Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM DƯƠNG THỊ GIANG NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIẢ
Trang 1Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG THỊ GIANG
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIẢM NHẸ RỦI RO VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU TẠI HUYỆN CHỢ MỚI,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Xuân Linh
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Dương Thị Giang
Trang 3
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên – Đại học Thái Nguyên
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo Tiến sĩ Hà Xuân Linh đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Tài nguyên & Môi trường, Phòng quản lý đào tạo sau đại học – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng quý thầy cô trong khoa đã tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập hoàn thành tốt khóa học
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông - Lâm – Nghiệp miền núi phía Bắc - Trường Đại học Nông lâm TN, cán
bộ UBND huyện, phòng NN & PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, chính quyền các xã cùng nhân dân huyện Chợ Mới, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Dương Thị Giang
Trang 4Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Những yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Căn cứ pháp lý 4
1.1.2 Cơ sở lý luận 5
1.2 Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới 9
1.2.2 Khái quát biến đổi khí hậu ở Việt Nam 17
1.2.3 Nét khái quát về các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc 27
1.2.4 Đánh giá chung biến đổi khí hậu tỉnh Bắc Kạn 30
1.3 Các nghiên cứu tương tự 33
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.4 Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp 35
2.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Một số đặc điểm chính về tình hình tự nhiên và kinh tế, xã hội của huyện Chợ Mới 38
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
Trang 5Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 39
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
3.2 Đánh giá những hiện tượng thời tiết bất thường và ảnh hưởng trong những năm gần đây của huyện Chợ Mới 43
3.2.1 Đánh giá những hiện tượng thời tiết bất thường 43
3.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp 48
3.3 Các kiến thức bản địa của người dân trong đời sống sinh hoạt và sản xuất 53
3.3.1 KTBĐ của dân tộc Tày - xã Thanh Vận 53
3.3.2 KTBĐ của dân tộc Dao – xã Tân Sơn 59
3.3.3 Những kiến thức và kinh nghiệm nhằm thích nghi và giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH của 2 xã 63
3.4 Đề xuất một số mô hình cây trồng thích ứng với BĐKH dựa vào kiến thức bản địa 66
3.4.1 Mô hình cây trồng thích ứng rét 66
3.4.2 Mô hình thích ứng cây chịu hạn 69
3.4.3 Mô hình canh tác cho các loại đất 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 6Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CARE (Cooperative for American Remittances to Europe): Hợp tác xã cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu
CSDM (Center for sustainable development in mountainous areas): Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
IK (Indigenous knowledge): Tri thức bản địa
IPCC (The Intergovernmental Panel on Climate Change): Ủy ban Liên
Chính phủ về Biến đổi Khí hậu
ISDR (International Society for Diatom Research): Hiệp hội Quốc tế
nghiên cứu tảo cát
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UN (United Nation): Liên hợp quốc
WB (World Bank): Ngân hàng thế giới
WMO (World Meteorological Organization): Tổ chức Khí tượng thế giới
Trang 7Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Xu hướng biến đổi khí hậu ở tỉnh Bắc Kạn 32
Bảng 3.1: Cơ cấu cây trồng nông nghiệp 42
Bảng 3.2: Số lượng đàn gia súc, gia cầm 43
Bảng 3.3:Tổng thiệt hại từ năm 2007 đến năm 2011 44
Bảng 3.4: Thiệt hại do bão năm 2012 44
Bảng 3.5: Thiệt hại do hạn hán năm 2012 46
Bảng 3.6: Tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt 50
Bảng 3.7 Tác động của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi 52
Bảng 3.8: Kết quả phân loại nhóm cây trồng xã Thanh Vận 53
Bảng 3.9: Cây trồng bản địa và khả năng thích ứng của dân tộc Tày 54
Bảng 3.10: Phương thức sử dụng đất nông nghiệp, chọn đất xã Thanh Vận 55 Bảng 3.11: Lịch gieo trồng cây nông nghiệp dân tộc Tày 57
Bảng 3.12: Nhận biết dấu hiệu thời tiết xấu dân tộc Tày 58
Bảng 3.13: Kết quả phân loại nhóm cây trồng xã Tân Sơn 59
Bảng 3.14: Cây trồng bản địa và khả năng thích ứng của dân tộc Dao 60
Bảng 3.15 : Lịch canh tác nương của người Dao 61
Bảng 3.16: Nhận biết dấu hiệu thời tiết xấu dân tộc Dao 62
Bảng 3.17 : Kiến thức bản địa về trồng trọt 63
Bảng 3.18: Kiến thức bản địa về chăn nuôi 65
Bảng 3.19: Các hoạt động thích ứng với BĐKH 65
Bảng 3.20: Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét 66
Bảng 3.21 Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây đậu xanh chịu hạn 70
Bảng 3.22: Mô hình canh tác cho các loại đất 72
Trang 8Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH
(%) trong 50 năm qua 19 Hình 3.1 Biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng trong năm huyện Chợ Mới 44 Hình 3.2: Biểu đồ số giờ nắng các tháng trong năm huyện Chợ Mới 46 Hình 3.3: Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng trong năm huyện Chợ Mới 48
Trang 9Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai Vấn đề biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại
Ở Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng
đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam được ước tính
là một trong năm quốc gia đang phát triển bị tác động lớn bởi biến đổi khí hậu (Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2009; Oxfam, 2008) Vì vậy, để có sự phát triển bền vững, biến đổi khí hậu là vấn đề quản lý khẩn cấp đối với bất kỳ chính phủ, tổ chức, cộng đồng và cá nhân
Dân số trong vùng vào khoảng 18 triệu người (20% dân số toàn quốc) với 35 nhóm dân tộc thiểu số Vùng miền núi phía bắc là vùng rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế, quốc phòng an ninh và cân bằng hệ sinh thái cho Việt Nam Tuy nhiên vùng miền núi phía bắc được xác định là một trong những vùng nghèo nhất ở Việt Nam Có nhiều nguyên nhân gây ra tỷ lệ nghèo cao trong vùng như sự xa xôi ngăn cách về địa lý, sự bất bình đẳng về giới, sự hạn chế trong sự tiếp cận các dịch vụ công như dịch vụ khuyến nông, phát triển giáo dục, y tế cũng như tiếp cận các cơ hội thị trường để phát triển sinh kế (CARE
Trang 10Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
international in Vietnam, 2010) Nhưng những tác động bất lợi của hiện tương thời tiết khí hậu cực đoạn và biến đổi khí hậu trong mấy năm gần đây được xác định là một nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của người dân trong vùng
Bắc Kạn là một trong những tỉnh nghèo nhất nằm ở trung tâm miền núi phía bắc Việt Nam, trong 5 năm gần đây Bắc Kạn là một trong những tỉnh bị thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của thời hiện tượng tiết khí hậu cực đoan (CARE, 2010)
Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía bắc Việt Nam nói chung có vốn kiến thức truyền thống và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp giúp họ linh hoạt hơn với những thay đổi khắc nghiệt trong môi trường sống Nhiều cộng đồng bản địa là dân tộc thiểu số ở Bắc Kạn đã có rất nhiều kinh nghiệm trong canh tác nông nghiệp bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên Những kiến thức và các kỹ thuật bản địa này đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong từng cộng đồng dân tộc thiểu số
Kiến thức bản địa và kinh nghiệm thực tiễn là cơ sở để đưa ra quyết định
ở cấp địa phương ở nhiều cộng đồng nông thôn (ISDR, 2008) Kiến thức bản địa và kinh nghiệm thực tiễn có giá trị không chỉ đối với các nền văn hóa mà trong đó nó phát triển, mà còn cho các nhà khoa học và nhà lập kế hoạch để cải thiện điều kiện sống ở nông thôn
Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp
của TS Hà Xuân Linh, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiến thức bản địa
của một số dân tộc thiểu số trong giảm nhẹ rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”
Trang 11Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Đưa ra một tổng quan chung về kiến thức bản địa trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên thiên nhiên;
- Phát hiện và tư liệu hóa các kiến thức bản địa cũng như thực tiễn về quản lý giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu;
- Xác định tính hiệu quả và tính phù hợp của các kiến thức bản địa và kinh nghiệm của người dân địa phương về biến đổi khí hậu;
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi và các mô hình thử nghiệm thích ứng với biến đổi khí hậu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
- Là nguồn cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về sau;
- Cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và cơ quan
quản lý tài nguyên thiên nhiên trong giảm thiểu rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu
Ý nghĩa thực tiễn:
- Vận dụng kiến thức bản địa cũng như thực tiễn của người dân trong
cuộc sống và sản xuất để giảm nhẹ rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu;
- Giúp các cơ quản lý có kiến thức sâu hơn từ đó đưa ra chính sách, biện
pháp quản lý phù hợp nhất với địa phương
- Nâng cao năng lực cho cán bộ chính quyền các cấp trực tiếp làm công
tác phòng, chống thiên tai
- Xây dựng được kế hoạch phòng tránh thiên tai, có hệ thống thông tin
liên lạc và xây dựng được lực lượng nòng cốt có chuyên môn, nghiệp vụ về giảm nhẹ thiên tai, lực lượng tình nguyện viên để hướng dẫn và hỗ trợ nhân
dân trong công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
Trang 12Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam);
- Quyết định số 35/2005/QĐ-TTg ngày 17/12/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định thư Kyoto ở Việt Nam;
- Quyết định số 47/2007/TTg ngày 6/4/2007, Thủ tướng Chính phủ ra phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị định thư Kyoto trong giai đoạn 2007-2010;
- Năm 2007, Việt Nam công bố Chiến lược Quốc gia về phòng chống, thích nghi và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007);
- Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 12 năm 2008, của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Quyết định số 1002/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 07 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng;
Trang 13Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 5/12/2011, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu;
- Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí dự án: “ Đánh giá mức độ biến đổi khí hậu, xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020”;
- Quyết định số 1114/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí dự án: Kế hoạch hành động ứng phó với bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020”;
- Quyết định số 799/QĐ-UBND ngày 24/5/2012 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020”;
1.1.2 Cơ sở lý luận
1.1.2.1 Biến đổi khí hậu
“Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là
những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh
hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của
các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo
công ước chung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu,1992) [14]
1.1.2.2 Nguyên nhân biến đổi khí hậu
Sau cuộc tranh luận kéo dài hơn 30 năm, cho đến nay, các nhà khoa học
đã có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, giao thông, nông – lâm nghiệp và sinh hoạt
ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu (Al Gore, 2006) Theo Báo cáo đánh giá
Trang 14Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng 46% vào tiềm năng nóng lên toàn cầu; Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm ấm lên toàn cầu Sản phẩm hóa học (CFCs, halon ) 24 % và các nguồn
khác (rác thải ) 3 % [7]
1.1.2.3 Tìm hiểu chung về kiến thức bản địa
Tri thức bản địa (IK)/kiến thức bản địa/tri thức truyền thống/tri thức địa
phương là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát
triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội
Tri thức bản địa được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hợp văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan Những tri thức này là nền tảng cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như khai thác tự nhiên, các hệ thống canh tác và chăn nuôi, tìm kiếm nguồn nước, tự bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bản thân; và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường Tri thức bản địa sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương, ít phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài Tri thức bản địa chủ yếu được truyền miệng từ đời này sang đời khác, ít khi được lưu trữ bằng văn bản ghi chép Tri thức bản địa được hình thành trong quá trình nghiệm sinh (trải nghiệm và đúc kết thành tri thức), luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động của cuộc sống, hướng đến
sự thích nghi với đặc điểm văn hoá, xã hội và môi trường Tri thức bản địa luôn được làm giàu qua việc tích hợp các kinh nghiệm mới hoặc tri thức mới
có được từ quá trình tiếp biến văn hoá
Trang 15Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tri thức bản địa không hạn chế ở những người dân nông thôn Trên thực thế, bất kỳ nhóm cộng đồng nào cũng có tri thức bản địa: nông thôn và thành thị; người định cư và người du cư; người bản địa và người nhập cư Quá trình giao lưu, xáo trộn dân cư cũng sẽ dẫn đến việc hình thành các tri thức bản địa mới, trên cơ sở của quá trình tiếp xúc và biến đổi, đào thảỉ (những gì không còn phù hợp) và tích hợp (tiếp thu những yếu tố mới, có ích cho cuộc sống), thường được gọi bằng một thuật ngữ mang tính bao quát hơn là tri thức địa
phương (local knowledge) Chính vì vậy, tri thức bản địa phản ánh đặc tính
của lứa tuổi, giới tính và đặc điểm của nhóm xã hội: Những người già có nhiều loại kiến thức khác so với thế hệ trẻ; phụ nữ có những tri thức khác so với nam giới; người có học thức và người ít học tích hợp được các vốn tri thức khác nhau Có những kiến thức chung, được tất cả mọi người trong cộng đồng hiểu biết; cũng có những kiến thức cùng chia sẻ, có nhiều người biết nhưng không phải toàn bộ cộng đồng; lại có những kiến thức chuyên nghiệp/chuyên biệt, chỉ có ở một số ít người (ví dụ chỉ có một số ít người dân
là thầy thuốc, thầy cúng, nghệ nhân, bà đỡ hoặc thợ thủ công…).[13]
Trước đây, tri thức bản địa/tri thức địa phương thường được hiểu là đối
lập với “kiến thức chính thống” (formal knowledge)/“kiến thức khoa
học”/“Quốc tế” hay “Hiện đại” - hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng giáo dục, được các trường đại học, viện nghiên cứu và công ty
tư nhân sử dụng phương pháp khoa học xây dựng nên; được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm, được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật Song thực tế cho thấy, sau một quá trình giao lưu và biến đổi, đào thải và tích hợp, tiếp thu và cải biến, đã có nhiều điểm chồng chéo giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học; nhiều kiến thức phương Tây đã được bản địa hoá thành kiến thức của người dân nên nhiều khi sẽ rất khó phân biệt giữa hai loại kiến thức này.Ở những quốc gia đang phát triển, hệ thống tri thức bản địa luôn tồn tại song song với các hệ thống kiến thức chính thống [13]
Trang 16Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tri thức bản địa chính là nền tảng cơ sở để duy trì cuộc sống của các xã hội truyền thống Hơn thế nữa, trong bối cảnh các xã hội tương đối khép kín với nền kinh tế nặng về tự cung tự cấp của đa số dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
đó còn là cơ sở duy nhất Sự xuất hiện của các “tri thức chính thống” và văn hoá phương Tây đã tạo nên những cú sốc trong lịch sử văn hóa Việt Nam Một thời gian dài, tri thức bản địa đã không được đánh giá đúng với những giá trị mà nó chứa đựng; thậm chí, còn bị coi là biểu hiện của sự trì trệ, lạc hậu và phản khoa học [13]
Trước thập niên 1980, nhiều nỗ lực nhằm loại bỏ các tri thức bản địa
đã được áp dụng trên cả nước Ngày nay, giá trị và vai trò của tri thức bản địa đã được nhận thức/đánh giá lại Tại nhiều khu vực, tri thức bản địa đã
và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương [13]
Cũng như tất cả các tộc người khác, người dân các tộc người thiểu số MNPB có vốn kiến thức riêng trong nhiều lĩnh vực về môi trường và cuộc sống hàng ngày Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai diễn ra ngày càng mạnh mẽ và phức tạp, trước khi có sự can thiệp/hỗ trợ từ bên ngoài, người dân đã phải tìm cách tự đối phó
để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng Những sáng kiến mà họ áp dụng chủ yếu được huy động từ vốn tri thức bản địa/tri thức địa phương được đúc kết từ nhiều đời [9]
Như một quá trình chọn lọc của tự nhiên, trải qua một thời gian lâu dài hàng trăm hoặc hàng nghìn năm hình thành nên một kho kiến thức bản địa và theo nó là những cây trồng bản địa vô cùng phong phú Những cây trồng và vật nuôi bản địa được con người thuần hóa chọn lọc và canh tác từ thế hệ này qua thế hệ khác nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các sản phẩm khác đáp ứng nhu cầu của con người, kiến thức canh tác bản địa
đã trở thành kho kiến thức quý báu của con người [9]
Trang 17Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Kiến thức bản địa trong nông nghiệp là những kiến thức liên quan đến hoạt động trồng trọt, chăn thả của người nông dân địa phương, được người dân đúc kết qua thực tế cuộc sống và những kinh nghiệm khi chăn nuôi, trồng trọt Do đó, những kiến thức bản địa này rất phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác của địa phương Có những kiến thức bản địa thể hiện tri thức sâu sắc của người dân bản địa và là tài sản, kinh nghiệm quý giá trong sản xuất mà thế hệ đi trước để lại cho thế hệ sau, có giá trị di sản cao
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
Trái đất nóng lên là hậu quả của một quá trình tích lũy lâu dài của khí
quyển sẽ "nhốt” hơi nóng của ánh mặt trời bên trong bầu khí quyển, vì vậy làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên
Nhiều hậu quả không diễn biến theo một con đường thẳng Thí dụ về
khi khí hậu biến đổi thì rừng sẽ bị phá hủy – đây là tác động có hai hậu quả đối nghịch với điều chúng ta dự kiến trong tương lai [18]
- Núi băng biến mất
Hậu quả thấy rõ nhất của việc khí hậu nóng lên là lượng núi băng giảm xuống Mặc dù lượng băng mất đi không chỉ tùy thuộc vào nhiệt độ mà còn vào mưa và ánh sáng-tuy nhiên nó vẫn có một quy luật chung: nơi nào không
Trang 18Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khí nóng thì nơi đó có số lượng băng, tuyết phủ giảm đi Thompson thu thập các
dữ liệu khoan được từ nhiều vùng nhiệt đới như Himalaya, Andes và nghiên cứu chúng tạ phòng thí nghiệm của mình ở Ohio Ông có thể chứng minh được, vào
kỷ Holocene khí hậu nóng rất phổ biến tại các vùng núi nhiệt đới ở khắp nơi trên trái đất Như vậy, nó không chỉ do yếu tố địa phương gây ra [25]
Phản ứng nhạy cảm của nhiều núi băng về việc tăng nhiệt độ tương đối thấp của khí hậu là điềm báo trước cho chúng ta thấy, nếu sức nóng toàn cầu gia tăng lên nhiều độ C thì phần lớn các núi băng trên thế giới sẽ không còn Núi băng còn là nơi dự trữ nước, ngay cả khi mưa nhiều vẫn cho nước quanh năm Ngành nông nghiệp và nước sinh hoạt trong các thành phố lớn vùng núi lệ thuộc vào nguồn nước này Nếu các núi băng biến mất thì điều này sẽ gây ra nhiều vấn đề lớn và đe dọa cuộc sống của hàng triệu người vì thiếu nước [15]
Sự tan hủy của vùng băng phủ có thể chỉ xảy ra trong khoảng thời gian
vài trăm năm, chứ không phải vài ngàn năm [23]
- Mực nước biển đang dâng lên
Một trong những hậu quả có tính vật lý do khí hậu toàn cầu nóng gây ra
là mực nước biển tăng lên Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương
Người ta đã từng quan sát hiện tượng này trong lịch sử phát triển của khí hậu Vào cao điểm của thời băng giá (cách đây khoảng 20 000 năm), lúc khí
khoảng 120m và người ta có thể đi bộ mà không bị ướt chân từ châu Âu lục địa sang Anh quốc Vào cuối thời băng giá, mực nước biển tăng nhanh, đến
khoảng 5m cho mỗi thế kỷ.[16]
Khi nước biển đã dâng lên thì sẽ rất khó ngăn chặn chúng lại Nhà khí tượng học James Hansen, giám đốc Viện nghiên cứu không gian Goddard của NASA, gọi lớp băng phủ là “quả bom nổ chậm” [23] Nếu núi băng tan là
Trang 19Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dấu hiệu báo động về khí hậu nóng thì việc mực nước biển dâng lên là một hậu quả tất nhiên theo sau đó: nó bắt đầu chậm, nhưng giữ lại rất lâu Nguyên nhân do lớp băng phủ tan và thể tích nước do sức nóng giãn nở kéo dài từ hàng trăm năm – yếu tố thứ hai – vì nước nóng từ mặt nước lắng xuống sâu trong đại dương rất chậm Điều này có nghĩa là mực nước biển còn tiếp tục
dâng lên trong vài trăm năm nữa , ngay cả khi khí hậu không còn nóng [15]
Khí hậu nóng lên có thể làm các chuyển động hải lưu yếu đi bằng hai cách: sức nóng làm giảm độ đậm đặc của nước biển do nước giãn nở ra và gia tăng tăng lượng nước mưa cũng như nước ngọt từ các núi băng tuyết tan, nhất là ở Greenland đổ vào Hai yếu tố này làm cản trở sự hình thành dòng hải lưu dưới sâu và trong trường hợp xấu nhất có thể làm chúng biến
mất hoàn toàn [15]
Trực tiếp nhất là hậu quả của việc bảo quản chất dinh dưỡng ở vùng bắc Đại Tây Dương, nơi mà hiện nay nhờ vào sự hình thành các dòng hải lưu dưới biển sâu đã tạo thành một vùng biển với nhiều chất dinh dưỡng và nhiều cá
người thải ra [26] Sự biến mất các dòng hải lưu sâu có nghĩa là biển sẽ giảm
cố trong hệ thống khí quyển – nó là một hiện tượng khó tiên đoán với một hậu quả khủng khiếp
Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lụt lội hay khô hạn là hậu quả của sự biến đổi khí hậu mà nhiều người phải trực tiếp chịu đựng
Những đợt nắng nóng gay gắt Hàng loạt những kỷ lục về nhiệt độ bị
xô đổ, hạn hán, cháy rừng cùng những hệ lụy xấu chưa bao giờ xuất hiện nhiều và liên tục đến như thế Chính con người chứ không phải ai khác phải hứng chịu tất cả những hậu quả này Bắt đầu với những năm đầu thế kỷ 20: Lần đầu tiên trên thế giới ghi nhận những trận hạn hán, nắng nóng ghê gớm
Trang 20Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
xảy ra tại các nước nhiệt đới châu Á, châu Phi Năm 1900, ở Ấn Độ đã xảy ra một trận nắng nóng gay gắt, không mưa và nhiệt độ tăng cao từ 40 - 45 độ C trong suốt nhiều ngày liên tục Điều này đã dẫn tới hạn hán lớn, số người thiệt mạng dao động từ 250.000 tới gần 3,25 triệu người Những năm tiếp theo là
kỷ nguyên công nghiệp phát triển của con người, điều này đồng nghĩa với tần suất nắng nóng ngày một tăng lên Tại Liên Xô, giai đoạn 1921-1922 đã có tới
5 triệu người chết khát vì không chịu nổi cái nóng và hạn hán kéo dài Con số này còn lớn hơn tổng số người đã chết trong Chiến tranh Thế giới I (1914-1919) Khoảng 20 năm sau, thế giới tiếp tục ghi nhận kỷ lục khủng khiếp được xác lập tại Trung Quốc: trong vòng 5 năm từ 1936 tới 1941, tại tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã có tới 2 trận nắng nóng khủng khiếp dẫn tới hạn hán,
“kết liễu” sinh mạng của 2,5 triệu người Đây cũng là tỉnh hiếm hoi ở Trung Quốc mà quanh năm hầu như không có mưa Đợt nắng nóng quét qua Châu
Âu hồi năm 2003 đã làm thiệt mạng khoảng 20 đến 30 ngàn người Đó thật sự
là dấu hiệu đáng báo động của những thay đổi ngày càng tồi tệ của khí hậu Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay
Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.[15]
Bão lụt Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão
Theo ước tính, chỉ riêng ở Mỹ, trong vòng 100 năm qua (từ 1905 đến 2005),
số lượng những cơn bão mạnh đã tăng không ngừng Nếu từ 1905 - 1930 chỉ
có khoảng trung bình 3,5 cơn/năm thì con số này là 5,1 trong khoảng
1931-1994, và lên đến 8,4 từ 1995-2005 Mức độ thiệt hại về sinh mạng và vật chất
do các cơn bão và các trận lụt lội gây ra cũng đang ở mức kỷ lục
Các nhà khoa học tại Viện Công nghệ Georgia tại Atlanta (Georgia, Mỹ)
và Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia tại Boulder (Colorado, Mỹ) vừa phân tích một loạt số liệu thống kê những trận bão nhiệt đới trên toàn cầu, kể
từ khi con người bắt đầu ghi lại được các dữ liệu vệ tinh về bão Kết quả cho thấy thời gian gần đây, có sự tăng trưởng số lượng cơn bão loại 4 và 5 (tức là
Trang 21Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
những cơn bão mạnh có thể gây lở đất) trên hệ thống đo Saffir - Simpson Cụ thể từ năm 1975 đến 1989, có 171 cơn bão lớn, nhưng từ năm 1990 đến 2004 tăng lên 269 cơn Thiệt hại xảy ra nhiều nhất với những trận bão thuộc cấp 3
có sức gió từ 111 đến 130 dặm một giờ (1 dặm = 1,6km) và những trận bão có sức gió cao hơn Tổn thất kinh tế toàn cầu năm 2005 do bão gây ra vượt quá
200 tỷ USD Trong khi đó, tổn thất vì bão năm 2004 chỉ ở mức 145 tỷ USD Nếu khí hậu tiếp tục nóng thì chúng ta sẽ có thêm nhiều trận bão nhiệt đới dữ dội hơn.[15]
Hạn hán Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền
miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang
và sẽ chịu cảnh đói khát
Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới Theo ước tính, đến năm
2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%
Hạn hán cũng nghiêm trọng ở nhiều khu vực khác ở châu Á Tại Trung Quốc, nhiều khu vực, đặc biệt là các tỉnh ở phía Tây Nam, đang trải qua những ngày khô hạn nghiêm trọng nhất thế kỷ qua Ở Pakistan, nhất là tại Southern Punjab, đất đai nứt nẻ và sông ngòi cạn trơ đáy Thay đổi khí hậu đang đe dọa nhiều khu vực ở vùng Trung Á rộng lớn Những dòng sông băng tan chảy do nhiệt độ trái đất tăng lên đã làm giảm nghiêm trọng nguồn nước, dẫn đến tình trạng hạn hán không chỉ ở Tajikistan mà cả ở các nước hạ nguồn Uzbekistan và Turkmenistan Các nước này đang chuẩn bị tinh thần sớm phải trải qua những vụ mùa thất thu, dự trữ lương thực giảm nghiêm trọng và nguy
Trang 22Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cơ xảy ra nạn đói Trong khi đó, Nga đã gọi đây là “mối quan ngại thực sự”
và lo ngại thay đổi khí hậu ở Trung Á đe dọa Nga từ phía Nam.[15]
Nhiều nhà sinh vật học lo ngại rằng, trong thế kỷ này sẽ có hàng loạt động vật và thực vật chết hay nói theo ngành chuyên môn, sẽ có một thảm kịch làm mất trạng thái đa dạng sinh học Nạn nhân đầu tiên là các loài thực vật và động vật sống trên cac đỉnh núi như trên một hòn đảo nhỏ lạnh trong một biển nóng, thoát chết qua chu kỳ nóng và đợi thời kỳ băng hà sắp đến
khí hậu” của vùng núi cao sẽ biến mất, một phần ba đến một nửa của 613 loài
cây vùng núi sẽ biến mất hẳn [19]
Theo dự đoán năm 2004 của một nhóm chuyên gia quốc tế do Chris Thomas đứng đầu, thì hàng loạt động vật và thực vật (loài có vú, chim, bò sát…), có thể 15 đến 37% tất cả các sinh vật trên trái đất sẽ hoàn toàn biến
mất vào năm 2005, do biến đổi khí hậu [30]
Tại nhiều hội nghị quốc tế, các công trình nghiên cứu ở địa phương về ảnh hưởng do biến đổi khí hậu đén hệ thống sinh thái nhạy cảm đã đưa ra thảo luận Kết quả của các cuộc hội thảo là một kịch bản đầy nguy cơ Chỉ cần
san hô, rừng nhiệt đới trên vùng cao ở Queensland, Úc và các vùng đất khô trồng các giống cây thấp ở Nam Phi (đặc biệt là loài xương rồng Karoo) Nếu
còn gây hại thêm hệ sinh thái ở vùng Bắc cực và vùng núi Trung Đông sẽ xảy
ra nhiều vụ hỏa hoạn lớn và sẽ bị nhiều loài côn trùng tấn công Một tai họa sẽ xuất hiện và không thể đạo ngược lại, có thể làm cho rừng nhiệt đới Amazon
tai họa sẽ đến với các loại gấu tuyết và các loài khác Vườn quốc gia ở Nam Phi sẽ mất hai phần ba số động vật của mình [15]
Trang 23Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc
có nguy cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa,
do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên Và dĩ nhiên con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta Và khi cây cỏ và động vật
bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi.[15]
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe con người rất phức tạp và cho đến nay chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng Song song vói các hậu quả trực tiếp về các hiện tượng thời tiết cực đoan thì hiện nay các nhà khoa học chỉ lưu
ý đến sự phát triển các căn bệnh do côn trùng mang như bệnh sốt Dengue và bệnh sốt rét Côn trùng là loài máu lạnh và dễ bị khí hậu ảnh hưởng hơn con người Sự biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của chúng Điều này đã xảy ra cho một loại bọ chét ở Đức Trong những năm qua, chúng phát triển dữ dội gia tăng truyền bệnh Borreliose nguy hiểm hay bệnh Meningoenzephalitis, điều mà theo nhiều nhà khoa học là do sự biến đổi khí
hậu gây ra [28]
Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới Cho đến nay, công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về hậu quả của sự biến đổi khí hậu là do Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện năm 2002 đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên
Trang 24Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn
đề hô hấp và tiêu chảy, sốt rét [29]
Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống Người dân phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng
kể, nhu cầu thực phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng
về đường biên giới.[15]
Tác dụng của sự biến đổi khí hậu đến năng suất trong nông nghiệp là do tác động thay đổi của nhiệt độ, mưa, ảnh hưởng bổ sung của phân bón và sự thích nghi của các loài cây trồng Khí hậu nóng lên sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những vùng hiện nay có khí hậu ôn hòa và lạnh (phần lớn là các nước phát triển) như Canada Trái lại những vùng cận nhiệt đới và những vùng hiện nay đất đã bị khô (phần lớn là các nước nghèo) sẽ phải chịu thiệt thòi, nhất là
vì nóng gắt và thiếu nước Đặc biệt là các nước tại bắc và nam châu Phi và một số nước ở châu Á, theo các dự báo bi quan, năng suất của các loại ngũ cốc và bắp sẽ giảm mạnh (20 đến 30% so với trường hợp không bị sự biến đổi
khí hậu ảnh hưởng) [23]
Điều này sẽ làm cho sự cách biệt giữa những nước công nghiệp và các nước nông nghiệp căng thẳng hơn nữa, với kết quả là nạn đói ở các nước
Trang 25Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghèo sẽ gia tăng Vì vậy sự biến đổi khí hậu do con người gây ra sẽ là một gánh nặng về đạo đức: những người nghèo nhất là những người không gây ra biến đổi khí hậu lại là người phải trả giá do biến đổi khí hậu bằng cuộc sống của mình Mùa hè đổ lửa năm 2003 ở Đức đã gây ra tình trạng giảm năng suất trong nông nghiệp Năng suất của năm 2003 giảm 12% so với năng suất trung bình tính từ năm 1997 đến 2002.[15]
Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu
đã dần làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh [15]
1.2.2 Khái quát biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình BĐKH ở Việt Nam
Cũng giống như bức tranh chung trên toàn cầu, ở Việt Nam, trong
biển trung bình năm đã cao hơn khoảng 20 cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt (Bộ TN&MT, 2003)
Nhiệt độ: Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng của mùa đông), nhiệt độ
tháng VII ( tháng đặc trưng mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè Kết quả được thể hiện ở bảng 2.1 và hình 2.1 [2]
Trang 26Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TNMT,2012)
Lượng mưa: Lượng mưa mùa khô ( tháng XI – IV) tăng ít hay không
thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa ( tháng V – X) giảm từ 5% đến 10% trên đa phần diện tích phía Bắc và tăng khoảng từ 5% đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam, kết quả được thể hiện ở bảng 2.2 và hình 2.2 [2]
Trang 27Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
năm (%) trong 50 năm qua
TNMT,2012)
1.2.2.2 Việt Nam và các đặc điểm dễ bị tổn thương
Việt Nam với diện tích khoảng 329.314 km2 nằm trên bán đảo Đông dương trong vùng nhiệt đới gió mùa Với lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ độ từ phía Bắc xuống phía Nam với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có sự đa dạng cao về địa hình và tài nguyên Với vị trí như vậy Việt Nam có những đặc điểm dễ bị tổn thương dưới tác động của BĐKH:
Đông Nam đại lục Âu - Á, kéo dài trên 15 vĩ độ, nằm hoàn toàn trong đới nội chí tuyến của bán cầu Bắc, gần chí tuyến hơn xích đạo và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Biển Đông;
1.2.2.3 Tác động và hậu quả của BĐKH
Việt Nam là một trong trong số 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (Ngân hàng Thế giới, 2007, 2008) Đối với nước ta, mực
Trang 28Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn - các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả nước – nơi ở của các cộng đồng dân cư lâu đời, cái nôi của nền văn minh lúa nuớc, vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, 2008; Bộ TN&MT
C, mực nước biển dâng 1m, có thể làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cư trú của 23 % dân số (khoảng
17 triệu người) Riêng với đồng bằng sông Cửu Long, nếu mực nước biển dâng như dự đoán vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất của khu vực này có nguy cơ bị nhiễm mặn nặng, mùa màng bị thiệt hại nghiêm trọng
do lũ lụt và úng Nếu mực nước biển dâng 1m, mà không có các hoạt động ứng phó, phần lớn diện tích ĐBSCL sẽ hoàn toàn bị ngập nhiều thời gian dài trong năm, và thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỷ USD (Van Urk and Misdorp, 1996; Pilgrim, 2007) BĐKH còn ảnh hưởng đến các thuỷ vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy ) do sự thay đổi nhiệt độ nước và mực nước, thay đổi thời tiết (mưa, bão, hạn hán…) tới lưu lượng, đặc biệt là tần suất và cường độ của những trận lũ và hạn hán làm giảm sản lượng sinh học bao gồm cả các cây trồng nông, công và lâm nghiệp, và sự diệt vong của nhiều loài động, thực vật bản địa, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế
Theo ghi nhận của các cơ quan hữu quan, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng khí hậu khắc nghiệt trong hai chục năm gần đây (là 1 trong 5 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất, thậm chí đứng thứ 3 vào năm 2008) Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng các loại hình thiên tai cả về số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng Hậu quả của thiên tai vô cùng lớn: thiệt hại về người, phá hoại cơ sở hạ tầng, làm ảnh hưởng đến nhiều thành quả phát triển kinh tế xã hội và gia tăng tình trạng đói nghèo Trong thời gian 10 năm, từ 1997 đến 2006, thiệt hại mỗi năm ở Việt Nam chiếm khoảng 1.5% GDP và cướp đi mạng sống của khoảng 750 người Năm
Trang 29Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2008, Tổng cục Thống kê cho biết, thiên tai đã làm 515 người chết và mất tích, trên 230 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng; hơn 1 triệu con gia súc, gia cầm bị chết; 54 nghìn ha nuôi trồng thuỷ sản bị hư hỏng và 4,700 ngôi nhà
bị sập, bị cuốn trôi Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra ước tính trên 11,500 tỷ đồng Việt Nam
Bão, lũ lụt, rét hại, nắng nóng, hỏa hoạn và những thay đổi điều kiện sinh thái khác sẽ dẫn tới các thảm họa chết người, ốm đau, thương tích, suy dinh dưỡng và các bệnh dịch mới, nhất là các bệnh truyền nhiễm do côn trùng
có tỷ lệ tử vong cao (Trương Quang Học, Trần Đức Hinh, 2008) Đối với các lĩnh vực, cũng như tình hình chung trên thế giới, đối với Việt Nam, BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền, các lĩnh vực về tài nguyên, môi trường và KT-XH, trong đó tài nguyên nước, nông nghiệp, y tế-sức khoẻ và vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh mẽ nhất
Sự biến động của thời tiết nước ta không thể tách rời những thay đổi lớn của khí hậu thời tiết toàn cầu Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết toàn cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết nước ta Việt Nam là nơi bị ảnh hưởng của hiện tượng ElNinô Mối quan
hệ giữa ElNinô và khí hậu thời tiết ở Việt Nam đang được nghiên cứu Tuy nhiên, một số biểu hiện của mối quan hệ này có thể thấy rõ qua những lần thiên tai xảy ra gần đây trên diện rộng ở Việt Nam
Sự biến động phức tạp của thời tiết có thể gây ra nhiều hậu quả khác nhau Có thể nêu ra đây hai khía cạnh quan trọng nhất Trước hết đó là khả năng tăng tần suất của các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt Mưa lũ tăng lên có nghĩa là nguy cơ ngập lụt đối với các vùng vốn thường xuyên bị ngập như Đồng bằng sông Cửu Long hoặc các vùng đất thấp khác sẽ không giảm, gây nhiễm mặn nhiễm phèn trên diện rộng Hậu quả nghiêm trọng thứ hai chính là hạn hán Nếu như các trận mưa lớn xảy ra có thể gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nhiễm phèn, xói lở đất làm thiệt hại đến mùa màng, tài sản và con người thì ngược lại những đợt hạn hán trầm trọng kéo dài
Trang 30Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
có thể ảnh hưởng đến xã hội với qui mô lớn hơn nhiều Sự thiếu nước không chỉ ảnh hưởng đến nông lâm nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nhiều ngành sản xuất và đời sống xã hội
Trong vòng nửa thế kỷ qua, hầu như toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đều trải qua những biến đổi lớn về khí hậu và thời tiết Nhiệt độ có chiều hướng tăng lên Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng mùa đông ngày càng ngắn hơn và ấm hơn Tương tự như nhiệt độ, số giờ nắng và lượng mưa cũng thay đổi rõ nét Sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa trên toàn quốc có xu hướng giống nhau và mức độ biến đổi ngày càng trở nên phức tạp Sự biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp đã dẫn tới hậu quả là thiên tai ngày một thường xuyên và nghiêm trọng hơn Có thể liệt kê mấy loại thiên tai có ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông lâm nghiệp:
Bão: Không có sự gia tăng số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam trong 10
năm gần đây nhưng sự bất thường và phức tạp của các cơn bão có thể quan sát được một cách rõ ràng Chẳng hạn cơn bão Linda được hình thành và đổ
bộ vào miền Nam rất nhanh cuối năm 1997 là cơn bão thuộc loại này, xảy ra duy nhất chỉ một lần trong suốt một thế kỷ Mặc dù về quy mô đổ bộ vào miền Nam trong thế kỷ 20, Lin da chỉ xếp hàng thứ hai, nhưng về cường độ lại là cơn bão mạnh hơn rất nhiều lần so với cơn bão hồi đầu thế kỷ, và gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng Các cơn bão liên tục đổ bộ vào miền Trung đã gây ra lụt lội nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển miền Trung, gây ra triều cường và hiện tượng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, ảnh hưởng nặng
nề tới sản xuất nông lâm nghiệp tại địa bàn Gần đây, bão có xu hướng tiến sâu về phía Nam
Lũ lụt: ở Việt Nam, trong vòng 10 năm gần đây, hầu như hàng năm đều
có lũ lụt nghiêm trọng xảy ra Nhiều trận lụt lớn xảy ra tại miền Trung và gây
ra tổn thất nghiêm trọng cho sản xuất ở vùng này Trận lụt tháng 11 năm 1999
là trận lụt ghi nhiều kỷ lục của một giai đoạn vài chục năm, đặc biệt là về lượng mưa Trong vòng 245 giờ, lượng mưa ở Huế đạt 1384 mm, là lượng
Trang 31Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mưa cao nhất thống kê được trong lịch sử ngành thuỷ văn ở Việt Nam và chỉ đứng thứ hai sau kỷ lục thế giới là 1870 mm đo được ở Đảo Reunion ở Thái Bình Dương vào năm 1952 Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn, đặc biệt trận lũ kéo dài trong năm 2000 là trận lũ lớn nhất trong vòng 70 năm qua Lũ lụt cũng gây ra trượt lở đất ở vùng ven biển dẫn tới việc biển tiến sâu vào đất liền và gây ra hiện tượng nhiễm mặn ở vùng nội đồng Lũ lụt cũng là loại thiên tai gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống đồng bào tại vùng nông thôn
Năm 2009, theo số liệu của Ban Chỉ đạo Phòng-Chống lụt bão Trung ương, Việt Nam đã phải chịu ảnh hưởng của 11 cơn bão, 4 đợt áp thấp nhiệt đới và nhiều trận lũ lớn, ngập lụt, lốc xoáy, mưa đá, sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản,… Tổng giá trị thiệt hại do bão, lũ gây ra ước gần
23200 tỷ đồng, tức là gấp hai lần con số thiệt hại do bão, lũ gây ra năm 2008 Thiên tai đã làm 426 người chết, 28 người mất tích, 1,390 người bị thương cùng nhiều thiệt hại về nhà cửa, tài sản, hoa màu và các công trình công cộng Năm 2010, cả nước phải hứng chịu 6 cơn bão, 4 đợt lũ lớn lịch sử tại miền Trung cùng với nắng nóng, hạn hán, rét hại kéo dài đã làm chết và mất tích 362 người, 490 người bị thương, 6,000 ngôi nhà bị phá huỷ, gần 500,000 ngôi nhà và 300000 ha lúa, hoa màu bị ngập lụt, hư hại Ước tính thiệt hại về vật chất khoảng 16000 tỷ đồng
Lũ quét và lũ ống: Loại thiên tai này kéo theo hiện tượng trượt lở đất,
phá huỷ rừng, xói mòn đất và gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi phía Bắc Sự xói mòn xảy
ra mạnh nhất ở độ cao 1000-2000 m và thường gây ra trượt lở đất, nứt đất khi
có các trận mưa rào lớn Xói mòn, rửa trôi là vấn đề bị các yếu tố khí hậu tác động mạnh nhất đến tài nguyên đất vùng đồi núi nước ta Các quan trắc có hệ thống về xói mòn đất từ 1960 đến nay cho thấy trên thực tế có khoảng 10 - 20% lãnh thổ Việt Nam bị ảnh hưởng xói mòn từ trung bình đến mạnh Các vùng đất đồi núi miền Bắc và miền Trung có nguy cơ xói mòn mạnh hơn cả
Trang 32Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
do chịu tác động của mưa bão tập trung, địa hình dốc và chia cắt mạnh, có nhiều diện tích đất tầng mỏng, lớp thực bì bị tàn phá mạnh trong thời gian dài
Do xói mòn mạnh, một lượng lớn các chất dinh dưỡng như nitơ, kali, canxi, magiê cùng các loài vi sinh vật bị cuốn rửa trôi Đất dần dần mất khả năng tích nước và trở nên rắn, chặt hơn Ngày 8 tháng 8 – 2008, cơn bão số 4, mưa lớn, lũ quét đã gây ra thiệt hại khá nặng nề đối với các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh Tính đến ngày 17 – 8 đã có 145 người chết và mất tích, 75 người bị thương, 307 ngôi nhà bị sập trôi, 4.260 nhà bị ngập, 3.700 ha lúa, hoa mầu bị ngập, nhiều công trình giao thông bị phá hỏng Ước tính tổng thiệt hại ở các tỉnh bị lũ, lụt lần này khoảng 2.000 tỷ đồng Sạt lở đất không chỉ làm lấp đất đang sản xuất mà còn làm cho việc định hình một số khu sản xuất ở miền đồi núi trở nên thiếu ổn định Ở Mường Tè (Lai Châu), Yên Châu (Sơn La) và Trạm Tấu (Hoàng Liên Sơn) các trận mưa rào đầu vụ
đã làm trượt cả tầng đất mặt lẫn cây lúa, cây ngô non xuống chân dốc Sạt lở c.n làm hư hại đường giao thông, công trình xây dựng và có những vụ đã vùi lấp cả bản làng, cả những đoạn sông suối
Tình hình và nguy cơ xảy ra lũ quét, lũ bùn đá và trượt lở diễn ra ngày càng nghiêm trọng Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, những nơi bị lũ quét nặng nhất là Lai Châu, Hà Giang và Sơn La (Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, 2009)
Hạn hán: Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), châu Á là khu vực
bị thiên tai nặng nề nhất trong vòng 50 năm qua, trong đó thiệt hại về tài sản
do hạn hán gây ra đứng thứ ba sau lũ và bão Có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau
để đánh giá hạn hán Tuy nhiên, trên quan điểm nông nghiệp có thể thấy hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần, đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng và có thể dẫn tới làm chết cây hàng loạt Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đây là loại thiên tai tồi
tệ nhất, xảy ra ngày càng nghiêm trọng hơn, với tần suất và quy mô ngày càng lớn hơn, gây nhiều thiệt hại và kéo dài dai dẳng nhất
Trang 33Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ở nước ta, hạn hán xảy ra ở rất nhiều nơi với những thiệt hại ngày càng lớn hơn Theo số liệu thống kê của Trường Đại học Thuỷ lợi, có 11 vụ hạn hán nghiêm trọng xảy ra trong các năm từ 1976 tới 1998 dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, gây cháy rừng, làm cạn kiệt các sông suối nhỏ và các hồ chứa nước ở miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, miền núi và trung du Bắc Bộ, dẫn đến tình trạng biển lấn sâu vào đất liền, thiếu nước chạy các nhà máy điện đem lại những hậu quả xấu về kinh tế xã
hội và môi trường cho đất nước
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam nằm trong số 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Xu hướng biến đổi khí hậu
sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên khác như lượng bốc hơi tăng, độ ẩm giảm, nhiệt độ không khí tăng, băng tan và mực nước biển dâng Những yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp tới con người, tới môi trường và toàn bộ đời sống kinh tế-xã hội Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng tới các vùng với những mức độ khác nhau, cụ thể là:
Đối với vùng núi và trung du phía Bắc: Độ che phủ trung bình của
rừng ở khu vực này hiện nay khoảng 44,2% (Cục Kiểm Lâm, 31/12/2006) Tuy nhiên, độ che phủ này không đồng đều, thấp nhất là Hà Tây (7,4%), cao nhất là Tuyên Quang (61,8%) Mặc dù đã có nhiều dự án trữ nước được thực hiện, song do độ dốc lớn, địa hình bị chia cắt mạnh nên phần lớn các hồ chứa nước đều có quy mô nhỏ Thêm vào đó, do độ che phủ của rừng không đồng đều và chất lượng rừng không cao nên trong những năm có lượng mưa nhỏ, việc phòng chống hạn không có mấy hiệu quả Vùng núi và vùng cao Việt Nam chiếm diện tích khoảng 63% diện tích đất tự nhiên của cả nước Với đặc trưng cơ bản là địa hình cao và dốc, có địa hình không bằng phẳng gồm các cao nguyên xen lẫn núi cao và các vùng trũng Đồi núi không tạo thành một dãy liên tục mà bị chia cắt mạnh mẽ bởi những thung lũng khá sâu và hệ thống sông tương đối dày Tác động của BĐKH ở mỗi vùng gây ra hậu quả khác nhau Ở vùng núi và cao nguyên do mưa lớn, lũ quét gây xói mòn, sạt lở
Trang 34Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đất được coi là tác động tiêu biểu của BĐKH ở các tỉnh trong vùng Cùng với
lũ lụt gia tăng, hạn hán cũng đã xuất hiện nhiều hơn, một số vùng đã xuất hiện dấu hiệu của hiện tượng hoang mạc hóa và chắc chắn sẽ mạnh lên trong những thập kỷ tới [12]
Đối với vùng ven biển Trung Bộ: Độ che phủ của rừng trung bình tại
vùng này khoảng 44,4% Do địa hình phức tạp với các dãy núi cao chạy sát biển, xen kẽ với những đồng bằng nhỏ hẹp chịu ảnh hưởng nhiều của các đợt gió mùa nóng và khô, lượng mưa thấp nên điều kiện khí hậu của khu vực này khắc nghiệt nhất toàn quốc Độ che phủ của rừng không đồng đều, lưu vực sông ngắn và dốc đã hạn chế khả năng điều tiết dòng chảy của hệ thống tưới tiêu và sông ngòi, dễ gây ra lũ lụt nhanh, bất ngờ và hạn hán kéo dài Do vậy sản xuất lương thực gặp rất nhiều khó khăn và đời sống của nhân dân luôn ở trong tình trạng phải đối phó với thiên tai Khu vực này cũng được coi là khu vực trọng điểm trong Chương trình hành động quốc gia chống hoang mạc hoá [12]
Đối với vùng Tây Nguyên: Đây là vùng đất bazan rộng lớn nhất Việt
Nam Loại đất bazan thường dễ hấp thụ nước và do có độ che phủ trung bình của rừng cao nhất nước (54,5%) nên nguồn nước ngầm ở đây còn khá dồi dào Tuy vậy, khí hậu bất thường trong các năm 1993, 1998, 2004 và sự khai thác quá mức nguồn nước cho trồng cây công nghiệp đã gây nên sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa nước mặt và nước ngầm, giữa khả năng cung cấp nước tưới và yêu cầu phát triển sản xuất Nguy cơ cháy rừng, mất rừng do nạn khai thác lậu và lấy đất trồng cây ngắn ngày vẫn đang là vấn đề bức xúc đối với ngành lâm nghiệp ở địa bàn đầu nguồn các con sông lớn và còn diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước này [12]
Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có độ che phủ
trung bình thấp nhất cả nước (12,1%) Nhiều nơi vùng châu thổ sông Mê Công bị tác động của phèn hoá ngày càng nặng do các khu rừng Tràm bị phá hoại nghiêm trọng để lấy đất sản xuất nông nghiệp Nhiều khu rừng ngập mặn
Trang 35Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cũng đã bị phá huỷ để làm hồ nuôi tôm Việc phá huỷ lớp phủ bề mặt đã làm giảm khả năng giữ nước của đất, tạo điều kiện để các tầng nhiễm mặn dưới sâu xâm nhập dần lên bề mặt đất, gây mặn hóa, phèn hoá toàn bộ tầng đất mặt, làm chết nhiều loại cây trồng và thuỷ sản Khu vực này cũng được coi là vùng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng nước biển dâng [12]
1.2.3 Nét khái quát về các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
1.2.3.1 Đặc điểm cư trú và dân số
Miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống của gần 30 tộc người thiểu số thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau: Việt - Mường (người Mường), Thái - Ka-đai (Tày, Nùng, Thái, Giáy, Bố Y, Lào, Lự, La Ha, La Chí, Sán Chay, Cờ Lao, Pu Péo), Tạng - Miến (Lô Lô, La Hủ, Phù Lá, Hà Nhì, Cống, Si La), Hmông - Dao (Hmông, Dao, Pà Thẻn), Môn - Khmer (Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú, Mảng) và Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu) Theo số liệu Tổng điều tra dân
số năm 2009, các dân tộc thiểu số chiếm khoảng gần 62% tổng dân số của cả khu vực miền núi phía Bắc Tuy nhiên, sự phân bố của họ ở các tỉnh không đồng đều Các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số hơn cả (chiếm 50% dân
số chung trở lên) là Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Tuyên Quang và Yên Bái Các địa phương còn lại (Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên và Quảng Ninh) đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm tỷ lệ dưới 50%
Một số tộc người ở miền núi phía Bắc còn được chia thành các nhóm địa phương hoặc nhóm dân tộc học: Tộc người Thái có các nhóm Thái Đen, Thái Trắng; người Tày có nhóm Pa Dí, Thu Lao, Tày Bốc (Tày Cạn) và Tày Nặm (Tày Nước); người Nùng có các nhóm như Nùng Dín, Nùng Lòi, Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Cháo; người Hmông có các nhóm chính là Hmông Hoa, Hmông Đen, Hmông Trắng, Hmông Xanh; người Hà Nhì có các nhóm Cồ Chồ, Lạ Mí và Hà Nhì Đen; người Phù Lá được chia thành 2 nhóm
Pu La và Xá Phó; người La Hủ có các nhóm La Hủ Na (Đen) và La Hủ Sư (Vàng); Sán Chay có 2 nhóm là Cao Lan và Sán Chí, v.v Truyền thống văn
Trang 36Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hóa của các nhóm địa phương hoặc nhóm dân tộc học thuộc một tộc người có thể rất khác nhau Có nhiều trường hợp, các nhóm của cùng một tộc người nhưng không hiểu ngôn ngữ của nhau Đa số người dân các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đều sinh sống ở khu vực nông thôn Ngay cả ở các địa phương mà dân tộc thiểu số chiếm số đông, tại các đô thị hoặc khu vực thị tứ, chưa hẳn họ đã chiếm tỷ lệ cao hơn người Kinh Tình trạng cư trú này đã xuất hiện tại các tỉnh lỵ/huyện lỵ miền núi từ trước năm 1954, nhưng đặc biệt được đẩy mạnh từ những năm đầu 1960 khi chính phủ thực hiện chương trình đưa người Kinh từ các tỉnh đồng bằng lên khai hoang miền núi Một đặc điểm dễ nhận thấy nữa là phần lớn các tộc người thiểu số ở miền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ địa lý riêng biệt, tình trạng xen cư/cộng cư là phổ biến Tại nhiều huyện, không chỉ có hiện tượng xen cư/cộng cư trong phạm vi huyện/xã
mà thậm chí cả ở cấp thôn bản Tình trạng xen cư/cộng cư đã góp phần đẩy nhanh quá trình giao lưu/tiếp biến giữa các cộng đồng tộc người Đồng thời, việc trao đổi hôn nhân giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh ngày càng nhiều hơn khiến cho cấu trúc dân số-tộc người ở nhiều nơi bị biến dạng đáng kể [13]
1.2.3.2 Hoạt động kinh tế truyền thống
Đối với tất cả các dân tộc thiếu số (DTTS) ở nước ta nói chung, ở miền núi phía Bắc (MNPB) nói riêng, tự nhiên chính là nền tảng quan trọng nhất để hình thành nên không gian văn hóa xã hội tộc người Trước hết, đó là những yếu tố đầu vào cơ bản để các sinh kế được thực hiện Mọi hoạt động kinh tế truyền thống của người dân đều được hình thành và phát triển trên cơ sở của các đặc điểm môi trường tự nhiên nơi họ cư trú Họ luôn cố gắng tìm hiểu để
có giải pháp thích ứng - vừa có thể khai thác, vừa gìn giữ các nguồn lực tự nhiên Quá trình đó được lặp đi lặp lại hàng năm theo chu kỳ đắp đổi mùa vụ của thời tiết khí hậu Từ đó, những hiểu biết của con người về tự nhiên được đúc kết và tích luỹ ngày một nhiều hơn, phương thức thích ứng với tự nhiên ngày một tốt hơn, các kỹ năng khai thác tự nhiên ngày càng thích hợp hơn,
Trang 37Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
việc quản lý tự nhiên ngày một hợp lý hơn Văn hóa tộc người được hình thành và bồi đắp từ chính quá trình đó Với tư cách là chủ thể của không gian kinh tế - văn hóa và xã hội, người dân các DTTS không tách khỏi tự nhiên, không đối lập với tự nhiên Hơn thế nữa, khi nền kinh tế chưa bị ảnh hưởng nhiều của thị trường, mức độ quan hệ của họ với tự nhiên càng sâu sắc
Gắn với môi trường tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao, từ lâu người dân các dân tộc thiểu số MNPB đã luôn duy trì các mô hình đa dạng sinh kế Các nhóm tộc người sống ở vùng núi thấp hoặc ở các thung lũng chân núi (như Tày, Nùng, Thái, Mường, Sán Dìu) vừa làm ruộng nước/ruộng bậc thang, vừa tận dụng các mảnh nương trên các sườn đồi gần nơi cư trú để trồng trọt các loại nông sản ngoài lúa như chuối, bông, sắn, đu đủ, mía, ngô, khoai
để bổ sung cho nền kinh tế tự cấp tự túc của gia đình Trong khi đó, mô hình nông nghiệp chủ yếu của các nhóm DTTS sống tại các vùng cao (Hmông, Lô
Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, v.v ) là canh tác nương rẫy (gieo trỉa lúa nương
và trồng các loại hoa màu) Với mô hình này, người dân phát hoang các mảnh nương trong phạm vi sở hữu của cộng đồng để trồng trọt trong vài năm Sau
đó, họ để hoang các mảnh nương cũ đã bạc màu khoảng từ 10 đến 20 năm đủ
để đất phục hồi độ phì rồi quay lại canh tác tiếp Nếu như ở các chân ruộng nước và ruộng bậc thang, lúa là cây trồng duy nhất thì trên các mảnh nương rẫy, đa canh và xen canh là mô hình trồng trọt phổ biến Ngay tại các nương lúa, người dân cũng thường gieo thêm bầu, bí hoặc các loại dưa; phần đất bao quanh nương được trồng các loại hoa màu như ngô, khoai, rau và cây thuốc Người dân thường giải thích rằng, bầu, bí hay dưa là những loại cây giữ hồn lúa, nếu không trồng xen, lúa sẽ không có bông Nhưng dưới góc nhìn của các nhà nông học, các loại cây họ bầu được trồng xen lúa chính là nhằm mục đích giữ ẩm cho đất Đó cũng là một kiến thức truyền thống cần được quan tâm trong bối cảnh ngày nay
Ngoài trồng trọt, các dân tộc thiểu số MNPB còn có nhiều hoạt động sinh kế bổ trợ khác như chăn nuôi, làm nghề thủ công gia đình, săn bắt hái
Trang 38Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lượm và trao đổi hàng hóa Các loại gia súc, gia cầm được nuôi không chỉ để làm thức ăn hay như một hình thức tích lũy mà còn được dùng cho các hoạt động văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của gia đình và cộng đồng Tất cả các nghi
lễ tín ngưỡng (theo chu kỳ mùa vụ, trong chu trình đời người như sinh đẻ/đặt tên con/cưới hỏi/ma chay, cầu an hay cúng bói chữa bệnh) đều có vật hiến sinh (lợn, gà, vịt hoặc trâu, bò, dê) Trong một số truyền thống văn hóa, vật nuôi trong gia đình, đặc biệt là gia súc lớn có sừng, còn được xem như là một tiêu chí để phân loại giàu nghèo giữa các gia đình Các nghề thủ công gia đình truyền thống của các tộc người thiểu số MNPB chủ yếu chỉ phục vụ nhu cầu
tự thân Nhiều nghề trong đó phản ánh rất rõ tâm thức hướng rừng/gắn với rừng như nghề chế tác đồ gỗ, làm mây tre đan Đặc biệt, kinh tế tự nhiên/săn bắt hái lượm trước đây có vai trò rất quan trọng đối với mỗi gia đình và cộng đồng Người dân các tộc người thiểu số MNPB không chỉ biết khai thác lâm/thổ sản từ rừng (gỗ để làm nhà, củi đun, rau xanh, thịt thú rừng, cây thuốc, v.v…) mà còn rất giỏi trong việc đánh bắt động vật thủy sinh phục vụ đời sống Việc giao thương/trao đổi hàng hóa giữa các dân tộc hay khu vực đã xuất hiện từ rất sớm và đặc biệt phát triển mạnh ở vùng Đông Bắc Hệ thống chợ vùng cao ở đây đến nay vẫn được xem là một sự độc đáo văn hóa [13]
1.2.4 Đánh giá chung biến đổi khí hậu tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là nơi sinh sống của bảy dân tộc anh em bao gồm Tày, Dao,
Việt (Kinh), H’Mông, Nùng, Sán Chay, Hoa; trong đó dân tộc Dao và Tày là hai dân tộc đông dân cư nhất trong tỉnh, các bản người Tày, người Dao còn giữ được những nét văn hóa của dân tộc mình
Bắc Kạn nằm trong vùng Đông Bắc nên có thời tiết điển hình của vùng,
vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, khô và lạnh Do địa hình cao, ở phía bắc lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo nên vào mùa đông vùng này có gió bấc thổi mạnh, thời tiết trở nên rất lạnh Có chung đặc điểm là nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới, một năm chia thành 4 mùa (xuân, hạ, thu và
Trang 39Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đông), số ngày nắng nhiều, tổng nhiệt hàng năm cao nhưng khoảng cách cực nhiệt độ giữa mùa hạ và mùa đông khá lớn; độ ẩm cao, lượng mưa nhiều và hàng năm mưa thường tập trung trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng
9 Chính vì vậy, những diễn biến phức tạp của thời tiết/khí hậu thường diễn ra theo mùa: Mùa đông có thể có những đợt rét đậm/rét hại kéo dài, ít mưa nên
dễ dẫn đến tình trạng hạn hán/thiếu nước; mùa mưa có thể có những đợt mưa lớn tập trung trong khoảng thời gian ngắn, dễ dẫn đến tình trạng xói mòn/sạt
lở đất, lũ lụt cục bộ, lũ ống và lũ quét
Kết quả nghiên cứu ở Bắc Kạn cho biết nhiệt độ không khí cao được xác
C so với nhiệt động trung bình của tháng 12 trong vòng
8 năm từ 2001-2008 Tương tự như vậy nghiên cứu cũng chỉ ra nhiệt độ cao
với nhiệt độ trung bình của tháng 10 và 11 trong vòng 8 năm từ 2001-2008 (18) Trong khi đó nhiệt độ không khí trung bình giảm một cách đáng kể vào tháng 1 và tháng 2, đặc biệt vào năm 2008 nhiệt độ trung bình lần lượt là 13.5
hại kỷ lục vào năm 2008
Lượng mưa ở Bắc Kạn cũng có sự biến động đáng kể giữa các tháng trong năm, lượng mưa đạt thấp trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (khoảng 15.7-44.4ml/tháng) và tăng cao trong khoảng từ tháng 6 đến tháng 8 (khoảng 240-330ml/tháng) Lượng mưa cao bất thường được quan sát vào từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2008; lần lượt 278.2ml; 137.4 ml và 141.1ml so với 121ml; 42.8 ml và 44.4 ml của trung bình lượng mưa các tháng trong giai đoạn từ tháng 9 đến 11 của 8 năm từ 2001-2008 Một khía cạnh khác về sự thay đổi lượng mưa là thời gian mưa ngắn hơn, nhưng cường
độ lại cao hơn.[18]
Trang 40Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững tại
Bắc Kạn cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan và hậu quả tiếp theo
thường diễn ra như hạn hán, lũ quét, sạt lở đất và xói mòn đất Các hiện tượng
này thay đổi cả về tần suất, cường độ và tính thất thường
Bảng 1.1 Xu hướng biến đổi khí hậu ở tỉnh Bắc Kạn
thành 02 mùa
tháng 10)
Nguồn: Center for Sustainable Rural Development (2009)
Tùy theo các địa điểm khác nhau mà cường độ và tần suất xuất hiện các
hiện tượng thời tiết cực đoan là khác nhau Sự khác nhau giữa các vùng về tần