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Giang Đức Hiệp
Trang 3Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, Khoa Nông học, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn TS Nguyễn Thế Huấn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Cục Thống kê tỉnh Hà Giang, Đài Khí tượng thuỷ văn tỉnh Hà Giang, Trạm Khí tượng huyện Bắc Mê, UBND huyện Yên Minh, Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật, UBND Thị trấn Yên Minh huyện Yên Minh, gia đình ông Lục Tiến Văn và các hộ gia đình xóm Bục Bản thị trấn Yên Minh đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình theo dõi thu thập
số liệu cho bản luận văn
Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 20 tháng 9 năm 2013
Tác giả
Giang Đức Hiệp
Trang 4Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 5Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích của đề tài 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh học cây hồng 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 7
1.2.1 Nguồn gốc và phân bố 7
1.2.2 Phân loại hồng 7
1.2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
1.2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
1.3 Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây hồng 22
1.3.1 Đặc điểm sinh vật học của cây hồng 22
1.3.1.1 Đặc điểm thân, cành hồng 22
1.3.1.2 Đặc điểm lá 24
1.3.1.3 Đặc điểm rụng hoa, rụng quả 24
1.3.1.4 Đặc điểm quả 26
1.3.1.5 Đặc điểm của rễ và hệ rễ 27
1.3.2 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây hồng 28
1.3.2.1 Nhiệt độ 28
1.3.2.2 Mưa và ẩm độ 29
1.3.2.3 Ánh sáng 31
1.3.2.4 Đất đai 31
1.4 Những nghiên cứu về vai trò của chất điều hòa sinh trưởng 32
1.4.1 Vai trò sinh lý của chất điều hòa sinh trưởng 32
1.4.1.1 Phân loại các chất điều hòa sinh trưởng 33
1.4.1.2 Vai trò sinh lý của gibberellin 33
1.4.2 Một số ứng dụng của gibberellin (GA3) đối với cây ăn quả 34
1.5 Hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất hồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang 35
1.5.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội vùng nghiên cứu 35
Trang 6Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.5.1.1 Vị trí địa lý 35
1.5.1.2 Điều kiện khí hậu thời tiết 36
1.5.1.3 Điều kiện đất đai 40
1.5.1.4 Điều kiện xã hội 41
1.5.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả và cây hồng tại huyện Yên Minh 42
1.5.2.1 Tình hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc 44
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 46
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 46
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 46
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 46
2.2 Nội dung nghiên cứu 46
2.3 Phương pháp nghiên cứu 46
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, tình hình sản xuất cây ăn quả và cây hồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang 46
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học 47
2.3.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất giống hồng không hạt tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang 48
2.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 49
2.4.1.Theo dõi đặc điểm sinh học của giống hồng Yên Minh 49
2.4.2 Nghiên cứu các giai đoạn ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng quả 50
2.4.3 Các chỉ tiêu về chất lượng quả 51
2.4.4 Các chỉ tiêu về sâu bệnh 51
2.5 Phương pháp xử lý số liệu và tính toán 52
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở giống hồng Yên Minh 53
3.1.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái cây của giống hồng Yên Minh 53
3.1.2 Tỷ lệ các loại cành của giống hồng không hạt Yên Minh 54
3.1.4 Đặc điểm hình thái lá giống hồng không hạt Yên Minh 56
3.1.5 Đặc điểm ra hoa giống hồng không hạt Yên Minh 56
3.1.6 Đặc điểm hình thái quả hồng không hạt Yên Minh 57
3.1.7 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của giống hồng không hạt Yên Minh 57
3.1.8 Các chỉ tiêu về thành phần sâu, bệnh hại chính đối với cây hồng Yên Minh 58
3.1.8.1 Về sâu hại 58
3.1.8.2 Về bệnh hại chính 59
3.2 Ảnh hưởng của một số biện pháp kĩ thuật đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng hồng Yên Minh 60
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất, phẩm chất giống hồng không hạt Yên Minh 60
3.2.1.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa của giống hồng không hạt Yên Minh 60
Trang 7Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.1.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tỷ lệ đậu quả của giống hồng không hạt
tại Yên Minh 61 3.2.1.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tỷ lệ rụng quả giống hồng không hạt tại
Yên Minh 62 3.2.1.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến chất lượng quả giống hồng không hạt
tại Yên Minh 63 3.2.1.5 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất giống hồng không hạt tại
Yên Minh 64 3.2.1.6 Hạch toán hiệu quả kinh tế khi áp dụng biện pháp cắt tỉa giống hồng không
hạt tại Yên Minh 65
Để xác định được hiệu quả kinh tế khi áp dụng các biện pháp cắt tỉa đối với giống
hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh ta có kết quả sau: 65 3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua
lá đến năng suất, phẩm chất giống hồng không hạt Yên Minh 67 3.2.2.1 Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến
khả năng ra hoa của giống hồng không hạt Yên Minh 67 3.2.2.2 Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến tỷ
lệ đậu quả của giống hồng không hạt tại Yên Minh 68 3.2.2.3 Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến tỷ
lệ rụng quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 69 3.2.2.4 Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến
chất lượng quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 70 3.2.2.5 Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến
năng suất giống hồng không hạt tại Yên Minh 71 3.2.2.6 Hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức phun GA3 kết hợp với một số
phân bón dinh dưỡng qua lá 72 3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá
đến năng suất, phẩm chất giống hồng không hạt Yên Minh 75 3.2.3.1 Ảnh hưởng của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến khả
năng ra hoa của giống hồng không hạt Yên Minh 75 3.2.3.2 Ảnh hưởng của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến tỷ lệ
đậu quả của giống hồng không hạt tại Yên Minh 76 3.2.3.3 Ảnh hưởng của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến tỷ lệ
rụng quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 77 3.2.3.4 Ảnh hưởng của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến chất
lượng quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 78 3.2.3.5 Ảnh hưởng của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đến năng
suất giống hồng không hạt tại Yên Minh 79 3.2.3.6 Hiệu quả kinh tế của sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và phân bón lá đối
với giống hồng không hạt tại Yên Minh 81
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
1 Kết luận 85
Trang 8Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2 Đề nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 9Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 10Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất hồng trên thế giới năm 2002 12
Bảng 1.2: Sự phân bố và sử dụng các loài hồng thuộc chi Diospyros 12
Bảng 1.3: Diện tích, sản lượng hồng ở miền Bắc Việt Nam 14
Bảng 1.4: Diện tích hồng của một số tỉnh năm 2004 15
Bảng 1.5: Diện tích và vùng trồng phổ biến các giống hồng 15
Bảng 1.6: Một số yếu tố thời tiết, khí hậu vùng nghiên cứu 37
Bảng 1.7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Minh 40
Bảng 1.8: Diễn biến DT, NS, SL một số cây ăn quả chính năm 2010-2012 huyện Yên Minh 42
Bảng 1.9: Diện tích, cấp độ tuổi cây hồng tại Thị trấn Yên Minh năm 2012 43
Bảng 1.10: Cơ cấu các giống hồng hiện đang được trồng tại huyện Yên Minh 44
Bảng 1.11: Kết quả điều tra số hộ, tỷ lệ hộ áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc hồng 44
Bảng 3.1: Một số yếu tố thời tiết, khí hậu vùng nghiên cứu 53
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Yên Minh 54
Bảng 3.3: Diễn biến DT, NS, SL một số cây ăn quả chính năm 2010-2012 55
Bảng 3.4: Diện tích, cấp độ tuổi cây hồng tại Thị trấn Yên Minh năm 2012 56
Bảng 3.5: Cơ cấu các giống hồng hiện đang được trồng tại huyện Yên Minh 57
Bảng 3.6: Kết quả điều tra số hộ, tỷ lệ hộ áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc hồng 57
Bảng 3.7: Đặc điểm hình thái cây giống hồng Yên Minh 58
Bảng 3.8: Đặc điểm hình thái lá giống hồng Yên Minh ở tuổi 10 59
Bảng 3.9: Đặc điểm hình thái quả hồng Yên Minh 60
Trang 11Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.10: Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc trong năm 61
Bảng 3.11: Tỷ lệ các loại cành của giống hồng không hạt Yên Minh 62
Bảng 3.12: Tỷ lệ các loại hoa của giống hồng không hạt Yên Minh 63
Bảng 3.13 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài sâu hại 64
Bảng 3.14: Thành phần và mức độ phổ biến của các loài bệnh hại 67
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa 68
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến tỷ lệ đậu quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 69
Bảng 3.17 : Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến động thái rụng quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 70
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến chất lượng giống hồng không hạt tại Yên Minh 71
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất giống hồng không hạt tại Yên Minh 75
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa 76
Bảng 3.21: Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến tỷ lệ đậu quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 77 Bảng 3.22: Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến động thái rụng quả giống hồng không hạt tại Yên Minh 78
Bảng 3.23: Ảnh hưởng của GA3 kết hợp với một số phân bón dinh dưỡng qua lá đến chất lượng giống hồng không hạt tại Yên Minh 80
Trang 12Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Đồ thị diễn biến khí hậu, thời tiết trung bình 10 năm vùng
Yên Minh 38 Hình 3.1: Đồ thị ảnh hưởng của kỹ thuật cắt tỉa đến năng suất
vườn hồng 65 Hình 3.2: Ảnh hưởng của GA3 và phân bón lá đến năng suất giống
hồng không hạt Yên Minh 72 Hình 3.3: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống hồng
không hạt tại Yên Minh 81
Trang 13Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây hồng (Diospyrotyyus Kaki L), thuộc họ thị (Ebenaceae) là một
trong những loại cây ăn quả quan trọng nhất của các nước Châu Á thuộc miền ôn đới như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… Người Mỹ gọi hồng
là mỹ phẩm phương Đông (Oriental delicacy) và đã nhập vào trồng từ năm
1852 Người châu Âu đánh giá quả hồng khá cao, chỉ sau đào, lê, táo tây, bơ,
ở châu Âu hồng được trồng nhiều ở vùng Địa Trung Hải [22]
Ở Việt Nam hồng được coi là một trong những loại quả quý vì có mã quả đẹp, vị ngọt, không chua nên rất hợp với khẩu vị của người á đông Cây hồng được đánh giá rất cao vì một số lý do sau:
Hồng không chỉ nổi tiếng là loại quả chứa nhiều đường 12-16%, trong đó chủ yếu là đường glucoza và fructo, vì thế hồng thuộc loại quả ăn kiêng Lượng axit 0,1% (ít khi tới 0,2%) Trong 100g thịt quả chín (phần ăn được) chứa 16 mg vitamin C, 0,16 mg caroten; Ngoài ra còn Vitamin PP; B1,
B2,…các hợp chất hữu cơ, sắt và chất chát (tanin) có 0,25 - 0,4% Quả ăn ngon, lành, ngay cả người ốm, người già, người đau dạ dày đều ăn được Mặt khác, ăn hồng còn có tác dụng giảm đau ruột, hạ huyết áp [22]
Huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang có giống hồng không hạt (mà người dân thường gọi là giống địa phương) được coi là đặc sản vùng Đặc biệt với những người đã qua địa danh các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang đều có cơ hội thưởng thức giống hồng này Còn các địa phương khác người dân biết đến sản phẩm này không nhiều vì nó chưa được nghiên cứu và giới thiệu như các giống hồng khác thậm chí các tài liệu viết về cây hồng này cũng rất
ít
Trang 14Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mỗi một giống hồng đều có những hương vị và đặc tính riêng biệt, đối với giống hồng không hạt Yên Minh, khi chín ăn có mùi thơm, vị ngọt, thịt giòn , sản phẩm hồng không hạt Yên Minh không thua kém gì các sản phẩm hồng khác có bán trên thị trường Việt Nam Nhưng do vị trí địa lý, kinh tế, xã hội, tập quán canh tác Đặc biệt là giao thông và thông tin thị trường đã làm hạn chế rất nhiều đến sự phát triển của cây hồng Các yếu tố
kể trên đã làm cho hồng không hạt Yên Minh còn ít người biết đến
Giống hồng không hạt Yên Minh quả chín vào đúng dịp tết trung thu hàng năm (đáp ứng nhu cầu thị trường ngày rằm tháng tám) và có thời gian thu hoạch bảo quản tương đối dài, quả ăn giòn, ngọt dịu Mặc dù, hồng không hạt được coi là cây đặc sản của địa phương nhưng hiện nay do người dân chưa đầu tư thời gian, nhân lực, vật lực để phát triển mặc dù giống hồng không hạt Yên Minh hiện nay đang được thị trường rất ưa chuộng
Tại địa phương, tập quán của người dân trồng hồng chủ yếu là quảng canh, tự phát nên cây hồng phát triển bị hạn chế dẫn đến chất lượng, sản lượng đang có xu hướng giảm Với mong muốn phát triển cây hồng thành vùng sản xuất hàng hoá, đáp ứng thị trường người tiêu dùng và phát huy lợi thế của vùng để tăng thu nhập cho người dân thì việc nghiên cứu và áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý để phát triển cây hồng Yên Minh trở thành cây hàng hoá, góp phần vào nâng cao thu nhập của người dân địa phương là rất cần thiết Xuất phát từ những vấn đề đặt ra ở trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với cây hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang"
Trang 15Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra hiện trạng sản xuất giống hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang
- Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang
- Thử nghiệm ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến sự
ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng quả hồng không hạt trồng tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang
Trang 16Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm sinh học cây hồng
Cây hồng là cây ăn quả quý không chỉ đem lại thu nhập cao mà còn
có giá trị tạo cảnh quan và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững Phát triển cây hồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và góp phần trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Cây hồng không phải là cây thường xanh mà cần có một thời gian ngừng sinh trưởng Thời kỳ này cây rụng toàn bộ lá để chuẩn bị cho thời kỳ phát lộc, ra hoa Hồng ra lộc vào mùa xuân khi tiết trời đã có mưa và ấm hơn Lộc ra cùng với hoa…Chính vì vậy, khi hiểu biết rõ các đặc điểm sinh học ở hồng sẽ có các biện pháp kỹ thuật hợp lý điều khiển quá trình ra lộc,
ra hoa, đậu quả, hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng hồng [22], [26], [13], [14], [15]
Thực tiễn cho thấy, năng suất quả hồng không ổn định do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, trình độ thâm canh…
Do vậy, nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cây hồng giúp ta hiểu biết sâu sắc hơn, từ đó làm tiền đề xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh
Để nâng cao năng suất và chất lượng quả hồng thì ngoài các yếu tố nội tại và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, thời tiết, giống tốt… thì việc nghiên cứu quy luật ra cành, ra hoa, đậu quả, mối liên
hệ giữa các đợt lộc, mối liên hệ giữa cành mẹ và cành quả… là rất cần thiết,
từ đó có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc, bồi dưỡng cành mẹ, cành quả… tạo điều kiện tốt nhất cho việc tăng năng suất,
Trang 17Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chất lượng quả hồng Đồng thời, góp thêm hiểu biết cơ bản trong việc xây dựng hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh
Mặt khác, chưa có những nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học cây hồng nói chung và hồng Yên Minh nói riêng, do đó đi sâu nghiên cứu nội dung này là rất cần thiết
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng
Chất điều hoà sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hoá học quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển của cây Chúng có nhiều ứng dụng như kích thích nhanh sự sinh trưởng của cây, điều khiển sự ngủ nghỉ của hạt và củ, điều khiển sự ra hoa và giới tính của hoa, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt, điều khiển sự chín của quả, ngăn chặn sự rụng lá, hoa, quả, tăng khả năng chống chịu của cây trồng…(Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 1994 [6]; Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch,
1996 [5]) Các chất điều hoà sinh trưởng có chức năng điều chỉnh sự hình thành các cơ quan sinh sản và các cơ quan dự trữ hormon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc xử lý các chất điều hoà sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau, con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất sản phẩm nông nghiệp [16], [12], [4], [5], [6] Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh Hợp tử phát triển thành phôi Phôi sinh trưởng là trung tâm sản sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và Gibberellin Các chất này khuếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của bầu thành quả Vì vậy nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng [12], [4], [5], [6], [8]
Trong những năm gần đây người ta thấy rằng một số chất điều hoà sinh trưởng (auxin, gibberellin) có khả năng hạn chế sự rụng hoa, rụng quả, tăng cường sự sinh trưởng làm tăng kích thước quả, tăng cường sự vận
Trang 18Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chuyển vật chất về cơ quan có giá trị kinh tế nhờ vậy mà làm tăng hệ số kinh tế, tăng năng suất kinh tế và phẩm chất cây trồng [4], [5] Nếu chúng ta
sử dụng auxin và gibberellin ngoại sinh cho hoa trước thụ phấn, thụ tinh thì chúng có thể thay thế được nguồn phytohormon nội sinh từ phôi và quả sẽ được hình thành, nhưng không qua thụ tinh thì quả sẽ không có hạt Việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng làm tăng sự đậu quả và tạo quả không hạt được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả cao trong sản xuất với các đối tượng: Nho, bầu bí, cà chua, táo… [4], [5], [8], [9] [10] Phạm Văn Côn (2004) [16] cho rằng: Khi phun NAA nồng độ 10ppm và GA3 nồng độ 30ppm vào thời kỳ sau hoa nở rộ có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng hoa, quả rõ rệt đặc biệt là GA3 Theo Lưu Vinh Quang (1995) [11]: Ở cây hồng tỷ lệ đậu quả khá cao nhưng tỷ lệ rụng quả cũng tương đối lớn Chính vì vậy mà trong thực tế sản xuất, sản lượng hồng thu hoạch được còn chưa cao, và không ổn định Điều này xảy ra còn do các yếu tố như: Giống, khí hậu, kỹ thuật canh tác, mức đầu tư sản xuất… Tỷ lệ rụng quả cao nhất có thể tới 70%, trong đó giống hồng vuông có tỷ lệ rụng cao nhất (Lưu Vinh Quang, 1995 [11]) Có đến 97% tỷ lệ rụng quả là do rụng sinh lý Rụng quả sinh lý bao gồm: Quả không thụ tinh, hoa nở muộn, thiếu nắng, mất cân đối về dinh dưỡng, mất cân đối về chất điều hoà sinh trưởng Để khắc phục nguyên nhân này có thể dùng một số chất điều hoà sinh trưởng phun lên cây trong những giai đoạn nhất định nhằm giảm tỷ lệ rụng quả Phun chất điều hoà sinh trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, mà còn làm chậm việc hình thành tầng rời, bảo đảm cho việc vận chuyển các chất dinh dưỡng vào nuôi quả, do đó giảm được tỷ lệ rụng quả Lê Văn Tri [8], [9], [10]
Như vậy, việc nghiên cứu phun chất điều hoà sinh trưởng cho cây hồng làm tăng tỷ lệ đậu quả và tăng năng suất thu hoạch là rất cần thiết trong điều kiện hiện nay
Trang 19Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.2.1 Nguồn gốc và phân bố
Cây hồng có nguồn gốc từ Trung Quốc (nguyên sản ở lưu vực sông Trường Giang), phân bố tự nhiên từ 32o
- 37o vĩ độ Bắc [23], [24], [1] Loài
được trồng phổ biến nhất hiện nay là hồng Phương Đông (Diospyros kaki T),
có nơi gọi là “hồng Á nhiệt đới” hay “hồng Nhật Bản”, chi Diospyros bao
gồm gần 200 loài thân gỗ, ở Nhật Bản người ta gặp hơn 40 loài, ở Trung Quốc 30 loài [22], [26], [13] Theo một số tác giả: Khi nghiên cứu về nguồn gốc cây hồng phương đông đều cho rằng một số nhóm hồng thuộc loài hồng
dại Diospyros kaki tồn tại trong những khu rừng của Trung Quốc Tài liệu
về cây hồng xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5, 6 [29], [35], [45] Trên thế giới hồng được trồng nhiều nhất ở Trung Quốc, khắp lãnh thổ đều trồng được hồng [23], [24], [25] Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng quanh Địa Trung Hải và đưa sang trồng ở Mỹ từ năm 1852, được nhập vào châu Âu năm 1789 [14], [15], [16], [23], [24] Tại Việt Nam chưa
có công trình nghiên cứu nào xác định rõ nguồn gốc và xuất xứ của cây hồng, nhưng cây hồng đã được trồng nhiều ở các tỉnh từ Bắc Trung Bộ trở
ra và nhiều nhất ở miền Bắc Ở Nam Trung Bộ hồng được trồng ở Đà Lạt
do có khí hậu mát và lạnh về mùa đông giúp cây hồng có giai đoạn ngủ nghỉ như ở các vùng á nhiệt đới khác Miền Bắc hiện có rất nhiều giống hồng quý và mang tên khác nhau theo từng địa phương Như vậy, mặc dù có nguồn gốc ở Trung Quốc nhưng cây hồng đã được di thực và trồng ở nhiều nơi trên thế giới Điều đó chứng tỏ, cây hồng có khả năng thích ứng khá tốt với điều kiện khí hậu ở nhiều vùng khác nhau
1.2.2 Phân loại hồng
Cây hồng (Diospyros) thuộc bộ thị (Ebenales), họ thị (Ebenaceae), phân lớp sổ (Dilleniaceae), thuộc lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae), ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) [22], [11] Theo Yung Kyung Choi, Jung
Ho Kim (1972) [27] trích dẫn kết quả nghiên cứu của các nhà phân loại học
Trang 20Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhật Bản cho biết: Hiện nay có 800 - 1000 loài hồng và chỉ có 4 loài được
trồng để lấy quả đó là: Diospyros Kaki Linn, Diospyros Lotus Linn,
Diospyros Oleifera Cheng, Diospyros Virginiana Linn [2] Chi Diospyros
gồm 400 loài, chủ yếu phân bố ở vùng á nhiệt đới châu Á, châu Âu và Nam
Mỹ, một số loài trong đó có hồng phương đông phân bố rộng trên các vùng
ôn đới [19], [39], [44] Cây hồng (Diospyros kaki Linn) được trồng rộng rãi
ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số vùng khí hậu ôn hoà và cận nhiệt đới như: California (Mỹ), Italia, Israen, Braxin, Niudilan, Úc… có hai nhóm hồng chính là hồng chát và không chát Nhóm hồng không chát có khả năng thương mại lớn hơn (Kitagawa H., Glucina PG, 1984 [41]; Mowat
A D và cộng sự, 1994 [45]) Theo (Facciolas, 1990, [33]; Sabuco Ito, 1971,
[48]) cho biết: Chi Diospyros phổ biến ở những vùng khí hậu ấm áp châu Á
và bắc Mỹ, gồm 190 loài, trong đó chỉ có 4 loài được trồng nhiều và có giá
trị kinh tế nhất là: Diospyros Kaki Linn, Diospyros Lotus Linn, Diospyros
Oleifera Cheng, Diospyros Virginiana Linn Theo Phạm Văn Côn trích dẫn
tài liệu của Voronxov (1982), trên thế giới hiện nay đang trồng phổ biến 3
loại hồng sau [13]: Hồng dại (Diospyros lotus L), Hồng Virginiana
(Diospyros Virginiana L), Hồng Phương Đông (Diospyros kaki T)
Trong đó hồng Phương Đông được trồng phổ biến nhất ở Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Angieri, Triều Tiên, Indonesia, Philippin… Theo các nhà phân loại Nhật Bản, hồng có khoảng 190 loài thuộc họ thị
(Ebenaceae) nhưng chỉ có 4 loài được trồng để lấy quả [19], [13], đó là:
- Diospyros Kaki Thunb nguồn gốc ở Trung Quốc, quả dùng để ăn
tươi, sấy khô
- Diospyros Lotus Linn nguồn gốc ở Afganistan, quả dùng để ăn tươi,
làm gốc ghép, làm thuốc nhuộm
- Diospyros Oleifera Cheng nguồn gốc ở Trung Quốc, quả dùng để
làm thuốc nhuộm là chính
Trang 21Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Diospyros Virginiana Linn nguồn gốc ở Bắc Mỹ, quả dùng làm thuốc nhuộm Trong 4 loại kể trên thì Diospyros Kaki là loài có hiệu quả
kinh tế nhất, được trồng nhiều ở vùng Á nhiệt đới như Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam Trung Quốc, Bắc Thái Lan, Lào và Bắc Việt Nam Dựa vào sự biến đổi chất lượng quả liên quan đến độ chát sau thụ phấn, Hum, H (1914) [60] chia hồng thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm không biến đổi với sự thụ phấn: Màu thịt quả
không bị biến đổi dưới tác dụng của thụ phấn Vị chát của chúng chỉ mất đi sau khi đã chín hoàn toàn, khi đó tanin tự chuyển thành dạng tanin kết hợp Trong nhóm này cũng có những giống giữ nguyên màu sáng của quả không phụ thuộc vào sự thụ phấn, chúng không chát trong bất cứ giai đoạn nào của quả [9], [43], [47]
- Nhóm 2: Nhóm biến đổi với sự thụ phấn: Thịt quả bị sẫm màu dưới
tác động của thụ phấn Ngay sau khi thụ phấn, màu thịt quả biến thành màu nâu đen và không có vị chát ngay trong tình trạng chưa chín do tanin bị biến đổi thành dạng kết tủa (không tan) [9], [43], [47]
Theo Yung Kyung Choi, Jung Ho Kim (1972) [27] trích dẫn kết quả nghiên cứu cho biết: Mori (1953) chia hồng thành 4 nhóm là:
- Nhóm 1: Nhóm PCNA (Pollination Constant Non Astrigent):
Những giống không chát và không biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Fuji, Jiro, Gosh, Sutuga, thịt quả thường có những đốm tanin sẫm
- Nhóm 2: Nhóm PVNA (Pollination Variant Non Astrigent): Những
giống không chát và biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anhya kime, thịt quả có những đốm tanin sẫm và khi không hạt thì thịt quả có vị chát
- Nhóm 3: Nhóm PCA (Pollination Constant Astrigent): Những giống
chát không biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Yokomo, Yotsumizo,
Trang 22Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Shakokashi, Hagakushi, Hachiya, Ghionbo, thịt quả không có những đốm tanin sẫm
- Nhóm 4: Nhóm PVA (Pollination Variant Astrigent): Những giống
chát biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Azumi shirazu, Emon, Koshuhya, Hiratanenashi, có thể chát khi được thụ phấn và có một vài đốm sẫm xung quanh hạt
Việc phân loại hồng cho đến nay chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ, chi tiết Từ năm 1990 ở Việt Nam đã có một số công trình điều tra về cây hồng cho thấy có 3 loài sau:
- Hồng lông (hồng trâu) (Diospyros tonkinensis L): Lá to nhiều lông,
cây sinh trưởng rất khoẻ, phân tầng nhiều tán, quả to, tròn, dài hoặc hơi dẹt, đáy vuông, khi còn xanh vỏ quả có nhiều lông tơ màu xanh, nhiều chất nhờn
và chấm đen Khi chín, lông rụng đi, màu quả chuyển sang màu vàng bẩn,
ăn nhạt, hạt to và nhiều, thịt quả hôi, phẩm chất kém [22], [26], [13]
- Hồng cậy (Diospyros Lotus): Là giống quả nhỏ (10-15g), nhiều hạt,
thường là 6 hạt, mẩy chắc, chát Nhân dân thường lấy quả để nhuộm vải, lưới, giấy làm quạt… cây sinh trưởng rất khoẻ, sai quả song ít có giá trị kinh
tế [22], [26], [13]
- Hồng trơn (lá nhẵn) (Diospyros Kaki T): Được trồng nhiều ở các
tỉnh phía Bắc và vùng Đà Lạt (Lâm Đồng) Thân cây trung bình, có màu nâu, góc phân cành hẹp Tán cây hình tròn hoặc hình tháp Lá bầu dục hoặc hình elip, có màu xanh sẫm phía trên và màu xanh nhạt phía dưới lá Trọng lượng quả rất khác nhau phụ thuộc vào từng giống Các giống hồng Thạch
Hà, Nhân Hậu có trọng lượng quả lớn hơn giống hồng Bắc Kạn, Lục Yên Khi chín quả có màu vàng hoặc đỏ son rất hấp dẫn [22], [26], [13]
Trang 23Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cây hồng (Diospyros kaki T) bao gồm gần 200 loài thân gỗ, ở Nhật
Bản người ta gặp hơn 40 loài, ở Trung Quốc 30 loài [22], [26], [13] Trung Quốc là nước trồng nhiều hồng nhất trên thế giới, ở đây có nhiều giống hồng ngon, cây sinh trưởng phát triển rất thuận lợi Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng quanh Địa Trung Hải và đưa sang trồng ở Mỹ từ năm
1852, được nhập vào châu Âu năm 1789 [22], [26], [13], [14], [15], [16]
Theo tác giả Morton (1987) [44]: Hồng được trồng đầu tiên ở Trung Quốc, sau đó mới du nhập vào Nhật Bản, Triều Tiên… Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 19, hồng mới được du nhập vào Mỹ, Úc, Palestine, Ý, Pháp, Nga, Braxin và Mexico Trên thế giới hiện nay đang trồng phổ biến 3 loại hồng:
Hồng dại (Diospyros lotus L), hồng Virginiana (Diospyros Virginiana L), hồng Phương Đông (Diospyros kaki T) Trong đó loại hồng Phương Đông
được trồng phổ biến nhất: Cây sinh trưởng nhanh, rụng lá vào mùa đông, trong điều kiện khí hậu thuận lợi cây cao từ 12 - 15m, tán cây loà xoà, thoáng, đôi khi hình tháp, lá to hình elip, nhọn về phía ngọn, mặt trên nhẵn bóng Hoa đơn tính hay lưỡng tính, hoa cái mọc đơn, màu vàng trắng có đài
xẻ 4, hoa đực và hoa lưỡng tính thường phân bố thành chùm 2 - 3 hoa trên cành mảnh khảnh sinh trưởng trong năm đó Cây có thể đơn tính cùng gốc hay khác gốc, quả là loại quả mọng to [22], [26], [13] Do có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao so với một số loại cây ăn quả khác nên hồng không chỉ được chú trọng trồng ở châu Á mà ở châu Âu nhất là vùng Địa Trung Hải trồng khá nhiều hồng Trong các nước trồng nhiều hồng trên thế giới, Trung Quốc là nước có diện tích và sản lượng lớn nhất (74.000 ha và
655.000 tấn), sau đó là Nhật Bản, Italia…(bảng 1.1) Theo tác giả Đào
Thanh Vân (2002) [31]: Ở Hàn Quốc hồng là một trong những cây ăn quả quan trọng đang được chú ý phát triển, chỉ sau 5 năm sản lượng hồng của Hàn Quốc đã tăng gần gấp đôi (từ 167.671 tấn năm 1994 lên 273.846 tấn
Trang 24Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
năm 1999) Cây hồng cũng như các loại cây ăn quả khác, mỗi loài có khả năng thích ứng với những vùng sinh thái khác nhau Các loài trong chi
Diospyros được phân bố khá rộng rãi trên thế giới nhưng tập trung chủ yếu
ở châu Á và Bắc Mỹ Tuỳ thuộc vào đặc tính của từng loài mà chúng được
sử dụng theo những hướng khác nhau
Bảng 1.1: Thực trạng sản xuất hồng trên thế giới năm 2011
Diospyros kaki Linn Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Việt Nam Ăn tươi và chế biến Diospyros lotus Linn Châu Á Sản xuất tanin, làm gốc
ghép Diospyros virginiana Linn Bắc châu Mỹ Ăn tươi, làm gốc ghép Diospyros oleifera Cheng Trung Quốc Sản xuất tanin
Dẫn theo Đào Thanh Vân [31]
Quả hồng chủ yếu được dùng để ăn tươi và được tiêu thụ chủ yếu ở các nước châu Á Ở Trung Quốc và Nhật Bản quả hồng là một trong những món
Trang 25Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tráng miệng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày Sản phẩm hồng khô chế biến được sản xuất nhiều ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên… Ngoài ra các sản phẩm chế biến từ hồng cũng được tiêu thụ mạnh ở thị trường châu Âu Đã
có ý kiến cho rằng trồng hồng khó xuất khẩu và người phương Tây không thích
ăn hồng, nhưng thực ra người châu Âu ở vùng Địa Trung Hải đã quen với cây hồng và cho rằng quả hồng chín rất ngọt, hương vị đậm đà và có tập quán dùng thìa ăn hồng khi quả đã chín nhũn Phạm Văn Côn [22], [26], [13], Vũ Công Hậu [23], [24] Người Mỹ chưa biết cách ăn hồng, do vậy ở thị trường này hồng không phát triển được Ông N.Childers đã đề nghị quảng cáo hồng như sau: “Hồng, một
mỹ phẩm của phương Đông Để cho quả chín nhũn rồi ăn với kem, lúc đó quả sẽ
có hương vị tuyệt diệu” [23], [24] Hiện tại ở châu Á, hồng được trồng nhiều ở các quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam…
1.2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam chưa xác định được nguồn gốc và xuất xứ của cây hồng, tuy nhiên hiện nay hồng được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và vùng cao của miền Nam như Đà Lạt Theo Yung Kyung Choi, Jung Ho Kim (1972) [27] cây hồng được trồng từ rất lâu đời ở Việt Nam Đây là một trong những cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bởi khả năng thích ứng rộng với các vùng sinh thái, năng suất cao và ổn định, chất lượng quả tốt, hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với khẩu vị của người phương đông
Tổ chức FAO năm 2004 đã thống kê và cho thấy: Tính từ Thừa Thiên Huế trở ra, Việt Nam có 4.125 ha hồng các loại và mỗi vùng có những giống đặc sản riêng, sản lượng khoảng 8.978 tấn
Trang 26Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.3: Diện tích, sản lượng hồng ở miền Bắc Việt Nam năm 2004
(ha)
Sản lƣợng (tấn)
Trang 27Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.4: Diện tích hồng của một số tỉnh năm 2004
(ha)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ
1 Thạch Thất 1.656,0 34,30 Hoà Bình, Thái Nguyên
2 Nhân hậu 1.780,0 36,87 Bắc Giang, Hà Nam, Quảng Ninh
3 Lạng Sơn 827,0 17,13 Thái Nguyên, Tuyên Quang
4 Việt Cường 450,0 9,23 Lạng Sơn, Bắc kạn, Cao Bằng
5 Không hạt Bắc Kạn 114,7 2,38 Bắc Kạn
Nguồn: Giáo trình cây ăn quả [18]
Trần Như Ý, Nguyễn Đức Lương, Hoàng Ngọc Đường, Đào Thanh Vân [18] đã điều tra vùng Đông Bắc Việt Bắc và thu thập được 25 mẫu giống hồng khác nhau, phân làm 2 nhóm: Nhóm chín sớm (tháng 9 - 10) và nhóm chín muộn (tháng 12 - 1) Trong mỗi nhóm lại chia thành 2 nhóm phụ
là hồng giấm và hồng ngâm Nhiều tác giả điều tra, nghiên cứu về cây hồng
Trang 28Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đều thống nhất ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều các vùng trồng hồng và mỗi vùng đều có những giống hồng ngon và nổi tiếng (Phạm Văn Côn,
1995 [13]; Vũ Công Hậu, 1980 [23]; Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình,
2003 [3]) Theo Phạm Văn Côn (2004) [16] ở Việt Nam hiện có các vùng trồng hồng chính sau:
* Vùng Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng:
Đà Lạt là một thành phố du lịch nổi tiếng, nằm ở Nam Tây Nguyên,
độ cao trung bình 1.500 m so với mặt nước biển và được bao quanh bởi các dãy núi cao, nên tuy nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thì khí hậu Đà Lạt vẫn mang những nét riêng của vùng cao: nhiệt độ thấp, tương đối ôn hoà,
thích hợp với các loại cây trồng á nhiệt đới
- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 17,5 - 18,2oC Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng là 3,9oC
- Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu giữa tháng 4 đến tháng 5, thường kết thúc vào giữa tháng 10 hoặc giữa tháng 11 Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.755 mm Lượng mưa vào mùa mưa chiếm khoảng 80% lượng mưa hàng năm
- Độ ẩm không khí: Trong mùa mưa độ ẩm không khí trung bình khoảng 85% Thời kì ẩm nhất trong năm vào các tháng 7, 8, 9 có độ ẩm trung bình 90 - 92% Vào mùa khô ẩm độ không khí giảm xuống dưới 80% Dưới đây là một số giống hồng tốt được trồng phổ biến:
+ Hồng trứng lốc: Quả hình trứng, cân đối, khi chín vỏ quả màu hồng, bóng láng Năng suất rất cao, có khả năng chống chịu tốt đối với sâu bệnh Quả chín rất ngọt, giòn, dẻo, năng suất từ năm thứ 5 trở đi có thể đạt 5 - 6 tạ/cây, thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 8 Đây là một trong những giống hồng được ưa chuộng nhất hiện nay
Trang 29Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Hồng trứng muộn: Quả hình trứng, khi chín vỏ quả màu hồng, bóng Năng suất cao, chống chịu tốt Chất lượng không bằng hồng trứng lốc nhưng chín muộn hơn, thường thu hoạch vào tháng 10 - 11
+ Hồng Pome tròn:Quả tròn to rất đẹp, khi chín có màu đỏ son Năng suất tương đối cao, phẩm chất tốt Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10
+ Hồng chén: Quả lớn hơi dẹt về phía cuống, phẩm chất tốt, được người tiêu dùng ưu chuộng Thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10
+ Hồng ăn liền: Quả tròn dẹt, khi chín màu vàng đỏ, có thể ăn ngay khi quả ở trạng thái cứng, giòn, ngọt và không có hạt Quả nặng 200 - 250g
+ Hồng Nhật: Chất lượng quả không được ngon lắm, nhiều nước và khó vận chuyển đi xa Tuy nhiên năng suất cao, nên thường được sấy khô
để tiêu thụ Thu hoạch hàng năm vào tháng 10 - 11
Ngoài các giống kể trên, ở Đà Lạt còn có các giống khác như: Hồng quế hương, hồng gạch, hồng son, hồng hoả tiễn, hồng giòn, hồng Lạng Sơn, hồng xà, hồng nước…
* Vùng Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh
Huyện Thạch Hà nằm về phía Tây thị xã Hà Tĩnh Thạch Hà có lượng mưa bình quân năm là 2.544 mm, nhiệt độ trung bình 23,8oC, độ ẩm không khí trung bình 83,8% Chỉ có hai giống được trồng phổ biến sau:
+ Hồng vuông không hạt: Quả hình vuông có khía sâu dọc quả Vỏ quả hơi dày, bóng dễ bóc, vỏ khi chín có màu đỏ vàng, ít xơ, thịt quả có màu đỏ hồng
+ Hồng tròn: Quả hình tròn, đỉnh quả tròn, vỏ dày và bóng khi chín
có màu vàng, thịt quả có màu vàng nhạt, không có xơ, ăn ngọt
* Vùng Nam Đàn tỉnh Nghệ An:
Nam Đàn là một huyện nửa đồng bằng nửa đồi núi, nằm phụ cận
thành phố Vinh, lượng mưa bình quân trong năm là 1.928mm, nhiệt độ
Trang 30Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trung bình 23,3oC, độ ẩm không khí trung bình 86%, số giờ nắng 1.637 giờ Thành phần giống hồng khá phong phú, bao gồm một số giống sau đây:
+ Hồng cậy vuông: Quả hình vuông, đỉnh quả bằng hoặc hơi lõm Khi chín vỏ quả màu đỏ, vỏ mỏng giòn, có ít phấn ở gần cuống quả Tai quả nhỏ, vểnh lên, gốc quả lõm ít, thịt quả có màu đỏ
+ Hồng nứa: Quả hình trụ dài, đỉnh quả bằng, khi chín có màu đỏ, vỏ quả không bóng Phần trên quả (gần tai) có rãnh dọc Thịt quả màu vàng, ít
xơ Tai quả to và vểnh lên
+ Hồng tiên: Quả to, đỉnh quả lõm, nhìn theo dọc quả thì hơi vuông, nhưng nhìn chiều ngang thì dài Quả khi chín có màu đỏ, vỏ quả dày, trơn, vỏ quả không có vân, có ít phấn ở đỉnh quả Gốc quả lõm sâu,
to và cong lên
+ Hồng tròn dài: Quả mọc thành chùm từ 1 - 3 quả, khi chín có màu
đỏ, không có hạt Quả hình tròn dài, chóp quả bằng, vỏ quả dày, trơn, hơi có
khía, gốc quả lõm, tai quả cong lên, thịt quả màu đỏ
+ Hồng gáo: Quả có dạng quả tim, vai quả to, dưới thắt lại, trôn quả nhọn, tai ôm vào quả, vỏ quả màu vàng bóng
+ Hồng chuột: Quả có dạng tròn dài, vai quả phình ra, dưới thắt lại, trôn quả tròn, tai quả cong lên, vỏ quả màu vàng bóng
* Tỉnh Thừa Thiên Huế
Khí hậu Thừa Thiên Huế chia làm 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa ẩm từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc nên thường rất lạnh Mưa dầm từ tháng 9 đến tháng 12, thường xảy ra lụt ngập trong thời gian ngắn, mỗi lần ngập từ 1 - 2 ngày ở những vùng đất thấp Hàng năm có 1 - 2 trận lụt ngập Lượng mưa cao nhất vào tháng 10 tới 740 mm
- Mùa nóng bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, thường có gió tây - nam làm cho không khí càng khô nóng Hàng năm có khoảng 10 ngày có gió tây
Trang 31Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- nam thổi về với cường độ khác nhau Nhiệt độ bình quân năm 24,1 - 25,2oC Tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ chỉ xấp xỉ 20oC Nhiệt độ tối thấp xuống 5,8oC ở phía Bắc và 9,3oC ở phía Nam và tại thành phố Huế là 8,8oC Với nhiệt độ này cây hồng có thể rụng hết lá đảm bảo thời gian ngủ nghỉ mùa đông Các giống hồng ở đây đều được di thực từ các tỉnh phía Bắc vào và từ Đà Lạt ra
+ Hồng vuông Huế: Được trồng tại thành phố Huế và vùng đồi phía tây Bắc của thành phố Quả hình vuông dài, vai quả rộng và thóp dần về phía dưới Trôn quả tương đối phẳng, có thể dựng đứng quả được Khi chín
vỏ quả có màu đỏ, thịt quả dẻo, ngọt, không có hạt
* Vùng Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, huyện Lý Nhân có diện tích đất toàn bộ chạy dọc theo sông Hồng tương đối cao, thích hợp cho cây ăn quả Khí hậu thời tiết của vùng có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ trung tuần tháng 5 đến trung tuần tháng 11, đây là những tháng có lượng mưa rất lớn, cao nhất là tháng 7, tháng 8 Lượng mưa trung bình là 1.751mm Cùng với mưa, những tháng này cũng là tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ trung bình là 23,7oC Độ ẩm trung bình là 85%
- Mùa khô từ trung tuần tháng 11 đến trung tuần tháng 5 năm sau Lượng mưa trong những tháng này không đáng kể, đây cũng chính là mùa hanh khô và lạnh nhất, nhiệt độ trung bình 18,2oC, tháng lạnh nhất 14,8oC, độ
ẩm không khí thấp, trung bình 70% Số giờ nắng trong năm là 1.437 giờ Cây hồng ở đây chủ yếu được trồng ở 2 xã Hoà Hậu và Văn Lý, mỗi xã có giống riêng mang tính đặc sản:
+ Hồng Nhân Hậu: Quả hình trái tim, khi chín có màu đỏ thắm Vỏ quả mỏng, thịt quả dẻo, ít hạt Thường chín vào trung tuần tháng 8 âm lịch
+ Hồng Văn Lý: Quả hình trụ, trôn quả tròn, khi chín có màu đỏ vàng, không hạt Chín vào dịp giáp tết âm lịch
Trang 32Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Vùng Thạch Thất tỉnh Hà Tây cũ
Huyện Thạch Thất nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hà Tây cũ là vùng chuyển tiếp từ đồng bằng và vùng núi cao Ba Vì Do đó địa hình toàn huyện thấp dần từ tây - nam sang đông - bắc Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 27,3oC và cao nhất vào tháng 7 là 28,6oC, ẩm độ trung bình 83,89% Nhìn chung nhiệt độ trung bình năm cao là 23,3oC Lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm (1.554 – 1.780 mm), tháng 8 có lượng mưa cao nhất là 348 mm
- Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình là 19,3oC, tháng 1 lạnh nhất là 16oC, ẩm độ trung bình là 83,8%, thấp nhất là
80 % vào tháng 11 Vùng Thạch Thất chỉ trồng một giống hồng duy nhất có nguồn gốc từ Yên Thôn nên người ta còn gọi là hồng Yên Thôn, nay được trồng ra khắp nơi trên các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình tròn hoặc ô van Lá lớn hình bầu dục màu xanh đậm, mặt trên lá bóng, phản quang, mặt dưới có lông tơ màu nâu vàng Quả hình trụ, trôn quả hơi lồi, khi chín có màu đỏ vàng Thịt quả nát (nhiều nước), thường chín vào tháng
11 - 12
* Vùng Vĩnh Phú
Là vùng trung du, địa hình khá phức tạp với hơn nửa diện tích là đồi
núi, có 3 sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Lô và sông Đà Khí hậu Vĩnh Phú vừa mang đặc điểm chung của khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang đặc điểm khí hậu chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng Bắc bộ và vùng rừng núi Tây Bắc Nhiệt độ bình quân trong năm 22,4 - 23,6oC Nhiệt độ tối cao 34,4 - 40,3oC Nhiệt độ tối thấp là 1,7 - 3,7oC Số ngày có nhiệt độ thấp dưới 10oC là 9 - 15 ngày Vùng này có khá nhiều giống bản địa
Trang 33Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Hồng Hạc Trì: Quả hình trụ, trôn quả hơi tù, có 4 cạnh rõ rệt Trọng lượng quả 100 - 150g, không hạt, Khi chín vỏ có màu vàng đỏ, thịt màu vàng, ăn giòn, có cát, chín vào tháng 9 (thường thu hoạch đồng loạt vào trước 15/8 âm lịch, để ngâm sau 2 - 3 ngày là ăn được)
+ Hồng Tiến: Quả hình trụ vuông, trên và dưới quả đều bằng Quả nặng 120 - 160g, không có hạt hoặc có 1 - 2 hạt bé dẹt Vỏ quả nhẵn đẹp, khi chín quả có màu đỏ hồng, thịt quả màu đỏ Giấm 3 ngày thì chín, nếu để chín trên cây vẫn ăn được Chín vào tháng 10
+ Hồng trạch: Quả hình trụ tròn, trôn quả lồi Có 1 - 2 hạt, ít khi có 3 hạt Khi chín vỏ quả màu đỏ vàng, thịt quả màu đỏ hồng, giấm 4 ngày thì chín Thường chín vào đầu tháng 9
+ Hồng ngâm quả hình trứng: Quả hình trứng, có 1 - 3 hạt dài và dày Khi chín vỏ quả màu vàng, thịt quả màu vàng nhạt Ngâm khoảng 3 ngày thì
ăn được Chín vào tháng 9
+ Hồng ngâm quả hình trụ dài: Quả hình trụ dài, có 1 - 2 hạt, có quả không hạt Khi chín quả có màu vàng không đều, phía tai quả xanh, phía trôn quả vàng Chín vào tháng 9
* Vùng Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn
Huyện Cao Lộc nằm về phía Bắc tỉnh Lạng Sơn Nhiệt độ trung bình
năm 21,2oC, biên độ nhiệt độ ngày đêm dao động 6,3o
C (vào tháng 3) và 9,1oC (vào tháng 11, có năm mùa đông nhiệt độ trong vùng xuống dưới 0o
C nhưng chỉ trong thời gian ngắn Lượng mưa bình quân năm 1.392 mm Tất
cả các tháng trong năm đều có mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc tháng 9 Lượng mưa trong 5 tháng mùa mưa chiếm 75% lượng mưa cả năm
Độ ẩm trong năm bình quân 80% Mùa hanh khô từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau, có ngày độ ẩm xuống 50% cộng với nhiệt độ thấp khiến cho cây hồng rụng lá triệt để Ở vùng này có nhiều giống hồng và có giống hồng nổi
Trang 34Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiếng từ lâu, đó là: Hồng ngâm không hạt: Quả hình tròn dài Khi chín vỏ quả màu vàng đất, ăn giòn, ngọt Thường chín vào rằm tháng 8 âm lịch
1.3 Đặc điểm sinh vật học và yêu cầu ngoại cảnh của cây hồng
1.3.1 Đặc điểm sinh vật học của cây hồng
1.3.1.1 Đặc điểm thân, cành hồng
Hồng là cây thân gỗ sinh trưởng nhiều năm Tán cây có dạng tròn mâm xôi hoặc dạng tháp Tốc độ sinh trưởng chậm, thông thường một cây hồng 30 tuổi đường kính thân chỉ đạt 25 - 30cm Trần Như Ý và cộng sự [18], [19] Hồng là loại cây rụng lá hàng năm về mùa đông, có thời gian ngủ nghỉ rõ rệt Ở miền Bắc nước ta, hồng bắt đầu rụng lá vào cuối tháng 10, đến trung tuần tháng 2 mới ra lộc (thời gian ngủ nghỉ khoảng 2 - 3 tháng)
Vũ Công Hậu [24], [25] Thời gian rụng lá của hồng phụ thuộc vào nhiệt độ: Nếu nhiệt độ thấp thì lá trút hàng loạt, nếu nhiệt độ cao thì thời gian trút
lá kéo dài Ví dụ: Trong điều kiện sinh thái vùng Gia Lâm - Hà Nội thời
gian rụng lá kéo dài đến gần 2 tháng, nhưng trong điều kiện sinh thái vùng Xukhumi (Liên Xô cũ) thì chỉ hơn 20 ngày - Phạm Văn Côn [14], [15], [16] Tương tự như sự rụng lá, thời gian nảy lộc ở hồng sớm hay muộn cũng tuỳ thuộc vào nhiệt độ, ví dụ sự nảy lộc của cây hồng ở Hà Nội vào đầu tháng 2 trong điều kiện nhiệt độ 17oC, trong khi đó cây hồng ở Xukhumi nảy lộc vào tháng 4 trong điều kiện nhiệt độ 10o
C (muộn hơn 2 tháng) Sự nở hoa cũng tương tự như vậy, ở Xukhumi hồng nở hoa muộn hơn ở Hà Nội 2 - 2,5 tháng Phạm Văn Côn [14], [15], [16] Sự ra lộc của cây hồng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu của vùng trồng, độ tuổi và khả năng tích luỹ chất dinh dưỡng của cây Nếu thời tiết ấm áp, tuổi cây còn trẻ, dinh dưỡng đầy đủ cây hồng có thể ra lộc sớm và nhiều đợt lộc trong năm Do nhiệt độ tăng dần trong mùa xuân nên lộc sinh trưởng nhanh thành cành Từ bắt đầu nảy lộc đến khi cành ngừng sinh trưởng gọi là một đợt cành Tuỳ theo khả năng sinh trưởng, tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, một năm hồng có thể
Trang 35Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ra 2 - 3 đợt lộc là xuân, hè, thu Phạm Văn Côn (2002) [14], [15], [16]; Vũ Công Hậu [23] [24], [25]; Trần Như Ý và cộng sự [18], [19] Thường có các đợt cành sau:
- Cành xuân: Nảy mầm đồng loạt vào khoảng trung tuần tháng 2 đến tháng 3, trên cành thường có cả mầm hoa và mầm dinh dưỡng Đối với những cây đã ra hoa kết quả thì trong đợt cành này thường có 3 loại cành: Cành sinh trưởng, cành mang hoa đực, cành mang hoa cái (cành quả) Phạm Văn Côn [14], [15], [16]:
+ Cành sinh trưởng: Là những cành không mang hoa, quả, chỉ mang lá làm nhiệm vụ tăng khối lượng cành, cây và tích luỹ dinh dưỡng nuôi hoa, quả
+ Cành mang hoa đực: Thường là những cành nhỏ mọc từ gốc cành năm trước, sinh trưởng yếu nên cành ngắn, là nơi cung cấp phấn cho hoa nhờ côn trùng
+ Cành mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính: Là những cành mang quả, phần lớn phát sinh ở phần trên gần ngọn của cành sinh trưởng năm trước chưa ra quả hoặc từ chồi nách thứ 1 - 2 của cành mẹ Tỷ lệ giữa các loại cành trên và mối liên quan giữa chúng có ảnh hưởng tới năng suất Một số nhà nghiên cứu cho biết nếu cắt tỉa cành đúng cách sẽ tạo ra được nhiều cành có sức sinh trưởng mạnh với độ dài cành 10 – 30 cm sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất quả năm sau, có thể gấp 2 lần so với năm trước Phạm Văn Côn [14], [15], [16]
- Cành hè: Nảy mầm vào tháng 6 - 7
- Cành thu: Nảy mầm vào tháng 8 - 9, đây là đợt cành làm cành mẹ cho đợt quả năm sau, do đó cần chú ý bồi dưỡng và chăm sóc Theo K Konishi, S Iwhori, H Kitagawa, T Tykuma (1994) [43]: Những cành có chiều dài trên 40 cm có thể mang 3 - 4 quả cho mùa sau, cành có chiều dài trung bình 15- 40 cm có thể mang 2 quả và cành có chiều dưới 15cm có thể mang 1 quả đơn Trên cây hồng, khả năng ra cành mới để lấp chỗ trống chậm
Trang 36Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hơn các loại cây ăn quả khác, nhưng nếu có kỹ thuật tạo tán cây hồng vẫn có tán đẹp
1.3.1.2 Đặc điểm lá
Lá là một bộ phận quan trọng của cây Nhiệm vụ chính của lá là quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây, bởi trên lá có rất nhiều diệp lục tố Ở cây hồng lá xuất hiện vào mùa xuân, sau khoảng 1 tháng thì phát triển đầy
đủ, lúc này màu lá đã chuyển dần từ xanh lục sang xanh đậm, cây sung sức bước vào thời kỳ hoạt động mạnh Ở một số giống mặt dưới của lá có nhiều lông tơ màu vàng xanh Lá có hình elíp đến tròn ô van Trần Như Ý và cộng
sự [18], [19]
Những cây hồng trồng bằng hạt thường có nhiều hoa lưỡng tính, có thể tự thụ phấn, đậu quả dễ dàng và tỷ lệ đậu cao nhưng quả nhiều hạt và chất lượng kém Những giống hồng tốt thường có hoa đơn tính, hoặc đực hoặc cái (Phạm Văn Côn [13], [14], [15]; Vũ Công Hậu [23], [24], [25]) Có giống không cần thụ phấn cũng đậu quả, quả hoàn toàn không có hạt và kích thước khá đều nhau (Phạm Văn Côn [13], [14], [15]) Tuy nhiên hoa thưa và tỷ lệ đậu thấp nên năng suất không cao như hồng Hạc Trì, Hồng không hạt Lạng Sơn…Trần Như Ý và cộng sự [18], [19] Có giống muốn cho quả to, đẹp, năng suất cao cần phải có quá trình thụ phấn tốt, tuy nhiên lại có hạt Còn nếu thụ phấn không tốt thì quả nhỏ nhưng không có hạt, rõ nhất là ở hồng Thạch Thất Đối với các giống có đặc điểm này nên trồng xen cây thụ phấn, gặp thời tiết xấu ong bướm không hoạt động thì phải thụ phấn bổ khuyết (Phạm Văn Côn [13], [14], [15]; Vũ Công Hậu [24], [25]; Trần Như Ý và cộng sự [18], [19])
1.3.1.3 Đặc điểm rụng hoa, rụng quả
Sự rụng là hiện tượng sinh lý của cây trồng Mức độ rụng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào giống, khí hậu và điều kiện chăm sóc
Trang 37Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Cây hồng thường có 2 đợt rụng quả: Rụng quả sinh lý lần 1 vào tháng 5 khi quả vừa đậu to bằng đầu ngón tay Rụng quả sinh lý lần 2 vào tháng 7, lần này tuy nhẹ hơn nhưng vẫn ảnh hưởng đáng kể tới năng suất vì quả đã lớn Quả hồng còn rụng rải rác cho đến trước thu hoạch do các nguyên nhân sâu bệnh, gió bão, do đậu quả quá nhiều, quả ra muộn, thiếu dinh dưỡng… Tuy nhiên, rụng quả sinh lý là nguyên nhân chủ yếu, có thể chiếm tới 97% số quả rụng Ngoài ra, các yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng đến sự rụng như: nóng quá, lạnh quá, cây thiếu ánh sáng, cây bị hạn, gió bão… (Phạm Văn Côn [14], [15], [16]; Vũ Công Hậu [24], [25]; Trần Như Ý và cộng sự [18], [19]) Theo Phạm Văn Côn [14], [15], [16]: Tỷ lệ rụng quả nhiều hay ít, tập trung hay kéo dài tuỳ thuộc vào giống, thời tiết, đất đai và số lượng hoa trên cây Ở vùng đất cao thoát nước tốt, đủ dinh dưỡng thường rụng quả ít và tập trung vào đợt đầu Còn vùng đất thấp mực nước ngầm cao, cây bị thiếu dinh dưỡng, thiếu không khí quả thường rụng nhiều và rụng rải rác cho đến khi quả chín Theo Kajiura, M (1914) [40]: Rụng quả sớm có liên quan đến 2 nhân tố, khả năng mang quả không hạt và khả năng sinh hạt Giống có khả năng mang quả không hạt cao hơn thì rụng quả ít hơn Một số giống được thụ phấn đầy đủ, số hạt được hình thành nhiều cũng rụng quả sinh lý ít Yonemori K A Sugiura A, Yamada M, (2000) [49] Khả năng này cao hay thấp tuỳ thuộc vào giống Khả năng mang quả không hạt là một nhân tố quan trọng để đánh giá chất lượng quả Yonemori K A Sugiura A, Yamada
M, (2000) [49] Theo Phạm Văn Côn [14], [15], [16]: Muốn chống rụng quả trước hết phải thâm canh tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt và lá quang hợp mạnh, điều hoà tỷ lệ giữa số lá và số quả bằng cách cắt tỉa hợp lý Ví dụ: Chỉ nên để 1 - 2 quả trên những cành ngắn và trên những cành dài để 2 -
3 quả hoặc tính 15 - 20 lá nuôi cho 1 quả Theo Vũ Công Hậu [23] để chống rụng quả có thể thụ phấn bổ khuyết cho hoa cái và hoa lưỡng tính Cần phải thụ phấn bổ khuyết thì quả mới to, mẫu mã đẹp, chất lượng quả tốt Do vậy, trong điều kiện thời tiết xấu cây không thụ phấn tự nhiên được, ta cần thụ
Trang 38Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phấn bổ sung cho cây Rụng hoa, rụng quả ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất
và sản lượng Do vậy cần ngăn ngừa rụng hoa, rụng quả bằng cách sử dụng các biện pháp chăm sóc hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cây như: Bón phân, tưới nước, cắt tỉa hợp lý, sử dụng chế phẩm
đậu quả…
1.3.1.4 Đặc điểm quả
Sau khi trồng 3-5 năm đối với cây trồng từ rễ và 2-3 năm đối với cây trồng từ cây ghép thì hồng bói quả Quả hồng có rất nhiều hình dạng, trọng lượng, kích thước và màu sắc khác nhau, có thể giấm hoặc ngâm tuỳ thuộc vào từng giống Hồng là cây phân tính (biệt chu), nhưng hoa cái có thể tạo quả không hạt khi không có cây thụ phấn Tuy nhiên, quả được hình thành không qua quá trình thụ phấn, thụ tinh có xu hướng nhỏ hơn (Huxley A,
1992, [39]) Tuy nhiên với đa số giống hồng, quả được hình thành phải thông qua quá tình thụ phấn, thụ tinh thì phải trồng xen cây thụ phấn (một cây cho phấn với 8 - 10 cây lấy quả) là thích hợp (Bown D, 1995, [30])
Ở tất cả các giống hồng, trong quả đều có lượng tanin nhất định, hàm lượng tanin nhiều hay ít tuỳ thuộc theo từng giống làm cho người sử dụng khi ăn cảm thấy chát [11]
Trích dẫn theo Nguyễn Thế Huấn (2006): Theo Miyabayashi (1941) [12] cho biết, vị chát của quả hồng là do chất tanin chứa trong tế bào tanin, kích thước và mật độ tế bào tanin khác nhau rất rõ rệt ở các giống hồng khác nhau Những giống hồng không chát không biến đổi với sự thụ phấn,
có những tế bào tanin nhỏ Những giống hồng chát, tanin hoà tan thường 0,8
- 1,94% (trung bình là 1,42%) trọng lượng thịt quả tươi Khi chín chất tanin trong quả tự chuyển hoá từ dạng tanin hoà tan thành dạng tanin không hoà tan và khi ăn sẽ không cảm thấy chát Tuy nhiên hầu hết chất tanin đều không chuyển hoá triệt để, do vậy không thể ăn được ngay sau khi thu hoạch, mà phải tiến hành khử chát cho quả hồng [20] Để khử chát cho quả
Trang 39Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hồng, nhân dân ta đã có nhiều kinh nghiệm: Ngâm nước lã, nước tro, giấm chín bằng lá xoan, hương đen… [11] Theo Harima và các cộng sự (2001) [36]: Sự tích luỹ dinh dưỡng vào quả của các giống hồng phụ thuộc vào thời
vụ chín và điều kiện trồng trọt Hạt hồng to nhỏ kích thước, số lượng hạt trong quả nhiều hay ít khác nhau tuỳ giống Các giống hồng trâu quả to, hạt
to, các giống hồng cậy hạt nhỏ Hạt hồng chín sinh lý muộn, cho nên khi thu hoạch hạt cần đãi sạch lớp vỏ nhầy, phơi khô trong bóng râm và cất giữ 3 -
4 tháng mới đem gieo [18], [19]
1.3.1.5 Đặc điểm của rễ và hệ rễ
Bộ rễ của cây hồng có chức năng giữ cho cây đứng vững chắc trong
đất, đồng thời đóng vai trò vận chuyển nước, chất hoà tan từ đất lên lá và vận chuyển chất hữu cơ từ lá về rễ Bộ rễ hồng phát triển yếu, thường khó phục hồi nếu bị sát thương cơ giới (Phạm Văn Côn [14], [15], [16]; Trần Như Ý và cộng sự [18], [19]) Do đó, cần hết sức chú ý trong quá trình chăm sóc cây
Rễ hồng có khả năng đâm sâu và lan xa ngoài tán cây Trong điều kiện vùng đồi có tầng đất dày, mực nước ngầm thấp độ đâm sâu của rễ có thể tương đương với chiều cao của cây Rễ cái khá to và phân nhánh, rễ nhánh được chia làm nhiều loại như sau [22], [26], [13]:
- Rễ sinh trưởng: Xâm nhập vào vùng đất mới, đồng thời hút nước và chất dinh dưỡng khoáng
- Rễ hút: Hút nước, chất khoáng và có hoạt động sinh lý cao
- Rễ dẫn nhựa: Đảm bảo chuyển nước, chất dinh dưỡng lên tán cây và chuyển sản phẩm quang hợp từ tán cây xuống rễ Rễ hồng chứa nhiều tanin, cường độ hô hấp yếu, nhu cầu về hàm lượng ôxi trong đất thấp, vì vậy hồng
có thể chịu úng tốt [22], [26], [13], [15], [16], [20], [18], [19] Trong điều kiện vùng đồng bằng có mực nước ngầm cao, sự phát triển của bộ rễ bị ảnh hưởng xấu Rễ phát triển xuống sâu gặp nước ngầm thường bị thối đen, phạm vi phân bố của bộ rễ nông nên cây sinh trưởng phát triển kém, tỷ lệ
Trang 40Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
rụng quả cao, năng suất thấp hơn so với vùng đồi núi Vì vậy, phải trồng hồng ở những chân dốc hoặc vượt đất, đắp ụ lên mới trồng hồng Phạm Văn Côn [14], [15], [16] Nhiệt độ thích hợp cho bộ rễ hoạt động là từ 12 - 25oC Các tác giả Nhật Bản đã nghiên cứu và cho kết quả: Trong mùa rụng lá, rễ hồng hầu như không hoạt động, hấp thụ dinh dưỡng rất chậm, chỉ từ vụ xuân rễ mới bắt đầu hoạt động, mạnh nhất vào 2 thời kỳ cuối tháng 6 - 7 và trung tuần tháng 9 đầu tháng 10 Trần Như Ý và cộng sự [18], [19]
1.3.2 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây hồng
40 - 42o, dù trồng ở chỗ thấp Đó là vì nếu nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vượt quá - 20oC đến - 22o
C thì cây hồng mặc dù trút hết lá, bước vào giai đoạn nghỉ đông cũng vẫn bị chết giá [15], [16] Trong suốt quá trình sinh trưởng,
ở mỗi thời kỳ cây hồng yêu cầu những điều kiện nhiệt độ khác nhau Thời
kỳ sinh trưởng cây hồng yêu cầu nhiệt độ tương đối cao từ 20 - 30oC, nhiệt
độ tối thấp là 20 - 26o
C Trong thời kỳ phân hoá mầm hoa, cây hồng cần nhiệt độ thấp khoảng 10oC (Phạm Văn Côn [14], [15], [16]; Vũ Công Hậu [24], [25]; Trần Thế Tục [20]; Bird R (1991) [29]; Dirr, M.A và cộng sự (1987) [32]) Theo Voronxov và G Steiman (1982) thì cây hồng sinh trưởng, phát triển và nảy lộc ổn định trong điều kiện nhiệt độ ngày đêm >
10oC Nhiệt độ ra nụ tốt nhất là 16oC, nhiệt độ cho cành sinh trưởng tốt nhất
là 17 - 19oC, nở hoa tốt nhất là 20 - 22oC Theo nghiên cứu của Yung Kyung Choi, Jung Ho Kim và nhiều tác giả khác, để thuận lợi cho thời kỳ phân hoá mầm hoa cây hồng cần có nhiệt độ 8 - 11oC trong khoảng thời