Tiểu luận Triết học Sự ra đời của Triết học Mác là bước ngoặc cách mạng trong lịch sử Triết học
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ BƯỚC NGOẶC CÁCH
MẠNG TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC Người thực hiện: Phạm Viễn
GVHD: TS Bùi Văn Mưa
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 02 năm 2012
(Khóa luận Triết học Chương trình cao học không chuyên ngành Triết học)
TP Hồ Chí Minh – 28/ 05/2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác là bước ngoặc các mạng trong triết học Nội dung quan trọng nhất của cuộc cách mạng khoa học này là việc xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng, một triết học kiểu mới về nguyên tắc, khác về căn bản tất cả các triết học trước đó, kể cả các học thuyết triết học tiến bộ triệt để khoa học và cách mạng Đây là một chủ đề hay và có nhiều ý nghĩa trong cuộc sống, với một nguồn tài liệu tham khảo dồi dào, đây là ưu điểm lớn nhưng đồng thời cũng là nhược điểm vì phải chắc lọc kỹ lưỡng thông tin, nội dung trong qua quá trình tham khảo
Để thực hiện bài tiểu luận này em đã tham khảo nhiều tài liệu có liên quan:
1) Các giáo trình: C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin - Về những vấn đề triết học, NXB Đại học quốc gia TP HCM - 2003; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình triết học Mác - Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006; Trường
ĐH Kinh tế TP HCM, khoa Lý luận chính trị, tiểu ban Triết học, Triết học - P1: Đại cương về lịch sử triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), lưu hành nội bộ, HCM, 2010; Lịch sử triết học, NXB Giáo dục, 1999; 2) Tác phẩm kinh điển: Mác & Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; 3) Các trang web: hanhchinh.com.vn; triethoc.edu.vn và một số website khác.
Bài tiểu luận ra đời với mong muốn làm rõ rằng "Sự ra đời của triết học Mác là bước ngoặc cách mạng trong lịch sử triết học" và khẳng định vị trí, vai
trò to lớn của triết học Mác trong lịch sử triết học của nhân loại Vì khả năng và thời gian có hạn nên bài tiểu luận chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy để đề tài được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy - TS Bùi Văn Mưa đã hướng dẫn nhóm 13 cũng như tập thể Đêm 5 - K21 để hoàn thành bài tiểu luận này
Trang 4CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC
1.1. Điều kiện và tiền đề sự ra đời của triết học Mác
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới: Triết học Mác ra đời trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới nhờ tác động của cách mạng công nghiệp, đã tạo ra một lực lượng sản xuất vô cùng to lớn so với các thời kỳ trước đó
Mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt: Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho những mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã nổ ra, đi từ thấp đến cao, từ
tự phát đến tự giác, từ dân sinh đến dân chủ; giai cấp tư sản không còn là giai cấp cách mạng, giai cấp vô sản trở thành một lực lượng chính trị lớn mạnh, là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất
Triết học Mác ra đời là tất yếu khách quan: Từ thực tiễn xã hội, nhất là từ thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đã nảy sinh một yêu cầu mang tính khách quan là phải được soi sáng bằng một lý luận khoa học Sự ra đời của Triết học Mác, là một tất yếu khách quan, là sự giải đáp về mặt lý luận những vấn đề thời đại đang đặt ra trên lập trường của giai cấp vô sản
1.1.2. Tiền đề lý luận
Mác và Ăngghen kế thừa toàn bộ những tinh hoa lý luận của nhân loại từ
cổ đại đến thời đại các ông nhưng trực tiếp là kinh tế - chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và triết học cổ điển Đức Với kinh tế - chính trị
cổ điển Anh, Mác và Ăngghen đã kế thừa học thuyết giá trị của A.Xmít và Đ.Ricácđô và vận dụng vào phân tích kinh tế tư bản chủ nghĩa, chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư Mác và Ăngghen cũng kế thừa Xanh Ximông, Phuriê ở những luận điểm: cần và có thể đập tan nhà nước tư sản Với triết học cổ điển Đức, Mác, Ăngghen khắc phục vỏ duy tâm, thần bí của triết học Hêghen kế thừa phương pháp biện chứng của ông ta, đặt phương pháp biện chứng này trên nền thế giới quan duy vật Đồng thời khắc phục tính siêu hình trong triết học Phoiơbắc, kế thừa chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông và làm giàu chủ nghĩa duy
Trang 5vật này bằng phương pháp biện chứng Cả chủ nghĩa duy vật, cả phương pháp biện chứng đều được các ông nâng lên về chất Trên cớ sở đó, Mác và Ăngghen
đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.1.3. Tiền đề khoa học tự nhiên
Ngoài tiền đề về kinh tế xã hội và tiền đề về lý luận, sự ra đời của triết học Mác còn gắn với tiền đề về khoa học tự nhiên Cuối XVIII đầu XIX, sự phát triển của khoa học tự nhiên chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn khoa học tự nhiên
lý luận Khoa học này đòi hỏi phải chuyển phương pháp siêu hình, máy móc sang phương pháp biện chứng, nghĩa là trình bày sự phát triển của tự nhiên như một quá trình vận động, liên hệ, thống nhất Và ba phát minh lớn đã có ý nghĩa đối với sự hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, học thuyết tế bào, học thuyết tiến hóa Phát minh thứ nhất cho phép vạch ra được mối liên hệ thống nhất giữa các hình thức vận động khác nhau của thế giới vật chất Phát minh thứ hai chứng minh cho sự thống nhất, sự phát triển từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp Phát minh thứ ba giải thích tính chất biện chứng của sự phát triển phong phú, đa dạng của các giống loài trong tự nhiên Những phát minh này tạo ra điều kiện, tiền đề cho thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng ra đời
Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ Chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử, không những vì nó là sự phản ảnh thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản mà còn là sự phát triển hợp quy luật của lịch
sử tư tưởng nhân loại, là sản phẩm của đơn đặt hàng của lịch sử
1.2. Sự hình thành và phát triển của triết học Mác giai đoạn Mác Ăngghen
1.2.1. Quá trình chuyển biến tư tưởng của Mác và Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản
Bước đầu hoạt động chính trị - xã hội và khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen
Một số tác phẩm chủ yếu:
Trang 6- Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit và triết học tự nhiên của Êpiquya (C.Mác)
- Những bức thư từ Vesphali (bài báo của Ph.Ăngghen)
- Sêlinh và sự linh báo (Ph.Ăngghen)
Sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng
và từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác
và Ph.Ăngghen
C.Mác làm biên tập viên cho báo Sông Ranh (từ 1842 – 1843)
Một số tác phẩm chủ yếu:
- Góp phần phê phán triết học Pháp quyền của Hêghen, lời nói đầu (C.Mác, 1943)
- Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị (Ph Ăngghen, 1844)
1.2.2. Thời kỳ Mác và Ăngghen đề xuất các nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đây là thời kỳ từ 1844 đến 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng bước xây dựng những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Một số tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này:
- Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 (C.Mác)
- Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh (Ph.Ăngghen, 1845)
- Gia đình thần thánh (C.Mác – Ph.Ăngghen, 1845)
- Luận cương về Phoi ơ bắc (C.Mác, 1945)
- Hệ tư tưởng Đức (C.Mác – Ph.Ăngghen, 1846)
- Sự khốn cùng của triết học (C.Mác, 1847)
- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C.Mác – Ph.Ăngghen, 1848)
1.2.3. Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm triết học
Đây là giai đoạn đoạn từ 1848 – 1886, C.Mác và Ph.Ăngghen đã hoàn chỉnh những tư tưởng triết học của mình
Một số tác phẩm chủ yếu của giai đoạn này:
- Đấu tranh giai cấp ở Pháp (C.Mác, 1850)
Trang 7- Cách mạng và phản cách mạng ở Đức (Ph.Ăngghen, 1852)
- Ngày mười tám tháng Sương mù của Lui Bônapactơ (C.Mác, 1852)
- Tư bản (C.Mác, 1867)
- Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác, 1875)
- Chống Đuy rinh (Ph.Ăngghen, 1878)
- Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (Ph.Ăngghen, 1884)
- Biện chứng của tự nhiên (Ph.Ăngghen, 1886)
- Lút Vích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (Ph.Ăngghen, 1886)
Trang 8CHƯƠNG 2: BƯỚC NGOẶC CÁCH MẠNG
Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại Nó thể hiện giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn của học thuyết Mác Triết học Mác có những cái mới về chất so với các hệ thống triết học trước đó:
2.1. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật vẫn còn mang tính chất siêu hình, máy móc Nó chưa đưa được quan điểm phát triển vào trong lý luận của nó; nó lấy quy luật cơ học để giải thích sự vận động của thế giới, dùng quy luật cơ học và quy luật sinh học để giải thích bản chất con người Còn phép biện chứng trước Mác mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng Hêghen thì lại là duy tâm, tức ông
đã xuất phát từ quy luật vận động, phát triển của một ý niệm tuyệt đối nào đó có trước thế giới để giải thích tất cả những gì đang tồn tại Cho nên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, ngược đầu và đóng khung trong một một kết cấu tư biện, gượng gạo
Trên cơ sở kế thừa có phê phán và chọn lọc những thành tựu mà mà các nhà duy vật đã đạt được cũng như kế thừa hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen, C Mác và Ph Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng
và phép biện chứng duy vật Từ khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất
Triết học Mác ra đời đã chứng minh tính thống nhất giữa thế giới quan và phương pháp luận: thế giới quan duy vật biện chứng trong sự thống nhất hữu cơ với phương pháp biện chứng duy vật Kế thừa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, Mác đã xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng, hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lich sử triết học
và phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về sự phát triển của thế giới tự nhiên, lịch sử xã hội loài người và tư duy Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học Mác và Ăngghen là cơ sở hình thành nên triết học vĩ đại nhất trong lịch sử: triết học Mác - Lênin Đánh giá về tính triệt để trong triết học
Trang 9Mác, V.I.Lênin viết: “Triết học của Mác là một triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”1
2.2. Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trước Mác, các nhà triết học duy vật đều không tránh khỏi duy tâm khi giải thích các hiện tượng xã hội Họ đều cho rằng tinh thần, tư tưởng (ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, trời, thượng đế, hoặc ý thức chủ quan của con người)
là yếu tố quyết định trong lịch sử Họ không thấy được vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất, của đời sống vật chất Đối với họ, chủ nghĩa duy vật chỉ thể hiện trong quan niệm về tự nhiên Nhà triết học duy vật nổi tiếng trước Mác là Phoiơbắc cũng không là ngoại lệ Do vậy một đặc điểm có ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng trong triết học là mở rộng chủ nghĩa duy vật sang lĩnh vực lịch sử xã hội loài người, hình thành nên chủ nghĩa duy vật lịch sử V.I.Lênin đánh giá rằng: "Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị "2
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác đã chỉ ra quy luật vận động của lịch sử xã hội loài người, sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Trong các quy luật của lịch sử xã hội, quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có vai trò quyết định Các quan hệ về kinh tế, cơ sở hạ tầng quyết định các quan hệ về chính trị, kiến trúc thượng tầng Triết học duy vật lịch sử cũng phát hiện ra vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người "đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản", thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng đến mục tiêu cuối cùng là giải phóng con người ra khỏi mọi áp bức, bất công, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh - chủ nghĩa cộng sản Với bản chất duy vật triệt để, triết học Mác
1 V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, T.23, tr.53-54.
2 Sđd, T.23, tr.53-54.
Trang 10trở thành công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới, tạo ra bước phát triển mới về chất, một sự nhảy vọt so với các hệ thống triết học khác trong lịch sử
2.3. Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn
Trong lịch sử các hệ thống triết học trước Mác, kể cả các hệ thống triết học tiến bộ, đều chưa thấy vai trò của thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, chưa nhận thức hết ý nghĩa thực tiễn cao nhất của triết học là hướng đến phát triển xã hội và giải phóng con người Triết học trước Mác chưa xác lập được mối quan hệ gắn bó với nhau giữa lý luận và thực tiễn Lý luận nhiều khi chỉ là sản phẩm của tư duy thuần túy, chỉ là kết quả của sự suy lý tư biện của các nhà lý luận, chưa chỉ ra được một tiêu chuẩn khách quan để phân biệt cái đúng và cái sai trong lý luận Lý luận càng cao siêu , càng
xa rời thực tế thì càng được đánh giá cao Vì vậy tách rời giữa lý luận và thực tiễn là đặc điểm vốn có của triết học trước Mác
C.Mác viết: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay- kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc - là sự thật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không nhận thức là hoạt động cảm giác con người, là thực tiễn không nhận thức về mặt chủ quan” “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn con người phải chứng minh chân lý, nghĩa
là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi về tính hiện thực và tính không hiện thực của tư duy tách rời hiện tượng, là một vấn đề kinh viện thuần tuý”1
Triết học Mác không chỉ là lý luận khoa học phản ánh bản chất, quy luận của sự vận động và phát triển của thế giới, mà quan trọng hơn, đó là học thuyết nhằm mục đích cải tạo thế giới Vì vậy, sự thống nhật biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết học Mác Chỉ khi triết học Mác ra đời, vai trò thực tiễn và sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mới thực sự được xem là một nguyên tắc căn bản, chi phối mọi hoạt động con người Vì vậy,
1 Sđd, T.3, tr.9-10.
Trang 11C.Mác viết: "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới"1 Đó là biểu hiện của tính hiện thực, tính thực tiễn vô cùng sâu sắc trong triết học Mác - Lênin
2.4. Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng
Bản chất khoa học của triết học Mác đã bao hàm trong mình bản tính các mạng của nó; và bản chất cách mạng của triết học Mác cũng đã thể hiện trong bản tính khoa học của nó, vì:
- Tính khoa học càng sâu sắc, tức phản ánh càng đúng các quy luật khách quan chi phối sự phát triển thế giới, thì khi quá trình vận dụng nó vào hiện thực để cải tạo thế giới càng diễn ra hiệu quả, tức tính cách mạng được thể hiện càng cao, càng triệt để
- Thông qua hoạt động cải tạo thế giới, qua vai trò và sự mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, triết học Mác đã chứng minh sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chế độ xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử "Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường phải tuân theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về tinh thần, trong đó tất cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới nay"2 C Mác đã khẳng định: “Vũ khí vật chất của triết học là giai cấp vô sản, cũng giống như vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản là triết học"3 Đồng thời thông qua hoạt động cải tạo thế giới triết học Mác không ngừng được điều chỉnh, bổ sung để phản ánh đúng thế giới khách quan
Với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác mà linh hồn của nó
là phép biện chứng duy vật đã “đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực
về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm
về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức
là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó, vì phép biện chứng không khuất
1 Sđd, T.3, tr.12
2 Sđd, T.23, tr57-58
3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, T.1, tr.589.