Tính cấp thiết của đề tài Trải qua hơn năm thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 165 khu rừng đặc dụng bao gồm 30 vườn quốc gia, 57
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ SỸ DƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ
KHU HỆ CHIM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐẤT NGẬP
NƯỚC VÂN LONG, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ SỸ DƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ
KHU HỆ CHIM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐẤT NGẬP
NƯỚC VÂN LONG, TỈNH NINH BÌNH
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn năm thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 165 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 vườn quốc gia, 57 khu dự trữ thiên nhiên, 13 khu bảo tồn loài, 45 khu rừng văn hóa, lịch sử, môi trường, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng miền cả nước[8] Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trước mắt cho thế hệ hôm nay mà còn
là di sản của nhân loại mai sau
Trong những năm qua, với sự lỗ lực mọi mặt của các ngành, các cấp và
sự hỗ trợ quốc tế trong công tác bảo tồn thiên nhiên, nhất là trong những năm đổi mới của đất nước, quá trình điều tra, giám sát đa dạng sinh học, đề xuất các giải pháp bảo tồn thiên nhiên tại các KBT thiên nhiên Việt Nam đã và đang tiếp cận, trao đổi kinh nghiệm, hài hòa với những thông lệ, tiêu chí quản
lý bảo tồn thiên nhiên quốc tế Tuy vậy mỗi một khu rừng đặc dụng có những đặc điểm đặc trưng riêng biệt, nhưng thường có đặc điểm chung là địa hình hiểm trở khó đi lại, kinh tế xã hội chưa phát triển Đặc điểm này đã gây ra không ít khó khăn và trở ngại cho công tác quản lý các khu rừng đặc dụng nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng ở nước ta
Khu BTTN đất ngập nước Vân Long được thành lập theo Quyết định số: 2888/QĐ-UBND ngày 18/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, có tổng diện tích là 2.736ha, nằm trên địa bàn 7 xã của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình bao gồm các xã Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh Đây là nơi còn giữ được nguyên vẹn nhiều diện tích rừng núi đá vôi tự nhiên với nhiều loài cây quý hiếm được xếp trong Sách Đỏ
Trang 4Với kiểu hình ô trũng giữa các dòng sông, là một trong những ô trũng lớn nhất của tỉnh Ninh Bình, nằm về phía Đông Nam của châu thổ đồng bằng Bắc Bộ Các dãy núi đá vôi chiếm gần hết diện tích khu bảo tồn, chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, kéo dài từ Hòa Bình qua Lạc Thủy về Gia Viễn Khối núi đá vôi có độ cao trung bình khoảng 200 mét, đỉnh cao nhất xấp xỉ 500m so với mực nước biển và được bao bọc xung quanh bởi vùng đất ngập nước và vùng hồ nông có thảm thực vật ngập nước Tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn là sự phong phú về sinh cảnh và hệ động, thực vật Đây là nơi sinh sống của cộng đồng người kinh địa phương và dân di cư từ Hòa Bình xuống, trình độ dân trí chưa cao, thu nhập chủ yếu bằng trồng trọt, chăn nuôi, thu hái lâm sản ngoài gỗ… Nguồn sống của các hộ gia đình ít nhiều còn dựa vào rừng
Những đặc điểm trên đã chứa ẩn rất nhiều nguy cơ, thách thức công tác quản lý KBT Vân Long nói riêng và các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn tỉnh Ninh Bình nói chung, lực lượng cán bộ quản lý lâm nghiệp mỏng, trình
độ hiểu biết về đa dạng sinh học cũng như tổ chức quản lý còn nhiều hạn chế, kinh phí đầu tư cho công tác bảo tồn thiên nhiên, điều tra đa dạng sinh học chưa được thỏa đáng điều này dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở dữ liệu khoa học
về đa dạng sinh học loài cũng như đa dạng hệ sinh thái tại khu bảo tồn gây khó khăn, cản trở cho công tác quy hoạch, quản lý, bảo vệ bền vững Xuất
phát từ những lý do trên đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo vệ khu hệ chim tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình” được tiến hành
Trang 52 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được tính đa dạng sinh học khu hệ chim về sinh cảnh, thành phần loài, tình trạng bảo vệ, bảo tồn tại khu BTTN đất ngập nước Vân Long
- Xây dựng được danh lục các loài chim tại khu BTTN đất ngập nước Vân Long
- Xác định được nguyên nhân gây suy thoái và đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng khu hệ chim có hiệu quả
3 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình đầu tiên tiến hành điều tra nghiên cứu có tính hệ thống
về đa dạng sinh học khu hệ chim ở KBTTN Vân long, tỉnh Ninh Bình Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học cơ bản phục vụ cho việc quy hoạch, xây dựng nguyên tắc, đề xuất giải pháp quản lý rừng, đa dạng sinh học, góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng ở tỉnh Ninh Bình nói riêng và các khu bảo tồn thiên nhiên khác có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá thực trạng đa dạng khu hệ chim tại khu bảo tồn đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn bền vững khu hệ chim Đặc biệt đây là cơ sở xác định tiềm năng phát triển du
lịch sinh thái quan sát chim ở khu bảo tồn trong tương lai
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu chim trên thế giới
Hiện nay trên thế giới người ta đã thống kê được khoảng hơn 9700 loài chim khác nhau, trong đó bộ sẻ được coi là bộ giàu họ nhất với gần 30 họ Một số loài ít họ là Bộ Ngỗng, Bộ Bồ câu, Bộ Nuốc, Bộ Vẹt, Bộ Cúc cu có từ 1-2 họ Tuy nhiên con số đó vẫn thay đổi theo thời gian bởi có nhiều loài mới được phát hiện thêm bên cạnh đó nhiều loài bị tuyệt chủng Đáng chú ý là có nhiều loài được coi là đã tuyệt chủng thì mấy chục năm hoặc thế kỷ sau người
ta lại phát hiện ra chúng và sự kiện đó người ta gọi là “sự hồi sinh” hay “phát hiện lại” [46]
Tại cuộc họp thường niên về hệ động vật có lông vũ của đời sống chim quốc tế người ta cho rằng gần đây mặc dù có sự xuất hiện trở lại của một số loài chim nhưng nhìn chung tình hình vẫn rất bi đát Hiện nay trong tổng số
9775 loài chim thì có đến 1212 loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong khi khoảng 2000 loài khác đang trong tình trạng nguy cấp Đặc biệt trong đó có 179 loài gần như bị tuyệt chủng, chim Sẻ ức đỏ Châu Âu (chỉ còn
300 cá thể là một ví dụ) Mất 50.000 giờ nghiên cứu ngoài trời tại 100 quốc gia, các nhà nghiên cứu đã thống kê được gần một nửa số lượng các loài thuỷ cầm đang bị giảm phần lớn là do tốc độ phát triển kinh tế và hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu Trong 900 loài chim trên thế giới có 44% đang bị giảm, 34% khá ổn định, 17% đang trên đà tăng Trong đó Châu Á là nơi có tốc độ giảm nhanh nhất với 62% số lượng các loài thuỷ cầm bị giảm hoặc bị tuyệt chủng, thứ hai là châu Phi (48%), tiếp theo là Châu Úc (45%), Nam Mỹ (42%) và Bắc Mỹ (37%) [46]
Nghiên cứu chim ở Châu Á: Theo thống kê của tổ chức Birdlife
International thì Châu Á là lục địa có nhiều chim muông nhất, trong đó có 12% số loài đang bị đe doạ nghiêm trọng và sẽ đi đến chỗ tuyệt chủng trong
Trang 7vòng 10 năm tới nếu con người không có hành động bảo vệ nơi cư trú của chúng Sau khi khảo sát tại 28 nước Châu Á từ Ấn Độ đến Nhật Bản, Birlife cho biết có khoảng 332 loài chim đang bên bờ tuyệt chủng Khoảng 43% trong số 2.293 vùng cư trú của các loài chim nhất là rừng rậm không còn được chính quyền các nước bảo vệ Cũng theo tổ chức Birlife International thì
41 loài chim ở Châu Á được liên đoàn bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) nói đến thì nay không chỉ có nguy cơ tuyệt chủng mà thực sự đã sắp biến mất hẳn.Về số lượng loài chim có nguy cơ tuyệt chủng thì Inđôêxia có 117 loài, Trung Quốc có 78 loài, Ấn Độ 73 loài, Philippin 70 loài Đặc biệt Đông Nam
Á là khu vực rất nguy hiểm cho chim [46]
Nghiên cứu chim ở Châu Âu: Tại Châu Âu các nhà nghiên cứu quan
sát thấy một loài chim phân tách làm đôi, đó là loài chim đầu đen châu Âu (blackap) thường sinh sản ở Áo và Đức thường bay tới những địa điểm khác nhau trong mùa đông: một nhóm bay về phương Nam tới Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi và một nhóm bay về phương Bắc tới Anh và Ailen Cũng
tại Châu Âu người ta thấy loài Sẻ đồng (Azores Bullfinch pyrrhula murina) là
loài chim hót hay và hiếm nhất ở đây đang bị suy giảm về số lượng và chỉ còn
300 con Rất nhiều loài chim Châu Âu xuất hiện trong sách đỏ thế giới lần đầu tiên cũng đang suy giảm, điển hình là loài Sả Châu Âu (European Roller coracias garrulus ) có quần thể chủ yếu ở Thổ Nhĩ Kỳ và Nga [46]
1.2 Lịch sử nghiên cứu chim Việt Nam
Việt Nam là một trong những khu vực có khu hệ chim phong phú và đa dạng bậc nhất Đông Nam Á Tổng số loài chim được ghi nhận trong phạm vi toàn quốc từ 828 đến 888 loài [43] Tuy nhiên đây là những con số đã được thống kê Không thể đưa ra con số chính xác bởi có thể những loài đã được thống kê có thể đã bị tuyệt chủng, hoặc có những loài mới chưa được khám phá ghi nhận Sự phong phú về chủng loại các loài chim việt nam là do kết
Trang 8quả của sự phân hóa địa hình, khí hậu, môi trường sống… trải dài từ Bắc tới Nam
1.2.1 Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trước năm 1975
Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim
đều do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Loài Gà rừng(Gallus gallus)
là loài chim đầu tiên được nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu được ở Côn Đảo và được nhà sinh vật học Line mô tả giữa thế kỷ XVIII [14]
Cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nước ngoài có mặt ở Việt Nam đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng với quy mô lớn Năm
1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài được xuất bản lần đầu tiên với các lô mẫu vật do Pierier, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sưu tầm và công bố(H.jouan, 1972) [14]
Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dương gồm 4 tập với 954 loài và phân loài(Delacour T.Et
và Jabuille, 1931 Lesoiseaux de I’Indochine francaise, I-IV.Paris), trong đó
có các loài chim của Việt Nam Năm 1951, Danh lục chim Đông Dương được Delacoure bổ sung và hoàn thành, xuất bản gồm 1085 loài và phân loài(J.Delacoure,1951) [14]
Năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam, thời kỳ với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim Việt Nam Các công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả như Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960,1961), Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anoro N.C (1967) [14]
Các công trình nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại mà ít chú ý đến đặc điểm sinh học và đặc điểm sinh thái của chúng
Năm 1971, với sự tổng hợp các công trình nghiên cứu về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, Võ Quý đã cho ra công trình
Trang 9“Sinh học của những loài chim thường gặp ở miền Bắc Vệt Nam” Trong sách tác giả có dẫn chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất giai đoạn này Nhưng do đối tượng nghiên cứu rộng nên tác giả không thể nghiên cứu về nơi ở của chúng, đối với mỗi loài tác giả mới chỉ ra loại sinh cảnh, đai cao chúng sống mà chưa chỉ ra đặc điểm của sinh cảnh sống của chim như tổ thành thực vật, vị trí tầng tán yêu thích.vv [14]
1.2.2 Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975
Sau chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, công trình “ Chim Việt Nam hình thái và phân loại (tập 1, 2)” của Võ Quỹ(1975, 1981) là công trình đầu tiên nghiên cứu về chim trên lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân loại và phân bố tự nhiên của các loài chim
Cũng trong giai đoạn này cuốn sách “Danh mục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 ra đời, bản danh mục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995, với mỗi loài tác giả đã dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố [14]
Sau nhiều năm nghiên cứu , năm 2007, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã xuất bản ấn phẩm “Động vật chí” trong tập 18 đã thống kê cả nước có khoảng 164 loài chim nước và di cư thuộc 68 họ, 5 bộ Trong đó tác giả đã
mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái học, vùng phân bố của các loài Ngoài ra trong sách còn có các hình vẽ mầu các loài chim nước giúp độc giả dễ dàng nhận biết [14]
Cho đến những năm gần đây nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học của các nước như: Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Mỹ đã tài trợ vào việt Nam Các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế(FFI), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF),
Trang 10nghiên cứu về động, thực vật hoang dã đã được xuất bản Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về chim trong giai đoạn này là cuốn “Chim Việt Nam” do nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karen Philips (xuất bản năm 2000) cuốn sách này được biên soạn dựa trên cuốn “Chim Hồng Công và Nam Trung Quốc” (1994) của các tác giả Cliver Viney, Lan Chiu Ying, Karen Philips Trong sách tác giả
đã giới thiệu hơn 500 loài trong tổng số hơn 850 loài chim hiện có ở Việt Nam, mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ mầu kèm theo Nói chung cuốn sách được biên soạn với mục đích chủ yếu giúp người đọc nhận dạng các loài chim ngoài thực địa [14]
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến chim rừng tại Việt Nam
1.2.3.1 Kết quả bước đầu nghiên cứu thành phần loài chim của khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn - tỉnh Lào Cai
Đây là công trình do tác giả Lê Mạnh Hùng thực hiện vào tháng 3/2002 với sự phối kết hợp của các chuyên gia thuộc chương trình Birdlife quốc tế tại Việt Nam, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Tổ chức bảo tồn động, thực vật quốc tế chương trình Đông Dương tại Việt Nam(FFI)
Bằng phương pháp điều tra thực địa thông thường hiện nay với các trang thiết bị nghe, nhìn, ghi âm hiện đại đến mức cho phép như ống nhòm, máy ghi âm, máy quay phim… các loài chim được điều tra bằng phương pháp quan sát và định loại qua tiếng kêu Hằng ngày công việc tiến hành liên tục từ 6h00 đến 18h00 Sử dụng, các phương pháp khác nhau như Time speed count và advanded point count để xác lập danh lục chim tại các đai cao, sinh cảnh khác nhau Tổng hợp, thống kê số liệu, sử dụng các tài liệu sách hướng dẫn để xác định, định loại, tên loài, thứ tự Kết quả điều tra ghi nhận được khu hệ chim tại huyện Văn Bàn khá đa dạng và phong phú, đặc trưng cho khu hệ chim ở vùng núi Hoàng Liên Sơn phía bắc Việt Nam Trong tổng số 156 loài chim ghi nhận, đã có 5 loài có mặt trong danh lục
đỏ thế giới, 3 loài trong sách đỏ Việt Nam, 2 loài có vùng phân bố hẹp đặc
Trang 11hữu cho vùng núi Hoàng Liên Sơn, 40 loài phân bố hẹp trong vùng rừng á nhiệt đới của dãy Himalaia-phần thuộc Trung Quốc, 15 loài khác là các loài có phân bố hẹp trong vùng rừng ôn đới của dãy Himalaia-phần thuộc Trung Quốc và 6 loài có vùng phân bố hẹp trong khu vực rừng nhiệt đới
ẩm Đông Dương Đặc biệt có 5 loài ghi nhận mới và 11 loài bổ xung vùng phân bố theo Danh lục chim Việt Nam của Võ Quý, Nguyễn Cử ngoài ra còn ghi nhận được 14 loài có vùng phân bố mở rộng về đai cao và 2 loài có vùng phân bố mới theo phân bố trước đây của Craig Robson [39]
1.2.3.2 Một số dẫn liệu về thành phần loài chim ở Vườn chim Hải Lựu huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Nhóm tác giả Nguyễn Lân Hùng Sơn, Quan Thị Dung, Đặng Thị Thu Hoài của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu tại Vườn chim Hải Lựu trong hai năm 2007 – 2008 cho thấy vườn chim Hải Lựu là một vườn chim lớn nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc, khá độc đáo với nhiều loài chim nước làm tổ tập đoàn với số lượng lớn
Bằng phương pháp truyền thống trong nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên Quan sát chim trực tiếp bằng mắt thường và sử dụng ống nhòm loại Steiner 10x42 Peregrine Binoculars 358 Để quan sát rõ hơn các tổ chim từ xa, sử dụng thêm ống telescopes Opticron GS 665 GA Nhằm
hỗ trợ việc điều tra xác định chính xác các loài chim kích thước nhỏ, sống lẩn lút trong tầng cây bụi dưới tán, sử dụng thêm lưới mờ mist-nets
để bắt thả Trong quá trình định loại ngoài thiên nhiên, bên cạnh sách định loại của Võ Quý (1975,1981) Nhóm tác giả có sử dụng các sách hướng dẫn có hình màu (C.Robson, 2000); Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Philipps, 2000 để nhận biết các loài chim Đồng thời cũng tiến hành phỏng vấn cộng đồng địa phương để bổ sung thông tin trong việc xác định các loài chim từng có ở khu vực nghiên cứu trong thời gian trước
Trang 12qua khảo sát trong hai năm 2007 - 2008, đã xác định được 48 loài chim thuộc 27 họ, 8 bộ Bộ đa dạng nhất về thành phần họ là bộ Sẻ với 18 họ
Bộ Hạc có 3 họ Các bộ chim khác đều chỉ có 1 họ duy nhất Xét về đa dạng thành phần loài trong các bộ thì bộ Sẻ cũng là bộ đa dạng nhất với
30 loài chiếm 62,5% tổng số loài hiện biết ở vườn chim Bộ Hạc có 8 loài Xét tính đa dạng về loài trong các họ, có thể thấy họ Diệc là đa dạng nhất với 6 loài, chiếm 12,5% tổng số loài chim hiện biết ở vườn Họ có số
loài đa dạng tiếp theo là họ Bói cá và họ Chích chòe, mỗi họ có 4 loài
Trong số 48 loài chim hiện diện ở khu vực nghiên cứu, có tới 36 loài chim là định cư, 3 loài là di cư, 9 loài là loài vừa di cư, vừa định cư Trong các loài chim xác định ở vườn chim thì đáng lưu ý là loài chim quý hiếm Cổ rắn
hay còn gọi là Điêng Điểng - Anhinga melanogaster (Pennant, 1769) [38]
1.2.3.3 Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của một
số loài chim đặc trưng ở vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ
Công trình được tác giả Nguyễn Lân Hùng Sơn thực hiện từ 2003-2006 với 3 mục tiêu chính là nghiên cứu về thành phần loài chim của Vườn quốc gia Xuân Sơn, bổ sung dẫn liệu mới về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một vài loài chim đặc trưng ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, xác định các yếu
tố gây suy thoái và đề xuất giải pháp bảo tồn tài nguyên chim ở Vườn quốc gia Xuân Sơn
Bằng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu chim ngoài
tự nhiên Phương pháp đếm điểm(point counts) Phương pháp lưới mờ(mist nets) phương pháp thống kê sinh học Phương pháp xây dựng bản đồ nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu âm sinh học Phương pháp phân tích thức ăn Phương pháp phỏng vấn Hệ thống định loại chim Qua kết quả nghiên cứu cho thấy Bằng phương pháp lưới mờ đã bắt thả được 840 cá thể của 79 loài thuộc 13 họ trong 5 bộ Họ chim Chích sylviidae có số loài nhiều nhất với 27 loài, tiếp đến là họ Đớp Ruồi Muscicapidae 24 loài Bổ sung thêm cho danh
Trang 13lục chim Việt Nam ( Võ Quý, Nguyễn Cử,1995) 4 loài và bổ sung thêm vùng phân bố cho 9 loài Độ cao là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự khác biệt về đa dạng thành phần loài chim ở đây Thời gian hoạt động trong ngày của các loài chim phụ thuộc nhiều vào mùa và thời tiết trong ngày Bằng phương pháp đếm điểm trong mùa sinh sản năm 2006 đã xác định được
107 loài với 1187 cá thể
Cho đến nay đã ghi nhận được ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn có 257 loài
chim của 45 họ, 16 bộ Bộ Sẻ (Passeriformes) đa dạng nhất với 28 họ, họ chim Chích (Cylvidae) đa dạng nhất với 47 loài Đã thống kê được 23 loài
chim quý hiếm có giá trị bảo tồn bao gồm: 9 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2 loài thuộc nhóm IB, 7 loài thuộc nhóm IIB) 11 loài trong sách đỏ việt nam 2000 ( 1 loài bậc E, 2 loài bậc R, 8 loài bậc T), 7 loài trong danh lục đỏ thế giới IUCN, 2006 bậc LR/LC So ánh về thành phần loài chim với 8 khu bảo tồn thiên nhiên ở vùng tây bắc và 1 khu BTTN ở vùng Đông Bắc liền kề về mặt địa lý cho thấy độ tương đồng trung bình về thành phần loài giữa VQG Xuân Sơn và VQG Cúc Phương là cao nhất ( 50,44%), VQG Xuân Sơn đóng góp tới 46,81% tổng số loài chim được biết của cả 10 khu bảo tồn thiên nhiên được lựa chọn để so sánh[29]
1.2.3.4 Công trình nghiên cứu tình trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn một số loài chim quý hiếm tại VQG Xuân Thủy, tỉnh Nam Định
Vườn quốc gia Xuân Thủy ở huyện giao thủy, tỉnh Nam Định trong vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ nằm ở phía nam cửa sông Hồng, tốc độ bồi tụ ở vùng này rất cao hình thành nên các bãi ngập triều lớn là sinh cảnh quan trọng cho các loài chim nước di cư
Khu hệ chim: Xuân thủy là điểm dừng chân và trú đông quan trọng nhất của các loài chim ven biển, mòng bể và các loài chim nước khác tại vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ Trong các đợt khảo sát sát vào các năm 1988 và
Trang 14Pedersen et al,1998) Vào mùa xuân năm 1996, ước tính có khoảng 33,000 chim ven biển đã ghé qua vùng chim quan trọng này (Pedersen và Nuyễn Huy Trang 1996) Đáng chú ý là Xuân thủy là nơi cư trú thường xuyên của một số loài chim đang hoặc gần bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu Có thể kể đến hơn 70 các thể Cò thìa mặt đen(Platalea minor) là quần thể trú đông lớn nhất
ở Việt Nam và đứng thứ 3 thế giới, 10 cá thể Mòng bể mỏ ngắn ( larus saundersi) với số đếm cao nhất từng có là 200 cá thể ( bằng 2,4% quần thể địa sinh học Châu Á) Là nơi dừng chân hoặc trú đông thường xuyên của các
quần thể nhỏ như các loài Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer), Rẽ mỏ thìa (Eurynorhynchus pygmeus), Choắt chân màng lớn (Limnodromus
semipalmatus).… các loài có số lượng đáng kể được ghi nhận ở Xuân Thủy
trong những năm gần đây là: Choi choi nhỏ (Charadrius dubius), Choắt mỏ thẳng đuôi đen (Limosa limosa), Choắt mỏ cong lớn (Numenius arquata), Choắt chân đỏ (Tringa Erythropus), Choắt lùn đuôi xám, Cò trắng nhỏ cũng
gần đạt ngưỡng 5,000 cá thể
Bằng các phương pháp sử dụng phổ biến trong điều tra chim tại Việt Nam như phương pháp nghiên cứu chim ngoài tự nhiên Phương pháp đếm điểm(point counts) Phương pháp lưới mờ(mist nets), phương pháp thống kê sinh học, phương pháp xây dựng bản đồ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
âm sinh học, phương pháp phỏng vấn, hệ thống định loại chim Qua kết quả nghiên cứu từ 1994 -2005 cho thấy có 215 loài chim đã được ghi nhận trong
đó bộ Sẻ có 26 loài, phổ biến nhất là loài Sáo đá trung quốc (Sturnus sinensis) với khoảng 5.000 con (Nguyễn Đức Tú và Lê Trọng Trải 2005) Xuân thủy cũng rất quan trọng đối với các loài chim di cư không phải là chim nước với những loài thuộc bộ Sẻ, bộ Cu Cu và các loài khác di cư qua vùng chim quan
trọng này trong mùa Xuân và mùa Thu [31]
Trang 151.2.3.5 Nghiên cứu tại Vân Long
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả các nhà khoa học thuộc Khoa sinh trường Đại học sư phạm - Đại học quốc gia Hà Nội do TS Nguyễn Lân Hùng Sơn chủ trì năm 2001-2003 đã tiến hành “Điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học các loài chim ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long”, bước đầu đã thu được một số kết quả như sau: Khu BTTN đất ngập nước Vân Long
có 98 loài chim thuộc 13 bộ, 33 họ Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở bản danh lục thống kê chim sơ bộ mà chưa đi sâu vào nghiên cứu
về giá trị bảo vệ, bảo tồn cũng như xác định loài định cư hay di cư, không có tiêu bản để chứng minh về sự đa dạng đó cũng như chưa nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến sự suy giảm của chúng[15]
Đánh giá chung tài liệu nghiên cứu
Dựa trên những tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu về các vấn
đề có liên quan đến chim rừng Việt Nam có thể rút ra một số nhận xét sau: Hầu hết các công trình nghiên cứu đã và đang dần quan tâm nghiên cứu nhiều đến đặc tính sinh thái học của một số loài chim cụ thể Các nhà khoa học cũng đã thống kê cập nhật bổ sung các loài mới vào danh lục các loài chim Việt Nam, thế giới và cho từng vùng cụ thể Đã dần thống kê, cập nhật tình trạng, và giá trị bảo tồn các loài động vật hoang dã và chim hoang dã, đưa các loài quý hiếm vào danh lục các loài cần được bảo vệ bởi quy định của pháp luật từ đó đề xuất, tác động tới các nhà hoạch định chính sách nhằm đưa
ra quy định để bảo vệ, bảo tồn và phát triển các loài có nguy cơ tuyệt chủng Với nhiều công trình về phân loại học động, thực vật trong đó có các loài chim đã góp phần tạo ra một nền tảng khoa học cho các công trình nghiên cứu sau này Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về đa dạng các loài chim đã được nghiên cứu khá muộn so với thế giới, tuy nhiên đây là lĩnh vực đã được sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội và các tổ chức quốc tế, bước đầu cũng đã đạt được
Trang 16vật Chí,… với nhiều loài mới được đưa vào tạo cơ sở khoa học cho các nhà quản
lý đưa ra các chính sách, biện pháp phù hợp để quản lý bảo vệ và phát triển các loài có tầm quan trọng đặc biệt về mặt khoa học, kinh tế, xã hội cũng như việc bảo tồn nguồn gen, cân bằng đa dạng sinh học
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về đa dạng các loài chim chỉ tập chung vào việc thống kê các loài, chưa quan tâm sâu tới việc xác định đến giá trị bảo vệ, bảo tồn, loài định cư hay di cư cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của các loài chim Đó là những cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài và nội dung nghiên cứu
1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý
Toạ độ địa lý: Từ 20020’55” đến 20025’45” vĩ độ Bắc; Từ 105048’00” đến 105054’30” kinh độ Đông
Ranh giới : Nằm trên địa bàn 07 xã là Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân và Gia thanh thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Trụ sở văn phòng Ban quản lý đóng trên địa bàn xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình [2]
1.3.2 Địa hình
Khu BTTN đất ngập nước Vân Long có kiểu địa hình ô trũng giữa các lòng sông Khu vực nghiên cứu chủ yếu chứa các thành tạo đá vôi trên mặt đất chính là các đỉnh và sườn Karst phễu và hố sụt Các dãy núi đá vôi (có xen một ít đồi cát kết) chiếm gần ¾ diện tích khu BTTN, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ít thấy các thung thung lũng và cánh đồng Karster lớn mà thường thấy các thung lũng dạng lòng chảo nhỏ dưới
10 ha như thung Tranh có dạng đáy hình chữ U Đỉnh các khối núi thường sắc nhọn với các địa hình dạng tai mèo khá đặc trưng, còn sườn thì dốc đứng với nhiều đống đá sụt đổ Các đỉnh núi có độ cao dưới 450 mét như đỉnh Súm (233m), đỉnh Mào Gà (308m), đỉnh Ba Chon (428m), đỉnh
Cô Tiên (116m), đỉnh Mèo Cào (206m ), đỉnh Đồng Quyển (328m), núi
Trang 17Mây (138m), núi Mây (128m) Trên hầu hết sườn dốc đứng, tai mèo dạng rãnh và luống khắc sâu vào vách đá; trong các hốc nhỏ có lớp thổ nhưỡng tạo nên nền tảng cho hệ thực vật trên đỉnh và sườn núi phát triển thưa thớt với các cây bụi, cây gỗ nhỏ là nơi sinh sống của đàn Vọoc và các động vật khác Dưới chân núi đá vôi thường có nhiều hàm ếch và các hang động ngập nước Ranh giới giữa chân các dãy núi đá vôi và vùng đất trũng ngập nước còn xen kẽ một số đồi đá phiến thấp nằm rải rác trong khu vực với độ cao không vượt quá 50m [2]
1.3.3 Khí hậu - thuỷ văn
Khí hậu: Khu BTTN đất ngập nước Vân Long có nhiệt độ bình quân
năm biến động từ 23,30
C - 23,40C Mùa lạnh tới sớm vào cuối tháng 11 kết thúc vào đầu tháng 3 (số ngày lạnh trung bình từ 50-60 ngày) chủ yếu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ nóng nhất trung bình vào tháng 7 >290C, nhiệt độ tối thấp là 50C và tối cao là 390C Lượng mưa ở mức trung bình, biến động từ 1800mm - 1900mm phân bố không đều giữa các mùa Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 10, chiếm tới 88-90% tổng lượng mưa năm Mưa nhiều nhất là tháng 8,9 có ngày mưa tới 451mm, lượng bốc hơi chưa vượt quá 1000 mm/năm[4]
Thuỷ văn: trong vùng có 3 hệ thống sông lớn có ảnh hưởng đến chế
độ thuỷ văn trong khu BTTN, đó là sông Đáy, sông Bôi và sông Hoàng Long với nhiều nhánh sông suối nhỏ như sông Lãng, sông Canh Ngoài ra trong khu BTTN còn có một số con suối nhỏ chảy vào đầm Vân Long như suối Tép và một số hang động trong núi đá vôi cung cấp nước cho đầm Cút và đầm Vân Long Đặc điểm của các sông lớn là có độ dốc nhỏ, uốn khúc quanh co và có nhiều sông nhỏ nối các sông lớn tạo nên một mạng lưới khá dày đặc[2]
1.3.4 Khu hệ động, thực vật
Khu thực vật: Tổng số loài thực vật bậc cao hiện biết là 722 loài
thuộc 6 ngành, 163 họ và 476 chi trong số các loài thực vật đã nghiên cứu
Trang 18Polypodiophyta và ngành Hạt trần – Gynospermae), 19 họ và 29 chi Trong các loài thực vật nguyên cứu có 15 loài được ghi nhận trong Sách
Đỏ Việt Nam (2007), trong đó có 3 loài nguy cấp, 11 loài sẽ nguy cấp và
1 loài ít nguy cấp Đây là nguồn tài nguyên thực vật cần được bảo vệ và phát triển bền vững[19]
Khu hệ động vật: Theo các nghiên cứu từ trước đến nay đã xác định
được tại KBT Vân Long có 39 loài thú thuộc 19 họ, 8 bộ; 98 loài chim thuộc 33 họ, 13 bộ; 32 loài lưỡng cư, bò sát thuộc 13 họ, 4 bộ; 54 loài cá thuộc 42 giống, 17 họ, 9 bộ; 22 loài động vật phù du, 95 loài động vật đáy
và 79 loài côn trùng[20]
1.4 Tổng quan về Điều kiện kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1 Dân số, phân bố dân cư và lao động
Khu BTTN đất ngập nước Vân Long được quy hoạch lấy đất của 7 xã: Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh và 7 xã trên trở thành vùng đệm của khu Bảo tồn Riêng 2 xã là Gia Hòa có 3 thôn: Vườn Thị, Gọng Vó và Đồi Ngô và xã Gia Hưng có 2 thôn: Hoa Tiên và Cọt còn có dân sinh sống trong vùng lõi khu Bảo tồn với 412 hộ, 2504 nhân khẩu
Theo thống kê năm 2012 tất cả 7 xã có 12.753 hộ với 50.659 nhân
khẩu (dân) Xã ít dân nhất là xã Liên Sơn 5.644 và xã nhiều dân nhất là Gia Hòa 8.372 Mật độ bình quân 530 người/km2 Tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1.7% cụ thể theo bảng 1.1[1]
Bảng 1.1 Tổng hợp số liệu dân sinh sống ở vùng đệm khu BTTN đất
Trang 19Sản xuất lâm nghiệp
Trồng rừng: Ban quản lý khu BTTN đất ngập nước Vân Long đã giao khoán diện tích đất Lâm nghiệp cho các hộ gia đình khoanh nuôi, bảo vệ được
2046 ha, trong đó: rừng núi đá là 1.865 ha, rừng trồng là 78 ha và 112 ha đất hoang đồi núi trồng rừng mới
Quản lý bảo vệ rừng: Trong những năm qua công tác bảo vệ rừng và bảo tồn đa sạng sinh học được thực hiện tốt, độ che phủ của rừng đã dần được nâng cao; cảnh quan môi trường được cải thiện Công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân các xã trong
Trang 201.4.3 Cơ sở hạ tầng
Về thuỷ lợi: Công trình ngăn lũ đê Đầm Cút là công trình thuỷ lợi lớn
nhất trong vùng Trong một số dự án đã xây dựng được 03 trạm bơm Các công trình này giúp nhân dân địa phương chống được lũ, tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho một bộ phân dân cư nhất định
Về giao thông nông thôn: Đã có 20km đường bê tông trên đê đầm Cút,
hầu hết các con đường liên thôn, liên xã cũng đã có đường bê tông [1]
1.4.4 Y tế - giáo dục
Y tế: Các cơ sở y tế thôn bản chưa được xây dựng, chưa đáp ứng được
nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân Trong 5 thôn trong khu BTTN đã có 4 thôn có y tá thôn (trừ thôn Cọt chưa có) nhưng trình độ chuyên môn chưa có, trang thiết bị, thuốc men chưa được đầu tư Tại các trung tâm xã đều có trạm y tế, nhưng việc khám chữa bệnh cho nhân dân vẫn còn rất hạn chế
Giáo dục: Các xã đều có trường tiểu học, trung học cơ sở, riêng xã
Gia Lập có trường ttrung học phổ thông, như vậy điều kiện giáo dục tương đối ổn định, đủ giáo viên và đủ lớp học Tỷ lệ trẻ em đến tuổi đi học tới trường trên 90%, tuy nhiên tỷ lệ người lớn không qua đào tạo chiếm tỷ lệ tương đối cao 35%[1]
Đánh giá chung về dân sinh - kinh tế - xã hội: Khu BTTN đất ngập
nước Vân Long chủ yếu là đồng bào người kinh, cuộc sống còn nghèo, sống còn dựa vào sản phẩm từ rừng, du lịch đang trong giai đoạn bước đầu phát triển, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng thấp kém và chưa được đầu tư thoả đáng Do vậy việc nghiên cứu hỗ trợ các chương trình dự án đầu tư, nhất
là trong lĩnh vực lâm nghiệp là rất cần thiết để từng bước nâng cao đời sống cộng đồng và thông qua đó giúp người dân có trách nhiệm và ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ, phát triển rừng và giảm sức ép vào khu bảo tồn, một địa
Trang 21danh có ý nghĩa quan trọng, tiềm năng trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch sinh thái
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các loài chim hoang dã, các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các loài chim
Phạm vi nghiên cứu: Các loài chim phân bố trong phạm vi Khu BTTN đất ngập nước Vân Long
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các dạng sinh cảnh của các loài chim phân bố tại khu BTTN đất ngập nước Vân Long
- Nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ chim về thành phần loài, và hình thái các loài mới phát hiện
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý, bảo vệ tại KBTTN đất ngập nước Vân Long
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng làm suy giảm các loài chim tại khu bảo tồn
- Đề xuất các giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn các loài chim bền vững
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Các tài liệu thứ cấp liên quan được thu thập qua:
Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã, của ban quản lý KBT, chi cục Kiểm lâm tỉnh về công tác quản lý, phát triển rừng tại KBT
Trang 22Các tài liệu liên quan đến địa điểm nghiên cứu được thu thập tại địa phương như: Điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế…
Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Tài liệu về hội thảo bảo vệ phát triển rừng, giám sát đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên,…Kế thừa số liệu các công trình có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu tại Khu BTTN đất ngập nước Vân Long trong những năm trước đây
2.3.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) 2.3.2.1 Thảo luận nhóm
Để đạt được mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên động vật nói chung, chim nói riêng tại Khu BTTN đất ngập nước Vân Long Đề tài sử dụng phương pháp thảo luận nhóm được áp dụng triệt để trong việc xác định nguyên nhân gây suy giảm đa dạng các loài chim (số lượng, chủng loại…) Số lượng người tham gia thảo luận là 90 người được chia làm 06 nhóm mỗi nhón
có 15 người, họ là người dân, cán bộ địa phương, nhân viên bảo vệ ở các lứa tuổi khác nhau sống trong và gần KBT Phương pháp sử dụng các thông tin liên quan đến các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên cũng như
sự hiểu biết của họ về vấn đề mà đề tài nghiên cứu Các thông tin, số liệu chủ yếu dựa trên hiểu biết của cộng đồng thông qua Bảng thảo luận Qua Bảng thảo luận có thể xác định được nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởng đến sự suy giảm đa dạng khu hệ chim cũng như những biện pháp khắc phục
2.3.2.2 Phỏng vấn cá nhân, tổ chức
Các cuộc phỏng vấn được tiến hành đối với 50 người họ là các cán bộ kiểm lâm của khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, đại diện Ban quản lý KBT, cán bộ xã Gia Vân, Gia Hòa, Gia Hưng và người dân địa phương nhằm thu thập những thông tin ban đầu về xác định tuyến điều tra sinh cảnh, phân bố, sự xuất hiện, tên các loài chim đặc biệt đối với các loài chim lớn, quý các thông tin được thu thập bằng cách nói chuyện trực tiếp
và ghi chép lại với từng đối tượng phỏng vấn Trong phương pháp đề tài
Trang 23cũng sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn để xác định nguyên nhân gây suy giảm
số lượng loài chim, khi cần thiết đề tài sử dụng sách có ảnh mầu về các loài chim để người được phỏng vấn dễ dàng xác định sự xuất hiện, tên các loài chim đó
2.3.2.3 Sơ đồ Venn mối quan hệ giữa sự suy giảm và các nguyên nhân
Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng khu hệ chim tại KBT Đề tài sử dụng biều đồ Venn để xác định tầm quan trọng khác nhau và ảnh hưởng của các nguyên nhân hiện có tại KBT đối với mức độ đa dạng của khu hệ chim Đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố này thông qua biểu đồ Thông qua đó có thể xác định đâu là nguyên nhân trực tiếp, đâu là nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân nào ảnh hưởng lớn nhất, nguyên nhân nào ảnh hưởng ít nhất Từ đó đề ra những biện pháp cần thiết để quản lý tốt hơn, có hiệu quả hơn cho sự phát triển bền vững khu hệ chim
2.3.3 Phương pháp điều tra thực địa
2.3.3.1 Phương pháp nhật ký thực địa
Phương pháp này quan sát trực tiếp bằng mắt thường không cần dùng đến các dụng cụ nghe nhìn (áp dụng đều cho việc ghi nhận các dạng sinh cảnh và các loài chim) bao gồm việc ghi nhận một cách có
hệ thống dọc theo các tuyến đường quan sát, những nơi có thể tiếp cận được với cự ly gần thông tin ghi nhận là các trạng thái sinh cảnh và các loài chim tại tuyến tuần tra, sử dụng sổ tay nhỏ, đơn giản hoặc các bảng biểu để ghi nhận thông tin như bảng 2.1; 2.2 hay sổ nhật ký thực địa như bảng 2.3 Nhật ký thực địa được sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu với trang thiết bị đơn giản: sổ tay, bút chì , sách hướng
dẫn, ống nhòm
Trang 24Bảng 2.1: Phiếu ghi nhận thông tin loài chim tại KBT Vân Long
Ngày Địa điểm Người ghi
nhận
Tên loài Số
lượng
Sinh cảnh
Bảng 2.2: Phiếu ghi nhận thông tin loài thực vật tại KBT Vân Long
Ngày Địa điểm Người ghi
Trang 25dung cần lưu ý, mô tả các đặc điểm về hình dạng, mầu sắc điển hình của các loài đã nhìn thấy, luôn mang theo sách hướng dẫn xem chim, có ảnh mầu để tiện so sánh,
Trang thiết bị bao gồm: Ống nhòm ban ngày, ban đêm và ống Scopes
để quan sát chim, kết hợp sử dụng máy ảnh số Nikon D70S có gắn ống Tele 70-400mm, la bàn, chân máy, để chụp ảnh các loài chim
Mỗi đợt chụp kéo dài từ 3-5 ngày, 2 tháng chụp một lần Ban ngày bắt đầu đi chụp từ 5h:30’ sáng và kết thúc trước 18.00 giờ chiều, ban đêm bắt đầu từ 19:00 – 22:00 và thời gian chụp phụ thuộc vào điều kiện thời tiết hàng ngày, địa hình của các tuyến điều tra
Bằng phương pháp chụp ảnh tư liệu, đề tài xác định các tuyến điều tra chim gồm:
: Từ khu vực Đầm Vân Long và núi Mâm Xôi đến thung Quèn
Cả tới khu vực thung Giếng đi về phía Hòa Bình Độ dài tuyến khoảng 3.000 m + Tuyến II: khu vực xã Gia Hưng giáp ranh với
: 2.000 m
+ Tuyến III: Từ Đập nước Gia Hưng đến Hang trạm bơm (gần nhà máy
xi măng Vina Kansai) và các suối như suối Tép (xã Gia Hòa) và suối Quèn Cả (xã Gia Hưng) Độ dài tuyến: 4.000m
2.3.3.3 Phương pháp điều tra tuyến
Phương pháp điều tra tuyến (áp dụng triệt để cho việc ghi nhận các dạng sinh cảnh sinh sống của các loài chim) có một số đặc điểm tương đối giống với phương pháp nhật ký thực địa, tuy nhiên các tuyến điều tra là cố định, phương pháp này cũng được sử dụng trong xác định các tuyến điều tra thành phần các loài chim
Trang 26Trang thiết bị gồm có: Máy ảnh, ống nhòm, đồng hồ, sách hướng dẫn, bảng giám sát Ngoài ra, khi thiết lập các tuyến điều tra cần phải
có bản đồ địa hình, la bàn, dây thừng, bút đánh dấu, …
Chọn tuyến điều tra cách nhau khoảng 0,5-1,5 km, tránh nơi có địa hình phức tạp khó di chuyển Trên các tuyến điều tra ghi nhận thông tin chính về sinh cảnh và tình trạng rừng, loài thực vật trong từng tuyến điều tra
Bằng phương pháp điều tra tuyến đề tài xác định được các tuyến điều tra sinh cảnh như sau:
Tuyến I (trên cạn): Tổng độ dài tuyến khoảng 4.500 mét
- Sườn phía Đông Bắc và các thung trong khối núi Đồng Quyển (600 m), Sườn phía Tây Nam (hướng về phía Đầm Cút) núi Đồng Quyển (1.300 m); vùng giáp ranh giữa Hòa Bình và Ninh Bình (1.500 m); vùng giáp ranh giữa
Hà Nam và Ninh Bình (1.100 m)
Tuyến II (vùng đất ngập nước): Tổng độ dài tuyến khoảng 3.000 mét
- Khu vực ngập nước nông: Dọc chân núi đá (900 m), dọc ven đê 1.500 m), và một số bãi hoang và ruộng là đất nông nghiệp
- Khu vực ngập nước sâu: Lòng đầm Cút (đầm Vân Long) (600 m)
2.3.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Tiến hành tổng hợp và phân tích thông tin từ các phiếu điều tra (Bảng câu hỏi, nhật ký) giúp xác định được các nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng gây suy giảm đa dạng các loài chim tại KBT và hướng khắc phục
Việc định loại các loài chim tại thực địa dựa vào kinh nghiệm của các
thành viên tham gia điều tra, phỏng vấn đồng thời dùng ảnh mầu để người dân
địa phương dễ dàng chỉ ra những loài chim họ đã nhìn thấy ở khu vực Vân Long, sau đó được kiểm định, so sánh lại bằng các tài liệu chuyên ngành như sách định loại chim có ảnh mầu của Robson, 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Phillipps, 2005
Trang 27Việc xác định về tình trạng bảo vệ các loài chim qua các văn bản: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (NĐ 32, 2006); Thông tư số 59 /2010/TT-BNNPTNT ngày 19/10/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về các loài động thực vật hoang dã thuộc quản lý của công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES, 2010)
Việc xác định về tình trạng bảo tồn các loài chim qua các văn bản: Sách
Đỏ Việt Nam, phần I: Động vật, 2007 của Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên
và Công nghệ, Hà Nội (SĐVN, 2007); IUCN Red List Categories and Criteria: Version 3.1 Second edition, 2012 (IUCN, 2012)
Đề tài lựa chọn sắp xếp danh lục chim theo quan điểm của Ahquist-Monroe (SAM), quan điểm này cũng được sử dụng trong Danh lục
Sibley-chim thế giới (C.Dickinson, 2003) Bên cạnh đó đề tài cũng cập nhật thêm
một số kết quả mới đạt được trong lĩnh vực phân loại ở từng nhóm chim cụ thể Về tên phổ thông của các loài đề tài lấy theo tài liệu Danh lục chim Việt
Nam của Võ Quý, Nguyễn Cử 1995 Tên tiếng Anh của các loài lấy theo tài liệu của Robson, 2000
Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra các kết quả thảo luận các thông tin định tính như chính sách, tổ chức… được phân tích theo phương pháp định tính
Trang 28Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng sinh cảnh phân bố của các loài chim tại khu BTTN đất ngập nước Vân Long
Khu BTTN đất ngập nước Vân Long có tổng diện tích là 2.736ha, trong
đó chia ra: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 1.297ha, phân khu phục hồi sinh thái 1.437ha và phân khu dịch vụ hành chính 2ha được đặt tại thôn Tập Ninh, xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tại thời điểm quy hoạch khu bảo tồn năm 2001 đã có một số người dân đã sinh sống từ lâu trong vùng lõi khu bảo tồn nên một phần diện tích rừng đã bị tàn phá để làm nương rẫy, khai thác
đá Sau khi KBT được thành lập thì đa phần diện tích trên đã tái sinh trở lại bằng khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng (kể cả khoanh nuôi có tác động và khoanh nuôi không có tác động) đồng thời một phần diện tích được đầu tư trồng rừng mới với những loài cây bản địa nhằm tái tạo và nâng cao độ che
phủ của rừng
KBT Vân Long được đặc trưng bởi các dãy núi đá vôi nằm thành dải dài hoặc độc lập như các hòn đảo nổi trên mặt nước Các dãy núi đá vôi chiếm gần hết diện tích khu bảo tồn được bao bọc xung quanh bởi vùng đất ngập nước là các con sông và vùng hồ nông có thảm thực vật ngập nước Cảnh quan Vân Long rất thích hợp với đời sống của nhiều loài chim, trong đó có các loài chim trên cạn và các loài chim nước
Bằng phương pháp điều tra tuyến đề tài xác định được các dạng sinh cảnh như sau:
3.1.1 Kết quả điều tra
Qua điều tra thực địa và các tài liệu liên quan về sinh cảnh phân bố của các loài chim đề tài ghi nhận được có 06 dạng sinh cảnh chính được phân tích tổng hợp theo Bảng 3.1 và được minh họa bằng Hình 3.1:
Trang 29Bảng 3.1: Tổng hợp các dạng sinh cảnh phân bố tại KBT Vân Long
TT Dạng sinh cảnh Diện
tích (ha)
Tỷ lệ (%)
chú
1 Rừng phục hồi
trên núi đá vôi
549 20,1 Rừng trên núi đá vôi đặc trưng
bởi những loài cây ưa canxi chiếm ưu thế Tốc độ sinh trưởng tốt, chiều cao trung bình 5-6m, đường kính ngang ngực ≈ 6cm Dây leo khá phong phú
Rừng tái sinh trên núi đá
2 Rừng trồng 78 2,9 Loài cây trồng chủ yếu là Keo
tai tượng, Keo lá tràm, Thông
mã vĩ, Bạch đàn trắng, cây tràm Chất lượng rừng nói chung còn kém
5 Đất ngập nước
quanh năm
314 11,4 Đặc trưng của hệ sinh thái đất
ngập nước này đó là đồng cỏ ngập nước quanh năm hoặc
theo mùa
6 Đất nông nghiệp
và đất thổ cư làng
bản
215 7,8 diện tích đất nông nghiệp và
thổ cư của người dân nằm xen
kẽ trong khu bảo tồn
Trang 30Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và thảm thực vật khu bảo tồn
thiên nhiên đất ngập nước Vân Long
chủ yếu ở phía Bắc và Đông
Bắc khu bảo tồn Trước đây
vùng núi đá này đã bị tác động
mạnh do nằm sát khu dân cư
đông đúc, sau hơn 10 năm
quản lý và bảo vệ nghiêm
ngặt (không cho lấy củi và
chăn thả dê) nên rừng đã được tái sinh rất nhanh Nhiều loài cây gỗ ưa sáng
mọc nhanh xuất hiện như Sanh (Ficus benjamina), Găng gai (Randia
dumetorum), Sảng (Sterculia lanceolata), Sồi ghè (Lithocarpus cornea), Chân
Ảnh số 1: Rừng phục hồi trên núi đá vôi, thôn
Vườn Thị, xã Gia Hòa
Trang 31chim (Vitex parviflora), Hoa dẻ (Desmos cochinchinensis), Trường vải (Nephelium meliferum), Đa lông (Ficus macrophylla), Thừng mực (Wrightia
annamensis), Huyết giác (Dracaena cambodiana), Muồng ràng ràng
(Adenanthera microsperma), Ruối (Streblus asper), Thàn mát (Milletia
ichthyostoma), Ô rô (Taxotrophis macrophylla), Lộc vừng (Barringtonia acutangula)…
Do là rừng thứ sinh phục hồi nên thành phần loài còn nghèo, tuy vậy những cây ưa canxi đặc trưng cho rừng trên núi đá vôi vẫn chiếm ưu thế Tốc
độ sinh trưởng tốt, chiều cao trung bình 5-6m, đường kính ngang ngực ≈ 6cm Dây leo khá phong phú, có gần 20 loài; điển hình là Dây móc diều
(Caesalpinia minax), Cẩm cang (Smilax spp.), Nho rừng (Ampelopsis spp.), Móng bò (Bauhinia sp.) Tại vùng chân núi nhiều loài Búng báng (Arenga
pinnata), Móc (Caryota bacsonensis), Lá nón (Livistona sp.)… phát triển khá
tốt, tạo thành thảm dày Các cây gỗ và cây bụi chỉ mọc phân tán, gồm các loài
như Bo rừng (Firmiana colorata), Me núi đá (Phyllanthus rubescens), Huyết giác (Dracaena cambodiana), Huyết dụ (Cordyline fruticosa), Dứa dại (Pandanus tonkinensis), Sặt (Arundinaria sp.) Một số loài dương xỉ bì sinh trên đá, trên các hốc đá ẩm như Seo gà (Pteris ensiformis), Tóc thần (Adiantum capillus-veneris) Trên các sườn đá hiểm trở cũng là nơi sống của Thiên tuế núi đá (Cycas cf dolicophylla), loài có phân bố rộng nhưng cũng là
loài quý cần được bảo tồn
Rừng thứ sinh trên núi và thung lũng đá vôi có vị trí rất quan trọng đối với cảnh quan môi trường và công tác bảo tồn ở Vân Long, ngoài việc làm mát bầu không khí còn cung cấp một lượng lớn thức ăn cho Voọc mông trắng
và nơi làm tổ cho các loài chim, thú khác
Trang 323.1.2.2 Rừng trồng
Hiện có khoảng 78 ha
chiếm 2,9 % tổng diện tích
KBT, chủ yếu trong các thung
lũng đá vôi và xung quanh
Đồi Ngô, Gọng Vó xã Gia
Hòa và Gia Hưng Loài cây
trồng chủ yếu là Keo tai tượng
(Acacia mangium), Keo lá
tràm (Acacia auriculiformis),
Thông mã vĩ (Pinus massoniana), Bạch đàn trắng (Eucalyptus
camadulensis), cây tràm (…) Chất lượng rừng nói chung còn kém Các khu
rừng trồng này tập chung thành những khu vực nhỏ chủ yếu tại phân khu phục hồi sinh thái quanh khu KBT qua đó làm giá thể đậu cho các loài chim sinh
% tổng diện tích khu bảo tồn,
phân bố gần làng hoặc ven
đường mòn, đường ô tô, trên
các núi Miên, núi Lương,
Đồng Quyển, Mèo Cào và
Trang 33dumetorum), Ruối (Streblus asper), Ô rô (Taxotrophis ilicifolius), Đỏm
(Bridelia tomentosa), Lá nến (Macarenga denticulata), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Bời lời nhớt (Litsea sebifera), Mần tang (Litsea cubeba), Sặt (Arundinaria sp.), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ may (Chrysopogon aciculatus), Chó đẻ (Phyllanthus urinaria), Guột (Dicranopteris linearis), Kim cang (Smilax sp.), Một số các cây gỗ nhỏ và
cây bụi khác cũng phát triển được trong các trảng cây bụi trên núi nhưng với số
lượng ít hơn như Mò lá tròn (Clerodendron thomsonii), Mẫu đơn (Ixora
coccinea), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Bùm bụp (Mallotus philippinensis), Sòi
(Sapium sebiferum), Mạy tèo (Dimerocarpus brenierii), Ô rô (Taxotropus
macrophylla), Sảng (Sterculia lanceolata)… Đây cũng là môi trường sinh
sống, kiếm ăn của các loài chim, thú,…
3.1.2.4 Núi đá không có cây
Có diện tích đến 414
ha chiếm 15,2 % tổng diện
tích khu bảo tồn Phân bố
thành nhiều mảnh lớn xung
quanh khu dân cư Đồi Ngô,
Gọng Vó (Gia Hòa) và thôn
13 của Gia Hưng và hầu hết
các thung đá vôi trong
vùng Thành phần chủ yếu
gồm Cỏ lào (Chromolaena odorata=Eupatorium odoratum), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ lau (Saccharum arundinaceum), Chè vè (Miscanthus japonicus), Lau (Arundo donax), Cỏ may (Chrysopogon
aciculatus), Cỏ sau róm (Setaria viridis), các loại cỏ này có độ che phủ tới
90% các bãi cỏ Ngoài ra còn xen kẽ một số cây thảo như Mã đề (Plantago
Ảnh số 4: Núi đá không có cây, Tập Ninh, xã Gia Vân
Trang 34lanceolata), Chuối rừng (Musa coccinea), Xẹ (Alpinia sp.), mọc thành những
khóm nhỏ rải rác
Khả năng phục hồi rừng từ kiểu thảm thực vật này là rất khó do, tầng đất mỏng, ít dinh dưỡng Tuy vậy trạng thái thảm thực vật này cũng đóng góp vai trò quan trong trang việc phân bố các loài chim trong khu bảo tồn
3.1.2.5 Đất ngập nước quanh năm
Diện tích đất ngập
nước quanh năm tại khu
Vân Long là 314 ha chiếm
11,4 % tổng diện tích toàn
khu Đây là diện tích mang
lại nét đặc trưng cho khu
bảo tồn bao gồm 02 dạng
điển hình là Khu vực nước
sâu là nơi tích tụ mùn bã hữu cơ và muối khoáng từ các núi Đồng Quyển, Mèo Cào với nền đáy xốp; Khu vực nước nông là những vùng gần chân núi,
ven đê, ruộng hoang hóa… Đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước này đó
là đồng cỏ ngập nước quanh năm hoặc theo mùa, thời gian ngập nước theo mùa khoảng tháng 6 đến tháng 10 hàng năm và là môi trường sinh sống ưu thích của các loài chim nhất là các loài chim di cư
Những vùng đất thấp trũng có thời gian ngập nước quanh năm, thực vật
bao gồm các loài thủy sinh như Sen (Nelumbo nucifera), Súng (Nymphaea
sp), Nhỉ cán vàng (Utricularia aurea) hoặc chịu ngập nước như Lúa hoang
(Oryza rifipogon), Lác hến (Scirpus grossus), … Ngoài ra, do có đê giữ nước
nên có sự hiện diện của những loài thực vật ngay sau đê, những bãi cỏ phát triển trên nền của những mùn bã hữu cơ được tích luỹ dần theo thời gian Độ rộng phân bố trung bình của chúng khoảng 20 m sau đê, những loài thực vật
được ghi nhận: Cỏ năng (Eleocharis dulcis) (3m), Rau dừa (Lasia spinosa)
Ảnh số 5: Đất ngập nước quanh năm, Đầm Cút, xã Gia
Vân
Trang 35(1m), Lục bình (Eichhornia crassipes) (7m), U du (Cyperus sp) (1,5m), Cỏ bắc (Leersia hexandra) (0,5m), ngoài ra còn có: Ráng đại (Acrostichum
anneura), Chò co, Lúa hoang (Oryza rufipogon) Vào các tháng mùa khô, đây
là nơi trú ẩn của các loài bò sát như rắn Ri cá, rắn Bông súng, Rùa, Cua đinh
và các loài cá thuộc nhóm cá nước tĩnh như Lươn, các loài thuộc họ cá Trê,
họ cá Rô đồng…
Những vùng đất nông có thời gian ngập nước theo mùa là các đồng cỏ ngập nước thường phân bố ngay sau đai rừng, ven đê, dọc sông đá Hàn và vùng đầm Cút Vào mùa mưa thì vùng đất ngập nước có diện tích lên tới 988
ha, chiếm 36,1% tổng diện tích khu bảo tồn chủ yếu tại phân khu phục hồi sinh thái Khu vực có diện tích lớn nhất hiện nay là khu vực Đàm Cút (Đầm Vân Long) khoảng 600 ha vào mùa mưa, những khu vực có diện tích nhỏ khác thường dưới 1 ha phân bố rải rác quanh vùng biên KBT, những khu vực
có diện tích lớn hơn (2-3 ha) là những đồng cỏ mới được phục hồi lại sau khi không trồng lúa nữa (do năng suất thấp) Đây là sinh cảnh có sự hiện diện của
nhiều loài chim nước; trong đó có những loài chim lớn như Diệc Xám (Ardea
cinerea), Cò trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes), kịch (Porphyrio porphyrio), Vịt trời(Anas clypeata và Anas poecilorhyncha), Le le
(Dendrocygna javanica), Bói cá lớn (Megaceryle lugubris), Bói cá nhỏ (Ceryle rudis) Tổ thành thực vật ở các đồng cỏ hiện nay thường bao gồm nhiều loài thân thảo sống chung với nhau như cỏ Năng ngọt (Eleocharis
dulcis), Lúa hoang (Oryza rufipogon), cỏ Ống (Panicum repens), U du
(Cyperus sp), Rau mác (Monochoria sp)
Trang 363.1.2.6 Đất nông nghiệp và đất thổ cư
Tổng diện tích đất nông
nghiệp và thổ cư là 215 ha
chiếm 7,8 % trong đó đất thổ
cư là 33 ha, chiếm 1,2% diện
tích khu bảo tồn Bao gồm
vùng đồi thoải, những vạt đất
bằng trước núi hoặc các thung
bên trong núi đá vôi Chủ yếu
trồng hoa màu và cây ăn quả như ngô, khoai, sắn, lạc, đậu, nhãn, vải, ổi, hồng xiêm,… Lúa thường được trồng một vụ tận dụng đất ven đầm vào mùa khô trong năm Do diện tích đất nông nghiệp và thổ cư của người dân nằm xen kẽ trong khu bảo tồn nên đây cũng là trạng thái sinh cảnh mà các loài chim phân
bố và sinh sống trong đó chủ yếu là các loài chim định cư
3.2 Đa dạng khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long
Bằng phương pháp điều chụp ảnh tư liệu, phương pháp phân tích số liệu
và các phương pháp hỗ trợ khác đề tài tiến hành điều tra tại các tuyến nghiên cứu, Các tuyến đi dọc theo đường mòn trong rừng trên núi đá vôi những nơi địa hình cho phép hoặc đi bằng thuyền dưới nước, nơi có tầm quan sát rộng Không sưu tập mẫu vật sống, nhưng thu nhận, ghi chép, chụp ảnh những di vật của chim trong cộng đồng
3.2.1 Kết quả điều tra
3.2.1.1 Danh lục thành phần các loài chim
Kết quả nghiên cứu trên 03 tuyến điều tra và kế thừa, tổng hợp các dẫn liệu nghiên cứu trước đây ở khu vực Danh lục thành phần các loài chim tại KBT Vân Long được lập và cập nhật, xem phụ biểu 2
Từ phụ biểu 2 cho thấy tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long có 101 loài chim thuộc 13 bộ, 39 họ, 75 giống
Ảnh số 6: Đất nông nghiệp và đất thổ cư, Đồi Ngô,
xã Gia Hòa
Trang 37Trong đó có Các loài chim nguy cấp, quý, hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen tại khu BTTN đất ngập nước Vân Long bao gồm:
Có 04 loài có tên trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm:
Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) nhóm IB; Diều hoa miến điện (Spilornis
cheela) nhóm IIB Cú lợn lưng xám (Tyto alba) nhóm IIB và phướn
đất(Carpococcyx renauldi) nhóm IIB
Có 03 loài trong phụ lục CITES (2010) là loài Cắt lưng hung (Falco
tinnunculus) phụ lục II; Cú lợn lưng xám (Tyto alba) phụ lục II; Cú mèo
khoang cổ (Otus lettia) phụ lục II
Có 03 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) là loài Cò nhạn
(Anastomus oscitans) mức R; Sâm cầm (Fulica atra) mức R; Bồng chanh (Alcedo atthis) mức T
Có 89 loài có tên trong Danh lục đỏ thế giới (IUNC Redlist, 2012) mức LC; 01 loài mức NT.[45]
Có 03 loài chim mới được đề tài ghi nhận bổ xung thêm so với trước đây
bao gồm: Cò nhạn (Anastomus oscitans); Giẻ cùi (Urocissa erythrorhyncha);
Đầu rìu (Upupa epops)
Cũng qua phụ biểu 2 xét về sự đa dạng phân bố chim theo sinh cảnh cho thấy sự phân bố của các loài chim theo sinh cảnh rất đa dạng được tổng hợp qua Bảng 3.2 và được minh họa bằng biểu đồ 3.1
Bảng 3.2 Kết quả phân bố chim theo sinh cảnh sinh cảnh tại
Trang 38Biểu đồ 3.1 Sự đa dạng phân bố chim theo sinh cảnh
Qua Bảng 3.2 và biểu đồ 3.1 cho thấy sinh cảnh phân bố của các loài chim cũng rất đa dạng cụ thể đề tài ghi nhận được có 06 dạng sinh cảnh chính chim phân bố được chia thành 02 nhóm, sinh cảnh nhóm A (Rừng phục hồi trên núi đá vôi; Rừng trồng; Trảng cỏ và cây bụi; Núi đá không có cây; Đất nông nghiệp và đất thổ cư làng bản) với, 65 loài chim thuộc 8 bộ, 28 họ phân
bố chiếm 64,3% tổng số loài chim được ghi nhận Sinh cảnh nhóm B (Đất ngập nước quanh năm, theo mùa) với 36 loài chim thuộc 7 bộ, 11 họ phân bố chiếm 35,6% tổng số loài chim được ghi nhận Qua đó thể hiện tính đa dạng, đặc trưng về lối sống hoang dã của các loài chim tại KBTTN Vân Long trong
đó phần lớn các loài chim phân bố trên sinh cảnh A
Đối với hệ sinh thái đất ngập nước (sinh cảnh nhóm B) bao quanh chân các dãy núi lại khá đa dạng về khu hệ động thực vật thủy sinh với nhiều loài
là nguồn thức ăn ưu thích của nhiều loài chim nước như cua, ếch nhái, tôm, tép, cá nhỏ, ốc, các loài giáp xác khác… đây là điều kiện thuận lợi để thu hút các loài chim nước đến kiếm ăn, sinh sản Chính vì vậy, họ Diệc và họ Gà nước là hai họ có số lượng loài đa dạng nhất phân bố trong sinh cảnh nhóm B Diện tích đất ngập nước ở khu bảo tồn biến đổi từ 314 ha (11,4% so với tổng diện tích khu bảo tồn) vào mùa khô và lên đến 988ha (36,1%) vào mùa mưa Các loài chim nước đều có đời sống liên quan mật thiết với nguồn nước và
Trang 39quan trọng hơn cả chính là nguồn thức ăn thủy sinh Trong số các loài chim nước có nhiều loài là di cư, vào các tháng mùa đông (tập trung từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau) số lượng chim nước tập trung ở khu vực đất ngập nước tăng lên đáng kể Số lượng đông nhất vẫn là quần thể cò trắng, cò
bợ, cò ruồi Bên cạnh đó là sự xuất hiện của nhiều loài chim nước quen thuộc khác như Cò ngàng lớn, Cò ngàng nhỡ, Diệc xám, Te vàng, Cà kheo… Đặc biệt ở khu vực đầm Vân Long lại luôn tồn tại quần thể chim Sâm cầm di cư với số lượng dao động khoảng 17 đến 28 cá thể vào mùa đông Mặc dù phân
bố và cư trú tại sinh cảnh nhóm B nhưng vẫn có một số loài thường xuyên tập trung thành đàn lớn kiếm ăn trên bãi chăn thả và ruộng khô cùng với đàn gia súc trâu, bò như loài Cò ruồi, cò trắng Môi trường ưu thích sinh sống, làm
tổ, kiếm ăn của các loài chim nước là các bụi cỏ, lau lách, bèo, rong… dưới đầm, đa số các loài cò thường tập trung trú ngụ, làm tổ trên các tán rừng bạch đàn, tràm và keo trồng sát phía dưới chân núi, vách đá sát đầm nước cũng là địa điểm ưu thích đậu phơi mình của nhiều loài cò
Bên cạnh sự đa dạng và độc đáo của khu hệ chim nước, ở Vân Long cũng khá phong phú về khu hệ chim trên cạn (sinh cảnh nhóm A) Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đang từng bước được phục hồi đã tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho sự cư trú, sinh sống, làm tổ của nhiều loài chim rừng Trong đó phải kể đến sự đa dạng của các loài chim trong họ Chào mào (5 loài), họ Sáo (4 loài), họ Cu cu (4 loài) Bên cạnh đó số lượng các loài chim
ăn thịt ở Vân Long cũng khá phong phú các loài chim ăn thịt ban ngày có thể quan sát thấy như Diều hoa miến điện, Ưng ấn độ, Ưng bụng hung và quan sát được cả loài Ó cá ít khi thấy ở khu vực này Chim ăn thịt ban đêm có các đại diện của bộ Cú như loài Cú lợn lưng xám, Cú mèo khoang cổ
Điều quan trọng dẫn đến sự phân bố của các loài chim cạn cũng chính là nguồn thức và môi trường làm tổ cho các loài chim Thức ăn của các loài
Trang 40như cào cào, châu chấu, các loài sâu, bướm, rế, … các loài thân mềm như ốc, giun, bọ,…một số loài bó sát rắn, rết, các loài ếch nhái, ngoài ra còn có hoa, quả, mật ong, mật hoa … kể cả các loài chim nhỏ cũng có thể là thức ăn cho các loài chim ăn thịt lớn Môi trường làm tổ ưu thích của các loài chim cạn là các tán cây cao, cây bụi, hốc cây, vách đá, mái nhà…
Chính vì những đặc điểm phong phú của môi trường làm tổ, nguồn thức
ăn đã dẫn đến sự đa đạng trong phân bố của khu hệ chim tại KBTTN Vân Long, đặc trưng cho hai hệ sinh thái của khu bảo tồn là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và hệ sinh thái đất ngập nước và môi trường giao thoa giữa hai hệ sinh thái
3.2.1.2 Cấu trúc thành phần các loài chim
Cấu trúc thành phần họ, giống, loài trong từng bộ chim ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long được thể hiện cụ thể trong bảng 3.3 và biểu đồ 3.2
Bảng 3.3 Cấu trúc thành phần loài chim ở KBTTN ĐNN Vân Long
%
Số giống
Tỉ lệ
%
Số loài