Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ VÂN ANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH DO GIUN TRÒN... Số hóa bởi trung
Trang 1Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH DO GIUN TRÒN
Trang 2Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH DO GIUN TRÒN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chúng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 4Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng Quản lý và Đào tạo sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ phòng Ký sinh trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, bộ môn Ký sinh trùng - Viện Thú y Quốc gia đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Quang, GS TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS Nguyễn Thị Bích Ngà đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 5Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU 1
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn 3
1.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn 8
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN T SUIS Ở LỢN 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 27
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 28
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Định danh loài giun tròn giống Trichocephalus ký sinh ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn 28
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn T suis gây ra ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn 28
2.3.3 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn 29
2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 29
Trang 6Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ở lợn 29
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn 30
2.4.2.3 Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu, thu nhận trứng giun T suis 31
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun T suis ở ngoại cảnh 32
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu bệnh giun T suis 34
2.4.5 Phương pháp xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn 38
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Kết quả định danh loài giun tròn Trichocephalus spp ký sinh ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn 40
3.1.2 Kết quả định danh loài giun tròn Trichocephalus ký sinh ở lợn tại Bắc Kạn 41
3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn T suis gây ra ở lợn 42
3.2.1 Kết quả điều tra thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun T suis cho lợn nói riêng ở Bắc Kạn 42
3.2.2 Tình hình lợn nhiễm giun T suis ở tỉnh Bắc Kạn 44
3.2.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo giống lợn 48
3.2.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo mùa vụ 50
3.2.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo loại thức ăn chăn nuôi 52
3.2.3 Nghiên cứu sự ô nhiễm, sự tồn tại của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh 57
Trang 7Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3.1.2 Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T suis sau gây nhiễm 62
3.3.1.4 So sánh công thức bạch cầu của lợn đối chứng và gây nhiễm 66
3.3.2 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn nhiễm tự nhiên 72
3.3.2.3 Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể ở ruột già do giun T suis 75
3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 76
3.4.1 Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn 77
3.4.2 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 80
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
T suis : Trichocephalus suis
Trang 9Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang Bảng 3.1 Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn
Trichocephalus spp 40
Bảng 3.2 Kết quả định danh loài giun tròn giống Trichocephalus ký sinh ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn 41
Bảng 3.3 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun T suis cho lợn nói riêng ở tỉnh Bắc Kạn 43
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis lợn ở các địa phương 44
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo tuổi lợn 47
Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo giống lợn 49
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo mùa vụ 51
Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo loại thức ăn chăn nuôi 52
Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo tình trạng vệ sinh thú y 55
Bảng 3.10 Sự ô nhiễm trứng giun T suis ở nền chuồng, xung quanh chuồng nuôi và vườn trồng cây thức ăn cho lợn 57
Bảng 3.11 Thời gian phát triển của trứng giun T suis trong phân lợn 58
Bảng 3.12 Thời gian chết của trứng giun T suis cảm nhiễm trong phân lợn 60
Bảng 3.13 Thời gian hoàn thành vòng đời và tình hình thải trứng của giun T suis sau gây nhiễm 61
Bảng 3.14 Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T suis sau gây nhiễm 63
Bảng 3.15 Sự thay đổi một số chỉ số máu của lợn gây nhiễm 65
Trang 10Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.18 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể 71
Bảng 3.19 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis giữa lợn tiêu chảy và lợn khỏe 73
Bảng 3.20 Tỷ lệ lợn có triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh giun T suis 74
Bảng 3.21 Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể ở ruột già do giun T suis 75
Bảng 3.22 Hiệu lực của hai loại thuốc tẩy giun T suis cho lợn thí nghiệm 77
Bảng 3.23 Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 79
Bảng 3.24 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 80
Trang 11Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang
Hình 1.1: Giun Trichocephalus suis 5
Hình 1.2: Sơ đồ vòng đời giun T suis 6
Hình 3.1: Biểu đồ thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun T suis cho lơn nói riêng ở tỉnh Bắc Kạn 43
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun T suis ở từng địa phương 45
Hình 3.3: Biểu đồ cường độ nhiễm giun T suis ở 5 huyện, thị xã 45
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ lợn nhiễm giun T suis theo lứa tuổi 48
Hình 3.5: Biểu đồ tỉ lệ nhiễm giun T suis theo loại lợn 50
Hình 3.6: Biểu đồ tỉ lệ nhiễm giun T suis theo mùa vụ 52
Hình 3.7: Biểu đồ tỉ lệ nhiễm giun T suis theo loại thức ăn chăn nuôi 54
Hình 3.8: Biểu đồ tỉ lệ nhiễm giun T suis theo tình trạng vệ sinh thú y 56
Hình 3.9: Biểu đồ số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố 66
Hình 3.10: Biểu đồ công thức bạch cầu của lợn ở lô đối chứng và lô gây nhiễm 69
Trang 12Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị cao cho con người (trong 100 gam thịt lợn có 367 kcal và 22 gam protein), nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt (1 lợn thịt có thể thải 2,5 - 4 kg phân /ngày đêm) và là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến khác
Theo định hướng chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 do Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2008: Tổng đàn lợn tăng bình quân 2 % năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp đạt 37 %; sản lượng thịt xẻ các loại đạt 5.500 ngàn tấn, trong đó thịt lợn đạt 63 %, gia cầm 32 %, bò 4 %
Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu trên cần có các giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy chăn nuôi lợn phát triển Tuy nhiên, để ngành chăn nuôi phát triển bền vững thì ngoài việc thực hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú y, đặc biệt trong xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay
Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi
Giun tròn Trichocephalus spp ký sinh ở đường tiêu hoá lợn Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], giun tròn Trichocephalus spp ký sinh đã
gây ra các tổn thương và viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20 % so với lợn không bị bệnh
Trang 13Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía Bắc có số đông dân số làm nông nghiệp, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi Song còn nhiều khó khăn, trở ngại cho nghề chăn nuôi lợn phát triển Với phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, mang tính tận dụng là chủ yếu, đàn lợn nuôi tại Bắc Kạn bị nhiễm ký sinh trùng rất phổ biến, trong đó có bệnh giun tròn
Trichocephalus spp Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về bệnh do Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại
tỉnh Bắc Kạn, vì vậy cũng chưa có biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả
Xuất phát từ yêu cầu thực tế của công tác phòng trừ bệnh ký sinh trùng nhằm mục đích góp phần nâng cao năng xuất chăn nuôi lợn, chúng
tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng
bệnh do giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn và biện pháp phòng trị”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu để có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị bệnh
giun tròn Trichocephalus spp.cho lợn, từ đó góp phần đảm bảo sức khỏe đàn lợn, làm tăng năng xuất chăn nuôi
III Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng chống bệnh giun Trichocephalus spp ở
lợn, có một số đóng góp mới cho khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp cho lợn, nhằm hạn
chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển
Trang 14Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn
1.1.1.1 Vị trí của giun tròn Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], Phan Thế Việt và cs (1977)
[40], vị trí của giun Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân loại
động vật như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis
Theo Skrjabini K.I (1979) [44], con đực có chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm Chiều dài của phần trước trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm) Tỷ lệ chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1 Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; phần chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm
Trang 15Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân
Đuôi con đực vòng xoắn ốc Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn Chiều dài gai nói chung xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; rộng là 0,290 - 0,352 mm
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53
mm Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm) Như vậy, tỷ lệ giữa phần trước
và phần sau là 2,04 : 1 Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ Âm
hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], con đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau
Trang 16Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm
Phan Địch Lân và cs (2005) [20] cho biết: Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ ở đoạn cuối thực quản
Trứng giun T suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 -
0,061 x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp
Hình 1.1: Giun Trichocephalus suis
a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực
(Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005) [20]
1.1.1.3 Vòng đời của giun T suis
Skrjabin K.I (1979) [44] cho biết: vòng đời của giun T suis không cần
vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm
Trang 17Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng
Hình 1.2: Sơ đồ vòng đời giun T suis
Trịnh Văn Thịnh và cs (1985) [36], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] cho
rằng, tuổi thọ của giun T suis ở lợn từ 4 - 5 tháng Chu kỳ sinh học của giun
T suis gồm 2 giai đoạn: một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng
đến ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [10] cho biết: Thời gian hoàn thành vòng
đời của giun T suis là 30 ngày
Theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [6], giun T suis
sống được trong cơ thể lợn 114 ngày
Bonner Stewart T và cs (2000) [42] cho biết: Những ấu trùng của giun
T suis nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và
phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già
Trang 18Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [20], giun T suis cái đẻ trứng trong
ruột già ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19] cho biết: Điều kiện thuận lợi nhất cho
sự phát triển của trứng giun T suis thành trứng cảm nhiễm ở ngoài môi
trường là nhiệt độ từ 18 - 300C, ẩm độ 80 - 85 %; trứng giun T suis phát triển
thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Giun T suis cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra
ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài
giun Trichocephalus, nhưng đối với T suis cần 30 ngày (Nguyễn Thị Kim
Lan và cs, 2012 [16])
1.1.1.4 Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh
Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [27], ở ẩm độ tối đa (gần 100 %) nếu
ở nhiệt độ 22oC thì trứng phát triển được đến giai đoạn ấu trùng Nhưng cũng điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30oC thì trứng sẽ chết sau 1 tháng
Đỗ Dương Thái và cs (1975) [29] cho rằng, trứng giun T suis bị hủy hoại nếu ẩm độ dưới 30 % kéo dài Mặt khác, trứng giun T suis có
thể bị diệt bởi những tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời Trong cùng một thời gian dưới tác dụng của tia tử ngoại thì trứng đã phát triển thành ấu trùng bị diệt nhanh hơn trứng non
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22], trứng giun T suis bị diệt dưới
tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên tới
45oC sẽ làm hủy trứng giun T suis Tuy nhiên, trứng non có khả năng chịu
đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng
Trang 19Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ở điều kiện ngoại cảnh trứng giun T suis phát triển thuận lợi nhất
ở nhiệt độ từ 18 - 30oC, ẩm độ 80 - 85 % và bị diệt trong các chất sát trùng như: dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [19])
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: trứng giun T suis có vỏ dày
nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh Theo Lehand S (2005) [55],
trứng giun T suis có thể tồn tại rất lâu (vài năm) trong đất Sự phát triển của
trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: ở 30oC cần 17 ngày, ở nhiệt độ thấp hơn, thời gian này kéo dài hơn Ở 10oC trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Nhiệt độ từ 45oC trở lên diệt được trứng giun T suis
1.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn
1.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [40], lợn nhà và lợn rừng đều có khả
năng nhiễm giun T suis
Nghiên cứu của Nguyễn Phước Tương (2002) [39] cho biết: Người
nuốt phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay trong thức ăn thực vật chưa nấu chín, sau khi vào ruột ấu trùng phát triển thành giun T suis trưởng thành
khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người
Theo Bùi Quý Huy (2006) [7], giun T suis ở lợn và Trichuris trichiura
ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng nguyên Do
đó, bệnh giun T suis ở lợn dễ lây sang người
* Tuổi mắc bệnh
Bùi Lập (1967) đã mổ khám và xét nghiệm mẫu phân lợn ở các vùng
khác nhau đưa ra nhận xét, tỷ lệ nhiễm T suis là 53,3 % (dẫn theo Trịnh Văn
Thịnh và cs, 1978 [34]) Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi (51,7 - 75 %)
Trang 20Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bùi Lập, Nguyễn Đăng Khải (1979) [21]: Mổ khám 782 lợn vùng
Trung Trung Bộ thấy tỷ lệ nhiễm T suis ở vùng đồng bằng Trung Trung Bộ
là 15,78 %; vùng núi Trung Trung Bộ là 34,78 % và Tây Nguyên là 48,95 % Trong đó, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở lứa tuổi 2 - 4 tháng, sau đó giảm dần
Phạm Văn Khuê (1982) [9] nghiên cứu biến động nhiễm giun sán theo tuổi lợn tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Qua kiểm tra 289 lợn ở 4 lứa tuổi (dưới 2 tháng, 3 - 4 tháng, 5 - 7 tháng và trên 8 tháng), kết quả cho thấy: Lợn con dưới 2 tháng tuổi nhiễm tới 12 loài trong số 13 loài giun sán, trong
đó T suis nhiễm tới 30,7 %
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi
nhạy cảm nhất với giun T suis Tại hợp tác xã Đông Mỹ - Hà Nội qua điều tra thấy tỷ lệ lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm giun T suis là 20,8 % Ngày tuổi bình quân phát hiện trứng giun T suis trong phân lợn nội là 74 ngày, lợn lai
Landrace là 56 ngày, lợn lai Berkshire là 61 ngày, lợn lai Yorkshire 76 ngày
2 Đồng bằng sông Hồng: 24,8 %
3 Bắc Trung Bộ: 13,9 %
4 Nam Trung Bộ:
+ Đồng bằng: 17,5 % + Miền núi: 34,7 % 5.Tây Nguyên: 20,8 %
6.Tây Nam Bộ: 9,4 %
7 Đông Nam Bộ: 13,1%
Trang 21Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tác giả cho biết T suis phân bố đều ở các vùng, tỷ lệ nhiễm cao
nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi sau đó giảm dần Đối với lợn lớn thì nó ít gây tác hại
Lương Văn Huấn và cs (1997) [6] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4 %
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2 %
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5 %
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4 %
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], bệnh giun T suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19] cho biết: bệnh thường xảy ra đối với lợn dưới 6 tháng tuổi, lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun nhẹ hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng
* Đường lây nhiễm
Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [19])
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [16] cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian Trứng cảm nhiễm xâm nhập vào
cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có
lẫn trứng giun T suis
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian bài xuất trứng theo phân ra ngoài ngoại cảnh Vì vậy, trứng được phát triển rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng bên trong)
Trang 22Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Mùa vụ
Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) đã mổ khám 89 lợn
ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Bình
Định cho biết: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis có sự khác nhau giữa các
vùng, sự khác nhau này có liên quan tới khí hậu của từng vùng Vùng đồng bằng do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng, có tổng số giờ nắng 2000 –
2300 giờ /năm, nhiệt độ 38 - 40oC nên tỷ lệ nhiễm các loài giun sán nói chung
đều thấp, đặc biệt là các loài giun sán nhiễm trực tiếp như T suis (dẫn theo
Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [34])
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19], bệnh giun T suis lây nhiễm
quanh năm nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu Mùa đông, thời tiết lạnh, độ ẩm thấp không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng cảm nhiễm nên tỷ lệ nhiễm giun trong đàn lợn giảm đi
* Phương thức chăn nuôi
Giun tròn T suis là loài phát triển trực tiếp nên tỷ lệ nhiễm trong đàn
lợn là rất cao, lên đến 100 % Còn những loài giun sán phải qua ký chủ trung gian thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thức ăn trồng ở nước hay
ở cạn, sự tồn tại của ký chủ trung gian và điều kiện vệ sinh chăn nuôi (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [34])
Phan Văn Lan (1970) đã mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu
phân tại xã Yên Nguyên - Tuyên Quang, kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm T suis
ở lợn nuôi nhốt là 30 %; lợn nuôi thả rông là 47 % (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh
và cs 1978 [34])
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19] nhận xét rằng: các cơ sở chăn nuôi có điều kiện vệ sinh kém thì lợn bị nhiễm với tỷ lệ cao, gây thiệt hại đáng kể cho đàn lợn con
Trang 23Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Yếu tố Srtess
Các yếu tố như: chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ và độ ẩm môi trường thay đổi đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh do giun T suis ở lợn
1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11] cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp
không qua vật chủ trung gian Trứng giun T suis cảm nhiễm xâm nhập vào cơ thể
vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng giun
Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng và kết tràng
Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn, giun T suis còn gây tác
hại nặng nề cho lợn
- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], Phạm
Sỹ Lăng và cs (2006) [18], phần đầu của giun T suis cắm sâu vào thành ruột
gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ
- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], giun T suis
ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm nhập Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn
- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun bài tiết ra làm
cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa
1.1.2.3 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
- Triệu chứng
Skrjabin K.I (1979) [44] nhận xét: Triệu chứng bệnh giun T suis
phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm, khi nhiễm nặng lợn có biểu hiện da
khô, lông xù, ỉa chảy rồi bị táo bón Độc tố do T suis tiết ra có tác động
gây bệnh mạnh, làm vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị phân hủy
Trang 24Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], lợn bị bệnh giun T suis có
những biểu hiện lâm sàng giống hội chứng hồng lỵ Do đó, nhiều trường hợp nghi bệnh lỵ nhưng điều trị bằng kháng sinh không khỏi, khi xét
nghiệm phân mới phát hiện giun T suis ký sinh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], khi lợn nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ Khi nặng thì con vật gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật bị kiết lỵ Nếu nhiễm bệnh nhân tạo với lượng trứng lớn (20.000 - 200.000 trứng), thì triệu chứng biểu hiện rất nặng:
ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết Lợn bị bệnh mạn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
Theo Trần Thị Dân (2008) [2], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không
có nhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước còn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu
bù trừ nước khi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột
già do tác động của giun T suis ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu
nước, dẫn đến tiêu chảy
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19] cho biết: Lợn ở lứa tuổi 2 - 4 tháng nhiễm bệnh nặng xuất hiện các dấu hiệu như ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng, sau phân sệt có nhiều chất nhầy, có lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng rặn nhưng lượng phân thải ra rất ít Nếu không được điều trị lợn sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16]: Khi nhiễm nhẹ thì triệu trứng không rõ, khi nhiễm nặng thì con vật ăn kém, gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy, trong phân có lẫn máu và những mảnh niêm mạc ruột bị bong tróc Con vật có khi bị kiết lỵ, đi ngoài liên tục nhưng mỗi lần đi rất ít phân, phân lẫn máu và chất nhầy Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ và lợn 6 tháng tuổi trong giai đoạn vỗ béo thì rất ít bị bệnh
Trang 25Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Bệnh tích
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [35], xác lợn chết gầy, có nhiều
giun T suis ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu đầu
vào niêm mạc ruột Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm Niêm mạc ruột bị bong ra
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] cho biết: Giun T suis ký sinh gây
viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết loét và tạo ra nhiều niêm dịch
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19] mổ lợn bệnh thấy: Niêm mạc ruột
bị viêm, xuất huyết Trên niêm mạc có nhiều giun trưởng thành cắm sâu vào niêm mạc ruột
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16], lợn bị bệnh giun T suis xác
chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được Trên niêm mạc ruột có những lỗ loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, toàn
bộ ruột già có giun T suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần sùi, xuất
huyết, lớp chất nhầy trên niêm mạc có màu hồng sẫm Niêm mạc ruột có thể bị bong tróc từng mảng
1.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn
Việc chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn có thể dựa vào đặc điểm dịch
tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân lợn và kiểm tra bệnh tích
* Đối với lợn còn sống
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [11], để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Trang 26Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
+ Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun T suis ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun T suis ở lợn
+ Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun
- Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ:
+ Cần chú ý những triệu chứng lâm sàng như: lợn kém ăn, gầy yếu, da khô, lông xù, tiêu chảy
+ Về đặc điểm dịch tễ học cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình trạng vệ sinh thú y
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác bởi các bệnh ký sinh trùng thường có triệu chứng lâm sàng tương tự nhau: rối loạn tiêu hóa, gầy, da khô, lông xù Vì vậy, để chẩn
đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng giun T suis
Theo Phan Lục (2006) [24], có 4 phương pháp xét nghiệm phân là: Phương pháp trực tiếp, phương pháp Fullerborn, phương pháp Darling và phương pháp Cherbovick
Trang 27Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lít nước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bề mặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
Cách xét nghiệm phân: Lấy khoảng 5 - 10 gam phân của con vật cần xét nghiệm cho vào cốc thủy tinh Cho nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối lượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua lưới lọc bỏ phần cặn bã, dung dịch lọc được đổ vào ống penicillin cho đầy đến miệng Đậy phiến kính lên trên ống cho tiếp xúc với mặt nước, để khoảng 15 phút rồi lấy phiến kính ra soi dưới kính hiển
vi tìm trứng giun
- Phương pháp Darling
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl bão
hòa và trứng giun, đồng thời lợi dụng lực ly tâm để phân ly trứng giun T suis ra
khỏi phân
Cách xét nghiệm: Lấy khoảng 5 - 10 gam phân của con vật cần xét nghiệm cho vào cốc thủy tinh, cho tiếp lượng nước sạch gấp 10 lần thể tích khối lượng phân vào rồi dùng đũa thủy tinh khuấy đều và lọc qua lưới lọc Phần cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và ly tâm với tốc độ 3000 vòng /phút trong thời gian từ 3 - 5 phút Sau đó, bỏ lớp nước phía trên, giữ lại cặn trong các ống ly tâm, cho tiếp nước muối bão hòa vào các ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hòa đều trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần hai với tốc độ và thời gian như trên Dùng vòng sắt vớt lớp váng nổi lên trên bề mặt đặt lên trên phiến kính sạch và soi dưới kính hiển
vi tìm trứng giun
- Phương pháp Cherbovick:
Phương pháp này hoàn toàn giống phương pháp Darling, chỉ khác dung dịch được sử dụng là dung dịch MgSO4 bão hòa
Trang 28Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để xác định cường độ nhiễm có thể dùng phương pháp đếm số trứng
giun trên buồng đếm Mc Master nhằm xác định số trứng giun T suis /gam
phân Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm gồm các bước sau:
+ Bước 1: Cân 4 g phân vào cốc thủy tinh, thêm khoảng 100 - 150 ml nước lã sạch, khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1 - 2 giờ, gạt bỏ nước giữ lại cặn
+ Bước 2: Cho 56 ml dung dịch nước muối bão hòa vào, khuấy đều cho tan cặn Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút 1 ml dung dịch phân nhỏ đầy hai buồng đếm Mc Master Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi độ phóng đại 10 x 10
Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của hai buồng đếm rồi tính theo công thức sau:
Đối với nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán khi con vật chết là
chính xác nhất Việc chẩn đoán bệnh giun T suis được tiến hành qua phương pháp
mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun T suis Khi phát hiện nhẹ
nhàng lấy giun ra và để chết tự nhiên trong nước sạch, sau đó bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịch Barbagallo gồm 30 ml Formol; 7,5 g NaCl; nước cất
1000 ml) và có ghi nhãn đầy đủ (Chu Thị Thơm và cs, 2006 [37])
1.1.2.5 Phòng, trị bệnh giun T suis cho lợn
* Biện pháp phòng bệnh
Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [3] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch
Trang 29Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996 [22])
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [10], biện pháp phòng bệnh tổng hợp đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: Định kỳ tẩy giun cho lợn, mỗi năm
tẩy mấy lần là tuỳ điều kiện của từng vùng và từng loại lợn
- Diệt căn bệnh bên ngoài: Trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là
nguyên nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn Có thể diệt trứng giun bằng cách
ủ phân hoặc các biện pháp lý hoá Các loại thuốc hoá học diệt trứng giun có hiệu quả như: creolin, axit cacbonic kiềm tính
Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1996) [4] cho biết: Ủ phân
theo phương pháp nhiệt sinh học là cách tốt nhất để diệt trứng giun T suis
Nhiệt độ môi trường xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ trong hố
ủ Trong cùng một hố ủ, về mùa hè có thể duy trì ở nhiệt độ 50oC nhưng vào mùa đông nhiệt độ chỉ là 37oC Tuy nhiên, nếu ủ phân kín với lá xanh, rắc vôi, lân thì nhiệt độ trong hố ủ có thể lên tới 50oC, khi đó trứng giun T suis sẽ bị
diệt ở nhiệt độ cao
Hagsten Dr (2000) [43] cho rằng: Thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết, điều này phụ thuộc vào sự ô nhiễm ở nơi đó Mức độ nhiễm cao là những nơi lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn Để nâng cao hiệu quả trong việc phòng bệnh ký sinh trùng
đường tiêu hóa nói chung và bệnh giun T suis nói riêng cần thực hiện tốt các
giải pháp sau:
Trang 30Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị chăn nuôi sạch sẽ Không sử dụng chung các dụng cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng
- Cơ sở chăn nuôi phải được xây dựng nơi cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè
- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom hàng ngày và ủ kỹ đúng nơi quy định
- Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong
tự nhiên
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực
- Thức ăn phải đảm bảo, nước uống sạch sẽ
- Có kế hoạch tẩy giun T suis định kỳ cho lợn
Phan Lục (2006) [24], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37] cho biết: Để
phòng bệnh giun T suis phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn
nuôi Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun, định kỳ tẩy giun Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], để phòng bệnh T suis cần thực
hiện tốt các giải pháp sau:
+ Thực hiện vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sự phát tán trứng giun
+ Đồng thời, sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định kỳ: Dung dịch NaOH - 2 %, cresyl 3 %, nước vôi 10 % để diệt trứng giun
+ Ở các cơ sở bị ô nhiễm có thể sử dụng một trong những hóa dược đặc hiệu tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn lứa tuổi từ 2 - 4 tháng
Trang 31Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Biện pháp trị bệnh
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22] đã khuyến cáo, để tẩy giun T suis có
hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên, phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó, tẩy cho những lợn bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là vào tháng 3 - 4 (mùa Xuân) và tháng 8 - 9 (mùa Thu) Lượng phân lợn thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc
Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [23] cho biết: Levamisole tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha
nước uống, có tác dụng rộng với giun T suis Ngoài ra, Fenbendazol tên
thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong
3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T suis
Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết, các thuốc thường được dùng để điều trị bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá là:
Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng
thành Hiệu lực tẩy giun kết hạt là 72 - 99 %
Ivermectin: tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Tiêm
dưới da liều 0,3 mg /kg TT lợn
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [25], mebendazol là thuốc chủ yếu tẩy giun tròn Thuốc có tác dụng rộng, diệt cả ấu trùng và giun trưởng thành Liều dùng cho lợn là 2 gam /10 kg TT
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [30]: Có thể dùng Tayzu để tẩy
giun T suis cho lợn với liều 4g /30 - 40 kg TT, trộn vào thức ăn hoặc dùng
Levasol 7,5 % tiêm dưới da với liều 1 ml /10kg TT
Trang 32Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [17], sử dụng Tetramisol để tẩy giun
T suis cho lợn có hiệu quả cao và an toàn Thuốc hầu như không thấm qua
đường tiêu hóa, bài tiết nhiều qua phân, ít thấm vào sữa, thuốc dung nạp tốt đối với gia súc có chửa và gia súc non, không gây ảnh hưởng cảm quan đối với thịt
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [16], việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt được những yêu cầu sau:
Trước hết, phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức
là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và
dễ dùng nhất
Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt,
bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho con vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng tẩy nhiều loài giun tròn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [16] thì có các loại thuốc điều trị giun tròn như: Menbendazol, Levamisol, Ivermectin, Febentel, Oxybendazol
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN T SUIS Ở LỢN
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [32], tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn từ 2 - 6
tháng tuổi là 4,3 - 30 %; lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8 % Tỷ lệ nhiễm
Trang 33Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thấp nhất trong những điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và nuôi dưỡng tốt (2,5 %), điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng cao (23 %)
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [34], kết quả điều tra ở 37 nông trường quốc doanh (1965 - 1968) trên 372 lợn mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm một
số loài giun sán là: Ascaris suum 55 - 100 % (22 - 88 giun /lợn); T suis cao
nhất 100 % (từ 155 đến vô số giun trên một lợn)
Phạm Văn Khuê và cs (1982) [9] cho biết, tỷ lệ nhiễm T suis ở lợn của
một số tỉnh phía Bắc: Nghĩa Lộ nhiễm 40,3 %; Quảng Ninh 33,7 %; Bắc Giang, Bắc Ninh 27,3 %; Thanh Hoá 12,5 %; Hưng Yên 15,1 %; Nam Định,
Hà Nam 33,3 %; Hà Tĩnh 19,4 %; cường độ nhiễm cao, có trường hợp thấy
1219 giun T suis ở ruột già của một lợn
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [22]: Ở trong đất ẩm và nhiệt độ 15 - 370 C trứng giun T suis phát triển thành trứng có sức cảm nhiễm
sau 2 - 4 tuần
Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1997) [6] cho biết:
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lợn nhiễm T suis với tỷ lệ 14 %;
Quảng Nam - Đà Nẵng 8,75 %; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5 %; Phú Yên, Khánh Hoà 8,3 %; Lâm Đồng 10 %; Đồng Nai 26,3 %; Bình Dương, Bình Phước 10 %; Tây Ninh 8,6 %; thành phố Hồ Chí Minh 39,0 %; Long An 11 %, Tiền Giang 2 %; Cần Thơ, Sóc Trăng 8,69 - 30 %
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [12] khi nghiên cứu T suis và các loại
ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn nuôi ở Thái
Nguyên nhiễm T suis, Oesophagostomum sp và Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm T suis 23,01 %; Oesophagostomum 20,86 %; Fasciolopsis buski 18,71 %; tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01 %; 23,85 % và 16,95 %, mức độ nhiễm T suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn bình thường
Trang 34
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Kết quả nghiên cứu của Powers (1959) cho biết: Có từ 30,9 % đến 85 %
lợn ở các lứa tuổi khác nhau ở vùng Wisconsin bị nhiễm T suis (dẫn theo Hale
O M và cs (1979) [49])
Rutter J.M và Beer R.J.S (1974) [62], khi mổ khám những lợn bị
bệnh giun T suis thấy: Viêm ruột tăng, thành ruột già dày lên và phù
thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế bào hoại tử bong ra
Kết quả nghiên cứu của Powers (1959) cho biết: Có từ 30,9 % đến 85 % lợn ở
các lứa tuổi khác nhau ở vùng Wisconsin bị nhiễm T suis (dẫn theo Hale O M
và cs (1979) [49])
Lợn thịt ở một số vùng thuộc miền Nam nước Mỹ thường xuyên bị
nhiễm giun T suis Bệnh giun T suis trong tự nhiên hay thực nghiệm đều
có những biểu hiện như: ỉa chảy kèm theo sụt cân, sinh trưởng chậm, mất nước, gầy còm Khi nhiễm nặng lợn có thể thiếu máu
Hale O M và Stewart T B (1979) [49] đã tiến hành thí nghiệm sau:
48 lợn ở 83 ngày tuổi có khối lượng trung bình 25,7 kg /con Căn cứ vào tính biệt và khối lượng ban đầu, số lợn này chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 12 con Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm bằng 1 trong 4 mức:
Trang 35Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
những trứng đã phát triển thành trứng có sức cảm nhiễm (trứng có ấu trùng) mới được sử dụng Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm qua đường tiêu hóa bằng một số lượng trứng như đã trình bày ở trên Lợn thí nghiệm được theo dõi trong vòng 77 ngày
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Khối lượng của lợn khi kết thúc thí nghiệm và tăng trọng hàng ngày của lợn gây nhiễm bị ảnh hưởng dưới tác
động của giun T suis Mức độ ảnh hưởng tỷ lệ thuận với số lượng trứng giun
T suis đã gây nhiễm ban đầu Kết thúc thí nghiệm, lợn không bị nhiễm giun
T suis nặng hơn 23 % và tăng trọng hàng ngày nhanh hơn 35 % so với những lợn bị nhiễm trung bình 1650 trứng giun T suis /kg TT (P < 0,05)
Vào ngày thứ 21 sau gây nhiễm, khối lượng trung bình của những lợn gây nhiễm bắt đầu giảm xuống so với những lợn đối chứng (nhóm 1) Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Powers (1960) khi tác giả cho rằng có
sự khác nhau về khối lượng giữa nhóm lợn đối chứng và nhóm lợn thí nghiệm trong 3 tuần đầu sau gây nhiễm
Kết quả sau 77 ngày, tất cả những lợn gây nhiễm (nhóm 2, 3 và 4) đều
bị tiêu chảy với những mức độ khác nhau Lợn nhóm 4 bị nặng nhất: Có 4 lợn trong nhóm 4 bị ỉa ra máu, trong khi đó nhóm 3 có 2 lợn ỉa ra máu
Khi mổ khám những lợn được gây nhiễm thấy có sự khác nhau lớn về
số lượng giun T suis ký sinh Số lượng giun biến động từ 0 - 4410 ở nhóm 2 ;
từ 0 - 8850 ở nhóm 3 và từ 10 - 3350 ở nhóm 4 Số lượng giun T suis trung
bình khi mổ khám ở lợn thuộc nhóm 2, nhóm 3 và nhóm 4 tương ứng là 1067,
2386 và 1532 Lợn chỉ tăng được 10,9 kg trong 77 ngày Không tìm thấy giun
T suis khi mổ khám những lợn thuộc nhóm 1
Johanes Kaufmann (1996) [52] cho biết: Ivermectin với liều 300 µm /kg
TT cho hiệu quả tốt trong 1 - 2 tuần Tuy nhiên, cần chú ý tới lượng sữa của lợn
mẹ khi sử dụng thuốc tẩy
Trang 36Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Bowman D.D (1999) [45], biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống nhất: Phenothiazin là một trong những thuốc ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và có tác dụng tẩy cả giun non nên được khuyến cáo dùng mang tính chất phòng bệnh
Mejer H và cs (2001) [56] cho biết: Ngoài Ascaris suum thì Oesophagostomum và T suis cũng rất phổ biến ở lợn tại Đan Mạch Oesophagostomum và T suis ký sinh ở ruột già (manh tràng) nhưng những tác động bệnh lý do chúng gây ra là rất đáng kể T suis nhiễm ở mức nặng ảnh
hưởng đến tăng trọng và có thể gây chết nhiều lợn con
Pedersen S và cs (2001) [59] đã nghiên cứu ảnh hưởng của giun T suis
và A suum ký sinh đến sự thiếu sắt của cơ thể lợn, 62 lợn ở 10 tuần tuổi được chia làm 2 lô: Lô 1 gây nhiễm đồng thời 4500 trứng giun T suis và 1200 trứng giun A suum Lô 2: Đối chứng Khẩu phần ăn của lợn ở 2 lô là như nhau Kết quả cho thấy, giun T suis và A suum ký sinh đã làm cho cơ thể lợn
thiếu sắt, ngoài ra số lượng hồng cầu trong máu của những lợn này giảm thấp
Theo Leland S (2005) [55]: T suis ký sinh ở lợn làm niêm mạc ruột bị
tổn thương gây xuất huyết, lợn bệnh thường có biểu hiện rối loạn tiêu hóa
Ngoài ra, trứng giun T suis có thể tồn tại trong đất, khi lợn ăn phải trứng này,
trứng vào ruột, nở ra ấu trùng và phát triển thành giun trưởng thành sau 4 - 5 tuần Vì vậy, lợn cần được tẩy giun định kỳ
Andrzej Polozowski, Jan Zielinski, Ewa Zielinska (2005) [66], đã nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến tỷ lệ và cường độ nhiễm ký sinh trùng lợn Tiến hành kiểm tra trên 100 lợn từ 11 trang trại nhỏ ở vùng Wielkopolskie, tùy điều kiện chăn nuôi chia số trang trại trên thành 2 nhóm: A và
B Nhóm A: Phân và chất thải được xử lý hàng ngày, máng ăn được cọ rửa sạch
sẽ, lượng ánh sáng và chế độ thông gió được đảm bảo, chuồng trại được vệ sinh,
Trang 37Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khử trùng tiêu độc thường xuyên Nhóm B: Phân lợn và các chất thải được xử lý sau 3 ngày hoặc lâu hơn, máng ăn ít được cọ rửa, chuồng trại ẩm thấp và tối, vấn
đề khử trùng tiêu độc chuồng trại không được chú ý
Kết quả cho thấy: Lợn nhóm A chỉ nhiễm 2 loài giun
Oesophagostomum spp và Ascaris suum, trong khi lợn nhóm B ngoài 2 loài trên còn xuất hiện T suis, Stronggyloides ransomi và coccidia Tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng ở lợn nhóm A (21,4%) thấp hơn rất nhiều so với lợn nhóm B
(91,4%) trong đó, tỷ lệ nhiễm T suis là 5,2% Tác giả nhận xét: Phương thức
chăn nuôi ảnh hưởng đến sự xuất hiện thành phần loài cũng như tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng lợn
Đây là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới khả năng
nhiễm T suis trong đàn lợn
Helene Kringel và cs (2006) [50] đã làm thí nghiệm sau:
Lô thí nghiệm: Gây nhiễm 40 lợn với 5000 trứng giun T suis /lợn
Lô đối chứng: 40 lợn Số lợn của 2 nhóm được nuôi trong những điều kiện tương tự nhau và theo dõi từ tuần 1 - 11 Kết quả mổ khám lợn thí
nghiệm đã thu được những giun T suis ký sinh
Kết quả nghiên cứu mô học cho thấy sự xuất hiện của T suis gắn liền
với những biến đổi bệnh lý đường ruột lợn Tại niêm mạc manh tràng của những lợn bị nhiễm, số lượng bạch cầu ái toan tăng lên ở tuần thứ 5 Số lượng đại thực bào tăng đáng kể từ tuần thứ 5 - 11 sau gây nhiễm
Jarvis Toivo và cs (2007) [51], nghiên cứu về nội ký sinh trùng lợn tại một trang trại nuôi lợn rừng ở Estonia, thấy tỷ lệ nhiễm các loài như sau:
Oesophagostomum spp 64 %, Trichuris suis 21 %, Metastrongylus spp 7 %
và Eimeria spp 100 %
Trang 38Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn các lứa tuổi nuôi tại nông hộ, trại gia đình và tập thể ở tỉnh Bắc Kạn
- Bệnh giun T suis ở lợn
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu phân tươi của lợn; mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi, mẫu đất bề mặt vườn trồng cây thức ăn cho lợn
- Trứng giun T suis, trứng giun T suis cảm nhiễm (để bố trí các thí
nghiệm xác định sự phát triển và khả năng sống ở ngoại cảnh)
- Lợn các lứa tuổi (mổ khám giun T suis)
- Lợn 1 tháng tuổi: 10 con (5 đối chứng, 5 gây nhiễm)
- Kính hiển vi quang học Labophot - 2 gắn máy ảnh và màn hình, buồng đếm Mc Master, máy li tâm điện, máy phân tích máu ABX Micos, máy cắt cúp tổ chức Microtom, tủ sấy
- Các hoá chất: dung dịch muối NaCl bão hoà, dung dịch Barbagallo (gồm: Formol 38 %: 30 ml; NaCl tinh khiết: 7,5 gam; nước cất: 1000 ml) và dụng cụ thí nghiệm khác
- Các thuốc tẩy giun T suis: Levamisol, Hanmectin - 25
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm triển khai đề tài:
Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trang trại chăn nuôi lợn với quy mô khác nhau ở một số huyện thuộc tỉnh Bắc Kạn
- Địa điểm xét nghiệm, phân tích và xử lý mẫu:
Trang 39Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Phòng thí nghiệm - Khoa chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
+ Phòng ký sinh trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
+ Xét nghiệm các chỉ số sinh lý trên máy phân tích huyết học lade tự động Cellta - Mek - 6420k - Nihon Kohden (Nhật Bản)
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 07 năm 2012 đến tháng 07 năm 2013
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Định danh loài giun tròn giống Trichocephalus ký sinh ở lợn tại
tỉnh Bắc Kạn
- Mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn giống Trichocephalus
- Định danh loài giun tròn giống Trichocephalus ký sinh ở lợn tại tỉnh
2.3.2.2 Tình hình nhiễm giun T suis ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis ở các địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo tuổi lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo giống lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo loại thức ăn chăn nuôi
2.3.2.3 Nghiên cứu sự ô nhiễm, sự tồn tại của trứng giun T suis ở ngoại cảnh
- Sự ô nhiễm trứng giun T suis ở nền chuồng, xung quanh chuồng nuôi
và vườn trồng cây thức ăn cho lợn
- Sự phát triển của trứng giun T suis trong phân lợn
Trang 40Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Khả năng sống của trứng giun T suis cảm nhiễm trong phân lợn
2.3.3 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn tại tỉnh Bắc Kạn
2.3.3.1 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn gây nhiễm
- Thời gian hoàn thành vòng đời và tình hình thải trứng của giun T suis
sau gây nhiễm
- Biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun T suis sau gây nhiễm
- Sự thay đổi một số chỉ số máu của lợn trước và sau khi gây nhiễm
giun T suis
- Bệnh tích đại thể và vi thể của lợn mắc bệnh giun T suis do gây nhiễm
2.3.3.2 Nghiên cứu bệnh giun T suis ở lợn nhiễm tự nhiên
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis giữa lợn tiêu chảy và lợn khỏe
- Tỷ lệ lợn có biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh giun T suis ở một
số địa phương
- Tỷ lệ lợn mắc bệnh giun T suis có bệnh tích đại thể ở ruột già
2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn
2.3.4.1 Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy giun T suis
- Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn thí nghiệm
- Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa
- Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa
2.3.4.2 Đề xuất và áp dụng quy trình phòng trị bệnh giun T suis cho lợn
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp xác định thành phần loài giun T.suis ký sinh ở lợn 2.4.1.1 Phương pháp mổ khám lợn
Áp dụng phương pháp mổ khám phi toàn diện cơ quan tiêu hoá của
Skrjabin và cs (1928) [44] Thu lượm giun T suis trong chất chứa ruột già
bằng phương pháp lắng cặn Bendek (1943), thu lượm hết giun còn bám trên niêm mạc