Sự ra đời của Triết học Mác là bước ngoặc cách mạng trong lịch sử Triết học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
T.P HỒ CHÍ MINH (Phòng Quản Lý Đào Tạo Sau Đại Học)
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
GVHD : TS Bùi Văn Mưa HVTH : Phạm Khánh Hưng Lớp : Cao Học Đêm 5 Khóa : K20 (Xin học lại với K21) STT : 11
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng hoàn chỉnh, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh để nhận thức và cải tạo thế giới Hiện nay, cuộc đấu tranh tư tưởng và thực tiễn mới xây dựng đất nước đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu và nhận thức lại những giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có việc nghiên cứu và quán triệt những nguyên lý cơ bản của triết học duy vật biện chứng, để phát triển
và vận dụng học thuyết cách mạng vào khoa học đó một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn Vì vậy, việc khôi phục và bảo vệ những giá trị của triết học mácxít cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định vị trí và vai trò của triết học mácxít trong lịch sử triết học cũng như trong cuộc sống, trở thành một nhiệm vụ bức thiết Trong bài tiểu luận ngắn này em xin trình bày một cách ngắn gọn và sơ
lược quá trình hình thành và ra đời của triết học duy vật biện chứng mácxít: “Sự ra
đời của triết học Mác là một bước ngoặt có tính cách mạng trong lịch sử
Triết học” Vì thời gian và trình độ có hạn, bài tiểu luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót Em mong được sự chỉ bảo của các thầy và những ai quan tâm đến vấn đề này.
Trang 3PHẦN I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA TRIẾT
HỌC MÁC
1. Điều kiện kinh tế - xã hội:
Giữa thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh ở các nước Tây Âu, nhất
là ở Anh, Pháp và một phần ở Đức Vượt qua thời kì phong kiến, sự phát triển mạnh
mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt của nó
so với các chế độ xã hội khác trong lịch sử Nước Anh và nước Pháp trở thành những quốc gia tư bản hùng mạnh, làm động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản châu Âu.
Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện đại Trong Tuyên ngôn đảng cộng sản C.Mác và Ăngghen viết : “ Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản Nhưng giai cấp tư sản không những rèn nhứng vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo
ra những người vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại, những người vô sản.”
Triết học Mác ( chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa vật lịch sử) là bộ phận cấu thành đồng thời là cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác, là chìa khoá để giải thích trên cơ sở khoa học quá trình phát triển của tư tưởng nhân loại
Quê hương của chủ nghĩa Mác là nước Đức Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất ở Anh, Pháp, Đức và của các nước tư bản chủ nghĩa khác đã
chứng tỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ưu việt hơn hẳn phương thức sản xuất phong kiến Song cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những mâu thuẫn giai cấp - xã hội vốn có của bản thân nó cũng nẩy sinh và ngày càng bộc
lộ gay gắt, trước hết là mâu thuẫn giữa hai giai cấp vô sản và tư sản Mâu thuẫn này là biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa Trong thời kỳ này, phong trào của giai cấp vô sản đã phát triển mạnh mẽ Cuộc đầu tranh của giai cấp vô sản ở nhiều nơi đã trở thành các cuộc khởi nghĩa với những yêu sách giai cấp rõ ràng Cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông (Pháp) năm
1831 và năm 1834, cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ở Xilêdi (Đức) năm 1834 và phong
Trang 4trào Hiến chương ở Anh vào cuối những năm 30 đầu những năm 40 của thế kỷ XIX
đã thu hút được sự chú ý của các đại biểu tiên tiến của các tầng lớp tri thức tư sản tiến bộ, trước hết là C Mác và Ph.Ăngghen tới vấn đề nguyên nhân, bản chất của các cuộc đấu tranh giai cấp - xã hội và những triển vọng của các cuộc đấu tranh giai cấp ấy Rõ ràng những cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến ở châu Âu những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX là nhân tố khách quan chứng
tỏ rằng đã có những tiền đề xã hội - giai cấp và những điều kiện để xuất hiện chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là chứng cứ để nói rằng nhu cầu xã hội đã chín muồi để xuất hiện một thế giới quan triết học mới - triết học mácxít.
Mặt khác lý luận chủ nghiã xã hội không tưởng của Xanh Ximong, Phuriê , Về bản chất, không đáp ứng được yêu cầu, lợi ích và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Chỉ có triết học Mác ra đời mới đáp ứng được nhu cầu là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản cũng như giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của triết học Mác, bởi vì chỉ có triết học Mác mới có khảo năng cải tạo chủ nghĩa xã hội không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tiền đề lý luận:
Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm với trí tuệ nhân loại, Các Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại Triết học Đức với hai nhà triết học tiêu biểu Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc trực tiếp của triết học Mác.
Các Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết học Hêghen và nghiên cứu triết học Phoiơbắc Qua đó, hai ông đã nhận thấy: Tuy học thuyết triết học của Hêghen mang quan điểm của chủ nghĩa duy tâm nhưng chứa đựng cái “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng Còn học thuyết triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại thấm nhuần quan điểm duy vật Các Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa “hạt nhân hợp lý” của Hêghen và cải tạo, lột bỏ cái
vỏ thần bí để xây dựng nên lí luận mới của phép biện chứng Hai ông đã kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng nên lí luận mới của chủ nghĩa duy vật Từ đó tạo ra cơ sở
để hai ông xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất một cách hữu cơ.
Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc là A.Smít và Đ.Ricácđô không những là nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế mà còn là tiền đề lý luận để hình thành quan điểm triết học.
Trang 5Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như Xanh Ximông và S.Phuriê là một trong ba nguồn gốc lí luận của triết học Mác Các Mác và Ph.Ăng ghen đã kế thừa những quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (quan điểm về vai trò của nền sản xuất trong xã hội, quan điểm về sở hữu v.v ) và khắc phục tính không tưởng thiếu điều kiện lịch sử cụ thể của nó để xây dựng những quan điểm duy vật lịch sử.
Vì vậy, khi tìm hiểu nguồn gốc lí luận của triết học Mác cần tìm hiểu không chỉ trong triết học Đức mà trong cả chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tế chính trị học Anh.
3. Tiền đề khoa học tự nhiên:
Giữa triết học với khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng có mối quan hệ khăng khít Sự phát triển của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức
do các khoa học cụ thể đem lại Vì thế, mỗi khi trong khoa học có những phát minh mang tính chất vạch thời đại thì tạo ra sự thay đổi của triết học.
Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phát minh quan trọng: Định luật bảo toàn biến hóa năng lượng, Thuyết tế bào, thuyết tiến hóa Những phát minh khoa học đó đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữa những sự vật, giữa các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chất của thế giới, vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển Đồng thời đã làm bộc lộ rõ tính hạn chế và sự bất lực của phương pháp tư duy siêu hình và của tư tưởng biện chứng cổ đại cũng như phép biện chứng của Hêghen Từ đó đặt ra một yêu cầu trong tư duy nhân loại cần phải xây dựng một phương pháp
tư duy mới thật sự khoa học Với những phát minh của mình, khoa học đã cung cấp những tri thức để Các Mác và Ph.Ăng ghen khái quát xây dựng phép biện chứng duy vật.
Như vậy, triết học Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống thực tiễn mà còn vì những tiền đề lý luận, xã hội và khoa học mà nhân loại đã tạo ra.
Trang 6PHẦN II: SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÀ BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
1. Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác - Lênin:
Sự hình thành và phát triển triết học Mác - Lênin trải qua một quá trình Quá trình trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn chuyển biến tư tưởng của Các Mác và Ph.Ăng ghen từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật
và cộng sản chủ nghĩa; giai đoạn hình thành những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lí luận triết học; giai đoạn Lênin bảo vệ hoàn thiện và tiếp tục phát triển triết học Mác.
1.1. Sự chuyển biến tư tưởng của Các Mác
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) sinh trưởng trong một gia đình trí thức (bố là luật sư) ở thành phố Tơrevơ, tỉnh Ranh, một vùng có nhiều ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp và đạo Kitô là tôn giáo độc tôn.
Những ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường và các quan hệ
xã hội khác đã giúp Các Mác hình thành tinh thần nhân đạo và xu hướng yêu tự do Phẩm chất đó không ngừng được bồi dưỡng và đã trở thành định hướng cho cuộc đời sinh viên và đưa Các Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng Cũng vì thế, trong tình hình lúc đó, triết học Hêghen với tinh thần biện chứng cách mạng của nó được Các Mác xem là chân lý Trong thời gian học ở khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Béc lin (1836 - 1841) ông say mê nghiên cứu triết học, nhằm giải đáp vấn đề giải phóng con người, thực hiện dân chủ, vươn tới tự do Năm 1837 Các Mác tập trung nghiên cứu triết học Hêghen và tham gia nhóm “Hêghen trẻ”.
Sau khi nhận bằng tiến sỹ triết học (8/1841), Các Mác chuẩn bị vào giảng dạy triết học ở trường đại học và dự định xuất bản một tạp chí với tên gọi “Tư liệu của chủ nghĩa vô thần” Nhưng dự định đó không được thực hiện vì nhà nước phong kiến Phổ thực hiện chính sách đàn áp những người dân chủ cách mạng Ông và một
số người theo phái “Hêghen trẻ” đã chuyển sang hoạt động chính trị đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế Phổ giành lại quyền tự do dân chủ; đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư tưởng của ông Như vậy lúc này, trong tư tưởng của Các Mác có sự mâu thuẫn giữa thế giới quan duy tâm với tinh thần dân chủ cách mạng
và vô thần Mâu thuẫn bước đầu được giải quyết khi Các Mác làm việc ở báo Sông
Trang 7Ranh, ở đây lúc đầu là cộng tác viên sau trở thành linh hồn của tờ báo và ông đã làm cho nó trở thành cơ quan ngôn luận của phái dân chủ cách mạng.
Thực tiễn đấu tranh báo chí đã làm cho tư tưởng dân chủ cách mạng ở Các Mác có nội dung rõ ràng hơn, đó là đấu tranh cho lợi ích của quần chúng lao động Lúc này tư tưởng cộng sản chủ nghĩa chưa được hình thành, ông đấu tranh bảo vệ “quần chúng nghèo khổ bất hạnh” dưới tinh thần nhân đạo Với tinh thần nhân đạo, ông tập trung phê phán các chính sách của nhà nước Phổ, nhà nước đó chỉ là “cơ quan đại diện đẳng cấp của những lợi ích cá nhân” Trong quá trình phê phán đó Các Mác đã nhận thấy hoạt động của nhà nước không phải là hiện thân của tinh thần tuyệt đối như Hêghen đã chứng minh.
Như vậy, qua thực tiễn, nguyện vọng muốn cắt nghĩa hiện thực, xác lập lý tưởng tự do trong thực tế đã giúp Các Mác hình thành khuynh hướng duy vật, nhận thấy mặt hạn chế của quan điểm duy tâm Lúc này tinh thần dân chủ cách mạng sâu sắc đã không dung hợp với triết học duy tâm tư biện Vì thế sau khi báo Sông Ranh bị cấm (1843), Các Mác đặt cho mình nhiệm vụ duyệt lại một cách có phê phán quan niệm duy tâm của Hêghen trước hết về xã hội và nhà nước Ông đã viết tác phẩm “góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” để phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen Trong khi thực hiện phê phán ông nồng nhiệt tiếp nhận quan điểm duy vật của triết học Phoi Ơ Bắc Song với tinh thần phê phán ông đã thấy những mặt hạn chế, nhất là việc xa rời những vấn đề chính trị nóng hổi của Phoi Ơ Bắc Sự phê phán sâu rộng triết học Hêghen, việc khái quát kinh nghiệm lịch
sử cùng với ảnh hưởng quan điểm duy vật và nhân văn của triết học Phoi Ơ Bắc đã tăng cường mạnh mẽ xu hướng duy vật trong quan điểm triết học của Các Mác.
Cuối tháng 10 - 1843, Các Mác sang Pari ở đây, không khí chính trị sôi sục và tiếp xúc với các đại biểu của giai cấp vô sản đã dẫn đến bước chuyển biến dứt khoát quan điểm của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Trong bài báo “lời nói đầu của cuốn sách góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, Các Mác đã phân tích một cách sâu sắc theo quan điểm duy vật ý nghĩa và hạn chế của cuộc cách mạng tư sản chỉ là “cuộc cách mạng bộ phận”; đồng thời ông khẳng định, chỉ có cuộc cách mạng do giai cấp vô sản thực hiện mới là “cuộc cách mạng triệt để” Các Mác nêu rõ: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” Với bài báo này và một số bài báo khác đăng trong tạp chí Niên giám Đức - Pháp năm 1844 đánh dấu bước hoàn thành quá trình chuyển biến lập trường, quan điểm của Các Mác.
1.2. Sự chuyển biến tư tưởng của Ph.Ăngghen
Trang 8Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820, trong một gia đình chủ xưởng sợi ở tỉnh Ranh Khi còn là học sinh trung học đã có thái độ căm ghét sự chuyên quyền và độc đoán của bọn quan lại phong kiến Việc nghiên cứu triết học trong thời gian ở Béc lin, khi làm nghĩa vụ quân sự đã hướng ông đi vào con đường khoa học Song, chỉ thời gian gần hai năm sống ở Manchestơ (Anh) từ mùa thu 1842 khi nghiên cứu đời sống kinh tế và chính trị nước Anh, nhất là việc trực tiếp tham gia phong trào công nhân mới dẫn đến bước chuyển căn bản trong thế giới quan của ông sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1844 trên tạp chí Niên giám Đức - Pháp, Ph.Ăngghen đăng một số bài báo: "Bản thảo góp phần phê phán kinh tế - chính trị học", "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh" Các tác phẩm đó cho thấy ở Ăngghen, quá trình chuyển từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản đã hoàn thành Quá trình này diễn ra độc lập với Các Mác Trong các bài báo này, ông đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản để phê phán kinh tế chính trị học của A.Xmit và Đ.Ricacdo.
2. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
Trong lịch sử triết học trước C.Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng tách rời nhau Các nhà duy vật dù đã thể hiện những tư tưởng biện chứng, nhưng suy cho cùng do hạn chế bởi điều kiện lịch sử xã hội và khoa học cho nên họ vẫn bị chi phối bơi phương pháp tư duy siêu hình Tư tưởng bịên chứng đã đạt được những thành tựu lớn lao trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học Hêghen, nhưng nó lại phát triển trong hệ thồng triết học duy tâm thần bí Do đó, nhìn chung, lịch sử triết học trước Mác thể hiện thế giới quan duy vật trong mối quan hệ với phương pháp nhận thức siêu hình, hoặc là thế giới duy tâm trong mối quan hệ với phương pháp nhận thức biện chứng.
Phép biện chứng duy vật ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản đã cung cấp thực tiễn cho C.Mác và Ph.Ănghen để đúc kết và kiểm nghiệm lý luận về phép biện chứng Dựa trên cơ sở thành tựu khoa học tự nhiên (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế
kỷ XIX) đi vào hệ thống hoá tài liệu khoa học thực nghiệm Đây là hai tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật
Tiền đề lý luận của phép biện chứng duy vật chính là phép biện chứng duy tâm của Hêghen Các ông đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn có của nó là phép biện chứng và vứt bỏ cách giải thích hiện tượng tự nhiên xã hội và tư duy một cách thần thánh hoá tư duy, nói cách khác các ông đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm Hêghen
Trang 9Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết học trước đây duy vật nhưng siêu hình (Triết học cận đại) hoặc biện chứng nhưng duy tâm (cổ điển Đức) Phép biện chứng duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng trong lĩnh vực xã hội, do đó các ông đã xây dựng sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử
Theo C.Mác: Biện chứng khách quan là cái có trước, còn biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là
sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của Hêghen C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy tâm của Hêghen "đứng trên hai chân của mình" tức là đứng trên nền tảng duy vật Theo C.Mác thì phép biện chứng chính là "khoa học về mối liên hệ phổ biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy" Theo Lênin thì phép biện chứng là
"học thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về tính tương đối của sự vật"
Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: 1 Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển; 2 Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhưng vẫn có sự giống nhau; 3 Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển Các mối liên hệ được khái quát thành các cặp phạm trù như( phần tử - hệ thống, nguyên nhân - kết quả, lượng - chất) và các quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định) Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác đã công khai tính giai cấp của để bảo
vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động Trong khi đó các nền triết học trước Mác che dấu lợi ích của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, của một nhóm người thiểu số trong xã hội.
Triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống mở, không ngừng được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và phát triển Cùng với chính sự phát triển thực tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho hành động Những nội dung chính của phép biện chứng được C.Mác và Ph.Ănghen luận chứng trong tác phẩm: "Biện chứng của tự nhiên" (1873 - 1883), "Chống Đuy -rinh" (1876 -1878), "Lút-vich Phoiơ Bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức" và một số tác phẩm do V.I.Lênin viết như: "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán" (1908 -1909), "Bút ký triết học"
Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác - xít là kết quả của sự chín muồi về mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội Sự ra đời của nó đáp ứng nhu cầu về mặt lý luận của giai cấp công nhân Giai đoạn mới trong sự phát triển của phép biện chứng gắn với tên tuổi của V.I.Lênin đã vận dụng thành công phép
Trang 10biện chứng Mác-xít trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm
1917 Sự phát triển của V.I.Lênin về phép biện chứng duy vật thể hiện trong lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa như là một công cụ sắc bén để cải tạo thế giới một cách cách mạng nhất.
Triết học Mác ra đời đã chứng minh tính thống nhất giữa thế giới quan và phưng pháp luận: thế giới quan duy vật biện chứng trong sự thống nhất hữu cơ với phương pháp biện chứng duy vật Kế thừa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, C.Mác đã xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng, hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lich sử triết học và phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về sự phát triển của thế giới tự nhiên, lịch
sử xã hội loài người và tư duy Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học C.Mác và Ph.Ăngghen là cơ sở hình thành nên triết học vĩ đại nhất trong lịch
sử : triết học Mac-Lênin Đánh giá về tính triệt để trong triết học Mác, V.I.Lênin viết:
“ Triết học của Mác là một triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”.
3. Sáng tạo ra chủ nghĩ duy vật lịch sử
Một đặc điểm có ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng trong triết học là mở rộng chue nghĩa duy vật sang xã hội loài người, hình thành nên chủ nghĩa duy vật lịch sử V.I.Lenin đánh giá rằng : “ Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa ra học thuyết đó tới chõ hoàn bị và mở rộng nhận thức ấy
từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chõ nhận thức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự tuỳ tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị ”
Chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác đã chỉ ra quy luật vận động của lịch sử xã hội loài người, sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên Trong các quy luật của lịch sử xã hội, quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có vai trò quyết định Các quan hệ về kinh tế quyết định các quan hệ về kiến trúc thượng tầng Triết học lịch sử cũng đã phát hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người “đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu giải phóng con người Với bản chất duy vật triệt để trong lĩnh vực xã hội, triết học Mác trở thành công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới, tạo ra bước phát triển mới về chất, một bước nhảy vọt so với các hệ thống triết học khác trong lịch sử.
4. Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn