1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang

68 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM NGỌC PHA NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG Đ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM NGỌC PHA

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI

HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

MÃ SỐ: 60 62 01 10

: TS Lưu Thị Xuyến

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và những số liệu trình bầy trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo

vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm

ơn Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã

được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 8 năm 2013

Tác giả

Phạm Ngọc Pha

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của cơ sở đào tạo và nơi thực hiện đề tài nghiên cứu, của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình Nhân dịp này Tôi xin

được gửi lời cám ơn tới TS Lưu Thị Xuyến - Giáo viên Khoa Nông Học -

Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, giáo viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong quá trình làm thí nghiệm và hoàn thành luận văn này Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và Khoa Sau đại học của trường đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập tại trường Tôi xin được gửi lời cám ơn đến Cấp ủy, Chính quyền xã Quyết Tiến, thôn Nậm Lương, thôn

Bó Lách đã tạo điều kiện cho tôi triển khai các thí nghiệm nghiên cứu trên địa bàn xã trong hai năm qua Xin được cám ơn bạn bè, đồng nghiệp

và gia đình đã tạo điều kiện, chia sẻ công vịêc và động viên tôi hoàn thành khoá học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Phạm Ngọc Pha

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài nghiên cứu 3

2.1 Mục đích 3

2.2 Yêu cầu 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 5

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 5

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam 6

1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 6

1.2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 6

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 13

1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 13

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 15

1.2.2.3 Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc 20

1.2.3 Tình hình sản xuất và phát triển cây đậu tương tại Hà Giang 22

1.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu chung và 2 năm (2012-2013) 25

Chương 2: VẬT LIỆU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Vật liệu nghiên cứu 28

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.1.1 Giống và nguồn gốc giống 28

2.1.2 Địa điểm điều kiện và thời gian nghiên cứu 28

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 29

2.2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 29

2.2.2.2 Quy trình kỹ thuật 30

2.2.2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31

2.2.2.4 Xây dựng mô hình trình diễn giống ưu tú 34

2.2.2.5 Xác định một số chỉ tiêu hóa sinh để đánh giá chất lượng 35

2.2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Kết quả đánh giá tình hình sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm tại Quản Bạ, Hà Giang 36

3.1.1 Một số đặc điểm sinh vật học của các giống đậu tương thí nghiệm 36 3.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương 38

3.1.3 Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 40

3.1.5 Khả năng chống chịu của các giống đậu tương: 45

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

1 Kết luận 55

2 Đề nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

H.Q.BA Huyện Quản Bạ

H.YM Huyện Yên Minh

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

trong những năm gần đây 7

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương

của một số nước đứng đầu thế giới 8

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

trong những năm gần đây 14

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Hà Giang trong 5 năm

đậu tương thí nghiệm 43

Bảng 3.5: Một số đặc điểm hình thái của các giống đậu tương

thí nghiệm 45

Bảng 3.6: Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm 46 Bảng 3.7: Tình hình bệnh hại và chống đổ của các giống

đậu tương thí nghiệm 48

Bảng 3.8: Tình hình sâu hại đậu tương thí nghiệm 51 Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 53

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) còn gọi là cây đậu nành là

một cây trồng cạn có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế biến, thức ăn gia súc gia cầm và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Ngoài ra đậu tương còn là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2]

Đậu tương là một trong những cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới và là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm sau lúa mỳ, lúa nước và ngô Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit Trong đó protein chiếm khoảng 36 - 46%, lipit biến động từ 16 - 24% tuỳ theo giống

và điều kiện khí hậu Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]

Trong y học, đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương đen có tác dụng tốt cho người bị đái tháo đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2]

Đậu tương là cây nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến sơn, cao su nhân tạo, mực in, xà phòng chất dẻo, tơ nhân tạo, dầu bôi trơn trong ngành hàng không (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]

Với giá trị nhiều mặt nên sản xuất đậu tương trên thế giới tăng rất nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 1960 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 21 triệu ha thì đến năm 2010 đã tăng lên đạt 102,39 triệu ha, năng suất đạt 25,55 tạ/ha, sản lượng đạt 261,577 triệu tấn

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(FAO, 2012) [20] Ở Việt nam đậu tương được phát triển rất mạnh mẽ cả về diện tích, năng suất và sản lượng Trước cách mạng tháng 8/1945 diện tích đậu tương còn rất ít mới đạt 32,00 nghìn ha (1944), năng suất thấp 4,1 tạ/ha Sau khi đất nước thống nhất (1976) diện tích trồng đậu tương bắt đầu được

mở rộng 39,40 nghìn ha và năng suất đạt 5,3 tạ/ha Sau đó diện tích tăng lên rất nhanh, đến năm 1996 là 110,30 nghìn ha, năng suất đạt 11,1 tạ/ha (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2], đến năm 2010 nước ta trồng được 197,8 nghìn

ha đậu tương với năng suất bình quân 15,01 tạ/ha, sản lượng đạt 296,9 nghìn tấn (FAO, 2012) [20]

Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc diện tích sản xuất đậu tương qua các năm đều tăng về năng suất và sản lượng, trong những năm gần đây tỉnh

Hà Giang đã xác định cây đậu tương là cây có giá trị kinh tế cao cần phát triển

mở rộng để trở thành hàng hóa Từ năm 2006 đến 2010, diện tích đậu tương toàn tỉnh hàng năm tăng gần 5.000 ha Năm 2006 diện tích là 15.893,6 ha đến năm 2010 diện tích đạt 20.810,3 ha Năm 1012 diện tích đậu tương toàn tỉnh là 21.279,9 ha Nguyên nhân là do các huyện chuyển đổi diện tích trồng cây lạc và cây trồng khác sang trồng cây đậu tương, phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai, dễ gieo trồng và cho hiệu quả kinh tế cao hơn

Mặc dù diện tích tăng nhanh như vậy nhưng năng suất đậu tương ở Hà Giang tăng chậm và năng suất bình quân toàn tỉnh còn thấp hơn năng suất bình quân khu vực và thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất của giống Năm 2006 năng suất bình quân toàn tỉnh là 8,9 tạ/ha đến năm 2010 đạt 10,2 tạ/ha, Đến năm 2012 năng suất đạt 11,4 tạ /ha trong khi năng suất đậu tương nước ta đạt 14,5 tạ/ha, điều đó đã dẫn đến sản lượng đậu tương của tỉnh tăng chậm Năm 2006 sản lượng đậu tương toàn tỉnh là 14.115,7 tấn, đến năm 2010 đạt 22.991,1 tấn, tăng 8.875,4 tấn Năm

2012 đạt 24.191,9 tấn

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nguyên nhân dẫn đến năng suất và sản lượng đậu tương của tỉnh còn thấp là do chưa có được bộ giống đậu tương tốt cho sản xuất và quy trình thâm canh thích hợp cho từng giống Mặc dù đã đưa khảo nghiệm và đã chọn được một số giống mới như: DT84, DT2008, DT 90, DT 92, DT 95,

DT 96,TL 57 có thời gian sinh trưởng ngắn và năng suất cao, phù hợp với điều kiện địa phương Tuy nhiên mới dừng lại ở quy mô khảo nghiệm và

mô hình, chưa nhân rộng được trên địa bàn tỉnh Giống đậu tương truyền thống là DT84 vẫn được gieo trồng phổ biến chiếm 63,8% diện tích tương đương 13.281,1 ha, giống DT96 chiếm 0,6% tương đương 118,3 ha, giống

VX 93 chiếm 4% tương đương 838,4 ha Qua đó cho thấy, công tác giống chưa được chú trọng, số hộ sử dụng giống địa phương đã bị thoái hoá còn chiếm tỷ lệ lớn Việc quản lý và cung cấp giống còn nhiều bất cập dẫn đến chất lượng giống bị pha tạp, vì vậy chất lượng thương phẩm kém, năng suất bình quân thấp

Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu

khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại Huyện Quản Bạ - Tỉnh Hà Giang” nhằm tìm ra những giống đậu tương có

khả năng thích hợp đưa vào sản xuất trên địa bàn tỉnh Hà Giang

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài nghiên cứu

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài:

Điều kiện ngoại cảnh có liên quan chặt chẽ tới cây trồng nói chung

và cây đậu tương nói riêng, nó ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển và hoạt động sinh lý, sinh hoá của cây Sự biểu hiện kiểu hình ra bên ngoài chính là kết quả của sự tác động giữa kiểu gen với môi trường sống

Kiểu gen + Môi trường -> Kiểu hình

Sự sinh trưởng phát triển, khả năng cho năng suất của cây trồng chịu

sự tác động của môi trường và điều kiện trồng trọt, song mức độ ảnh hưởng của môi trường lên các giống là không giống nhau Trong cùng một điều kiện trồng trọt một số giống sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao trong khi đó một số giống khác lại sinh trưởng phát triển kém và cho năng suất thấp, thậm chí không tồn tại được hay không cho thu hoạch Sở dĩ như vậy vì chúng có những kiểu gen khác nhau

Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,

có rất nhiều phương pháp để chọn tạo giống cây trồng mới như: Gây đột biến, lai hữu tính, phương pháp nhập nội Các giống được tạo ra chưa được phổ biến ra sản xuất ngay được mà cần phải được so sánh, đánh giá

Do vậy công tác so sánh, khảo nghiệm, đánh giá giống là việc làm cấn thiết không thể thiếu, đồng thời quyết định sự thành công của công tác chọn tạo giống để đưa giống mới vào sản xuất

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Năng suất đậu tương nước ta thấp hơn so với trên thế giới và khu vực Năm 2010 năng suất bình quân của Việt Nam đạt 15 tạ/ha trong khi đó năng suất bình quân của thế giới đạt 23,78 tạ/ha Có nhiều nguyên nhân dẫn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đến năng suất đậu tương của Việt Nam thấp, một trong những nguyên nhân chính là chưa có bộ giống thích hợp với từng vùng, đặc biệt là vùng Trung

du miền núi Hiện nay sản xuất đậu tương ở Hà Giang nói chung và huyện Quản Bạ nói riêng chủ yếu sử dụng giống cũ, người dân tự để giống từ vụ này sang vụ khác nên chất lượng giống không đảm bảo dẫn đến năng suất, sản lượng đậu tương của tỉnh thấp Do đó cần khảo nghiệm để chọn được

bộ giống đậu tương tốt phục vụ cho sản xuất

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là một trong những cây trồng có vị trí quan trọng trong

hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5.000 năm Cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc, sau đó được trồng ở Nhật Bản, Triều Tiên

và các nước trên thế giới

Hiện nay, có khoảng trên 80 Quốc gia và vùng lãnh thổ trồng và phát triển rất mạnh cây đậu tương và châu Á là nơi nguyên sản của cây đậu tương nhưng nó lại được trồng tập trung ở châu Mỹ (70,03%), châu Á (23,5%)

Từ những năm 1970 sản lượng đậu tương của thế giới đã tăng gấp 2 lần so với cây lấy dầu khác và trở thành mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao cho nhiều nước và trở thành có giá trị kinh tế cao ngoài việc sử dụng làm thực phẩm cho con người, còn được làm nguyên liệu chế biến phục vụ cho ngành chăn nuôi Tình hình sản xuất đậu tương hiện nay được thể hiện qua bảng sau:

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

trong những năm gần đây

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (triệu tấn)

Qua bảng 1.1 ta thấy:

Về diện tích: Từ năm 2006 - 2012 diện tích trồng đậu tương trên thế giới tăng dần và dao động trong khoảng 90,15 – 106,62 triệu ha Trong đó diện tích trồng đậu tương tăng mạnh nhất vào năm 2012 với 106,62 triệu

ha Năm 2007 diện tích trồng đậu tương giảm xuống còn 90,15 triệu ha, giảm 12,24 triệu ha so với năm 2010 Diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng là do giá tương đối ổn định, nhu cầu tăng, mặc dù yếu

tố thời tiết và giá phân bón có ảnh hưởng nhưng không đáng kể

Về năng suất: Qua bảng ta thấy năng suất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây có xu hướng giảm đáng kể, từ 32,29 tạ/ha – 22,43 tạ/ha Giảm 9,86 tạ/ha, giảm mạnh nhất là năm 2009 chỉ đạt 22,43 tạ/ha

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Về sản lượng: Sản lượng đậu tương trên thế giới có xu thế tăng liên tục qua các năm Năm 2006 sản lượng đậu tương là 221,983 triệu tấn, tăng dần và đạt cao nhất năm 2011 là 262,037 triệu tấn

Hiện nay sản xuất đậu tương lớn nhất trên thế giới là 4 nước Mỹ, Brazil, Argentina và Trung Quốc Sản lượng đậu tương của 4 nước này chiếm khoảng 90 - 95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương

của một số nước đứng đầu thế giới

Tên nước

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Diện tích (triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Brazil 23,96 31,21 74,81 24,93 26,3 65,7 Argentina 18,76 26,04 48,87 19,35 26,6 51,5 Trung Quốc 7,88 18,36 14,44 6,75 16,9 12,8

(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO - 2012) [20]

Mỹ vẫn là nước đứng đầu trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương Diện tích năm 2011 là 29,85 triệu ha, năng suất bình quân đạt 28,19 tạ/ha, sản lượng 84,19 triệu tấn Năm 2012 diện tích tăng gần 01 triệu ha, năng suất năm 2012 giảm 1,5 tạ/ha so với năm 2011

Brazil là nước mới đứng vào hàng ngũ sản xuất đậu tương nhưng là nước có triển vọng Năm 2011 diện tích là 23,96 triệu ha, sản lượng 74,81 triệu tấn năng suất bình quân đạt 31,2 tạ/ha Từ 2000 đến 2005 diện tích tăng rất nhanh và đạt cao nhất vào năm 2005, diện tích là 22,95 triệu ha, năng suất bình quân đạt 22,3 tạ/ha, sản lượng 51,18 triệu tấn Diện tích trồng đậu tương năm 2006 - 2007 của Brazil đạt 21,57 triệu ha, giảm so với

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

22,95 triệu ha của năm 2005 là 1,064 lần Nhưng năng suất tăng đạt 26 tạ/ha Do vậy sản lượng đậu tương của Brazil năm 2006 - 2007 vẫn đạt kỷ lục 57,9 triệu tấn tăng 6,72 triệu tấn Năm 2010 là năm sản lượng đậu tương của Brazil tăng mạnh nhất đạt 68,518 triệu tấn

Nước đứng thứ 3 thế giới về sản xuất và xuất khẩu đậu tương là Argentina và đứng thứ 4 là Trung Quốc Trước năm 2000 Trung Quốc được xếp ở vị trí thứ 3 sau Mỹ và Brazil nhưng từ năm 2000 trở lại đây Argrentina đã vượt Trung Quốc cả về diện tích, năng suất cũng như sản lượng Năm 2009 diện tích đậu tương của Argrentina là 16,77 triệu ha, trong khi đó Trung Quốc là 9,19 triệu ha Đặc biệt năm 2012 năng suất đậu tương của Argentina đạt 26,6 tạ/ha cao hơn so với của Trung Quốc

là 16,9 tạ/ha

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương trên thế giới

Do có vai trò và tác dụng nhiều mặt đối với đời sống con người nên đậu tương đã được trồng từ rất lâu và giữ một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất đậu tương thì công tác nghiên cứu chọn tạo giống đóng vai trò quan trọng Hiện nay nguồn gen đậu tương được lưu giữ chủ yếu ở 15 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới: Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Pháp, Nigeria, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ và Liên xô (cũ) với tổng số 45.038 mẫu (Trần Đình Long, 1991) [6]

Những năm gần đây, nhiều trung tâm, viện nghiên cứu đã được thành lập như: Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (The International Institute of Tropical Agriculturre: TITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (The Asian Vegetable Rearch and Development Center: AVRDC), Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp cho vùng Đông nam châu Á (The Southeast Asian Regional Center for Graduatestady and

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ressearch in Agriculture: SEARCA), Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) Qua đó cho ta thấy việc nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới rất được quan tâm nhằm các mục đích sau:

- Nhập nội giống, tiến hành chọn lọc, thử nghiệm với điều kiện của các vùng sinh thái khác nhau

- Khảo nghiệm giống ở các vùng sinh thái khác nhau tìm ra các giống có khả năng thích ứng với các vùng sinh thái đó

- Tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính và dùng các tác nhân vật

lý, hoá học gây đột biến để tạo giống mới có nhiều đặc trưng đặc tính tốt

- Thu thập nguồn vật liệu, tiến hành lai hữu tính sau đó chọn lọc ra những giống tốt phục vụ cho sản xuất

- Xác định các địa bàn trồng đậu tương trên thế giới và các nước trồng đậu tương đạt năng suất, sản lượng cao

Để tạo ra giống mới người ta dùng nhiều phương pháp khác nhau như gây đột biến, lai hữu tính, nhập nội nhằm tạo ra các kiểu gen mới có nhiều ưu điểm hơn bố mẹ và thông qua phương pháp chọn lọc để tạo ra các dòng giống mới

Thí nghiệm quốc tế về đánh giá giống đậu tương thế giới (isvex) lần thứ nhất vào năm 1973 đã tiến hành thí nghiệm trong phạm vi từng vùng trên thế giới với quy mô là 90 điểm thí nghiệm đã được bố trí ở 33 nước đại diện cho các đới môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong phạm vi các địa điểm thí nghiệm từ xích đạo đến vĩ tuyến 300

và độ cao dưới 500m

so với mặt nước biển, năng suất trung bình và trọng lượng hạt giảm khi vĩ tuyến tăng Tuy vậy, chiều cao cây không đạt mức tối ưu ở tất cả các đới Mức đổ cây giảm khi vĩ tuyến tăng Mức tách quả dụng hạt đều không nặng

ở tất cả các đới (DK Wigham, 1976) [19]

Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (The Asian vegetable Research and Development center: AVRDC) đã thiết lập hệ

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thống đánh giá (Soybean - Evaluationtrial - Aset) giai đoạn 1 đã phân phát được trên 20.000 giống đến 546 nhà khoa học của 164 nước nhiệt đới và Á nhiệt đới Kết quả đánh giá giống của Aset với các giống đậu tương đã đưa vào trong mạng lưới sản xuất được 21 giống ở trên 10 quốc gia (Nguyễn Thị Út, 1994) [14]

Mỹ là quốc gia luôn đứng đầu về năng suất và sản lượng đậu tương, nhờ các phương pháp nhập nội, chọn lọc, gây đột biến và lai tạo Mỹ đã tạo ra nhiều giống đậu tương mới Thí nghiệm đầu tiên của Mỹ được tiến hành vào năm 1804 tại bang Peleci buanhia, đến năm 1893 Mỹ đã có trên 10.000 mẫu của đậu tương thu nhập từ các nước trên thế giới Giai đoạn 1928 - 1932 trung bình mỗi năm Mỹ nhập nội trên 1190 dòng, giống đậu tương và đã lai tạo ra một số giống có khả năng chống chịu bệnh tốt và có khả năng thích ứng rộng như : Amsoy 71, Lec 36, Clark 63, Herkey 67 Mục tiêu của công tác chọn giống đậu tương của Mỹ là chọn ra những giống có khả năng thâm canh, phản ứng với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao, dễ bảo quản và chế biến (Johnson H.W and Bernard R.L, 1976) [22]

Hiện nay ứng dụng công nghệ gen là một hướng mới trong công tác chọn tạo giống đậu tương của Mỹ và các nước trên thế giới Trong những cây trồng chuyển gen thì đậu tương chuyển gen được trồng với diện tích lớn nhất trên toàn thế giới tới 60% diện tích Thành tựu chủ yếu của ứng dụng công nghệ chuyển gen là tạo ra các giống đậu tương chống chịu thuốc diệt cỏ dại, làm giảm thiệt hại do cỏ dại gây ra Một số gen chống chịu với thuốc diệt cỏ đã được xác định và phân lập Ví dụ như gen trội Hb trên giống Clark 63 cho phản ứng chống chịu với Benard and Bentazon, giống Hook có alen Hm mang tính chống chịu tốt với thuốc Metribuzin (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [2]

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trung Quốc trong những năm gần đây đã tạo ra nhiều giống đậu tương mới Bằng phương pháp đột biến thực nghiệm đã tạo ra giống Tiefeng 18 do xử lý bằng tia gama có khả năng chịu được phèn cao, không

đổ, năng suất cao, phẩm chất tốt Giống Heinoum N0

6, Heinoum N0 16 xử

lý bằng tia gama có hệ rễ tốt, lóng ngắn, nhiều cành, chịu hạn, khả năng thích ứng rộng (Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam, 1995) [16]

Đài Loan bắt đầu chương trình chọn tạo giống đậu tương từ năm

1961 và đã đưa vào sản xuất các giống Kaoshing 3, Tai nung 3, Tai nung 4 cho năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ quả không bị nứt Đặc biệt giống Tai nung 4 được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác nhau như trạm thí nghiệm Marjo (Thái Lan), Trường Đại học Philippine (Vũ Tuyên Hoàng và các cs, 1995) [5]

Năm 1963 Ấn Độ đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại trường đại học tổng hợp Pathaga Năm 1967, thành lập chương trình đậu tương toàn Ấn Độ với nhiệm vụ lai tao và thử nghiệm giống mới

và đã tạo ra được một số giống mới có triển vọng như: Birsasoil, DS 74-24-2, DS73-16 Tổ chức AICRPS (The All India Cooordinated Research Project

on Soybean) và NRCS (Nationnal Research Center for Soybean) đã tập trung nghiên cứu về genotype và đã phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, đồng thời phát hiện những giống chống chịu cao với bệnh khảm virus (Brown D.M.,1960) [18]

Thái Lan với sự phối hợp giữa 2 trung tâm MOAC và CGPRT nhằm cải tiến giống có năng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính (gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn ) đồng thời có khả năng chịu được đất mặn, chịu được hạn hán và ngày ngắn (Judy W.H and Jackobs J.A., 1979) [21]

Hiện nay, công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới đang được quan tâm và tiến hành với quy mô lớn Nhiều tập đoàn đậu

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tương đã được các tổ chức quốc tế khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRRI) ở Philippine trước năm

1975 chủ yếu nghiên cứu về cây lúa Từ năm 1975 trở lại đây đã mở ra hướng nghiên cứu về cây đậu tương, đặc biệt là cây đậu tương cho vùng canh tác lúa nhằm phá vỡ thế độc canh của cây lúa, góp phần cải tạo đất, cải tạo khẩu phần dinh dưỡng cho người dân

1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Cây đậu tương được trồng ở Việt Nam từ lâu đời và đến nay nó đã chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nhận thức được vai trò quan trọng của cây đậu tương trong phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú trọng vào sản xuất và phát triển cây đậu tương Trong văn kiện đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam (tập 2 trang 37) có ghi: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho con người, cho gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng xuất khẩu” Chính vì thế đậu tương được trồng ở nhiều vùng khác nhau, trồng nhiều vụ trong năm Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, diện tích trồng đậu tương của cả nước chỉ là 30,00 nghìn ha với năng suất rất thấp 4,1 tạ/ha Sau khi đất nước thống nhất, diện tích đậu tương cả nước là 39,95 nghìn ha, năng suất đạt 5,2 tạ/ha Đến năm 1980, diện tích trồng đậu tương của nước ta đạt 40,00 nghìn ha với năng suất đạt 7 tạ/ha Trong những năm gần đây Chính phủ rất chú trọng phát triển cây đậu tương cho nên năng suất, diện tích và sản lượng đậu tương không ngừng tăng lên và được thể hiện qua bảng 1.3

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

trong những năm gần đây

Chỉ tiêu Năm

Diện tích (1000ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (1000tấn)

ha so với năm 2005

Về năng suất: Năng suất đậu tương của Việt Nam biến động tăng không đáng kể chỉ dao động từ 13,93 – 15,00 tạ/ha Năng suất năm 2005 là 14,34 tạ/ha mới chỉ đạt 62,32% so với năng suất bình quân của thế giới (23,01 tạ/ha) Đến năm 2006 năng suất giảm xuống chỉ còn 13,90 tạ/ha, đến năm 2010 năng suất đậu tương của nước ta tăng vọt so với các năm trước đạt 15,00 tạ/ ha

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Về sản lượng: Qua bảng ta thấy sản lượng đậu tương giảm rõ rệt qua các năm từ 292,70 nghìn tấn năm 2005 xuống còn 215,20 nghìn tấn năm

2009 Trong vòng 5 năm sản lượng đậu tương giảm 77,6 nghìn tấn Tuy nhiên đến năm 2010 sản lượng đậu tương nước ta tăng vọt do diện tích trồng đậu tương được mở rộng và đưa các giống mới có năng suất cao khả năng chống chịu

Nhìn chung sự phát triển đậu tương ở Việt Nam về diện tích, năng suất, sản lượng đều còn rất thấp so với bình quân của thế giới Nguyên nhân là do:

- Chưa quy hoạch được vùng sản xuất đậu tương và chưa xác định được giống phù hợp cho từng vùng sinh thái

- Diện tích đất trồng đậu tương tập trung ở miền núi, cơ sở vật chất còn nghèo nàn

- Chưa có bộ giống vượt trội, giá phân bón tăng cao

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam

Đậu tương là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Nó giữ

vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở tất cả các vùng sinh thái trong cả nước Vì vậy công tác thu thập và chọn tạo giống đậu tương được các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp và các nhà khoa học rất quan tâm và đầu tư nghiên cứu Từ năm 1962 Trường Đại học Nông Nghiệp I, Viện cây công nghiệp và Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập, nhập nội và chọn tạo giống đậu tương Theo Ngô Thế Dân và các cs,

1999 [2]: Hiện nay trong ngân hàng gen cây trồng tại Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (VASI) đang lưu giữ 500 mẫu giống Chủ yếu

là các loại đậu tương trồng được thu thập từ các địa phương và nhập nội từ các nước

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo Nguyễn Danh Đông (1983) [3] Viện cây trồng nông nghiệp đã thu thập được 250 mẫu giống Viện đã tiến hành khảo sát và phân loại theo thời gian sinh trưởng thành 6 nhóm giống:

+ Nhóm I chín rất sớm gồm các giống có thời gian sinh trưởng dưới 80 ngày + Nhóm II chín sớm có thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày

+ Nhóm III chín trung bình có thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày + Nhóm IV chín trung bình muộn có thời gian sinh trưởng 100 - 110 ngày + Nhóm V chín muộn có thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày

+ Nhóm VI chín rất muộn có thời gian sinh trưởng trên 120 ngày

Do điều kiện ở các vùng sinh thái ở các vùng trồng đậu tương khác nhau nên cần có bộ giống thích hợp cho mỗi vùng mới khai thác được hết tiềm năng của giống Theo Ngô Thế Dân và các cs, 1999 [2], định hướng chọn tạo giống đậu tương giai đoạn 1996 - 2000 và 2010 là:

+ Tập trung chọn tạo giống đậu tương chín sớm để đưa vào chân đất

2 vụ lúa, 1 vụ đậu tương hè ở Lạng Giang - Bắc Giang Thời gian sinh trưởng từ 70 - 75 ngày

+ Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vụ đông đối với các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng Thời gian sinh trưởng từ 80 - 90 ngày

+ Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vụ xuân ở vùng đất bãi và vùng trung du các tỉnh miền núi phía Bắc Năng suất đạt từ 20 - 25 tạ/ha Thời gian sinh trưởng 90 - 100 ngày, chống chịu với bệnh gỉ sắt

+ Chọn tạo giống đậu tương hè: Thời gian sinh trưởng từ 85 - 90 ngày thích hợp cho các tỉnh miền núi phía Bắc Năng suất đạt từ 15 - 20 tạ/ha, chịu hạn, ít bị nhiễm vi rus

+ Chọn tạo giống đậu tương cho vùng Tây Nguyên có tiềm năng năng suất từ 25 - 27 tạ/ha trong vụ xuân hè bắt đầu từ tháng 3, đậu tương hè cho vùng Đông Nam Bộ bắt đầu gieo từ tháng 4, vụ đậu tương xuân hè cho vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Chọn giống đậu tương có hàm lượng dầu cao từ 25 - 27% để ép dầu, sử dụng khô dầu làm thức ăn cho gia súc

+ Chọn giống đậu tương hạt to, có chất lượng hạt cao phục vụ cho chế biến thực phẩm và làm rau Năng suất quả tươi đạt từ 18 - 20 tấn/ha

+ Tiến tới chọn tạo giống đậu tương thích ứng rộng có thể gieo trồng được cả 3 vụ xuân, hè và thu đông, có khả năng cố định đạm cao, khả năng cải tạo đất tốt

+ Chọn tạo giống đậu tương thích hợp với việc trồng xen và gối vụ góp phần tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, vừa tăng độ phì của đất vừa tăng hiệu quả hàng hoá của sản xuất nông nghiệp

Những năm gần đây, công tác giống đậu tương của nước ta phát triển khá mạnh và thu được những thành tựu đáng kể, nhiều giống đậu tương mới được đưa vào sản xuất Đồng thời các phương pháp chọn tạo cũng ngày càng phong phú Dưới đây là một số giống đậu tương hiện đang phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc Một số được chọn tạo từ các tổ hợp lai hữu tính

và xử lý đột biến, nhập nội từ nước ngoài Có thể phân chia thành các nhóm giống chính như sau

+ VX92: Thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày Giống có hoa màu trắng, hạt màu vàng sáng, khối lượng 100 hạt từ 14 - 16 gam, năng suất trung bình 18 - 22 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha

+ TL57 (ĐT95/VX93): TGST 100 - 110 ngày, hoa trắng, hạt vàng, khối lượng 100 hạt 15 - 16 gam, năng suất từ 15 - 20 tạ/ha

+ ĐN - 42 (ĐH4/VX93): TGST 90 - 95 ngày, hoa tím, hạt tròn, vàng sáng, khối lượng 100 hạt 13 - 14 gam, năng suất từ 14 - 16tạ/ha

+ AK06 (chọn từ dòng 55): TGST 93 - 95 ngày, hoa tím, hạt có màu vàng sáng, khối lượng 100 hạt 16 - 18 gam, năng suất từ 25 - 30 tạ/ha

+ ĐT2000 (nhập từ Đài Loan): TGST 100 - 110 ngày, là giống thâm canh, hoa tím, cây to cứng, ít đổ, nhiều đốt (18 - 22 đốt/cây), số quả 3 hạt

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chiếm tới 30%, khối lượng 100 hạt 14 - 15 gam, năng suất từ 30 - 35 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 40 tạ/ha

Bộ giống thích hợp cho vụ hè:

+ M103 (đột biến từ V70): TGST 85 ngày, hoa tím, hạt sáng vàng, khối lượng 100 hạt 18 - 20 gam, năng suất từ 17 - 20 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha Chú ý: nếu ở giai đoạn 5 lá, tiến hành ngắt ngọn sẽ cho năng suất cao

+ DT84 (đột biến từ dòng lai 8 - 33): TGST 80 - 85 ngày, hoa tím, hạt sáng vàng, khối lượng 100 hạt 18 - 22 gam Với mật độ 25 - 30 cây/m2tiềm năng năng suất từ 15 - 30 tạ/ha

+ ĐT93 (dòng 821/134 Nhật Bản): TGST 80 - 82 ngày, hoa tím, quả khi chín có màu vàng, có từ 9 - 10 đốt, khối lượng 100 hạt 13 - 14 gam

Có thể trồng trong vụ hè giữa hai vụ lúa, năng năng suất từ 15 - 18 tạ/ha

+ ĐT12 (nhập nội từ Trung Quốc) là giống cực ngắn, vụ Hè từ 70 -

75 ngày, rất thích hợp trong vụ Hè giữa 2 vụ lúa Có hoa màu trắng, lá hình tim nhọn, hạt vàng, rốn nâu, quả chín có màu nâu xám Vỏ hạt màu vàng sáng, tỷ lệ quả 3 hạt cao từ 20 - 40% Khối lượng 100 hạt 17 - 19 gam, năng suất từ 17 - 20 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 23 tạ/ha Trồng tốt nhất trong vụ Hè, có thể trồng Xuân muộn và vụ Thu Đông

Bộ giống cho vụ Thu Đông:

+ VX93: tuyển chọn từ dòng K7002 (tập đoàn của viện cây trồng liên bang Nga - VIR) có nguồn gốc từ Philipin: Có hoa màu trắng, TGST

85 - 90 ngày, phân cành khoẻ, quả khi chín có màu nâu Hạt vàng sáng, khối lượng 100 hạt 15 - 16 gam, năng suất đạt từ 16 - 20 tạ/ha Trong điều kiện thâm canh đạt 25 tạ/ha Đây là giống có khả năng chịu rét, thích hợp cho vụ Thu Đông ở Đồng Bằng Bắc Bộ, thích hợp vụ Hè ở các tỉnh miền núi như: Trùng Khánh, Cao Bằng

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ AK05 (chọn từ dòng G - 2261): Có hoa màu trắng, TGST 90 - 95 ngày, cây cao 40 - 45 cm, với mật độ 40 - 45 cây/m2, khối lượng 100 hạt đạt từ 13 - 15 gam, năng suất đạt từ 16 - 23 tạ/ha

+ DT95 (đột biến từ AK04): TGST 90-97 ngày, cây cao 55 - 65 cm, hạt có màu vàng sáng rốn nâu đen, khối lượng 100 hạt đạt từ 15 - 16 gam, chống đổ trung bình có khả năng chịu lạnh, năng suất biến động từ 15 - 30 tạ/ha

+ D96 - 02 (ĐT74/ĐT92): TGST 95 - 110 ngày, cây cao 65 cm, có hoa màu tím, lá màu xanh đậm, hạt có màu vàng nhạt, khối lượng 100 hạt đạt từ 15 - 18 gam, chống đổ trung bình có khả năng chịu lạnh, năng suất biến động từ 15 - 18 tạ/ha

+ ĐT21 (nhập nội từ Australia): TGST 95 - 100 ngày, có hoa màu tím, lá màu xanh đậm, nhiều quả/cây, 18 - 45 quả, tỷ lệ quả 3 hạt cao, hạt màu vàng, khối lượng 100 hạt đạt từ 20 - 22 gam, chịu hạn và chống sâu bệnh hại tốt Năng suất từ 20 - 28 tạ/ha Đổ trung bình, có khả năng chịu lạnh, năng suất biến động từ 15 - 18 tạ/ha

Giống DT2008 ghi nhận dấu ấn thành công bước đầu trong năm 2008 của các nhà chọn tạo giống Viện Di truyền NN về lĩnh vực chọn tạo giống đậu tương chịu hạn cho các tỉnh phía Bắc, đặc biệt cho bà con vùng miền núi phía Bắc gieo trồng trong vụ đông xuân luôn thiếu nước Đây là kết quả chọn tạo bằng phương pháp lai + đột biến phóng xạ từ năm 2002 của đề tài

“Chọn tạo giống đậu tương đột biến chịu hạn” mà Viện Di truyền Nông nghiệp là cơ quan đại diện cho Việt Nam tham gia phối hợp trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Hạt nhân châu Á (FMCA) về Chương trình Chọn giống đột biến phóng xạ Giống có nhiều đặc tính quí như chịu hạn, chịu úng, chịu nóng và chịu lạnh cao Giống DT2008 có khả năng đề kháng khá với các bệnh chính thường gây hại trên cây đậu tương như phấn trắng, gỉ

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sắt, sương mai, đốm nâu vi khuẩn Giống DT2008 có thể trồng được 3 vụ/năm Năng suất trong điều kiện bình thường đạt 18 - 30 tạ/ha, trong điều kiện khô hạn và khó khăn vẫn cho năng suất cao hơn các giống đậu tương bình thường 1,5 - 2 lần

1.2.2.3 Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc

Đậu tương được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ lâu đời Về diện tích trồng đậu tương chiếm 30 - 40% diện tích trồng đậu tương cả nước, nhưng năng suất lại rất thấp Một trong những nguyên nhân của năng suất thấp là công tác chọn giống cho vùng này còn nhiều hạn chế Đa số các nghiên cứu về giống chỉ là các kết quả về so sánh, khảo nghiệm giống

sử dụng các vật liệu của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền, Viện Ngô, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Kết quả so sánh giống đậu tương của Nguyễn Hữu Tâm (2003) [10] tại Hà Giang cho biết các giống đậu tương thích hợp cho vụ xuân và vụ hè thu của Hà Giang là VX93 và DN42 Giống VX93 cho năng suất trong vụ xuân là 16,5 tạ/ha và vụ hè thu là 13,8 tạ/ha cao hơn giống địa phương khoảng 30%

Trần Đình Long và cs (1994) [6] đã công bố kết quả khu vực hoá giống M103 cho biết: Giống M103 không những thích hợp cho cả 3 vụ ở đồng bằng mà còn cho năng suất cao và ổn định tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Quảng Ninh và Vĩnh Phúc,

năng suất biến động từ 60 - 80 kg/sào Bắc Bộ

Nghiên cứu của Đào Quang Vinh và các cs (1994) [15] cho biết giống đậu tương VN1 được Viện nghiên cứu Ngô chọn tạo cũng có khả năng thích ứng rộng cả đồng bằng, trung du và miền núi, có thể cho năng suất đạt tới 14 tạ/ha tại tỉnh Tuyên Quang và 18 tạ/ha tại tỉnh Cao Bằng

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Lê Song Dự và các cs (1998) [3] khảo nghiệm giống đậu tương ĐT93 cho biết giống này cũng thích ứng rộng và có thể trồng 3 vụ trong năm, năng suất có thể đạt 15 - 18 tạ/ha trên đất Hà Bắc và Bắc Thái (cũ)

Andrew và các cs (2003) [17] thí nghiệm đánh giá 56 dòng giống đậu tương nhập nội từ Úc, Brazil và Thái Lan từ năm 2000 - 2003 trồng tại Thái Nguyên đã xác định được một số dòng, giống có tiềm năng năng suất khá cao và ổn định trong vụ xuân và vụ hè thu là dòng 95389 (ĐT21) đạt 23,20 - 35,15 tạ/ha; CM60 đạt 14,84 - 24,05 tạ/ha; SJ4 đạt 21,79 - 38,67 tạ/ha; Parana đạt 21,77 - 24,33 tạ/ha Các dòng này đều có thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày nên phù hợp với việc gieo trồng trên nương rẫy ở miền núi không yêu cầu về tăng vụ

Tác giả Trần Thanh Bình và các cs ( 2006) [1] cho biết giống ĐT22

và DT96 là 2 giống đậu tương phù hợp với sản xuất ở vùng miền núi phía Bắc (Điện Biên) Giống ĐT22 cho năng suất trung bình 18,2 tạ/ha trong vụ

hè thu và 14,3 tạ/ha trong vụ xuân Giống DT96 đạt năng suất trung bình 17,3 tạ/ha vụ hè thu 12,1 tạ/ha vụ xuân Hai giống này vượt năng suất của ĐT84

từ 12 - 24%

Các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn sử dụng giống địa phương phổ biến trong sản xuất Ngô Thế Dân và các cs (1999) [2] cho biết các giống đậu tương thích hợp cho vùng miền núi phía Bắc là Vàng Mường Khương, Vàng Cao Bằng Vàng Mộc Châu, Cúc Lục Ngạn, Vàng Hà Giang, Xanh Tiên Đài, Đen Bắc Hà, Xanh Tiên Yên, Cúc Chí Linh, ĐT76 (ĐH4), ĐT84, M103, ĐT80, VX93 Các giống mới được tạo ra trong nhưng năm gần đây

đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng đậu tương các tỉnh miền núi phía Bắc (từ 6 - 7 tạ/ha lên 9 - 10 tạ/ha) diện tích gieo trồng các giống đậu tương mới còn rất ít trong sản xuất, điều đó nói lên rằng

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

công tác chọn tạo giống đậu tương cho các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn chưa được quan tâm

1.2.3 Tình hình sản xuất và phát triển cây đậu tương tại Hà Giang

Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ Quốc, với tổng diện tích đất tự nhiên 791.488,92 Ha, đất nông nghiệp 153.076,40 Ha Cùng với

sự tăng trưởng của các loại cây lương thực chính như lúa, ngô, khoai, sắn

và các cây đậu đỗ khác thì cây đậu tương cũng là cây trồng đã và đang được chú trọng và phát triển (Niên giám thống kê, 2012) [6]

Là một tỉnh miền núi trong sản xuất nông nghiệp hiện nay đang gặp phải những khó khăn chính như: Địa hình có độ dốc cao, trình độ dân trí đã dần được nâng cao nhưng chưa đồng đều, kinh tế phát triển chậm, các công trình thuỷ lợi phục vục cho nhu cầu tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp còn chưa đầu tư kịp thời do vậy một số diện tích đất không đáp ứng đủ nhu cầu về nước tưới phải bỏ hoá, hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vì vậy chưa phát huy được thế mạnh và tối đa hiệu quả đối với các vùng còn tiềm năng về quỹ đất trong sản xuất nông nghiệp

Trong mấy năm trở lại đây cùng với sự hỗ trợ của Tỉnh thông qua các chính sách cụ thể, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đã mạnh dạn đầu

tư vào lĩnh vực nông nghiệp nói chung và sản xuất cây đậu tương nói riêng,

đã có sự gắn kết chặt chẽ theo chuỗi từ sản xuất đến thị trường tiêu thụ, góp phần thúc đẩy hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở quy mô 04 huyện/ 11Huyện, Thành Phố (Hoàng Su Phì, XínMần, Yên Minh, Bắc Mê) Để giải quyết khó khăn, và khai thác thế mạnh, yếu tố thuận lợi Tỉnh Hà Giang cần tập trung vào việc tận dụng và phát huy tối đa diện tích đất canh tác hiện có với chủ trương phát triển các loại cây trồng thích hợp cho từng vùng cụ thể, tăng cường áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến phù hợp trình độ của người dân, đầu tư thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích Cây đậu tương đã được khẳng định trong cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh với đặc tính nổi trội là

có thời gian sinh trưởng ngắn và thích hợp cho việc bố trí với nhiều cây

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trồng khác nhau theo các công thức luân canh cây trồng Do vậy, diện tích, năng suất, sản lượng cây đậu tương của tỉnh trong 5 năm gần đây có chiều hướng tăng Tình hình sản xuất đậu tương của Hà Giang trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 1.4

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Hà Giang trong 5 năm

Số liệu ở bảng 1.4 cho thấy, năm 2007 diện tích trồng đậu tương ở

Hà Giang là 15.711,6 ha, biến động đều qua các năm; Cao nhất là năm

2011 đạt 21.279,9 ha, và giảm nhẹ ở năm 2008 xuống 19.886,4 ha; năng suất biến động từ 9,35 tạ/ ha (năm 2007) và đạt 11,3 tạ/ ha (năm 2011)

Do có sự tăng đáng kể về diện tích và năng suất, chính vì vậy sản lượng đậu tương tăng từ 14.693 tấn (năm 2007) tăng lên 24.191,9 tấn (năm 2011) Mặc dù có tăng về diện tích và năng suất nhưng rất thấp so với khu vực phía Bắc và cả nước

Điều tra tình tình sản xuất đậu tương của Hà Giang năm 2012 chúng tôi thu được kết quả ở bảng 1.5

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 1.5.: Tình hình sản xuất đậu tương tỉnh Hà Giang năm 2012

Huyện, thị Diện tích

(ha)

Năng suất (tạ/ ha)

Sản lƣợng (tấn)

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lại rất cao 13,1 tạ/ ha) Huyện Vị Xuyên thấp thứ 2 (316,7 ha) và có năng suất thấp 8,5 tạ/ha

Nguyên nhân của sự không cân đối giữa diện tích và năng suất là do

- Các huyện có tiểu vùng khí hậu khác nhau, quỹ đất cho phát triển đậu tương còn hạn chế

- Còn thiếu kinh phí cho công tác đầu tư cho thủy lợi, mặt khác trình

độ của một phận người dân chưa đồng đều kể cả về nhận thức, chưa áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật, đầu tư thâm canh

- Chưa có bộ giống hợp lý để đưa vào sản xuất chủ yếu dựa vào yếu

tố tự nhiên do đất đai, kinh nghiệm Yếu tố cần nhưng chưa đủ để phát triển cây đậu tương một cách hiệu quả và bền vững.Như vậy, để cây đậu tương trở thành cây trồng tương xứng với tiềm năng của nó trong cơ cấu cây lương thực và cây thực phẩm hiện nay của tỉnh, cần giải quyết vấn đề một cách toàn diện cả về áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như chủ trương

và chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp của UBND Tỉnh Đối với cây đậu tương muốn đẩy mạnh sản xuất cần phải nghiên cứu, xác định được bộ giống thích hợp, hệ thống canh tác và cơ cấu mùa vụ thích hợp bằng các công thức luân canh, tăng vụ, trồng xen cho từng vùng sinh thái; Chọn tạo các giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh trong điều kiện canh tác và với mùa vụ khác nhau; Xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất với các giống

1.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu chung và 2 năm (2012-2013)

Hà Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết được chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, lượng mưa trung bình phổ biến từ 1.400 đến 1.800 mm Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên khí hậu ở đây có sự phân hoá khá

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phức tạp tạo thành những tiểu vùng có đặc điểm riêng do ảnh hưởng của độ cao, địa lý và địa hình Nhìn chung, khí hậu Hà Giang chia làm 3 vùng:

- Vùng khí hậu phía Bắc: bao gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc và Huyện Bắc Mê Chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc và là vùng ít mưa bình quân 1.400mm/ năm (có nơi dưới 1.200mm/ năm) mùa Đông rất lạnh và nhiều sương muối

- Vùng khí hậu vùng thấp: Bao gồm các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình và Thành phố Hà Giang Là vùng ít bị ảnh hưởng bởi gió Tây khô nóng, nhưng nhiều mưa hơn các vùng khác, lượng mưa phổ biến trên 3000mm/năm có nơi trên 4000mm/năm mùa Đông vẫn có khả năng bị sương muối như vùng cao phía Bắc

- Vùng phía Tây và Tây Nam gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần Là vùng chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam mùa Hè, xuất hiện sương muối vào mùa Đông

Nhìn chung khí hậu Hà Giang mát mẻ; nhiệt độ trung bình năm từ 15 đến 280C; nhiệt độ tối cao từ 30 đến 350C (có nơi đến 380C), nhiệt độ tối thấp từ 9,6 đến 150C (có nơi dưới 50

C) (phụ lục 1)

Số liệu thu được cho thấy, ở vụ Xuân năm 2012 mặc dù tháng 3 nhiệt độ trung bình tại Hà Giang là 200C thuận lợi cho nẩy mầm của cây, tuy nhiên lượng mưa và ẩm độ không khí thấp, ảnh hưởng đến khả năng nẩy mầm và sinh trưởng của cây con; Tháng 4 tháng 5 tháng 6 nhiệt độ

ẩm độ và lượng mưa tăng dần thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển, ra hoa, hình thành quả và thu hoạch của đậu tương

Trong điều kiện vụ Xuân: Nhìn chung nhiệt độ trung bình thích hợp cho sự sinh trưởng của cây đậu tương Song do lượng mưa và ẩm độ thấp ảnh hưởng đến các quá trình mọc mầm của cây ở vùng không chủ động nước

Trong điều kiện vụ Thu: Nhìn chung nhiệt độ, ẩm độ và lượng mưa tương đối thuận lợi cho sự nảy mầm; sinh trưởng của cây con

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Các hoạt động trồng trọt chủ yếu diễn ra trong mùa mưa đối với vùng không chủ động nước Thời gian này hội tụ những yếu tố thuận lợi như nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng thích hợp cho cây trồng Với điều kiện tự nhiên như vậy, về cơ bản là thuận lợi cho sự phát triển và đa dạng các loại rau, hoa, quả, kể cả hoa, quả ôn đới

Ngày đăng: 22/11/2014, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thanh Bình và cs (2006), “Kết quả tuyển chọn giống đậu tương phục vụ sản xuất ở huyện Tuần Giáo - Điện Biên”, Tạp chí NN &PTNT, (6), 55 – 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tuyển chọn giống đậu tương phục vụ sản xuất ở huyện Tuần Giáo - Điện Biên
Tác giả: Trần Thanh Bình và cs
Năm: 2006
2. Ngô Thế Dân và cs (1999), Cây đậu tương, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu tương
Tác giả: Ngô Thế Dân và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
3. Lê Song Dự và cs (1988), Cơ cấu mùa vụ đậu tương ở Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu mùa vụ đậu tương ở Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ
Tác giả: Lê Song Dự và cs
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1988
4. Nguyễn Danh Đông (1983) Kỹ thuật trồng đậu tương, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng đậu tương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
5. Vũ Tuyên Hoàng và cs (1995), “Thành tựu của phương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới”, tập san tổng kết KHKT Nông Lâm Nghiệp, 90 – 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu của phương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng và cs
Năm: 1995
6. Trần Đình Long và cs (1994), “Kết quả khu vực hoá giống đậu tương M103 ở các vùng sinh thái khác nhau”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp 1993, Nxb Nông Nghiệp, 68 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khu vực hoá giống đậu tương M103 ở các vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Trần Đình Long và cs
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1994
10. Nguyễn Hữu Tâm (2003), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất đậu tương trên đất một vụ lúa ở tỉnh Hà Giang, Luận án tiến sĩ Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ Nông Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Tâm
Năm: 2003
11. Phạm Văn Thiều (2006), Cây đậu tương kỹ thuật trồng và chế biến sản phẩm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu tương kỹ thuật trồng và chế biến sản phẩm
Tác giả: Phạm Văn Thiều
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
14. Nguyễn Thị Út (1994), “Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu phẩm chất tập đoàn giống đậu tương nhập nội”, kết quả NCKH Nông nghiệp 1994 – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu phẩm chất tập đoàn giống đậu tương nhập nội”
Tác giả: Nguyễn Thị Út
Năm: 1994
15. Đào Quang Vinh và cs (1994), “Giống đậu tương VN – 1”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Nông Nghiệp 1993, 60 – 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu tương VN – 1”, "Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Nông Nghiệp
Tác giả: Đào Quang Vinh và cs
Năm: 1994
16. Viện Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam (1995), Kinh tế cây có dầu, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh 17.Andrew và các cs (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế cây có dầu
Tác giả: Viện Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
18. Brown D.M. (1960), Soybean Ecology. I. Development – Temperature relationships from controlled enviroment studies, Agron. J.,493 – 496 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agron. J
Tác giả: Brown D.M
Năm: 1960
19. DK Wwigham (1976), Kết quả nghiên cứu quốc tế về đậu tương (Biên dịch: Hoàng Văn Đức), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu quốc tế về đậu tương
Tác giả: DK Wwigham
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1976
21. Judy W.H. and Jackobs J.A.,(1979), “Irrigated soybean production in Arid and semi – Arid region”, Proceeding of conference hold in Cairo Egypt, 31 Aug – 6 Sep, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Irrigated soybean production in Arid and semi – Arid region”, Proceeding of conference hold in Cairo
Tác giả: Judy W.H. and Jackobs J.A
Năm: 1979
22. Johnson H.W and Bernard R.L, (1976), “Genetics and breeding soybean (the soybean genetics breeding physiology nutrition management)”, New York – London, 2 – 52.23. Liu và các cs (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetics and breeding soybean (the soybean genetics breeding physiology nutrition management)”, New York – London
Tác giả: Johnson H.W and Bernard R.L
Năm: 1976
13. Quy trình kỹ thuật, các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi tuân theo quy phạm khảo nghiệm QCVN 01- 58- 2011/ BNNPTNT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới   trong những năm gần đây - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây (Trang 14)
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương   của một số nước đứng đầu thế giới - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số nước đứng đầu thế giới (Trang 15)
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam  trong những năm gần đây - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong những năm gần đây (Trang 21)
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Hà Giang trong 5 năm  gần đây - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Hà Giang trong 5 năm gần đây (Trang 30)
Bảng 1.5.: Tình hình sản xuất đậu tương tỉnh Hà Giang năm 2012 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất đậu tương tỉnh Hà Giang năm 2012 (Trang 31)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 36)
Bảng 3.1.: Đặc điểm sinh vật học của các giống đậu tương thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.1. Đặc điểm sinh vật học của các giống đậu tương thí nghiệm (Trang 44)
Bảng 3.2: Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống đậu  tương thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.2 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 3.4: Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm  ĐVT: m 2  lá/m 2  đất - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.4 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương thí nghiệm ĐVT: m 2 lá/m 2 đất (Trang 51)
Bảng 3.5. Khả năng chống chịu bệnh và chống đổ của các giống  đậu tương tham gia thí nghiệm - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.5. Khả năng chống chịu bệnh và chống đổ của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm (Trang 52)
Bảng 3.6: Theo dừi sõu cuốn lỏ sõu đục quả năm 2012 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.6 Theo dừi sõu cuốn lỏ sõu đục quả năm 2012 (Trang 54)
Bảng 3.7. Các yếu tố cấu thành năng suất. - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.7. Các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 56)
Bảng 3.8: Năng suất thực thu năm 2012 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
Bảng 3.8 Năng suất thực thu năm 2012 (Trang 59)
Bảng  3.9. Năng suất thực thu MH nhân rộng vụ Xuân 2013 - nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng, giống đậu tương tại huyện quản bạ - tỉnh hà giang
ng 3.9. Năng suất thực thu MH nhân rộng vụ Xuân 2013 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm