plantarum TL4 trên thiết bị lên men Labfors4 Hình 3.6: Chế phẩm LacVet sử dụng cho vật nuôi MỞ ĐẦU * Tính cấp thiết của đề tài Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng và số lượng s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN LÂM
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẾ PHẨM LACTOVET TRONG
PHÕNG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON NUÔI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chƣa từng sử dụng để bảo
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho
em trong quá trình em làm luận văn
Em gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, các anh chị đồng nghiệp trong công
ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam đã luôn ở bên, ủng hộ giúp đỡ em rất nhiều Cuối cùng em muốn cảm ơn gia đình, bạn bè luôn là chỗ dựa giúp em có động lực vƣợt qua khó khăn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Học viên Nguyễn Văn Lâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON 3
1.1.1 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con 3
1.1.2 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 10
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ ĐƯỜNG TIÊU HÓA CÓ ẢNHHƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN BỆNH LÝ TIÊU CHẢY Ở LỢN CON 13
1.2.1 Sự thay đổi pH trong đường tiêu hóa của lợn con 13
1.2.2 Hệ vi khuẩn đường ruột ở lợn con 14
1.3 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ VI KHUẨN PROBIOTIC VÀ CHẾ PHẨM LACTOVET 17
1.3.1 Một số đặc điểm của chế phẩm probiotic 18
1.3.2 Nhóm vi khuẩn sinh acid lactic` 19
1.3.3 Cơ chế tác động của probiotic trong đường ruột lợn 20
1.4 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON DO VI KHUẨN GÂY RA 22
1.4.1 Biện pháp phòng 22
1.4.2 Điều trị tiêu chảy 26
Chương 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28
2.1.1 Khảo sát một số đặc tính sinh vật học in vitro của chủng vi khuẩn Lactobacillus phân lập được dùng chế tạo chế phẩm 28
2.1.2 Nghiên cứu chế tạo và kiểm nghiệm chế phẩm Lactovet 28
2.1.3 Thử nghiệm chế phẩm trong phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn con 28
Trang 52.1.4 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con 28
2.2 NGUYÊN LIỆU DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU 28
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.2 Nguyên vật liệu và dụng cụ, trang thiết bị 28
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 30
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu xác định một số đặc tính sinh học in vitro của chủng vi khuẩn phân lập được dùng để chế tạo chế phẩm 30
2.3.2 Phương pháp chế tạo chế phẩm và kiểm tra chất lượng của chế phẩm 35
2.3.3 Phương pháp thử nghiệm chế phẩm Lactovet trong phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn con 38
2.3.4 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy 42
2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH VẬT HỌC IN VITRO CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN LACTOBACILLUS PHÂN LẬP ĐƯỢC DÙNG CHẾ TẠO CHẾ PHẨM 44
3.1.1 Kết quả phân lập và định lượng acid lactic của các chủng Lactobacillus phân lập được 44
3.1.2 Kết quả khảo sát một số đặc tính probiotic của các chủng Lactobacillus TL4 trong điều kiện in vitro 47
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, CHẾ TẠO VÀ KIỂM NGHIỆM CHẾ PHẨM LACTOVET 53
3.2.1 Kết quả lên men Lactobacillus TL4 trên thiết bị lên men Infors và tạo chế phẩm 53
3.2.2 Một số đặc tính chung của chế phẩm Lactovet 56
3.2.3 Một số chỉ tiêu chất lượng của chế phẩm Lactovet 56
Trang 63.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CHẾ PHẨM
LACTOVET TRONG PHÒNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON 58
3.3.1 Kết quả nghiên cứu về mức độ sinh trưởng của lợn thí nghiệm 59
3.3.2 Ảnh hưởng của chế phẩm Lactovet đến hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm (FCR) 61
3.3.3 Ảnh hưởng của Lactovet đến hệ vi sinh vật đường ruột của lợn thí nghiệm 62
3.4 THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ DIỀU TRỊ CHO LỢN CON ĐẠT HIỆU QUẢ CAO 64
3.4.1 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 65
3.4.2 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị tiêu chảy cho lợn con 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
1 KẾT LUẬN 72
2 ĐỀ NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Formatted: Space After: 0 pt
Trang 7BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
FAO : Food and Agriculture Organization
PBS : Phosphate buffered saline
PCA : 2 – Pyrorolidone – 5 – Carboxylic acid
rRNA : Ribosomal Ribonucleic Acid
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu 29
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn cơ sở của sản phẩm Lactovet trong 1kg thành phẩm 35
Bảng 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 39
Bảng 2.4 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh
Bảng 3.1.Một số đặc điểm sinh học của các chủng Lactobacillus phân lập được 44
Bảng 3.2.Khả năng sinh axít lactic của các chủng Lactobacillus phân lập được 45
Bảng 3.3 Khả năng chống chịu trong môi trường axít thấp và kiềm của các chủng Lactobacillus TL4 48
Bảng 3.4 Khả năng chống chịu của chủng Lactobacillus TL4trong môi trường có muối mật 0,3% 50
Bảng 3.5 Khả năng ức chế các chủng vi khuẩn kiểm định của chủng Lactobacillus TL4 52
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp các điều kiện tối ưu cho sinh trưởng của chủng L plantarum TL4 khi lên men sục khí 53
Bảng 3.7 Kết quả động học lên men của chủng L.plantarum TL4 trên thiết bị lên men Labfors 53
Bảng 3.8 Kết quả xác định giá trị trung bình về pH và độ ẩm của chế phẩm Lactovet theo thời gian bảo quản (n=25) 56
Bảng 3.9 Kết quả kiểm tra thuần khiết, độ tan và chỉ tiêu an toàn của chế phẩm Lactovet (n=25) theo thời gian bảo quản 57
Bảng 3.10 Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm (kg) 59
Bảng 3.11 Tiêu tồn thức ăn/1kg tăng trọng khối lượng 61
Bảng 3.12 Số lượng vi khuẩn E.coli có trong đường ruột của lợn thí nghiệm 62
Bảng 3.13 Số lượng vi khuẩn Salmonellaspp trong đường ruột của lợn thí nghiệm 64
Formatted: Space After: 6 pt, Line spacing:
single
Trang 9Bảng 3.14 Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi
khuẩn E coliphân lập được 65
Bảng 3.15 Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi
khuẩn Salmonella spp.phân lập được 67
Bảng 3.16 Kết quả điều trị thử nghiệm phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy
ở lợn con đạt kết qua cao 70
Bảng 2.1: Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn cơ sở của sản phẩm Lactovet trong 1kg thành
phẩm
Bảng 2.3: Sở đồ bố trí thí nghiệm
Bảng 2.4: Phác đồ điều trị tiêu chảy cho lợn thí nghiệm
Bảng 3.1: Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa của
Bảng 3.4: Khả năng chống chịu của chủng TL4
trong môi trường có muối mật 0,3%
Bảng 3.5: Khả năng ức chế các chủng vi khuẩn kiểm định
của chủng TL4
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp các điều kiện tối ưu cho sinh trưởng
của chủng L plantarum TL4 khi lên men sục khí
Bảng 3.7: Kết quả động học lên men của chủng L.plantarum TL4
trên thiết bị lên men Labfors 4
Formatted: Indent: Left: 0", Hanging: 0.59",
Right: 0.28"
Trang 10Bảng 3.8: Kết quả xác định giá trị trung bình về pH và độ ẩm của chế phẩm Lactovet theo thời gian bảo quản
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra thuần khiết, độ tan và chỉ tiêu an toàn của chế phẩm Lactovet theo thời gian bảo quản
Bảng 3.10: Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm
Bảng 3.11: Tiêu tồn thức ăn/1kg tăng trọng khối lượng
Bảng 3.12: Số lượng vi khuẩn E.coli có trong đường ruột của lợn thí nghiệm
Bảng 3.13: Số lượng vi khuẩn Salmonella có trong đường ruột của lợn thí nghiệm
Bảng 3.14: Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng E coli phân lập được
Bảng 3.15: Kết quả xác định khả nămg mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được
Bảng 3.16: Kết quả điều trị thử nghiệm phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con đạt kết qua cao
Trang 12Hình 3.1: Biến động số lượng tế bào của các chủng TL4 trong môi
Hình 3.4: Biến động số lượng tế bào của các chủng
Hình 3.5: Kết quả động học của chủng L plantarum TL4
trên thiết bị lên men Labfors4
Hình 3.6: Chế phẩm LacVet sử dụng cho vật nuôi
MỞ ĐẦU
* Tính cấp thiết của đề tài
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng và số lượng sản phẩm,
ngành chăn nuôi đã và đang không ngừng phát triển, được thể hiện qua các
chương trình xúc tiến chăn nuôi như sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn, chăn
nuôi kết hợp với trồng trọt v.v… Nhiều trang trại tăng nhanh về số lượng đầu
lợn, chất lượng sản phẩm thịt cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đảm bảo
sức khỏe cho người tiêu dùng và môi trường sinh thái Bên cạnh sự phát triển
đó, tình hình dịch bệnh ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp, một trong
những bệnh ảnh hưởng đến hiệu quả của chăn nuôi lợn là hội chứng tiêu chảy
ở lợn con
Trước tình hình đó đã có nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước
về hội chứng tiêu chảy ở lợn con, các nghiên cứu đã góp phần không nhỏ vào
việc phòng và trị hội chứng tiêu chảy Tuy nhiên, do sự phức tạp của cơ chế
gây bệnh, nguyên nhân bệnh…nên các giải pháp đưa ra chưa thực sự đem lại
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Trang 13kết quả như mong muốn Vì vậy, hội chứng tiêu chảy ở lợn con vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi
Cùng với việc cải tiến giống để nâng cao năng suất và chất lượng thịt, các nhà chăn nuôi đã tiến hành biện pháp nâng cao chất lượng công tác thú y, đặc biệt là giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, vì giai đoạn này cơ thể lợn con chưa phát triển đầy đủ, khả năng chống đỡ bệnh tật kém Việc sử dụng các thuốc kháng sinh sẽ
dễ gây nhờn thuốc và làm cho lợn con còi cọc, nên việc phòng bệnh được cho là cần thiết
Trong công tác phòng bệnh, ngoài việc dùng vacxin thì việc sử dụng các chế phẩm vi sinh có ích trong chăn nuôi cũng như trong đời sống thường nhật đã được con người ứng dụng rất lâu và rộng rãi Sử dụng chế phẩm vi sinh cho lợn con sẽ làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, từ đó giảm được các bệnh đường tiêu hoá, nhất là bệnh tiêu chảy ở giai đoạn sau cai sữa Một chế phẩm hiện nay có tác dụng như vậy là chế phẩm Lactovet
Lactovet là men tiêu hóa cao cấp được tổng hợp từ vi sinh, enzym, vitamin và khoáng chất… có tác dụng cạnh tranh và khống chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh đường ruột kích thích tiêu hóa tăng trưởng Chế phẩm này góp phần cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, nâng cao khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn thông qua quá trình lên men vi sinh vật Từ đó tác dụng lên quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Để đánh giá vai trò của chế phẩm Lactovet đến quá trình phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con cũng như hiệu quả kinh tế của nó trong chăn nuôi, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Lactovet trong phòng hội chứng tiêu chảy
ở lợn con nuôi tại huyện Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh Phúc"
* Ý nghĩa thực tế và khoa học của đề tài
- Đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn về công tác phòng tiêu chảy ở lợn con
Trang 14- Kết quả là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp điều trị
tiêu chảy phù hợp và có hiệu quả ở đàn lợn con
- Là cơ sở khoa học để sản xuất và ứng dụng chế phẩm Lactovet trong
thực tiễn sản xuất của ngành chăn nuôi
* Mục tiêu của đề tài
- Khảo sát một số đặc tính sinh vật học của chủng vi khuẩn Lactobacillus
phân lập được dùng sản xuất chế phẩm
- Nghiên cứu chế tạo và kiểm nghiệm chế phẩm Lactovet
- Thử nghiệm chế phẩm trong phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn con
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở
LỢN CON
1.1.1 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con
Nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn kết hợp với sự tác động của điều kiện
ngoại cảnh bất lợi, gây stress cho cơ thể lợn con, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự xâm nhập và phát triển của các vi sinh vật gây bệnh vào vật chủ, đặc biệt là
các vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hoá dẫn tới sự nhiễm và loạn khuẩn
đường ruột (Carter G R 1995) [44]
Tiêu chảy ở gia súc là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tác
động của nhiều yếu tố Có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là
nguyên nhân thứ phát, do vậy việc phân biệt rõ các nguyên nhân gây tiêu chảy
là rất khó khăn (Lê Minh Chí 1995 [2]; Phạm Ngọc Thạch 1996 [33]) Có 3
nhóm nguyên nhân chính gây tiêu chảy ở lợn gồm: i) do thức ăn, nước uống,;
Formatted: Font color: Black, Vietnamese Formatted: Font color: Black, Vietnamese
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Black,
Vietnamese
Formatted: Font: Times New Roman Bold, 14
pt, Font color: Black, Vietnamese, Not Expanded
by / Condensed by
Formatted: Font color: Black, Vietnamese
Trang 15ii) do môi trường ngoại cảnh; iii) do các nguyên nhân truyền nhiễm là vi sinh
vật
Theo Phạm Sĩ Lăng (1997) [16], tiêu chảy ở lợn là biểu hiện lâm sàng
của nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau như virus, vi khuẩn, ký sinh trùng,
thời tiết, môi trường ngoại cảnh, độc tố…
1.1.1.1 Tiêu chảy do môi trường ngoại cảnh bất lợi
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều
kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn,
nước uống… Thời tiết, khí hậu là một trong những yếu tố thường xuyên tác
động lên cơ thể động vật Sự tác động của bức xạ mặt trời và những biến đổi
về nhiệt độ, ẩm độ gây nên stress cho cơ thể (Radostits O M 1994) [62] Khi
gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng
thực bào và dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs 1997) [19]
Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không
mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống
điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất,
làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá
có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh
1.1.1.2 Tiêu chảy do thức ăn, nước uống không đảm bảo
Các yếu tố gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể động vật bằng nhiều
đường khác nhau như qua da, niêm mạc, vết thương, hô hấp, tiêu hoá Trong
hội chứng tiêu chảy, mầm bệnh nhiễm vào thức ăn, nước uống và trực tiếp
vào đường tiêu hóa của gia súc, khi gặp các điều kiện thuận lợi sẽ tăng số
lượng và độc lực để gây bệnh Trong thức ăn thiếu một số nguyên tố đa, vi
lượng như sắt, đồng, kẽm, v.v cũng có thể gây ra những rối loạn tiêu hoá,
gây tiêu chảy ở thể cấp hoặc mãn tính, kèm theo sự thay đổi màu sắc da và
thiếu máu cho gia súc Thức ăn bị lẫn các chất độc hoá học như asen, chì,
thuỷ ngân, các muối nitrat… thường gây ra những rối loạn tiêu hoá kết hợp
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Trang 16với các triệu chứng về thần kinh (Tsolis R M và cs 1999) [69]
Ở các vùng đông dân cư, những nơi tập trung nhiều cơ sở công nghiệp
chế biến, trang trại chăn nuôi… nguồn nước sẽ bị ô nhiễm do các chất thải
làm thay đổi tính chất cũng như chất lượng nước Khi nước bị ô nhiễm kèm
theo hàm lượng oxy hoà tan giảm, quá trình oxy hoá các hợp chất hữu cơ bị trở
ngại Các nguồn nước bị ô nhiễm các hợp chất vô, hữu cơ là môi trường thuận
lợi cho các vi sinh vật tồn tại và phát triển, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh
(Trần Thị Hạnh, Đặng Xuân Bình, 2002) [9]
1.1.1.3 Tiêu chảy do vi sinh vật
* Tiêu chảy do vi khuẩn
Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất
nhiều loài vi khuẩn sinh sống Chúng tồn tại dưới dạng cân bằng và có lợi cho
cơ thể của vật chủ Tuy nhiên, dưới tác động của một số yếu tố bất lợi, trạng
thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một vài
loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn, hấp thu ở ruột
bị rối loạn và hậu quả là lợn con bị tiêu chảy
Như đã trình bày ở trên, hầu hết các công trình nghiên cứu đều đã thống
nhất về một số loại vi khuẩn đường ruột thường gây rối loạn tiêu hóa, gây tiêu
chảy ở lợn như: E coli, Salmonella spp., C perfringens,…(Morin và cs, 1983
[59]; Holland, 1990 [53]; Tùy thuộc vào lứa tuổi mà các nguyên nhân gây tiêu
chảy cũng khác nhau
* Vai trò của vi khuẩn E coli
Nhiều công trình trong và ngoài nước đều đã khẳng định vai trò quan
trọng của vi khuẩn E coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [7] cho biết chiếm tỷ lệ cao nhất trong số
các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E coli (45,6%)
Vi khuẩn E colithường xuất hiện rất sớm trong đường ruột ở người và
động vật, ngay sau khi đẻ 2 giờ và tồn tại đến khi con vật chết Chúng thường
Formatted: Vietnamese
Trang 17ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ dày hay ruột non Để xác định vai trò của một
chủng E coli gây bệnh, cần phải kiểm tra độc lực và các yếu tố gây bệnh mà
chủng E coli đó có được Do vậy, kết quả những nghiên cứu về độc lực, yếu
tố gây bệnh của E coli chính là chỉ tiêu đánh giá khả năng gây bệnh của nó
(Lê Văn Tạo, 1997) [29]
Lý Thị Liên Khai (2001) [13] phân lập E coli từ phân lợn con bị
tiêuchảy và phân lợn con khỏe mạnh cho biết các chủng E coli mang kháng
nguyên K88, K99 và 987P là nguyên nhân chính gây tiêu chảy cho lợn con từ
1 – 2 tuần tuổi Vi khuẩn E coli thường xuyên cư trú trong ruột lợn và chúng
chỉ gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi như tác động stress làm giảm sức đề
kháng của lợn, làm tăng số lượng vi khuẩn và sinh độc tố
Nguyễn Như Pho (2003) [22] khả năng gây bệnh của các loài vi khuẩn
đối với lứa tuổi lợn là khác nhau Ở lợn sau cai sữa hoặc giai đoạn đầu nuôi thịt
thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella spp cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh đến
sau khi cai sữa thường do E coli ; lứa tuổi 6 – 12 tuần thì thường do xoắn khuẩn
Treponema hyodysenteriae; còn vi khuẩn yếm khí C perfringens thường gây
bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi đến cai sữa
Cù Hữu Phú và cs (2004) [24] đã cho thấy vi khuẩn E coli là nguyên nhân
chính gây tiêu chảy ở lợn con theo mẹ; các chủng E coli có thể mang tổ hợp các yếu
tố gây bệnh như LT+STa+stb+K88+Hly+(20.29%); LT+STa+STb+Hly- (8.33%)
Khi nghiên cứu về vai trò gây bệnh của E coli trong hội chứng tiêu chảy
ở lợn 1 – 60 ngày tuổi, Trương Quang (2005) [25] đã cho biết 100% mẫu
phân của lợn bị tiêu chảy phân lập được E coli với số lượng gấp 2,46 – 2,73
lần (ở lợn 1 – 21 ngày tuổi) và 1,88 – 2,1 lần (ở lợn 22 – 60 ngày tuổi) so với
lợn không tiêu chảy Tỷ lệ các chủng E coli phân lập từ lợn bị tiêu chảy có
độc lực mạnh và các yếu tố gây bệnh cao hơn rất nhiều so với ở lợn không bị
tiêu chảy Cụ thể: yếu tố bám dính: 9,33% so với 33,33%; khả năng dung
huyết: 53,33% so với 25,92%; độc tố không chịu nhiệt (LT): 90% - 11,11%,
Formatted: Font: Italic, Font color: Black,
Italian (Italy)
Trang 18cả hai loại ST và LT: 73,33% so với 1,4%; độc lực mạnh (giết chết 100%
chuột): 90% so với 0%
Hồ Đình Soái, Đinh Thị Bích Lân (2005) [26] khi tìm hiểu nguyên nhân
chủ yếu gây tiêu chảy ở lợn con đã nhận xét: 100% mẫu phân lợn tiêu chảy
phân lập được E coli với số lượng nhiều gấp 2,37 lần (1 – 45 ngày tuổi) và
gấp 2,31 lần (45 – 60 ngày tuổi) so với lợn bình thường không tiêu chảy Độc
lực của vi khuẩn E coli và Salmonella gây chết chuột từ 50 – 100%, thời gian
gây chết 6 – 36 giờ Độc tố gây bệnh của vi khuẩn E coli gồm: 60% có độc tố
STb, tỷ lệ LT STa và STb là 40%, 20% và 10%, 2 chủng sản sinh 2 loại độc
tố STb và LT, 2 chủng sản sinh 3 loại độc tố Sta, STb và LT
* Vai trò của vi khuẩn Salmonella
Tiêu chảy do Salmonella gây ra ở lợn con trong giai đoạn bú sữa mẹ
thường ít gặp do trong máu của lợn con có tồn tại một hàm lượng kháng thể
cao nhờ bú sữa đầu của lợn mẹ Kháng thể này có tác dụng bảo hộ cho tới khi
những lợn con này được cai sữa Lợn sau khi sai sữa không còn nguồn cung
cấp globulin miễn dịch, nguồn thức ăn và pH đường ruột thay đổi vì thế lợn
con rất dễ bị nhiễm bệnh (Wilcock, 1978) [72]
Wilcock và Schwartz (1992) [73] cho rằng, bệnh truyền nhiễm do
Salmonella gây ra cho lợn con sau cai sữa với các triệu chứng điển hình là nhiễm
trùng huyết, nhiễm độc huyết và viêm ruột ỉa chảy Vi khuẩn có thể gây bệnh cho
lợn nuôi bởi nhiều serotype có trong tự nhiên, nhưng với tiêu chảy ở lợn con sau
cai sữa thì chỉ phát hiện có 2 serotype chủ yếu là S cholerae suis và S
typhimurium, trong đó, S cholerae suis được phát hiện tới > 95%, S typhimurium
khoảng 4% và <1% thuộc về các serotype khác
Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Tạo và cs (1993) [28] đã cho thấy trong
số 50 mẫu bệnh phẩm từ lợn con tiêu chảy đã phân lập được 16 chủng
Salmonella spp., trong đó 8 chủng thuộc S choleraesuis, 2 chủng S
Trang 19Nghiên cứu lợn tiêu chảy ở các cơ sở chăn nuôi tập trung của các tỉnh
miền Bắc, Cù Hữu Phú và cs (2002) [23] đã cho biết tỷ lệ phân lập được vi
khuẩn Salmonella gây bệnh tới 80% số mẫu xét nghiệm
* Vai trò của vi khuẩn C perfringens
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ do vi khuẩn C perfringens type
A, type C hoặc type B có thể chẩn đoán phân biệt được Khi chẩn đoán cần
phải kết hợp giữa tuổi xuất hiện bệnh, triệu chứng và biến đổi bệnh lý Tuy
nhiên để khẳng định bệnh cần xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và
độc tố của chúng sản sinh ra Độc tố - 2 được sản sinh bởi hầu hết các
chủng C perfringens phân lập được từ lợn, cũng có thể là nguyên nhân gây
bệnh lý ở các con vật mắc bệnh
Vi khuẩn C perfringens type C gây bệnh viêm ruột hoại tử và xuất huyết
ở lợn con dưới 7 ngày tuổi và có thể gây bệnh mạn tính ở lợn lớn hơn từ 2 – 4
tuần tuổi Bệnh xẩy ra ở hầu hết các nước nuôi lợn, do có khẳ năng lây lan
trong đàn Các vụ dịch thường xẩy ra sau khi đưa vào nuôi một đàn lợn giống
bị nhiễm bệnh; bệnh tồn tại dai dẳng trong đàn đến 2 tháng; nhưng cũng có
thể xảy ra liên tiếp trong vòng 15 tháng Chuồng nuôi lợn là những nơi có thể
bị nhiễm nhiều nhất Mần bệnh thường thải qua phân, tồn tại lâu ở ngoài môi
trường dưới dạng nha bào, có sức đề kháng với nhiệt độ, chất sát trùng, tia tử
ngoại và đây chính là nguồn lây lan bệnh cho lợn
Nhiều trại lợn có thể nhiễm mầm bệnh nhưng không biểu hiện bệnh là do
việc sử dụng kháng sinh sớm như một biện pháp điều trị hoặc phòng bệnh;
hoặc do việc tăng cường sử dụng vacxin có chứa giải độc tố C perfringens
type C cho lợn nái chửa để đề phòng tiêu chảy cho lợn con Khi trong sữa đầu
có đủ lượng kháng thể cần thiết, lợn không bị mắc bệnh; với các đàn kháng
thể bảo hộ không đầy đủ hoặc dinh dưỡng kém, triệu chứng lâm sàng có thể
xuất hiện và tương đối khó nhận biết
* Tiêu chảy do virus
Formatted: Font: Italic, Font color: Black
Trang 20Virus cũng là tác nhân gây tiêu chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường
gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao
Khooteng Hoat (1995) [56] đã thống kê có hơn 10 loại virus có tác động
làm tổn thương đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy như Enterovirus,
Rotavirus, Coronavirus, Adenovirus type IV, virus dịch tả lợn…, trong đó Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy nghiêm trọng ở gia
súc non mới sinh như lợn con, nghé, dê cừu non, ngựa con, đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá hủy màng ruột và gây tiêu chảy nặng Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995) [2] và Nguyễn Như Pho (2003)
[22] cũng đã cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây tiêu chảy chủ yếu cho lợn
con giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng chủ yếu gồm tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao
* Tiêu chảy do ký sinh trùng
Ký sinh trùng trong đường tiêu hoá cũng là một trong các nguyên nhân phổ biến gây hội chứng tiêu chảy ở gia súc Ngoài chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ còn gây tổn thương niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập, tiết độc tố gây ngộ độc, làm giảm sức đề kháng của vật chủ, gây rối loạn quá trình tiêu hóa và viêm ruột, tiêu chảy cấp hoặc mãn tính Phạm Sỹ Lăng (1997) [16] cho biết lợn nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội mắc tiêu chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58% và giun tóc là 28,47% Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83- 13,46%
Theo Nguyễn Như Pho (2003) [22] Isospora suis, Crytosporidium thường gây tiêu chảy cấp hoặc mãn tính chủ yếu ở gia súc non từ sơ sinh đến
bốn tuần tuổi, còn ở lợn trên hai tháng tuổi do đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng nên chỉ mang mầm bệnh, ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy Cầu trùng, giun, sán trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên
Trang 21nhân gây tiêu chảy ở lợn nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên Ở lợn
bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun
tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn
(Nguyễn Thị Kim Lan và cs 2006a) [15]
* Tiêu chảy do nấm mốc
Độc tố aflatoxin có trong nấm mốc độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy
hiểm nhất cho con người là ung thư gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh
Aflatoxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm Lợn khi nhiễm độc thường bỏ
ăn, thiếu máu, vàng da, tiêu chảy, phân lẫn máu Nếu trong khẩu phần có từ
500-700 µg Aflatoxin/kg thức ăn sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề
kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997) [27]
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng phương pháp dễ bị
nhiễm nấm mốc Một số loài nấm mốc như Aspergillus, Penicillium… phân bố
rộng rãi trong tự nhiên, có khả năng xâm nhập và phát triển mạnh trong thức ăn
và sản sinh nhiều loại độc tố rất nguy hại cho cơ thể động vật, là nguyên nhân
của nhiều căn bệnh nguy hiểm như huỷ hoại gan, thận và ung thư tổ chức (Đậu
Ngọc Hào, 2008) [11]
1.1.2 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Khi hội chứng tiêu chảy xảy ra, cơ thể gia súc có sự biến đổi về nhiều mặt
và sự biến đổi đó để lại nhiều hậu quả cụ thể Với mỗi nguyên nhân gây bệnh
khác nhau thì cũng sẽ để lại hậu quả khác nhau Song trong quá trình sinh bệnh,
hội chứng tiêu chảy để lại hậu quả với một số đặc điểm đặc trưng chung
Theo Lê Minh Chí, 1995 [2] hậu quả trực tiếp của hiện tượng tiêu chảy là
sự mất nước và mất chất điện giải kéo theo hàng loạt các biến đổi và bệnh lý Ở
cơ thể khỏe mạnh, nước chiếm 75% cơ thể, được giữ ở dịch nội bào (50% thể
trọng) và dịch ngoại bào, gồm huyết tương (8%) và dịch ruột (17% thể trọng)
Tất cả hai loại dịch này đều giảm khi gia súc bị tiêu chảy; quá trình tuần hoàn
bị trở ngại và việc trao đổi chất ở mô bào giảm; cơ thể thiếu dinh dưỡng, oxy, tích
Formatted: Font color: Black, English (U.S.) Formatted: Font color: Black, English (U.S.)
Trang 22tụ chất độc và chống độc Sự mất nước kéo theo mất các chất điện giải trong dịch
thể, đặc biệt là: HCO3 , K+, Na+, Cl-… Archie (2000) [1] cho rằng hiện tượng mất
nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh
1.1.2.1 Sự mất nước trong tiêu chảy của gia súc
Cơ thể gia súc, gia cầm đòi hỏi sự cân bằng giữa lượng nước đưa vào và
thải ra Hàng ngày cơ thể phải đào thải nhiệt và nhiều chất dưới dạng dung dịch,
lượng nước xuất ra khỏi cơ thể tới vài lít trong một ngày đêm qua hơi thở, mồ hôi,
nước tiểu và phân Bởi vậy, cơ thể cần được bổ sung lượng nước tương đương
Nếu mất cân bằng sẽ gây tình trạng bệnh lý mất nước hoặc tích nước
Nguyễn Hữu Nam (2002) [18] cho biết, khi bị tiêu chảy do khối lượng
thức ăn không tiêu làm tăng áp lực thẩm thấu gây hiện tượng hút nước vào
trong lòng ruột; hoặc viêm ruột, ngộ độc thức ăn, dịch nhày của ruột với nước
có thể tăng gấp 80 lần so với bình thường, lượng dung dịch trong ruột tăng lên
sẽ kích thích ruột tăng co bóp sinh ra tiêu chảy, mất nước
Theo Trần Thị Dân (2006) [3] ảnh hưởng rõ rệt nhất của sinh lý tiêu chảy
là mất dịch ngoại bào Mất 15% làm xuất hiện triệu chứng lâm sàng như giảm
huyết áp, tim đập nhanh… và mất 30% sẽ gây chết Cung cấp dịch là biện pháp
ưu tiên số một trong điều trị tiêu chảy Dịch cấp lên đẳng trương với huyết
tương và chứa đủ K+
, HCO3 để thay thế các phần đã mất, đồng thời nên thêm
Na+ và glucose với lượng phân tử bằng nhau
Theo Nguyễn Quang Tuyên và Nguyễn Tất Thành (2007) [38] mất nước
xảy ra khi mất cân bằng giữa lượng nước đưa vào và thải ra do cung cấp không
đủ hoặc do mất ra ngoài quá nhiều Mất nước mà trọng lượng cơ thể giảm 5%
thì các dấu hiệu rối loạn xuất hiện Khi mất 20 – 25% lượng nước thì rất nguy
hiểm vì các rối loạn huyết động và chuyển hóa đều rất nặng và đã hình thành
vòng bệnh lý vững chắc
1.1.2.2 Sự mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể
Các chất điện giải chính trong cơ thể là Na+
, K+ chúng giữ vai trò cân
Formatted: English (U.S.)
Formatted: English (U.S.)
Trang 23bằng toan, kiềm trong máu và dịch ngoại bào, duy trì áp suất thẩm thấu Do đó, khi gia súc bị tiêu chảy cơ thể mất một lượng lớn các chất điện giải này làm hoạt động cơ thể bị rối loạn nặng
Theo Lê Văn Tạo (2005) [31] vi khuẩn E coli xâm nhập vào trong lớp tế
bào biểu mô ruột, tại đây vi khuẩn phát triển nhân lên lần thứ nhất phá hủy lớp
tế bào biểu mô gây ra viêm ruột, sau đó sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin) Độc tố tác động vào quá trình trao đổi muối, nước ở ruột làm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể và ngược lại được thẩm xuất từ mô bào ra lòng ruột
Rối loạn cân bằng ion Na+: là ion chủ yếu ở ngoại bào, nó liên quan chặt chẽ với các ion Cl-
, HCO3- Vai trò chủ yếu là cân bằng áp suất thẩm thấu và cân bằng acid-bazơ qua cặp đệm bazơ H2CO3/NaHCO3 Khi bị tiêu chảy thì
Na+ huyết tương giảm đi rất nhiều, ngoài ra nó còn bị giảm khi cung cấp thiếu trong khẩu phần ăn Hậu quả là gây nhược trương gian bào làm nước sẽ chuyển vào tế bào, giảm dự trữ kiềm, giảm khối lượng máu, vỡ hồng cầu và giảm huyết áp
Rối loạn cân bằng ion K+: là ion chủ yếu trong tế bào nhưng ngoài tế bào
nó cũng có vai trò quan trọng trong việc duy trì tính kích thích của sợi cơ Cân bằng K+
liên quan chặt chẽ với Na+ huyết tương cũng như ở thận Giảm K+thường gặp trong cung cấp thiếu hoặc do đào thải quá nhiều qua nôn và tiêu chảy Hậu quả của giảm K+
thường rất nguy hiểm, nó có thể làm tim ngừng đập
và gây chết gia súc
Ở lợn hiện tượng tiêu chảy thường kèm theo quá trình nhiễm khuẩn Vi khuẩn kế phát thường làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột mãn tính Khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng hơn và hậu quả để lại rất nặng nề Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho chăn nuôi Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây bệnh khác nhau thì cũng để lại những hậu quả khác nhau
Trang 24Tóm lại tiêu chảy do bất cứ nguyên nhân nào gây nên cũng để lại hậu quả
là mất nước và nhiễm độc huyết
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ ĐƯỜNG TIÊU HÓA CÓ ẢNH
HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN BỆNH LÝ TIÊU CHẢY Ở LỢN CON
1.2.1 Sự thay đổi pH trong đường tiêu hóa của lợn con
Khi nghiên cứu những biến đổi bệnh lý ở đường ruột trong bệnh phân
trắng lợn con, Tạ Thị Vịnh (1992) [40] đã nghiên cứu độ pH trong dạ dày và
ruột của lợn con bình thường và lợn con mắc bệnh tiêu chảy Kết quả của
nghiên cứu này đã cho thấy độ pH trong đường tiêu hóa của lợn con ở trạng
thái bình thường ở các tuần tuổi 1; 2 và 3 có xu hướng tăng dần từ dạ dày,
ruột non, ruột già Trong khi đó, đối với các lợn bị tiêu chảy thì nồng độ pH
biến động không theo quy luật này, một số vị trí ở ruột non có pH cao hơn cả
ở ruột già
Xét về tuổi thì pH ở dạ dày lợn có xu hướng giảm dần qua lứa tuổi Ở 1
tuần tuổi pH = 3,700 0,045; 2 tuần tuổi pH = 3,450 0,029; 3 tuần tuổi pH
= 3,150 0,047 Độ axit trong dạ dày đã tăng dần phù hợp với quy luật sinh
lý của lợn con Trong dịch vị của lợn con sơ sinh đến 3 tuần tuổi không có
HCl tự do vì lúc này lượng axit HCl tiết ra ít, lại nhanh chóng liên kết với
dịch nhầy Trong những ngày đầu mới đẻ, độ axit trong dạ dày được duy trì
nhờ sự chuyển hóa lactoza thành axit lactic Từ tuần tuổi thứ 2, hoạt tính của
men pepsin lại được tăng dần lên Sự tiết dịch vị của dạ dày tăng dần theo
tuổi, vì vậy mà pH đã giảm dần
Tại ruột non, tham gia vào quá trình tiêu hóa có dịch tụy, dịch ruột và
dịch mật Chúng đều có tính kiềm cao vì vậy pH tăng lên từ dạ dày xuống
ruột non
Tại ruột già, sự tiêu hóa chủ yếu là nhờ men có sẵn trong dưỡng chất từ
ruột non chuyển xuống Tại đây có hai quá trình đồng thời xảy ra:
- Quá trình lên men những sản phẩm lipit, gluxit sinh ra các chất hữu cơ
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Black Formatted: Font: 14 pt, Font color: Black Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Trang 25axit lactic, axit acetic
- Quá trình gây thối các sản phẩm protit sinh ra các chất độc như indol, scatol
Quá trình tiêu hóa ở lợn con chưa hoàn thiện, thức ăn chủ yếu là sữa, cho
nên quá trình lên men và gây thối giữa ít Các chất chứa chuyển xuống các
đoạn ruột tiếp theo ít thay đổi, còn pH phụ thuộc vào dịch ruột nên có xu
hướng tăng nhiều hơn
Đối với những lợn con bị bệnh phân trắng, pH ở dạ dày tăng cao hơn so
với lợn bình thường Các yếu tố gây bệnh đã tác động lên cơ thể lợn làm giảm
sự tiết dịch, nhất là men chymosin làm đông vón sữa nên không tạo điều kiện
cho vi khuẩn lactic lên men Độ pH ở ruột già có xu hướng giảm dần từ manh
tràng, kết tràng, trực tràng Còn pH từ dạ dày xuống ruột non lại tăng lên nên
đã tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển Do đó, các quá trình lên men, sinh
hơi các chất không tiêu hóa trong đường ruột, đặc biệt ở ruột già tăng lên, làm
ứ đọng nhiều axit hữu cơ và các chất độc làm cho pH giảm
1.2.2 Hệ vi khuẩn đường ruột ở lợn con
Ở lợn con các loài vi khuẩn đầu tiên có mặt trong đường ruột của lợn
gồm E.coli, Streptococci, Clostridia và Lactobacilli Sau đó một số loài vi
khuẩn yếm khí như Bacterroides, Bifidobacteria và Peptococci cũng sẽ lần lượt
xuất hiện Nguồn lây nhiễm của các loài vi khuẩn này, đầu tiên phải kể đến là
qua đường sinh dục của lợn mẹ, sau đó là từ da, sữa và phân của con mẹ
Khả năng sống và phát triển của vi khuẩn ở đường tiêu hóa của lợn con
được điều hòa chủ yếu bởi pH của đường tiêu hóa, mà chủ yếu phụ thuộc vào
sự tiết HCl của dạ dày Ở lợn con mới sinh, khả năng tiết HCl còn rất kém,
tuy nhiên sự xâm nhập nhanh chóng của các vi khuẩn sản sinh acid lactic như
Lactobacilli và Streptococci ngay sau đó đã góp phần duy trì độ pH ở mức độ
thấp trong tuần đầu lợn con mới sinh ra (Fulller, 1982) [48]
Bằng phương pháp so sánh các đặc điểm sinh hóa chủ yếu của hệ vi
khuẩn đường ruột của lợn mẹ và các lợn con do chúng sinh ra, nhiều nghiên cứu
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Trang 26đã chứng minh được rằng có sự tương đồng rất rõ rệt ở lợn con 3 ngày tuổi sau khi sinh (Kuhn, 1985) [57] Kết quả này đã cho thấy lợn nái chính là nguồn lây nhiễm đầu tiên đối với hệ vi khuẩn đường ruột của lợn con Sau đó hệ vi khuẩn đường ruột của lợn con trong quá trình bú sữa mẹ sẽ phát triển và có nhiều sự sai khác với hệ vi sinh vật đường ruột của lợn mẹ Tuy nhiên, quần thể các vi khuẩn trong đường tiêu hóa của lợn con sẽ thay đổi theo thời gian, cùng với sự phát triển của lợn và thay đổi theo loại thức ăn của lợn
Nhìn chung nhóm vi khuẩn đường ruột được phân làm 2 nhóm chính là:
1) Vi khuẩn hiếu khí bắt buộc gồm có: L acidophilus, Enterococcus, Vibrio
cholerae, Staphylococcus aureus, Bacteroides, Bifidobacterium bifidum, và
một số loài trực khuẩn gram (+) như B subtilis; 2) Vi khuẩn hiếu khí tùy tiện gồm có các loài Streptococcus, Proteus, E coli không lên men lactoza, nấm men, các giống thuộc họ Enterobacteriaceae và một số loài trực khuẩn gram (+) Bifidobacteria Hai nhóm vi khuẩn này (với hơn 400 chủng loài vi khuẩn
khác nhau) cùng với vật chủ hình thành nên một hệ thống sinh thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khỏe của vật chủ
* Vai trò của hệ vi sinh vật đường ruột
Hệ vi khuẩn đường ruột có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe của người và động vật Các enzym do chúng tiết ra có tác dụng làm tiêu hóa thức ăn, cung cấp một lượng các vitamin, đặc biệt là vitamin K, vitamin E, Biotin, B1, B2, B6, B12 và một số acid amin cần thiết khác cho cơ thể Hệ vi khuẩn đường ruột còn có vai trò chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh Khi cơ thể ở trạng thái bình thường, khỏe mạnh thì hệ vi khuẩn ở trạng thái cân bằng, tạo ra sự liên kết giữa nhiều loài khác nhau, làm cho các loại vi khuẩn lạ ít có cơ hội xâm nhập Khi cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, gây nên hiện tượng loạn khuẩn thì không những cơ thể dễ bị vi khuẩn gây bệnh xâm nhập mà ngay cả một số loại vi khuẩn thường trú như
Klebsiella, Citrobacter, Morganella, … gây bệnh cơ hội
Trang 27Hệ vi sinh vật đường ruột có các chức năng trao đổi chất, miễn dịch và bảo
vệ (Cummings và Macfarlane, 1997) [45] Chức năng trao đổi chất được thể hiện bằng sự sản sinh ra các acid béo chuỗingắn và vitamin K Các vi khuẩn đường ruột lên men các thức ăn không được tiêu hóa và các chất nội sinh như màng nhầy để sản sinh ra các acid béo chuỗi ngắn Manh tràng và kết tràng là các vị trí lên men chính Lợn có manh tràng lớn và kết tràng là nơi tạo ra năng lượng ở dạng acid béo chuỗi ngắn đáp ứng được tới 30% nhu cầu năng lượng hàng ngày của lợn (Stevens và Hume, 1995) [67] Điều này đã cho thấy tầm quan trọng của
sự lên men vi khuẩn ở ruột già đối với dinh dưỡng của lợn
Số lượng của các tế bào sản sinh globulin miễn dịch ở lớp đệm và hàm lượng globulin miễn dịch trong huyết thanh tăng lên Đáp ứng miễn dịch đối với sự xâm nhập của vi khuẩn vào đường tiêu hóa ở các động vật vô trùng tương tự như quá trình đáp ứng đối với các viêm nhiễm Các đáp ứng miễn dịch niêm mạc này xảy ra nhẹ hơn ở các động vật nuôi bình thường, ở đó phần lớn vi khuẩn “chí ruột” bị bao bọc bởi IgA ( Van der Waaij và cs, 1996) [71] Điều này đã cho thấy tình trạng cân bằng của đáp ứng miễn dịch được bảo tồn bởi tác động qua lại giữa vi khuẩn chí ruột và hệ thống miễn dịch niêm mạc Bởi vậy, sự bám dính của vi khuẩn vào dạ dày và ruột, có thể là do một số các cấu trúc có trong bản thân vi khuẩn như các yếu tố bám dính của
vi khuẩn có vai trò quan trọng trong sự hình thành và cân bằng hệ thống miễn dịch của vật chủ Kháng thể IgA có vai trò rất quan trọng đối với miễn dịch của lợn con, đặc biệt ở lợn con giai đoạn cai sữa, là giai đoạn trong ruột có hàm lượng IgA rất hạn chế
Theo Umesaki và Setoyama (2000) [70] chức năng miễn dịch của hệ vi sinh vật đường ruột thúc đẩy sự phát triển và duy trì hệ thống miễn dịch của vật chủ Điều này đã được chứng minh trong các nghiên cứu trên các động vật
“sạch” (không bị nhiễm mầm bệnh) Sự xâm nhập của vi khuẩn vào trong đường tiêu hóa của các động vật “sạch”, dẫn tới làm tăng số lượng các tế bào
Trang 28biểu mô bên trong và mảng Payer
Hiệu quả ngăn trở của các vi khuẩn đường ruột đối với sự thử thách của
tác nhân gây bệnh được xem như là chức năng bảo hộ Hầu hết các vi khuẩn
đường ruột có thể bám dính vào lớp niêm mạc trên cùng hoặc vào các tiểu
phần của thức ăn để hình thành nên một dạng màng trên bề mặt (Guarner và
Malagelada, 2003) [51] Sự cạnh tranh bề mặt để bám dính giữa vi khuẩn “chí
ruột” và tác nhân gây bệnh xâm nhập từ ngoài vào sẽ dẫn tới sự loại bỏ có
cạnh tranh các tác nhân xâm nhập từ bên ngoài vào trong ruột Ngoài ra, sự
cạnh tranh về chất dinh dưỡng cũng có thể là một yếu tố khác để loại bỏ các
tác nhân gây bệnh từ bên ngoài vào
1.3 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ VI KHUẨN PROBIOTIC VÀ CHẾ PHẨM
LACTOVET
Theo định nghĩa của FAO và WHO (2002) [46] chế phẩm Probiotic là
các vi khuẩn (kể cả nấm men) sống, khi đưa vào cơ thể với một lượng thích
hợp sẽ có tác dụng có lợi đối với cơ thể vật chủ
Theo Fuller (1982) [48] các loài vi khuẩn dùng làm probiotic cần phải
đáp ứng được các yêu cầu sau; i) vi khuẩn phải được chế tạo theo cách còn
sống với một quy mô lớn; ii) bảo tồn đặc tính sống và ổn định trong quá trình
sử dụng và bảo quản; iii) có khả năng sống sót trong đường tiêu hóa; iv) cơ
thể vật chủ phải thu được các lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ các probiotic (cải
thiện hệ vi sinh vật đường ruột); v) hoàn toàn an toàn cho vật chủ
Các chế phẩm probiotic thường dùng trong chăn nuôi gồm 3 nhóm
chính: vi khuẩn sinh acid lactic, nha bào của họ Bacillus và nấm men (Fuller,
1989) [49] Probiotic được chế tạo theo rất nhiều cách như ở dạng thức ăn
viên, thức ăn lên men, dạng viên nang, dạng nhão, dạng bột hoặc dạng các
viên nhỏ Gần đây, các nhà khoa học đã chứng minh được các vi khuẩn đã vô
hoạt cũng có các tác động probiotic, đặc biệt là đặc tính miễn dịch, do vậy
chúng nên được phân loại vào nhóm probiotic ở dạng “mở rộng “
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Black,
Swedish (Sweden)
Trang 29Mặc dù việc bám dính vào các tế bào niêm mạc ruột và màng nhầy
không phải là một đặc tính chung của các loại probiotic, nhưng khả năng này
được coi như là một đặc tính quan trọng về tác dụng có lợi của probiotic Các
nhà khoa học cho rằng các vi khuẩn probiotic mà có khả năng bám vào niêm
mạc bề mặt của ruột có khả năng ngăn trở rất mạnh đối với sự bám dính của
các vi khuẩn gây bệnh (Fuller, 1991) [50] Ngoài ra, đặc tính bám dính của
các vi khuẩn probiotic là còn có liên quan tới đặc tính miễn dịch của chúng
Tannock (1995) [68] cho biết các loài vi khuẩn được sử dụng phổ biến nhất
trong các chế phẩm probiotic là vi khuẩn sinh acid lactic (Lactic acid bacteria -
LAB) (gồm Lactobacillus, Bifidobacterium và Streptococcus (Enterococcus)) trong
chăn nuôi lợn và gia cầm do chúng chiếm đại đa số trong đường tiêu hóa
1.3.1 Một số đặc điểm của chế phẩm probiotic
Các loài vi khuẩn được sử dụng làm probiotic khác với vi khuẩn sống
trong tự nhiên của cùng loại đó ở một số đặc tính riêng, đặc biệt về đặc tính
an toàn của chúng khi sử dụng trong cơ thể sống và cơ chế tác động của
chúng trong đường tiêu hóa Giữa các nhóm vi khuẩn probiotic khác nhau
cũng có sự khác nhau về đặc tính, nguồn gốc và cơ chế tác dụng
Khả năng sống sót và số lượng thực của các vi khuẩn probiotic trong
đường ruột là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu nhiều vì hiệu quả
của probiotic phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn sống trong đường tiêu hóa Do
vậy, khả năng đề kháng của chúng đối với nồng độ acid ở trong dạ dày, acid
mật và enzym tiêu hóa là các nhân tố quan trọng Trong rất nhiều nghiên cứu,
các loài vi khuẩn phân lập được từ phân đã được tiến hành kiểm tra để đánh
giá khả năng sống của vi khuẩn probiotic do khả năng khó bị tiêu hóa ở các vị
trí riêng biệt của ống tiêu hóa Để duy trì mức độ ổn định với số lượng cao
của vi khuẩn probiotic trong đường ruột, việc tăng thường xuyên liều
probiotic trong một giai đoạn nhất định là phương pháp duy nhất có thể thực
hiện, hay nói cách khác, nên rút ngắn khoảng thời gian giữa các lần cho ăn
nhằm có được số lượng tối đa các probiotic trong đường tiêu hóa (Ohashi và
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Trang 30cs, 2009) [60]
1.3.2 Nhóm vi khuẩn sinh acid lactic`
1.3.2.1 Đặc điểm sinh học
Nhóm vi khuẩn sinh acid lactic hay còn gọi là nhóm vi khuẩn có lợi
“propiotic” được sử dụng từ lâu và phổ biến trong nhiều lĩnh vực, ứng dụng
trong điều trị các bệnh rối loạn tiêu hóa và một số bệnh khác
Dựa vào đặc điểm hình thái, sinh lý trao đổi chất của vi khuẩn, nhóm vi
khuẩn sinh acid lactic có các đặc điểm sau:
Bắt màu gram dương, không sinh nha bào, có dạng hình cầu hay hình
que, kỵ khí hoặc hiếu khí tùy tiện, có khả năng lên men một số loại đường để
tạo sản phẩm chính là acid lactic
Trong quá trình sống, vi khuẩn thuộc nhóm sinh acid lactic có khả năng
sinh sản ra những chất có tính kháng khuẩn thông thường là acid lactic, acid
axetic và acid propionic Các acid này hoạt động kháng khuẩn ở pH thấp hơn
pH trung tính Acid axetic có tính ức chế nấm mốc và vi khuẩn mạnh hơn acid
lactic; hỗn hợp acid lactic và acid axetic có khả năng làm giảm sự phát triển
của S typhimurium hơn là một acid đơn Ngoài ra nhóm vi khuẩn này còn sản
sinh nhiều chất kháng khuẩn khác như H2O2, diacetyl, bacteriocin, chất kháng
khuẩn có trọng lượng phân tử thấp như Reuterin, PCA
(2-pyrorolidone-5-carboxylic acid)….Chất kháng khuẩn “Bacteriocin” được Jacob và cs phát
hiện vào năm 1953 là protein có trọng lượng phân tử lớn Bacteriocin do vi
khuẩn L acidophilus sinh ra gồm có: acidocin, acidophylin, lactacin B và
lactacin F (Seppo, 1998) [65]
Các vi khuẩn thuộc nhóm sinh acid lactic còn có khả năng sinh ra chất
làm giảm sự bám dính của vi khuẩn vào niêm mạc ruột, làm giảm sự cư trú
của vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn Lactobacillus có thể làm giảm khả năng
bám dính của một số vi khuẩn gram âm trong điều kiện in vitro Acid
lipoteichoic là chất bám dính bề mặt thường được các vi khuẩn Lactobacillus
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 31sinh ra Theo Seppo (1998) [65] chủng L fermentum 104r có khả năng sản
sinh ra trong huyễn dịch nuôi cấy một loại phức hợp N acetylglucosamin và
galactose có khả năng làm giảm ít nhất 50% sự bám dính của vi khuẩn E coli
trong môi trường in vitro
Một số loài vi khuẩn thuộc nhóm sinh acid lactic có khả năng sản sinh ra
nha bào như L sporogenese, nhờ đó mà có thể tránh được tác hại của yếu tố
môi trường ở đường tiêu hóa và có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng mà không
mất đi khả năng sống (Sapinsa Corporation, 2000) [63]
1.3.2.2 Đặc tính đề kháng kháng sinh
Những nghiên cứu về tính đề kháng kháng sinh của Lactobacillus GG
được thông báo vào năm 1982 Khả năng đề kháng kháng sinh của giống
Lactobacillus nói chung đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến chủng Lactobacillus
GG kháng với một số loại kháng sinh như ampicillin, pinicillin, cephalothin,
cefotacime, ciprofloxacin, erythromycin, tetracylin, trimethoprim
Trong một nghiên cứu khác các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng
Lactobacillus GG không chứa plasmid, vì vậy không có khả năng chuyển gen
kháng vancomycin cho loài cầu khuẩn Enterococcus (Jon và cs, 1999) [55]
Qua thử nghiệm, L acidophilus được đưa vào môi trường dạ dày nhân tạo,
kết quả đã cho thấy sự sống sót của vi khuẩn là rất cao, chỉ giảm một lượng nhỏ
sau 6 giờ thử nghiệm Hơn nữa, L acidophilus kháng với metronidazole nhưng
mẫn cảm với amoxicillin và metronidazole Những chủng vi khuẩn này được
chọn thử nghiệm nhằm hạn chế khả năng chuyển gen kháng thuốc từ các chủng
probiotic cho vi khuẩn đường ruột Do vậy, tác giả khuyên nên sử dụng probiotic
ngay từ lúc bắt đầu điều trị kháng sinh
1.3.3 Cơ chế tác động của probiotic trong đường ruột lợn
Theo Meghrou và cs (1990) [58] cơ chế chính xác cho các hoạt tính tác
dụng của probiotic lên cơ thể vật chủ vẫn chưa được xác định một cách rõ
ràng Tuy nhiên, có một vài cơ chế đã được xem là cơ chế hoạt động của các
Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Trang 32probiotic như cơ chế ức chế hoặc kích thích sinh hóa học, cơ chế cạnh tranh chất dinh dưỡng, cơ chế cạnh tranh đáp ứng miễn dịch và cơ chế cạnh tranh điểm bám dính vào điểm tiếp nhận
+ Cơ chế tác động của sinh hóa học: một probiotic mang loại vi khuẩn này có thể ức chế một loại vi khuẩn khác là thông qua sự sản sinh chất kháng khuẩn (Bacteriocin) Chất này có bản chất là protein hoặc phức hợp với protein được sản sinh ra bởi một số vi khuẩn nhất định và có thể ức chế sự phát triển của một số vi khuẩn khác có quan hệ gần gũi với chúng:
- Kích thích đáp ứng miễn dịch và tăng cường hoạt tính của kháng thể vật chủ
- Cạnh tranh chất dinh dưỡng: các probiotic cạnh tranh với tác nhân gây bệnh để dành được các chất dinh dưỡng quan trọng
- Cạnh tranh loại trừ: các probiotic chiếm các điểm tiếp nhận trên bề mặt ruột, từ đó làm cho các tác nhân gây bệnh bị loại trừ, ở nơi mà probiotic chiếm các điểm cảm thụ của ruột các độc tố đường ruột sẽ bị loại trừ Các tác nhân gây bệnh và độc tố của chúng bám vào lớp niêm mạc và các tế bào cảm thụ của ruột và phá hủy chúng
- Sự tập hợp của các probiotic làm ngăn trở sự bám dính và nhân lên của các tác nhân gây bệnh
+ Cơ chế cạnh tranh chất dinh dưỡng: cơ chế cạnh tranh nhằm chiếm được một số chất dinh dưỡng nhất định là một yếu tố quan trọng, dẫn tới việc xác định các thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột, những loài không có khả năng sẽ bị loại bỏ khỏi hệ thống này Những vi khuẩn ở trong ruột già có khả năng sử dụng rất nhiều các loại chất dinh dưỡng khác nhau; các loài sống
ở đoạn đầu của kết tràng được cung cấp một lượng chất dinh dưỡng lớn được tạo ra bởi sự chuyển hóa các chất trong thức ăn từ ruột non, trong khi các loài sống ở đoạn cuối được cung cấp ít hơn nhiều Việc tăng số lượng vi khuẩn probiotic trong đường tiêu hóa cũng là một cách làm giảm lượng các chất dinh
Trang 33dưỡng có sẵn cho các tập đoàn vi khuẩn có hại khác sử dụng và phát triển
+ Cơ chế cạnh tranh đáp ứng miễn dịch: Đáp ứng miễn dịch nhằm khống
chế sự phát triển của các vi sinh vật trong đường ruột là một đặc điểm rất
quan trọng Các nghiên cứu đã cho thấy các globulin miễn dịch bề mặt gắn
vào bề mặt màng của niêm mạc có thể làm giới hạn hoặc ức chế sự bám dính
của các vi khuẩn vào chiếm giữ đường tiêu hóa Sự kích thích các thành phần
của hệ thống miễn dịch, mà cụ thể là các đáp ứng miễn dịch tế bào có thể làm
thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột, ví dụ như làm tăng hoạt tính thực bào bằng
cách sử dụng các vi khuẩn sinh acid lactic
+ Cơ chế bám dính: khả năng bám dính của các probiotic vào niêm mạc
ruột cũng được coi là một trong những cơ chế quan trọng Các vi khuẩn
probiotic, sau khi đã bám vào các điểm tiếp nhận trên bề mặt niêm mạc ruột
sẽ ngăn trở, làm cho các vi khuẩn gây bệnh không có điều kiện tiếp cận và
bám dính nữa Các nghiên cứu trong điều kiện in vitro của L acidophilus, L
casei với dòng tế bào CaCo-2 và các vi khuẩn S typhimurim, S aureus và E
coli đã chứng minh điều này
1.4 BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON
DO VI KHUẨN GÂY RA
1.4.1 Biện pháp phòng
Vi khuẩn E coli và Salmonella là những vi khuẩn phổ biến trong đường
tiêu hóa của gia súc, gia cầm và thuộc nhóm căn bệnh cơ hội Để phòng tiêu
chảy cho vật nuôi, biện pháp phòng bệnh có vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự
tồn tại của mầm bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi
1.4.1.1 Phòng tiêu chảy ở lợn bằng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng
Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, cần cho lợn nái ăn thức ăn
giàu đạm, vitamin và đủ nguyên tố vi lượng Khi lợn con mới sinh cần
cho bú sữa đầu, cho lợn tập ăn sớm, sau cai sữa cần cho lợn ăn đầy đủ số
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Black
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 34lượng và chất lượng phù hợp với đặc điểm sinh lý từng lứa tuổi (Hoàng
Thuỷ Nguyên và cs 1974) [20]
Lợn con ngay sau khi sinh cần được cho bú sữa đầu để tiếp thu kháng thể
từ lợn mẹ có tác dụng nâng cao sức đề kháng và chống lại một số bệnh trong
đó có rối loạn tiêu hóa do đã ngăn chặn được sự nhân lên của vi khuẩn trong
đường ruột Gia súc non giai đoạn bú sữa, rối loạn tiêu hoá xảy ra phổ biến, đây
là một quá trình bệnh lý phức tạp do tác động và kết hợp của nhiều yếu tố như
stress ngoại cảnh, sai sót trong quản lý, chăm sóc, thức ăn, nước uống bị nhiễm
khuẩn Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [7]; Hồ Văn Nam và cs (1997) [19]
chế độ dinh dưỡng cần đảm bảo vệ sinh, phù hợp với sinh lý tiêu hoá của gia
súc trong từng giai đoạn sẽ hạn chế được sự loạn khuẩn đường ruột chứng viêm
ruột tiêu chảy
1.4.1.2 Phòng tiêu chảy ở lợn bằng vacxin
Hiện nay, sử dụng vacxin để phòng tiêu chảy cho lợn cũng đã có nhiều công
trình nghiên cứu và cho kết quả khả quan Smith H W và cs (1967) [66] đã chiết
tách được các loại kháng nguyên vi khuẩn và chế tạo vacxin có tác dụng
phòng hộ tốt cho vật nuôi khi cho uống hoặc tiêm, chống lại được sự bám
dính của các vi khuẩn gây bệnh trên các tế bào biểu mô ruột Gây miễn dịch
cho lợn bằng cách uống hoặc tiêm vacxin E coli sống hoặc vacxin E coli vô
hoạt đều làm giảm tỷ lệ mắc và chết do tiêu chảy
Nguyễn Thị Nội và cs (1985) [21] đã chọn những serotype E coli
thường gặp có kháng nguyên K88 để chế vacxin phòng bệnh phân trắng lợn
con, tiêm vacxin đó cho lợn nái chửa 4-6 tuần trước khi đẻ cho kết quả bảo hộ
tăng 30-40% đối với lợn con sinh ra Cũng các tác giả trên, năm 1989 đã chế
tạo vacxin đa giá SALSCO phòng tiêu chảy cho lợn, vacxin được chế từ các
chủng vi khuẩn E coli, Salmonella và Streptococcus
Một số loại vacxin dùng để phòng bệnh do vi khuẩn E coli và
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 35Salmonella ở lợn tại Việt Nam gồm có:
Vacxin LitterGuard LT-C: Do hãng Pfizer Animal health - Mỹ sản
xuất, phòng bệnh do E coli chủng K99, K88,987P, F41 và độc tố LT Liều
tiêm phòng 2ml/con, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Không sử dụng vacxin
trước khi giết thịt 21 ngày
1.4.1.3 Phòng tiêu chảy ở lợn bằng chế phẩm sinh học
Sử dụng chế phẩm sinh học nhằm cân bằng và ổn định hệ vi sinh vật trong
đường tiêu hoá của gia súc, tránh được sự loạn khuẩn đường ruột và giúp cho sự
hồi phục các vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá Để khắc phục những hạn
chế của kháng sinh, các nhà khoa học đã nghiên cứu chế tạo các chế phẩm sinh
học từ các vi sinh vật hữu ích có tác dụng chống lại vi sinh vật gây bệnh
Ngoài sử dụng vacxin, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu các chế phẩm
dùng để phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn Đây là biện pháp vừa giúp tăng khả
năng đề kháng, vừa khống chế sự phát triển quá mức của một số loài vi khuẩn
có hại cho cơ thể gia súc
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học để
phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa của người và gia súc
Trong chăn nuôi, việc dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị tiêu chảy ở lợn là
một biện pháp hữu hiệu và đang được áp dụng rộng rãi Các nhóm vi khuẩn
thường dùng là Bacillus subtilis, Colibacterium, Lactobacillus…, các vi khuẩn
này, khi đưa vào đường tiêu hóa của lợn sẽ góp phần cải thiện hệ vi sinh vật
đường ruột, tăng cường tiêu hóa thức ăn và ức chế các vi khuẩn có hại
Các chế phẩm sinh học, trong đó có chế phẩm probiotic đã được nghiên
cứu và sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Những nghiên cứu hệ
vi sinh vật đường ruột, sử dụng probiotic trong phòng trị bệnh cho người và
gia súc, phục vụ phát triển chăn nuôi ở nước ta mới thực sự phát triển từ
những năm 80 của thế kỷ trước
Ở nước ta, từ năm 1976, Nguyễn Như Viên đã sản xuất thành công chế
phẩm Bacillus Subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Bacillus vào môi trường đậu
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 36tương, nước cám gạo, thậm chí cả nước râu ngô để được chế phẩm sinh học
mà theo tác giả trong đó có hàm lượng vi khuẩn Bacillus Subtilis đủ hạn chế
được các vi khuẩn gram âm và gram dương gây bệnh Các chế phẩm này không những phòng bệnh mà còn chữa được bệnh viêm ruột ở gia súc non và những trường hợp ỉa chảy viêm ruột ở lứa tuổi lớn hơn
Lê Thị Tài (1997) [27] đã nghiên cứu sản xuất viên Subtilis để phòng và trị nhiễm trùng đường ruột ở lợn đạt tỷ lệ khỏi trên 90%
Huỳnh Kim Diệu (2001) [4] dùng cơm mẻ cho lợn con ăn có kết quả tốt giảm tỷ lệ bị tiêu chảy, tăng tỷ lệ khỏi bệnh sau 3 ngày điều trị, rút ngắn thời gian bị bệnh, giảm tỷ lệ tái phát, giảm tỷ lệ chết ở lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa
Lê Văn Tạo và cs (2001) [30] đã sản xuất kháng thể từ lòng đỏ trứng gà
để phòng trị tiêu chảy cho lợn con Lợn dùng chế phẩm đều an toàn, điều trị
khỏi bệnh đối với lợn con bị tiêu chảy do vi khuẩn E coli
Tạ Thị Vịnh và Đặng Thị Hòe (2002) [41] đã sử dùng chếphẩm
VITOM1.1 (có chứa vi khuẩn Bacillus subtilis chủng VKPMV-7092) để
phòng trị tiêu chảy cho lợn con sơ sinh đến 3 tuần tuổi
Chế phẩm sinh học EM (Effective Microoganisms) của giáo sư Nhật Bản Terno Higa gồm nhiều loại vi sinh vật có lợi từ thiên nhiên đã được sử dụng trên nhiều lĩnh vực Chế phẩm EM có khả năng phòng và trị tiêu chảy cho nhiều loài gia súc, gia cầm và còn khử mùi hôi cho phân thải, chuồng trại (Đoàn Thị Kim Dung, 2003) [5]
Trần Thị Hạnh và cs (2004) [10] đã chế tạo sinh phẩm E coli – sữa và C
perfringens - toxoid dùng phòng tiêu chảy cho lợn con đã có tác dụng rõ rệt
trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng do E coli và C perfringens
Nguyễn Thị Thanh Hà và Bùi Thị Tho (2009) [8] đã nghiên cứu ứng dụng cao mật bò 20% trong phòng và trị tiêu chảy cho lợn con từ 1-21 ngày tuổi, làm giảm tới 31,4% tỷ lệ lợn mắc bệnh
Bạch Quốc Thắng và cs (2011) [35] đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm
Trang 37E.Lac để phòng hội chứng tiêu chảy cho lợn con theo mẹ, tạo sự cân bằng vi
sinh vật đường ruột theo hướng có lợi: Các vi khuẩn có lợi probiotic tăng, các
vi khuẩn gây bệnh E coli, S typhimurium và C perfringens giảm
Ngoài ra, nhiều tác giả đã dụng biện pháp đưa kháng sinh vào thức ăn,
nước uống hàng ngày của lợn để phòng tiêu chảy và đã cho các kết quả rất
khả quan Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh đã để lại nhiều hậu quả không
tốt như gây tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, làm tăng số lượng vi khuẩn
kháng thuốc… nên hiện nay đa số các nước đã cấm sử dụng biện pháp này
hoặc chỉ áp dụng trong điều kiện nhất định và phải tuân thủ quy định về thời
gian ngừng thuốc trước khi giết mổ
1.4.2 Điều trị tiêu chảy
Tiêu chảy ở lợn được coi như là một hội chứng nên việc điều trị tiêu
chảy ở lợn là kết hợp của nhiều biện pháp Một nguyên tắc chung là can thiệp
sớm, loại trừ căn nguyên gây bệnh, bổ sung nước và chất điện giải, khống
chế, khắc phục rối loạn tiêu hoá, hấp thu giúp quá trình tiêu hoá trở lại trạng
thái sinh lý bình thường
1.4.2.1 Điều trị nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân chủ yếu trong hội chứng tiêu chảy của lợn là do một số vi
khuẩn gây bệnh đường ruột, bao gồm vi khuẩn hiếu khí, yếm khí tuỳ tiện hoặc
yếm khí bắt buộc Những vi khuẩn thường gặp là E coli, Salmonella spp., Cl
perfringens, Shigella spp., Klebsiella spp., Streptococcus Dùng thuốc
kháng sinh có tác dụng cao với các vi khuẩn như E coli và Salmonella spp
gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con Tuy nhiên, tình trạng kháng kháng sinh
của các chủng vi khuẩn gây bệnh ở vật nuôi ngày càng gia tăng Vì vậy, việc
kiểm tra tính mẫn cảm của vi khuẩn gây bệnh với kháng sinh để lựa chọn loại
kháng sinh thích hợp là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị bệnh
(Radostits và cs, 1994) [62]
1.4.2.2 Điều trị triệu chứng tiêu chảy
Formatted: Font color: Black, Swedish
(Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden)
Trang 38Lợn bị tiêu chảy do E coli khi điều trị, ngoài việc dùng kháng sinh sớm
từ đầu nên dùng kết hợp một số thuốc hay hóa dược có tác dụng ức chế sự sản
sinh và ảnh hưởng của độc tố đường ruột Enterotoxin do vi khuẩn phóng thích
ra Kết hợp sử dụng dung dịch các chất điện giải như dung dịch đường glucose, muối natri, kali cung cấp, bổ sung lượng nước và các chất điện giải
bị mất trong khi tiêu chảy Trong điều trị cần thực hiện tốt chế độ ăn uống, chống nhiễm khuẩn và điều trị hiện tượng mất nước, chất điện giải Trong đó,
bổ sung nước và chất điện giải có vai trò quan trọng vì có tới 80% bệnh súc chết do bệnh lý này (Nguyễn Văn Tâm, Cù Hữu Phú (2006) [32]
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Khảo sát một số đặc tính sinh vật học in vitro của chủng vi khuẩn
Lactobacillus phân lập được dùng chế tạo chế phẩm
2.1.2 Nghiên cứu chế tạo và kiểm nghiệm chế phẩm Lactovet
2.1.3 Thử nghiệm chế phẩm trong phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn con
2.1.4 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con
2.2 NGUYÊN LIỆU DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủng vi khuẩn Lactobacillus phân lập được
- Lợn con sau cai sữa nuôi tại huyện Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh Phúc
- Chế phẩm sinh học Lactovet
2.2.2 Nguyên vật liệu và dụng cụ, trang thiết bị
2.2.2.1 Nguyên vật liệu
* Mẫu nghiên cứu
- Các sản phẩm lên men được thu thập ở khu vực thành phố Thái Nguyên
- Mẫu phân: lấy khoảng 3-5 gam, đựng trong ống nghiệm vô trùng, có
- Chuột trắng khỏe mạnh (trọng lượng 18 – 20 g/con)
- Lợn con sau cai sữa (21- 84 ngày tuổi) nuôi ở huyện Vĩnh Tường –
tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.2.2 Các loại môi trường, hóa chất và dụng cụ, thiết bị
- Các môi trường kiểm tra gồm: nước thịt ống, nước thịt lọ 50ml, thạch
Trang 40+ Các loại môi trường dùng nuôi cấy và phân lập vi khuẩn như XLD agar (Xylose Lysine Deoxycholate Agar), MacConkey agar, thạch máu, thạch
thường, thạch Endo, EMB (Eosin-metyl- Blue) và các môi trường đường, Kligler, VP (Voges Proskauer), MR (Metyl Red)
+ Môi trường pepton water Muller Kauffmann và Rappaport Vassiliadis enrichment Broth
- Các loại hóa chất bao gồm:
+ Thuốc nhuộm Gram, dung dịch Kovac’s, dung dịch chỉ thị Andrade + Muối mật Oxgall (do hãng Sigma cung cấp)
+ Giấy tẩm kháng sinh các loại do hãng Oxoid của Anh, Biorad
và các loại hóa chất khác dùng trong nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu
Triammonium
Tím kết tinh Trung quốc Dung dịch etanol Trung quốc