1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng

87 597 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ MAI TRANG Tên đề tài: SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN VÀ BỘT CỎ STYLO

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ MAI TRANG

Tên đề tài:

SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ SẮN VÀ BỘT CỎ STYLO TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG

TRỨNG CỦA GÀ ĐẺ BỐ MẸ LƯƠNG PHƯỢNG

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số : 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Từ Quang Hiển

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gà ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đã có từ lâu đời, nó chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi Vì nó cung cấp một lượng thịt rất lớn cho nhu cầu con người Ngoài ra nó còn cung cấp một khối lượng phân bón lớn cho ngành trồng trọt

Trên thế giới, bột lá, bột cỏ (gọi chung là bột lá) được coi là thành phần không thể thiếu trong thức ăn của gia súc gia cầm Ở nước ta, bột lá còn ít được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Nhiều nhà khoa học ở trên thế giới và trong nước, đã nghiên cứu và kết luận rằng vật nuôi được ăn khẩu phần có bột

lá cây thức ăn xanh thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn so với khẩu phần không có bột lá cây thức ăn xanh Ngoài ra sản phẩm còn có chất lượng tốt hơn (thịt, trứng thơm ngon và có màu sắc hấp dẫn hơn…)

Ở một số nước trên thế giới, việc sản xuất bột lá cây thức ăn xanh đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến như Colombia, Thái Lan, Ấn Độ, Philipin… Các loại thực vật thường được trồng để sản xuất bột lá ở các châu lục như sau: Ở Châu Á (Philipin, Ấn Độ) là keo giậu và Châu Mỹ (Braxin, Colombia) là sắn

Lá sắn rất giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein, tỷ lệ protein trung bình trong lá sắn tươi từ 6,50 - 7,00 % (Manuel Valdivie và cs, 2008) [75] Ngoài

ra nó còn chứa một lượng đáng kể carotenoid có tác dụng làm tăng độ đậm màu lòng đỏ trứng gà Lá sắn dễ làm khô (phơi nắng hoặc sấy), dễ bảo quản Tuy nhiên, lá sắn có chứa độc tố HCN

Cỏ Stylo cũng chứa một hàm lượng protein khá cao, cỏ Stylo (Stylosanthes

guianensis) có tỷ lệ protein từ 16,7 đến 18,1 % VCK (khi trưởng thành) Đối với

chăn nuôi lợn và gia cầm người ta sử dụng cỏ stylo dưới dạng bột cỏ Hàm lượng

Trang 3

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

caroten trong bột cỏ stylo dao động từ 200 – 250 mg/ kg VCK cùng với

xanthophylls, nó có thể là một nguồn sắc tố tốt cho da và lòng đỏ trứng gà

Đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng bột lá sắn và bột cỏ stylo trong chăn nuôi gà đẻ Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào so sánh ảnh hưởng của 2 loại bột lá này đến năng suất và chất lượng trứng trên cùng một giống gà đẻ

Để giải quyết vấn đề nêu trên và nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất,

chúng tôi thực hiện đề tài: “So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ Stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ Lương Phượng”

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các trang trại chăn nuôi gà có cơ sở khoa học để lựa chọn BLS hay BC stylo phối hợp vào khẩu phần ăn của gà đẻ bố mẹ ở cơ sở của mình

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu về cây sắn và cây cỏ stylo

1.1.1 Giới thiệu về cây sắn

1.1.1.1 Tên khoa học

Cây sắn thuộc giới Plantae, bộ Malpighiales, họ Euphorbiaceae, phân

họ Crtonoideae, tông Manihoteae, chi Manihot, loài M esculenta Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, sắn còn có một số tên gọi khác là

cassava, manioc, tapioca, maniva cassava,… ở Việt Nam cây sắn còn được gọi là cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu…

1.1.1.2 Nguồn gốc phân bố

Cây sắn được bắt nguồn từ 4 trung tâm lớn, đó là: (1) Guatemala, (2) Mexico, (3) Đông Brazil và Bolivia, (4) Tây Bắc Argentina và dọc theo bờ biển vùng Sarana thuộc miền Tây Bắc của Nam Mỹ (Jaladudin, 1977) [63] Ngày nay sắn được trồng hầu hết ở các nước có vĩ độ từ 30oN đến 30o

S và tập trung chủ yếu ở 106 nước thuộc Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Thái Bình Dương (Silvestre và Arraudeau, 1990 [22]; Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [19]

Ở Việt Nam, cây sắn là một cây hoa màu truyền thống và quan trọng của nhân dân ta, nhất là khu vực trung du và miền núi phía Bắc

1.1.1.3 Năng suất chất xanh

Từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn rau xanh cho người và gia súc Việc trồng sắn thu lá cũng có nhiều hứa hẹn, cũng có thể thu được 30 tấn lá tươi và sản xuất được trên dưới 8 tấn bột lá/ha/năm

Mật độ hay khoảng cách trồng sắn có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng của lá sắn Điều này đã được rất nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo dõi năng suất lá sắn trong hai năm (2009 - 2010) ở những khoảng cách trồng khác nhau; (1,0 m x 0,4 m), (0,8 m x 0,4 m) và (0,6 m x 0,4 m), mỗi năm thu hoạch được 3 lứa Năng suất lá sắn năm 1 cao hơn năm 2 ở tất cả các lứa (trừ lứa 2 ở mật độ trồng 0,6 m x 0,4 m) Năng suất lá sắn đạt trung bình cao nhất ở khoảng cách trồng (0,8 m x 0,4 m) là 52,66 tạ/ha/lứa, của khoảng cách trồng (0,6 m x 0,4 m) đứng hạng thứ hai, đạt 42,74 tạ/ha/lứa, khoảng cách trồng (1,0 m x 0,4 m) có năng suất thấp hơn cả đạt 41,11 tạ/ha/lứa (Trần Thị Hoan 2012) [12]

Wanapat (1997) [92] cho biết trồng sắn lấy lá với mật độ dày và thu hoạch lần đầu sau khi trồng 3 tháng còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng/lần thì sản lượng vật chất khô có thể đạt 12,6 tấn/ha/năm

Wanapat (2002) [93] khi thử nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.778 cây/ha để thu cắt lấy lá đã thu được sản lượng vật chất khô qua 3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn/ha/năm, còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây/ha thì cho sản lượng vật chất khô dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn/ha/năm

Atchara limsila và cs (2002) [39] tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 1977 đến năm 1979 về dòng sắn Rayong1, tác giả cho biết: Trồng sắn thu lá với nhiều mật độ khác nhau như 62.500; 50.000; 40.000; 31.250; 20.000; 10.000 cây/ha với các mật độ này sản lượng lá tươi đạt từ 6,94 đến 8,85 tấn lá tươi/ha/năm và không có sự sai khác thống kê có ý nghĩa giữa sản lượng lá tươi được trồng với mật độ khác nhau

Theo Cadavid (2002) [46] thì trồng sắn CMC 92 lấy lá tại Colombia mật

độ từ 20.000 đến 62.000 cây/ha thì sản lượng chất khô thu được khoảng trên dưới 24 tấn/ha/năm Cũng theo ông đối với giống CM4843 - 1 với mật độ 11.200 cây/ha ở vùng đất xám pha cát có thể thu 24,45 tấn vật chất khô/ha/năm (91,4 tấn tươi); giống sắn CM2758 với mật độ 11.200 cây/ha trong 2 năm có thể thu 83,01 tấn chất tươi/ha; giống CM 523 - 7 là 86,81 tấn chất tươi/ha;

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giống MCol 2737 là 102,9 tấn/ha, trồng dòng HMC 1 với mật độ 31.250 cây/ha đạt 58,2 tấn chất tươi/ha/11 tháng Ông cũng kết luận trồng sắn lấy lá có thể trồng với mật độ từ 31.250 đến 120.000 cây/ha với khoảng cách cắt là 3 tháng/lần, sản lượng lá thu được khoảng trên dưới 80 tấn/ha Tuy nhiên, ở mật

độ này thu hoạch rất khó khăn và cây thường bị tổn hại trong quá trình thu hoạch Nên trồng với mật độ 31.250 cây/ha sẽ thuận lợi hơn

Cần lưu ý là sản lượng chất tươi nói trên bao gồm cả thân, cành, lá sắn

Ở các thông báo khác; sản lượng lá sắn thấp hơn nhiều so với thông báo nêu trên là vì sản lượng này chỉ có riêng lá, không bao gồm thân, cành, ngọn và cuống lá sắn

Li Kaimian và cs (2002) [69] khi nghiên cứu các mật độ trồng sắn lấy lá

ở Trung Quốc với các mật độ 27.778; 15.625; 10.000 cây/ha, cho biết sản lượng vật chất khô đạt cao nhất ở mật độ trồng 15.625 cây/ha là 3,04 tấn/ha Nguyễn Hữu Hỷ (2002) [14] khi nghiên cứu khoảng cách trồng đối với các giống KM94; KM140 - 2; KM98 - 5 và SM937 - 26 với các mật độ 12.345 cây/ha và ở 24.690 cây/ha và thu lá 3 lần vào các thời điểm 5 tháng, 7 tháng sau trồng và lần cuối vào lúc thu hoạch củ Kết quả cho thấy giống KM98 - 5 cho sản lượng vật chất khô của lá cao nhất ở mật độ 24.690 cây/ha, sau đó đến giống KM 94, nhưng sản lượng củ thì ngược lại Sản lượng củ và

lá của các khoảng cách khác đều thấp hơn, trừ sắn KM 140 - 2 có sản lượng

củ cao nhất trong các giống sắn

Theo Wargiono (2002) [94] thì năng suất lá phụ thuộc vào số lần thu hoạch lá Theo ông trồng sắn với mật độ 8.000 cây/ha thu hoạch lá hàng tuần

từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 7 (4 tầng lá/ lần thu) sẽ cho năng suất cao nhất còn tiếp tục thu từ tháng thứ 7 trở đi sẽ làm giảm năng suất của củ Trồng sắn xen với các cây trồng khác với mật độ 5.000 đến 10.000 cây/ha, còn trồng thuần sắn với mật độ 10.000 đến 12.000 cây/ha

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.1.1.4 Thành phần hóa học của lá sắn

Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin (1992) [24], Từ Quang Hiển (1982) [5], Pham Van Bien và cs (2002) [43] cho biết: Lá sắn có thành phần các chất dinh dưỡng khá phong phú Mặc dù hàm lượng tinh bột rất ít (từ 1,8 đến 3,2 %), tỷ lệ dẫn xuất không chứa nito của lá sắn tươi có từ 3,7 - 6,4 % Từ lâu lá sắn đã được coi là một nguồn rau xanh cho người và gia súc Theo Bùi Văn Chính và Lê Viết

Ly (2001) [2] thì trong lá sắn tỷ lệ vật chất khô chiếm 25 %, năng lượng trao đổi

là 2549 Kcal/kg vật chất khô

Theo Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [8] thì protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06 đến 29,80 % trong vật chất khô Lá của các giống sắn trong nước có hàm lượng protein cao là Xanh Vĩnh Phú, sắn Dù, Chuối trắng, KM 60, Chuối đỏ, 205 Bột lá sắn có hàm lượng protein là 27,50 %, còn chế biến sắn cả cuống thì hàm lượng protein giảm xuống còn 20,30 % Tuy nhiên, giống sắn và thời điểm thu lá khác nhau thì hàm lượng protein là khác nhau Tác giả cũng cho biết protein trong lá sắn cao hơn hẳn các loại cây thức ăn khác (hàm lượng protein trong vật chất khô của cỏ hòa thảo là 12,60 %; ngô 11,90 %) nhưng thấp hơn so với

đỗ tương (45,70 %)

Thành phần khoáng đa lượng và vi lượng của lá sắn nói chung cao hơn so với củ Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [26] thì hàm lượng khoáng tổng số của lá các loại sắn Xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, Chuối vỏ đỏ, Chuối vỏ trắng, KM

60, Sắn dù, 205 thường từ 6,60 đến 7,80 % Hàm lượng Ca từ 0,77 đến 0,91 % còn hàm lượng P từ 0,12 đến 0,28 % Hàm lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13 %;

P từ 0,25 đến 0,38 %; K từ 1,52 đến 1,71 % Trong lá sắn hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 - 655,2 mg trong 1kg chất khô (Nguyễn Khắc Khôi (1982) [16], Adewusi và Bradbury (1993) [37]

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo công bố của Hoài Vũ (1980) [36] thì về mặt chất lượng, trong protein của lá sắn có khá nhiều và đầy đủ các axit amin cần thiết So với các loại rau tươi khác thì chất lượng protein của lá sắn hơn hẳn Ví dụ: Hàm lượng lysin, methionin, triptophan của lá sắn tươi là 0,3; 0,4; 0,11 (g/100g) Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; 0,04 Rau ngót là 0,16; 0,13; 0,05 Rau cải là 0,07; 0,03; 0,02 (g/100g)

Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [26], Chavez và cs (2000) [48] thì hàm lượng a x i t a m i n trong lá cao hơn trong củ sắn và cân đối so với trứng

gà Tuy nhiên, hàm lượng methionin và histidin trong lá cũng thấp, tương ứng là 1,99 và 1,14 % Hàm lượng lysin trong protein của lá sắn tương đối cao (5,68 %) đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của gia súc gia cầm

Theo Từ Quang Hiển (1983) [6], trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7mg caroten/100g vật chất khô Còn theo Hoài Vũ (1980) [36]; Hàm lượng caroten trong lá sắn nói chung cao hơn so với củ Dương Thanh Liêm và cs (1998) [70], cho biết tỷ lệ caroten trong bột lá sắn phụ thuộc vào quá trình chế biến, sấy ở nhiệt độ 100o

Cgiữ được caroten cao nhất là

351 mg/kg

Lá sắn dễ phơi khô, bột lá sắn giàu carotenoid, xanthophyll và protein

Vì vậy, nó không chỉ là nguồn bổ sung sắc chất mà còn là nguồn cung cấp protenin cho gia súc và gia cầm

1.1.1.5 Độc tố HCN và phương pháp khử HCN trong sắn

Lá sắn có hàm lượng protein khá cao và giàu vitamin, sắc tố; protein của lá sắn có khá đầy đủ các axitamin cần thiết và giàu lysin

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tuy nhiên, ngoài các chất dinh dưỡng trong sắn còn chứa một lượng độc

Trong cây sắn lượng độc tố phân bố không đều, chủ yếu tập chung ở bộ phận dưới mặt đất Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [26] thì sự phân bố HCN trong các bộ phận của sây sắn được chia ra như sau: Các bộ phận trên mặt đất gồm thân lá có 29,3 %: trong đó độc tố chủ yếu nắm ở thân là 27,2 % còn lại ở lá chỉ có 2,1 % Lượng HCN ở các bộ phận dưới mặt đất 70,7 % tổng lượng độc

tố trong cây Trong đó gốc già dưới đất có 8,9 % và rễ củ chiếm 61,8 %, tập chung chủ yếu ở vỏ và hai đầu củ sắn

Khi gia súc thu nhận hàm lượng HCN quá cao thì sẽ làm cho con vật

bị trúng độc thường thấy ở hai thể cấp tính và mãn tính, ngộ độc cấp tính làm cho con vật chết rất nhanh và ngộ độc mãn tính thường không có biểu hiện rõ ràng (Oke, 1969) [79] Theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [20] gia súc thường xuất hiện dấu hiệu ngộ độc khi được cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ HCN và thường xuyên, nhưng gan vẫn có khả năng giải độc HCN nhờ vào lưu huỳnh trong axit amin để tạo ra chất thiociannat ít độc hơn HCN Silvestre và Araudeau (1990) [22] cho biết: Lượng độc tố HCN

có thể gây chết động vật khoảng 2,5 mg/kg khối lượng cơ thể Theo

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Humphreys (1988) (dẫn theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [20] thì liều ngộ độc tối thiểu là 2 - 2,3 mg/khối lượng cơ thể, nhưng theo Du Thanh Hang

và Preston (2005) [61] thì ở mức 6 - 15 mg/kg khối lượng cơ thể vẫn không thấy ngộ độc Tuy nhiên theo các tác giả trên thì mức độ gây ngộ độc còn tùy thuộc vào dạng glucosid có trong thức ăn

Khi gia súc, gia cầm thu nhận hàm lượng HCN quá cao thì sẽ làm cho con vật bị trúng độc Độc tố gây ngộ độc có thể giải thích trên cơ sở của mối liên hệ giữa axit cyanhydric với các ion kim loại như Cu+2 và Fe+2 Gốc Cyanua (CN) sẽ liên kết chặt chẽ với hemoglobin của hồng cầu để tạo thành phức chất Cyanohemoglobin Chất này không có khả năng vận chuyển oxy trong máu làm cho cơ thể thiếu oxy dẫn đến con vật ngạt thở, niêm mạc, da tím bầm và chết nhanh

Chính vì lượng độc tố trong sắn có ảnh hưởng lớn tới việc làm thức ăn trong chăn nuôi nên người ta đã phải nghiên cứu để loại bỏ đi hàm lượng độc

Làm phân giải cyanogen glucocid thành aceton và HCN, sau đó dùng nhiệt làm bốc hơi HCN hoặc dùng nước làm rửa trôi HCN

Làm phá hủy hoặc ức chế enzym linamariaza và glucocidaza Các enzym này không hoạt động thì cyanogen glucocid không thể phân hủy thành aceton

và HCN

Dựa trên các nguyên lý trên, trong thực tế người ta đã sử dụng các biện pháp dưới đây để hạn chế và loại bỏ HCN trong lá sắn:

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chế biến bột lá sắn nhờ ánh nắng mặt trời: Lá sắn được thu gom, loại bỏ hết cuống lá, phơi héo tại ruộng trong một ngày cho giảm bớt nước Sau đó lá sắn được tiếp tục phơi nắng trên sân cho khô giòn Lá sau khi khô giòn được nghiền thành bột, trải mỏng bột lá cho bay hơi nước và HCN Cho bột lá sắn vào bao nhưng để hở miệng túi sau 2 tuần mới đóng gói để trong thời gian này HCN tiếp tục thoát ra ngoài

Phơi khô thân, lá sắn non: Thân cây sắn còn non, phơi cả thân, lá sắn (để nguyên cả cây hoặc băm nhỏ trước khi phơi) khi khô thì đánh đống hoặc nghiền thành bột để dự trữ

Sấy khô: Thu gom lá sắn và loại bỏ hết cuống, phơi héo một ngày tại ruộng cho giảm bớt nước, sau đó đưa vào hệ thống sấy ở nhiệt độ 60 - 100o

C cho khô giòn, sau đó nghiền nhỏ thành bột Đưa vào bảo quản và đóng gói

1.1.2 Giới thiệu về cỏ Stylo

1.1.2.1 Tên khoa học

Stylosanthes là một chi thực vật có hoa thuộc họ Fabaceae Nó thuộc

phân họ Faboideae và được APGII (2003) [38] phân loại như sau:

Giới (regnum): Phantae

Không phân hạng: Angiospermae

Không phân hạng: Eudicots

Không phân hạng: Rosids

Bộ (ordo): Fabales

Họ (familia): Fabaceae

Phân họ (subfamilia): Faboideae

Tông (tribus): Aeschynomeneae

Chi (genus): Stylosanthes Sw

1.1.2.2 Nguồn gốc phân bố

Đây là một loại cỏ thuộc bộ đậu, có nguồn gốc từ châu Mỹ La Tinh Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawii, và một số nước châu Phi như

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Kenya, Uganda, Nigieria Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ,

từ Brasil nhập vào Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến Đây là loại cây thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công gô, Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, cây cỏ stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia

Các giống stylo đang được trồng phổ biến:

Stylosanthes guianensis (common stylo): cây lâu năm

Stylosanthes hamata (Caribbcan stylo): cây hàng năm

Stylosanthes scabra (Shrubby stylo): cây lâu năm

Stylosanthes humilis (Townsville stylo): cây hàng năm

1.1.2.3 Năng suất chất xanh

Cỏ stylosanthes guianensis trồng ở Brazil đạt năng suất chất xanh từ 15 đến 20 tấn/ha; 35 tấn/ha/năm ở Zaire Tại Madagascar cỏ stylosanthes trồng sau 1 năm đạt 43 tấn/ha trên vùng đất cao và 70 tấn/ha vùng đất thấp (Ecoport, 2001) [53]

Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ những năm trước đây

Từ các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào vùng chăn nuôi, vào mức phân bón và

nước tưới, đất đai… khác nhau stylosanthes cho năng suất khác nhau

Tại Đắc Lắc, năng suất chất xanh của cỏ stylo CIAT 184 đạt 12,34 tấn/ha/lứa và cho 3,08 tấn chất khô/ha/lứa (tương ứng với 21,56 tấn/ha/năm) cao hơn so với trồng ở các vùng sinh thái khác của Việt Nam (Lê Hòa và Bùi Quang Tuấn, 2009) [11]

Theo Lê Hà Châu (1999) [1], giống stylo Cook có thể cho năng suất chất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) hoặc giống S guianensis FM05 - 2 và stylo CIAT 184 được trồng ở các vùng khác có khả năng cho năng suất chất khô (CK) 11,4 – 12,5 tấn/ha/năm (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1996) [4]; (Trương Tấn Khanh và cs, 1999) [15]

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hoàng Văn Tạo và cs (2010) [25], cho biết Stylosanthes CIAT 184 trồng tại Nghĩa Đàn đạt sản lượng chất xanh từ 52,5 đến 65,2 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau Cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus, Hoàng Văn Tạo và cs (2010) [25] cho biết sản lượng chất xanh đạt

từ 49,70 đến 62,00 tấn/ha; sản lượng chất khô đạt từ 11,70 đến 14,92 tấn/ha; sản lượng protein từ 1,99 đến 2,53 tấn/ha/năm ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau

Các giống Stylosanthes khác nhau cũng được nghiên cứu ở Thái Lan Satjipanon và cs, (1995) [86] cho biết: Stylo CIAT 184 cho sản lượng 12 - 17 tấn CK/ha/năm Stylo Ubon và stylo CIAT 184 sản xuất 13; 18 và 17 tấn CK/ha/năm tương ứng với năm thứ nhất, thứ hai và năm thứ ba Trong khi đó Stylo Seca có khả năng sản xuất thấp hơn trong 3 loại Stylosanthes lâu năm, nó đạt 4,7; 10,6 và 6,7 tấn CK/ha/năm, tương ứng cho năm thứ nhất, năm thứ hai,

và năm thứ ba

Như vậy ở các nước nhiệt đới nhiều loại cây họ đậu phát triển tốt Năng suất chất xanh, chất khô, đạt khá cao và không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai, mà còn phụ thuộc vào kỹ thuật canh tác, điều kiện phân bón

- 100 ngày (vụ đông xuân)

1.1.2.4 Thành phần hóa học của bột cỏ stylo

Đối với cỏ stylosanthes cùng với việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa học cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó Hàm lượng nitơ của S guianensis vào khoảng 1,5 đến 3 % tính theo CK (Mannetje và Jones, 1992) [74]

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong những năm gần đây, Stylosanthes cũng được trồng phổ biến tại Thái Lan và Lào Stylo CIAT 184 trồng tại Thái Lan có chứa protein thô 17,1 %:

xơ trung bình 39,1 % và xơ axit 56,8 % (Kiyothong và cs, 2004a) [65] Chứa

14 - 18 % protein thô trong chất khô (SatjiPanon và cs, 1995) [86] Thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo chất khô dao động

từ 16,7 - 18,1 % protein thô; 49,1 - 61,5 xơ trung bình tính; 34,1 - 47,3 %, xơ axit; 6,3 - 8,7 % khoáng (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [66] Một số kết quả phân tích cho thấy: Cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày tại Lào chứa 20,2 % chất khô; tính theo chất khô có 19 % protein thô; 64,2 % xơ trung tính; 5,5 % khoáng (Phengsanvanh, 2003b) [83] Theo Chanphone Keoboualapheth và cs,

2003 [50], Stylo CIAT 184 có 22,3 % chất khô; protein thô 19,3 %; xơ thô 30 %; khoáng 5,1 %, Ca 0,2 %; P 0,4 % Hàm lượng chất khô đạt từ 20 - 28 %; protein thô 13,3 %; xơ trung tính 16,9 % tính theo chất khô (Toum Keopaseuht, 2004) [91]

Omole và cs (2007) [80] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có chất khô 19,75 %; protein thô 19,91 %; 13,28 % xơ thô; 1,34 % lipit thô; 9,38 % khoáng tổng số; dẫn xuất không chứa đạm 56,03 % chất khô Stylosanthes scabra trồng tại Rwanda có hàm lượng của protein thô là

21 % (Mupenzi và cs, 2008) [77] Cỏ Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu hoạch ở Nigeria có 92,1 % chất khô; tính theo chất khô có 10,6 % protein thô, 32,8 % xơ thô; 7,3 % khoáng (Bamikole và Ezenwa, 1999) [41]

Cỏ Stylosanthes trồng tại Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động từ

15 - 17 % protein thô, 33 - 40 % xơ thô, 0,1 - 0,2 % P, 0,8 - 1 % Ca, 1,2 - 1,8 % K, 0,3 - 0,8 % Mg, 0,02 % Na và 0,1 - 0,8 % Cl tính theo vật chất khô (Ecoport, 2001) [53]

Hỗn hợp bột cỏ Stylosanthes bao gồm 45 % S guianensis, 45 % S hamata

và 10 % S scabra có chứa 13 % protein thô, 2,7 % chất béo thô, 32 % chất

xơ thô, 37,4 % dẫn xuất không chứa đạm, tro 4,1 %; 1,13 % Ca và 0,11 % P trong chất khô (Bai Changjun và cs, 2004) [40]

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ở nước ta, thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylosanthes cũng được các nhà khoa học công bố Theo Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009) [11], cây đậu Stylo CIAT 184 có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein thô đạt 16,86 % Tỷ lệ sử dụng của cỏ Stylosanthes cũng tương đối cao (87,6 %) Trên cả ba vùng nghiên cứu (Thái Nguyên, Lâm đồng, Ba vì) hàm lượng protein của cỏ Stylo Plus đạt bình quân 17 % (Nguyễn Thị Mùi và cs, 2006) [18]

Như vậy, cùng một giống Stylosanthes guianensis, nhưng được trồng ở các nước, các vùng sinh thái khác nhau, thời gian thu mẫu khác nhau sẽ có hàm lượng các chất dinh dưỡng cũng khác nhau, với sự biến động khá lớn: Protein dao động từ 13,3 - 19,0 %, xơ thô 13,28 - 40,0 % lipit 1,34 - 2,7 % Chất khô

1.1.2.5 Phương pháp chế biến bột cỏ stylo

Có nhiều phương pháp chế biến bột cỏ khác nhau, nhưng dù chế biến bằng phương pháp nào cũng phải làm khô nguyên liệu ban đầu càng nhanh càng tốt Để sản xuất được bột cỏ có chất lượng tốt nguyên liệu chế biến phải

có tỷ lệ lá cao, lá nhanh khô và khi khô vẫn giữ được màu xanh, giàu protein, vitamin, caroten và xanthophyll, ít chất độc đối với những cây chứa chất này

Ở Trung Quốc và Ấn Độ bột lá Stylosanthes được sản xuất với số lượng lớn cung cấp cho ngành chăn nuôi gia cầm và bò sữa

Bột cỏ Stylosanthes được sản xuất nhiều ở đảo Hải Nam và Quảng Đông - Trung Quốc, đạt 300.000 tấn/năm (Liu Guodao, 2004) [71] Công nghệ sản xuất bột cỏ rất đơn giản Cỏ Stylosanthes sau khi thu hoạch bằng tay hoặc bằng máy được phơi trên nền xi măng dưới ánh nắng mặt trời hoặc

cỏ được cắt nhỏ đưa vào sấy khô trong một lò quay sau đó đưa vào máy nghiền thành bột và đóng gói

Ở khu vực có ánh nắng mặt trời tốt, cỏ được phơi trên bề mặt cứng, sạch

sẽ (tốt nhất là bê tông) trong vòng hai ngày Nhìn chung, phương pháp này dễ làm, dễ sử dụng nhưng chỉ phục vụ được ở quy mô nhỏ, địa phương và chất

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lượng sản phẩm kém Bên cạnh đó, có thể dùng tre làm kệ sấy để làm khô nguyên liệu, tránh hư hỏng và tránh tiếp xúc với bề mặt đất Điều này có thể giúp đẩy nhanh quá trình làm khô và cải thiện chất lượng thông qua tăng hàm

lượng protein và β - caroten (Liu Guodao, 2004) [71]

Đối với sản xuất bột cỏ nguyên liệu quy mô công nghiệp thì cỏ Stylosanthes sau khi được thu hoạch, cắt nhỏ đưa vào lò sấy Cỏ có thể được sấy theo hai cách khác nhau Sấy khô ở nhiệt độ thấp (50 - 600

C) trong vòng 2 - 3 giờ làm mất nước, ít gây thất thoát protein và caroten để nâng cao chất lượng sản phẩm Phương pháp sấy khô thứ hai là nguyên liệu được làm khô nhanh chóng ở lò sấy có nhiệt độ cao hơn 600 0

C trong vòng

10 - 20 giây Phương pháp này làm hao hụt protein và caroten rất thấp, chất lượng bột cỏ Stylosanthes cao Cỏ sau khi sấy khô được đưa vào máy nghiền thành bột và đóng gói trong túi với một lớp lót không thấm nước (Liu Guodao, 2004) [71]

1.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố

1.2.1.1 Nguồn gốc của sắc tố

Carotenoid là sắc tố hữu cơ được tìm thấy ở thực vật và các loài vi sinh vật

khác có thể tiến hành tự quang hợp được như tảo, một số loài nấm và vi khuẩn Các sắc tố này đóng hai vai trò là (1) hấp thụ năng lượng từ ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp, (2) bảo vệ tế bào cây trồng khỏi bị thối rữa

Hiện nay người ta đã tìm được 750 loại carotenoid Do sự có mặt hay không có của phân tử oxy, carotenoid được chia thành 2 nhóm là caroten

(beta caroten, lycopen hay alpha caroten) và xanthophyll (astaxanthin, lutein

và zeaxanthin)

Carotenoid không phải là tên riêng của một chất nào mà là tên của một

nhóm các hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo tương tự nhau và tác dụng

bảo vệ cơ thể động thực vật cũng tương tự nhau Carotenoid được biết đến

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sớm nhất và có vai trò lớn trong đời sống là beta - caroten hay còn gọi là tiền

vitamin A Trong những năm gần đây, người ta mới biết thêm về vai trò của

các carotenoid khác như astaxanthin, lycopen, lutein và zeaxathin, đó là

những sắc tố quan trọng nhất có tác dụng đến sức khỏe con người và động vật

Chúng có hoạt tính gấp 10 lần so với beta caroten Nó có tác động tốt đến não và

hệ thần kinh trung ương và có tác động rất tốt trong quá trình miễn dịch của cơ

thể, làm giảm 1000 lần tác động của tia cực tím so với beta caroten

Carotenoid là sắc tố tự nhiên tạo ra màu vàng, da cam, đỏ của rất nhiều

các loại quả (gấc, chanh, đào, mơ, cam, nho ), rau (cà rốt, cà chua, ), nấm

và hoa Chúng cũng có mặt trong các sản phẩm động vật như trứng, tôm hùm, cá Ngày nay, các hợp chất carotenoid rất được quan tâm nghiên cứu

Carotenoid là chất màu tự nhiên, chúng được tìm thấy trong lục nạp của

thực vật bậc cao, mặc dù trong mô quang hợp những màu sắc này được che đậy bởi chất diệp lục Những chất này được tìm thấy trong tảo, vi khuẩn, nấm

và nấm men

Người ta ước tính rằng thiên nhiên sản xuất hằng năm khoảng 100 triệu tấn carotenoid

1.2.1.2 Sắc tố trong thực vật

Sắc tố trong thực vật được chia thành các nhóm sau: Chlorophyll,

carotenoid (caroten và xanthophyll), flavonoid (chalcon, anthocyanin, flavon, falavonol) và betalain (betaxanthin, betacyanin) Người ta đã phát hiện được

khoảng 750 loại caroteninoid, 7000 flavonoid và hơn 500 anthocyanin

(Davies, 2004) [50] Sắc tố tồn tại ở các bộ phận khác nhau của thực vật,

favonoid và carotenoid tồn tại ở hầu hết các mô thực vật như lá, củ, hoa, quả

và hạt Anthocyanin, chlorophyll có một vị trí cụ thể ở tế bào hoặc cấp độ dưới tế bào Anthocyanin thường được tìm thấy trong tế bào biểu bì của cánh hoa, trong khi chlorophyll và carotenoid trong thể hạt của các tế bào dưới biểu bì quang hợp của lá Anthocyanin, betalain xuất hiện trong không bào

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(Davies, 2004) [50] Tất cả các hình thức vẻ đẹp của các thực vật là thông tin cho động vật, côn trùng, chim và dơi, tìm đến thực vật để kiếm thức ăn

Một số sắc tố thường gặp trong thực vật được hệ thống hóa như sau: Sắc tố trong thực vật (4 nhóm chính):

Lutein; Zeaxanthin; Astaxanthin

Canthaxanthin; Citranaxanthin; Capxanthin

điều kiện ánh sáng và điều kiện dinh dưỡng khoáng magie

Bình thường chất diệp lục a nhiều hơn 2 - 4 lần so với chất diệp lục b trong lá bạc hà tươi được chiết suất bằng aceton, chất diệp lục a/b thay đổi từ 3:1 trong melissa, cây tầm ma là 1:1 (Dzugan, 2006) [52] Cây trồng trong bóng râm chứa chất diệp lục a ít hơn so với chất diệp lục b Thay thế Mg bởi

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ion Fe sẽ tạo ra sản phẩm chất diệp lục màu xám - nâu của chlorophyll và sự

hiện diện của các ion Zn và Cu làm tăng sự ổn định của màu xanh lá cây tự nhiên (Dzugan, 2006) [52]

Các phân tử chất diệp lục là một dẫn xuất porphyrin chính là một sự sắp xếp của bốn pyrrol vòng có chứa một ion Mg ở trung tâm Sự hiện diện Mg ở trung tâm của một phân tử chất diệp lục đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hấp thụ năng lượng ánh sáng và vòng pyrrol tạo ra một cấu trúc nối đơn, tạo điều kiện cho việc hấp thụ photon ánh sáng Một đuôi phyton bao gồm 20 nguyên tử carbon được gắn liền với phần tetrapyrrol chất diệp lục Sự khác

biệt trong cấu trúc giữa chlorophyll a và b thứ ba trong vòng pyrrol II

Chlorophyll a gắn với nhóm NH3, trong khi chất diệp lục b liên kết với CHO Loại bỏ Mg từ các phân tử chất diệp lục và kết quả trong chuyển đổi của nó là

tạo thành pheophytin có màu xám - nâu Pheophytin tích lũy ở lá trong quá

trình lão hóa của thực vật hoặc kết quả gây ra do ô nhiễm môi trường, chẳng hạn như mưa axit (Dzugan, 2006) [52]

Caroten (C 40 H 56 ) là một loại cacbua hydro chưa bão hòa, chỉ tan trong

dung môi hữu cơ Trong thực vật thường có 4 loại tiền vitamin A là: β, α, δ, z

caroten Nếu cắt đôi phân tử β caroten ta có 2 phân tử vitamin A, nên β

caroten được xem là tiền vitamin A (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976) [35] Trong

đó β caroten chiếm trên 90 % trong tổng số các carotenoid ở thực vật Các

carotenoid không chỉ cung cấp tiền vitamin A mà còn có tiềm năng chống

oxy hóa, chống ung thư Hàm lượng β caroten trong cỏ tươi tự nhiên: 150 -

250 mg/kgVCK, cây ngô già: 15 - 60 mg/kg VCK, của cà rốt: 150 - 200 mg/kg VCK, rơm rạ: 4mg/kg VCK (Từ Quang Hiển, 2001) [9] Tác giả Scott

và cs, (1969) [87] cho biết β caroten trong bột lá keo giậu từ 227 đến 248 mg/kg VCK Carotnen là một trong những nhóm sắc tố quan trọng nhất trong

tự nhiên Nó tạo nên màu sắc rực rỡ của màu vàng, đỏ cho nhiều loại trái cây,

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

rau, củ, hoa, và lá mùa thu, tạo ra màu sắc lòng đỏ trứng gà, tảo, nấm men, và nấm, màu lông và da của nhiều loại chim

Xanthophyll là nhóm sắc tố vàng sẫm Công thức hóa học của chúng là

C40H56On (n từ 1 - 6) Vì số lượng nguyên tử oxy có thể từ 1 đến 6 cho nên có

nhiều loại xanthophyll: Kriptoxantin (C40H56O1), lutein (C40H56O2), violacxantin

(C40H56O4), (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976) [35] Trong đó violaxanthin và lutein

chủ yếu tạo ra màu sắc vàng của lá cây, cỏ trong mùa thu (Davies, 2004) [50]

Flavonoid bao gồm anthocyanin, chalcon, auron, flavon và flavonol tồn

tại ở trong không bào Trong các sắc tố thuộc nhóm flavonoid thì anthocyanin

là phổ biến nhất và tạo ra các màu đỏ tươi, đỏ, xanh và màu tím cho hoa, quả

và thân cây Màu của anthocyanin bị ảnh hưởng nhiều của các nhân tố Một trong các nhân tố đó là số lượng nhóm hydroxyl và methoxyl Nếu có nhiều

gốc OH thì màu sắc có màu xanh Nếu xuất hiện nhiều gốc OCH3 thì màu sắc chủ yếu là đỏ (Winkel - shirley, 2002 [96]; Grotewold, 2006 [58]) Các loại sắc tố này có màu đỏ khi ở pH axit và có màu xanh khi ở môi trường kiềm Ngoài ra màu sắc còn phụ thuộc vào các nguyên tố khoáng như Al, Fe, Mg ở một số loài thực vật

1.2.2 Nguồn cung cấp sắc tố cho thức ăn chăn nuôi

* Giới thiệu về sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

Sắc tố trong thực vật bao gồm 4 nhóm (chlorophyll, carotenoid,

flavonoid và betalain) Trong thức ăn chăn nuôi chỉ đề cập đến một trong bốn

nhóm nói trên, đó là carotenoid Khi nói đến hàm lượng sắc tố trong thức ăn,

có nghĩa là nói đến carotenoid trong tổng số Nó gồm 2 nhóm đó là

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhóm thứ nhất là xanthophyll với đại diện là lutein và zeaxanthin, còn nhóm thứ 2 có các đại diện như apoester, canthaxanthin, citranaxanthin, capxanthin

(capsorubin), astaxanthin Chính vì vậy, khi nói đến hàm lượng xanthophyll

trong thức ăn,có nghĩa là nói đến xanthophyll tổng số, chứ không phải là một

sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này

Caroten có các đại diện là anpha (α), beta (β), zeta (z), gama (γ) caroten, lycopen và phytofluen Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong thức ăn, có

nghĩa là nói đến caroten tổng số trong thức ăn (không phải là một sắc tố cụ

Cryptoxanthin Violaxanthin

Hình 1.2: Sơ đồ carotenoid tổng số

* Sắc tố trong nguyên liệu thức ăn

Để khẩu phần thông thường có chứa một lượng sắc tố đáp ứng yêu cầu của vật nuôi, người ta phải lựa chọn các nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố để đưa vào khẩu phần hoặc bổ sung sắc tố tổng hợp Sau đây là một số nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố

+ Ngô

Thức ăn thường chiếm tỷ lệ lớn trong khẩu phần (40 - 60 %) và lại khá

giàu sắc tố là ngô, hàm lượng carotenoid của ngô hạt khoảng 15 - 25mg/kg

VCK, còn gluten trong ngô khoảng 130 - 300mg/kg VCK Hàm lượng này đáp ứng khoảng 40 - 60 % sắc tố theo yêu cầu của gia cầm nuôi thịt và đẻ trứng Thí nghiệm trên gà đẻ trứng cho thấy, nếu chỉ sử dụng ngô là nguồn

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cung cấp sắc tố chính trong khẩu phần thì độ đậm màu lòng đỏ đạt 5 - 7 điểm theo thang điểm màu của Roche

+ Bột lá thực vật

Một số loại nguyên liệu thức ăn có chứa hàm lượng sắc tố rất cao và dễ sản xuất đó là bột lá xanh từ các cây họ đậu (keo giậu, alfalfa, stylo ), từ lá sắn và hoa cúc vạn thọ hàm lượng caroten của các loại bột lá nằm trong khoảng 200 - 1000 mg VCK Do mỗi loại bột lá có một điểm hạn chế riêng, như chứa độc tố (mimosin, HCN ) chất kháng dinh dưỡng, mùi hắc, vị đắng,

tỷ lệ xơ cao nên không thể phối hợp các loại bột lá này vào trong khẩu phần với tỷ lệ lớn, thường là dưới 10 % đối với gia cầm, 20 % đối với lợn, nhưng chỉ cần tỷ lệ đó kết hợp với ngô, lúa mỳ đã hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu sắc tố của vật nuôi

Hàm lượng sắc tố trong bột lá xanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như loài, giống cây, giai đoạn thu cắt, đặc biệt là phương pháp chế biến VD: BLS được chế biến bằng phương pháp băm nhỏ, sấy ở 65o

C thì trong 1kg VCK

có 510 mg caroten (Trần Thị Hoan 2012) [12] Cũng tương tự như vậy hàm lượng caroten trong bột cỏ stylo chế biến bằng phương pháp sấy là 254 mg phương pháp phơi nắng trực tiếp là 228mg, phương pháp phơi dưới mái tôn là

259 mg/kg VCK (Hồ Thị Bích Ngọc 2012) [21]

Oxycarotenoid là chất liên kết với chất béo, do đó rất nhạy cảm với quá

trình lưu trữ Ví dụ cỏ alfalfa: Ngay sau khi sấy khô, hàm lượng xanthophyll

là xấp xỉ 440mg/kg Sau hai tháng lưu trữ, sắc tố mất đi đến 30 % Đối với các nguyên liệu như cám ngô, cỏ alfalfa và cỏ hòa thảo thì có thể mất tới 50

% khi thời hạn lưu trữ đến 12 tháng Bột lá sắn sau 3 tháng bảo quản hàm

lượng carotenoid chỉ còn 51,7 % so với ban đầu (Trần THị Hoan, 2012) [12]

Những tổn thất này được tính đến khi xây dựng công thức thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là về khi phối hợp thức ăn cho gà thịt và gà sinh sản

+ Tảo, nấm

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tảo và nấm cũng là nguồn thức ăn cung cấp sắc tố cho vật nuôi Đây là phương pháp bổ sung sắc tố cho cá có hiệu quả cao và tạo môi trường khép

kín Người ta còn tách chiết oxycarotenoid từ thực vật, tảo và nấm để bổ sung

cho gia cầm Tuy nhiên phương pháp này không phải nước nào cũng thực hiện được và so với bột lá xanh thì nó kém ưu điểm hơn do giá thành cao và không cung cấp được chất dinh dưỡng khác ngoài sắc tố như bột lá xanh + Sắc tố tổng hợp

Khi không có đủ nguồn cung cấp sắc tố từ bột lá thực vật, tảo, nấm để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi thì người ta bổ sung sắc tố tổng hợp vào thức ăn

Các carotenoid tổng hợp thường được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi là beta -

apo - 8 - carotenol (vàng), anthaxanthin (đỏ) So với bổ sung sắc tố từ bột

thực vật, tảo, nấm thì bổ sung sắc tố tổng hợp kém ưu điểm hơn bởi hai lý do sau: (1) giá thành cao làm tăng giá thành thức ăn và sản phẩm, (2) có thể không đạt được yêu cầu về màu sắc và chất lượng sản phẩm như mong muốn, (3) không cung cấp được các chất dinh dưỡng khác cho vật nuôi (protein, lipit )

Mặc dù sắc tố tổng hợp được chứng minh là không độc hại đối với vật nuôi và con người nhưng một số nước vẫn không cho phép sử dụng sắc tố tổng hợp trong chăn nuôi Các nước này chỉ sử dụng nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố (ngô) và sắc tố từ bột thực vật, tảo và nấm

1.2.3 Vai trò của sắc tố đối với vật nuôi

Carotenoid có vai trò quan trọng đối với vật nuôi, đặc biệt đối với gia

cầm thì nó có ảnh hưởng rất lớn Làm cho gia cầm phát triển nhanh hơn, tăng chất lượng thịt cũng như sản lượng và chất lượng trứng

* Vai trò của sắc tố đối với gia cầm nuôi lấy trứng

Động vật hoàn toàn không có khả năng tự tổng hợp carotenoid nên bắt

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

buộc phải được cung cấp từ thức ăn (Marusich, 1981 [76], Liufa và cs, 1997)

[72] Đối với khẩu phần ăn thông thường thì nguồn carotenoid sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng gia cầm là xanthophyll hay oxycarotenoid của ngô,

gluten ngô và bột lá thực vật (Latscha, 1990) [67] Khi cho gia cầm ăn thức ăn

giàu xanthophyll thì có thể tìm thấy xanthophyll ở trong máu, cơ, gan, chất béo, da, lông của chúng (Goodwin, 1986) [56] Ở gà đẻ, xanthophyll tích trữ ở

cơ, da sẽ được huy động mạnh mẽ vào buồng trứng khi thành thục và một phần được chuyển vào lòng đỏ (Gouveia và cs, 1996 [57]; Goodwin, 1986) [56] Sau khi thu nhận được sắc tố có từ thức ăn thì gà đẻ có thể huy động từ

20 - 60 % tổng lượng sắc tố thu nhận vào lòng đỏ (Bornstein, 1966) [44] Do

đó màu sắc tự nhiên của lòng đỏ chính là màu sắc của xanthophyll (Sirri và

cs, 2007) [89] Ngày nay, các oxycarotenoid được phân lập từ thực vật, tảo và

nấm được sử dụng nhiều trong khẩu phần ăn của gia cầm và được đánh giá là rất tốt (Gierhart, 2002 [59]; Lorenz, 2002 [73]), còn có các loại sắc tố tổng hợp thì ít được sử dụng và thậm chí còn bị cấm ở một số nước Khi sử dụng ngô đến 50 % khẩu phần thì sắc tố có trong ngô có thể cho màu sắc lông đỏ đạt từ 5,6 - 7 điểm và tương đương với lòng đỏ ở mức bình thường theo thang điểm màu của Roche (1988) [84] Nhưng yêu cầu của các nước châu Mỹ thì màu sắc lòng đỏ phải đạt thang điểm từ 7 - 10, còn châu Âu và châu Á là 10 - 14 theo thang điểm của Roche Như vậy, nếu chỉ sử dụng khẩu phần tự nhiên để cung cấp sắc tố cho lòng đỏ thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu nêu trên,

ngoài ra oxycarotenoid còn dễ bị biến tính do tác động của các nhân tố gây

oxy hóa như ánh sáng, nhiệt độ hay quá trình đề hydrat và điều kiện bảo quản nên việc thiếu hụt sắc tố trong thức ăn và trong sản phẩm chăn nuôi là khó tránh khỏi

Sắc tố không chỉ phụ thuộc vào tổng số lượng sắc tố mà còn phụ thuộc

vào tỷ lệ các chất carotenoid màu vàng và đỏ được hấp thụ vào trong cơ thể

Thức ăn có hàm lượng thấp các sắc tố đỏ nếu được thêm vào các sắc tố màu

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vàng với hàm lượng cao kết quả làm màu sắc lòng đỏ đậm hơn (De Groote,

1970) [51], khi bổ sung vào khẩu phần cơ sở canthaxanthin làm cho lòng đỏ

trứng có màu sắc vàng nhạt thành màu đỏ tươi

Vì vậy, để đạt được màu sắc mong muốn của lòng đỏ, việc bổ sung của

sắc tố màu vàng và canthaxanthin trong khẩu phần phải dựa vào tính toán tỷ lệ ban đầu của xanthophyll tự nhiên sẵn có trong thức ăn Nguyên liệu trong thức

ăn chẳng hạn như ngô và bột cỏ alfalfa có chứa một lượng đáng kể xanthophyll vàng, ví dụ như lutein và zeaxanthin Xanthophyll đỏ (Capsanthin, capsorubin) chỉ được tìm thấy trong ớt (Capsicum annuum, ớt) nhưng hiệu quả của sắc tố này chỉ bằng một nửa đến 3 phần tư của canthaxanthin

Theo Sidibe (2001) [88] cho biết, sau khi cho gà đẻ ăn thức ăn có chứa 2 - 6

mg canthaxanthin/kg thức ăn, màu lòng đỏ đạt đỉnh điểm ở ngày thứ 10 và hàm lượng canthaxanthin trong lòng đỏ trứng được đo giữa ngày 19 và 25 là như nhau, điều đó phản ánh mối quan hệ ổn định giữa canthaxanthin trong thức ăn và lòng đỏ trứng Để trứng tươi đạt điểm 14 hàm lượng canthaxanthin

cao nhất được tìm thấy trong trứng tương ứng là 0,35mg/quả hay 5,9mg/kg trứng Vì vậy cần phải tính toán hàm lượng sắc tố trong thức ăn để đáp ứng được sự tích tụ sắc tố với hàm lượng nêu trên trong lòng đỏ trứng

Nói chung, mức bổ xung carotenoid tổng hợp trong thức ăn chăn nuôi có

thể thay đổi từ 0 - 8 mg/kg thức ăn cho cả bột màu vàng và đỏ, tổng cả hai loại là từ 10 - 15mg/kg khẩu phần

Astaxanthin tự nhiên cũng được các nhà sản xuất thức ăn cho gà sử dụng

để làm tăng sắc tố lòng đỏ Ngoài ra nó còn có nhiều lợi ích khác như; giảm tỷ

lệ tử vong của gà, tăng khả năng sinh sản và cải thiện tình trạng sức khỏe

Ngoài sản xuất trứng tăng lên thì các bệnh nhiễm trùng do Salmonella lại

giảm đang kể

* Vai trò của sắc tố với gia cầm nuôi thịt

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Đối với gà thịt, thì thị hiếu của người tiêu dùng quan tâm đến màu da của

gia cầm, đó là da phải có màu vàng tươi Sắc tố apocarotenoic acid ethyl ester

là một carophyll có màu vàng khi bổ sung vào có tác dụng làm tăng màu sắc

da gà (Latscha, 1990) [67] Khi các carotenoid tích lũy đầy đủ thì hương vị của thịt gà tăng, do đó làm tăng chất lượng của thịt gà, cải thiện độ vàng da ngực và thành phần axit béo của thịt

Theo Latscha (1990) [67]; Wiliams (1992) [95] cho biết, trong chăn nuôi

gà công nghiệp, gà bị nuôi nhốt, ăn thức ăn hỗn hợp không đủ lượng sắc tố nên đã giảm màu sắc da thịt, làm mất đi hương vị thơm ngon của thịt gà Màu tốt nhất sử dụng cho gà thịt là màu vàng, vì thế sắc tố được sử dụng

là lutein (màu vàng) và zeaxanthin (màu cam), xanthophyll Bình thường da

gà broiler có màu vàng là do trong khẩu phần ăn có ngô Lutein và zeaxanthin

có trong ngô, cỏ alfalfa, gluten, cúc vạn thọ

Để có màu đỏ người ta sử dụng sắc tố như canthaxanthin hoặc citranaxanthin

Để màu sắc thịt gà đỏ đậm, cần có các thành phần nguyên liệu và mối liên hệ giữa

các màu như sau: 3 mg màu vàng (lutein) - 1,5 mg màu cam (zeaxanthin) - và 1

mg màu đỏ (canthaxanthin) Trong thực tế, canthxanthin trong chế độ ăn uống

bình thường có thể là từ 2 - 6 mg/kg thức ăn

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sắc tố và tích tụ sắc tố trong sản phẩm vật nuôi

* Ảnh hưởng của xà phòng hóa đến khả năng sử dụng sắc tố trong thức

ăn của vật nuôi

Hiệu quả sinh học các sắc tố từ nguồn thực vật phụ thuộc vào việc chúng

ở dạng este hóa sẵn hoặc dưới hình thức tự do Trong tự nhiên sắc tố trong nhiều loài thực vật gần như chỉ gắn với axit béo dưới dạng ester Sau khi ăn vào, phân tử sắc tố và phân tử axit béo được chia cắt để cho phép chúng đi qua thành ruột gia cầm Tuy nhiên, nhiều thử nghiệm đã chỉ ra rằng việc xà phòng hóa sắc tố là thuận lợi cho việc sử dụng sắc tố

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Haminlton (1990) [60] nghiên cứu sự lắng đọng của este hóa sắc tố bằng cách đo màu sắc của lòng đỏ trứng Kết quả nghiên cứu cho thấy: Xà phòng hóa dường như đẩy nhanh sự lắng đọng của các sắc tố và xà phòng hóa đạt được mạnh nhất ở sắc tố màu đỏ

Sắc tố của cúc vạn thọ gắn axits béo chắc chắn nên sự xà phòng hóa sản phẩm kém dẫn đến sắc tố ít lắng đọng ở da của gia cầm Điều này cho thấy, bên cạnh giá trị sắc tố tuyệt đối, thì mức độ xà phòng hóa là tiêu chí rất cần thiết cho việc lựa chọn sắc tố tự nhiên bổ sung vào thức ăn

* Ảnh hưởng của việc bổ sung sắc tố vào thức ăn không đúng liều lượng hoặc

pha trộn không đồng đều đến tích tụ sắc tố trong cơ thể và sản phẩm vật nuôi

Khi bổ sung sắc tố vào thức ăn có thể xảy ra hai trường hợp: Liều lượng

bổ sung không chính xác hoặc trộn không đồng đều Điều này có thể được chứng minh bằng cách quan sát sắc tố trong lòng đỏ trứng Trứng gà mái trưởng thành gần như mỗi ngày đẻ một quả trứng, nhưng trứng và đặc biệt là lòng đỏ có thời gian hình thành từ 15 đến 21 ngày Khối lượng lòng đỏ phát triển bởi lớp mới bao bọc xung quanh lớp cũ Những lớp này có thể được thấy

rõ trong trứng luộc vì chúng hình thành các vòng tròn đồng tâm Nhờ quá trình này, mà sự thay đổi hàm lượng sắc tố trong thức ăn chăn nuôi hoặc sự pha trộn sắc tố không đồng đều có thể xác định rất nhanh chóng Hatzipanagiotou

và Hartfiel (1984) [61] đã chứng minh điều này trong một thử nghiệm với gà mái đẻ Sau một thời gian giảm sắc tố trong thức ăn, gà được bổ sung 20 ppm sắc tố màu đỏ tổng hợp vào thức ăn Trứng được thu thập trong một khoảng thời gian mười ngày, từ quả trứng đầu tiên bắt đầu bổ sung sắc tố vào thức ăn Tất cả trứng được luộc để đánh giá màu sắc bằng trực quan Sau hai ngày bổ sung, sắc tố bắt đầu xuất hiện màu đỏ nhẹ trong lòng đỏ, thể hiện là lớp phủ ở ngoài Từ ngày thứ 9 trở đi, lòng đỏ dường như đã có màu đồng nhất

Việc giảm sắc tố trong thức ăn thì quá trình tích tụ sắc tố trong lòng đỏ cũng xảy ra tương tự nhưng ngược lại Khi bỏ các sắc tố màu đỏ ra khỏi thức

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ăn, lòng đỏ xuất hiện nhạt trên các lớp bên ngoài sau một vài ngày Như vậy, chúng ta có thể xác định được pha trộn sắc tố không chính xác trong thức ăn thông qua lòng đỏ trứng trong một vài ngày Nếu phát hiện ra và thức ăn được thay đổi ngay lập tức thì số lượng trứng có lòng đỏ không đạt yêu cầu chỉ giới hạn từ 6 - 8 quả trúng/mái Sự pha trộn không chính xác không thể nhận thấy nhanh chóng ở sắc tố da mặc dù cũng có thể quan sát thấy sự chênh lệch màu sắc chân của gà Đối với màu da của gà thịt, những sai lầm do pha trộn sắc tố không đúng thường không sửa chữa được hoàn toàn trong thời gian vỗ béo

* Ảnh hưởng của chất béo và chất lượng chất béo đến hấp thụ và tích tụ sắc tố của vật nuôi

Việc tái hấp thu oxycarotenoid tan trong chất béo bị ảnh hưởng bởi các

chất béo có trong thức ăn Dầu đậu tương và mỡ lợn tăng sự lắng đọng oxycarotenoid trong trứng tuyến tính khi sử dụng tới 5 % dầu khi sử dụng 6 %

dầu đậu tương trong thức ăn, thì có thể giảm lượng citranaxanthin trong thức

ăn từ 6 ppm xuống 4ppm, mà không có bất kỳ sự thay đổi sắc tố nào trong

lòng đỏ trứng so với lô đối chứng chứa 6 ppm citranaxanthin mà không bổ

sung dầu việc sử dụng axit béo mạch dài, không bão hòa không có ảnh hưởng

tới sự lắng đọng oxycarotenoid, tuy nhiên, việc sử dụng axit béo bão hòa

mạch dài cần phải tránh, vì trong đường ruột có sự phản ứng oxy hóa

axit béo tương tác với oxycarotenoid gây phá hủy sắc tố và làm chúng

ít tích lũy trong lòng đỏ và da gà

Mối quan hệ giữa chất lượng chất béo và lắng đọng của sắc tố đã được chứng minh bởi Oertel và Hartfiel (1981) [78] Giá trị peroxid trong thức ăn tăng hơn trong thời gian 77 ngày lưu trữ, đặc biệt là với dầu đậu tương, nhưng ít ảnh hưởng như vậy với mỡ động vật

Hàm lượng canthaxanthin trong lòng đỏ trứng biểu thị cho sự ảnh

hưởng này Trong hai tuần đầu, dầu đậu nành tác động nhanh chóng và làm tăng đáng kể sắc tố trong lòng đỏ trứng Sau đó hàm lượng sắc tố

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong lòng đỏ trứng liên tục giảm đặc biệt là với việc sử dụng đậu nành

Do đó, chất lượng chất béo trong thức ăn chăn nuôi gia cầm nên được coi là đặc biệt quan trọng

Chất béo bị oxy hóa có thể làm giảm đáng kể sự lắng đọng sắc tố

mà quá trình này xảy ra mạnh mẽ khi nhiệt độ tăng, do đó khi bổ sung sắc tố cần thận trọng những tháng mùa hè

* Ảnh hưởng của canxi đến tích tụ sắc tố trong sản phẩm chăn nuôi

Hàm lượng canxi trong thức ăn được nhiều lần đề cập trong các tài liệu liên quan đến màu lòng đỏ trứng Hàm lượng canxi cao tác động tiêu cực đến màu lòng đỏ Nếu hàm lượng canxi được nâng lên từ 2,5 %

- 3,5 % trong thức ăn cho gà đẻ thì cần tăng hàm lượng citraxanthin từ

1,0ppm đến 1,7ppm để đạt được cùng sắc tố lòng đỏ Tiếp tục tăng hàm lượng canxi từ 3 - 4 % dẫn đến màu lòng đỏ giảm theo thang điểm màu của Roche Ngoài ra còn có tài liệu cho rằng làm giảm lượng thức ăn ăn vào khi tăng hàm lượng canxi trong khẩu phần ăn sẽ dẫn đến sự giảm

lượng oxycarotenoid Do đó, hàm lượng canxi trong thức ăn chăn nuôi

không được điều chỉnh mức cao hơn cần thiết

1.3 Kết quả nghiên cứu về sử dụng bột lá sắn và bột cỏ stylo trong chăn nuôi gà

1.3.1 Các kết quả nghiên cứu sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà

Buitrago (2002) [45] cho biết: Đối với bột lá sắn thì yếu tố gây hạn chế

sử dụng là xơ của lá sắn Vì vậy, không nên sử dụng vượt quá 6 - 8 % trong khẩu phần của gà sinh sản Khi sử dụng với số lượng thấp trong khẩu phần thì

lá sắn vẫn là thành phần quan trọng cấu thành protein và sắc tố trong trứng của gà đẻ

Theo các tác giả: Mirada, 1957; Enquiez, 1969; Agudu, 1972; Jalaladin,

1973 (trích Silvestre và Arraudeau, 1990 [22]) thì khi sử dụng bột lá sắn từ 2 -

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6 % trong khẩu phần ăn của gà đẻ là có hiệu quả nhất Ngoài ra, còn có tác dụng làm tăng sắc tố trong lòng đỏ trứng

Ross và cs (1969) [85] đã TN1 (BLS) cho gà đẻ trứng đã kết luận: Bổ sung từ 4 - 5 % bột lá sắn trong khẩu phần của gà sinh sản có bổ sung thêm methionin và dầu thực vật làm tăng sắc tố lòng đỏ trứng gà

Wyllie (1979) [98] cho rằng khi sử dụng 5 % bột lá và cuống lá sắn, 10 % bột ngọn lá sắn thay thế bột hạt bông cho gà broiler từ 0 - 8 tuần tuổi thì khả năng tăng trọng của gà là tốt nhất

Theo Jop và cs (1980) [64] đã tiến hành TN1 (BLS) trên gà thịt và kết luận như sau: Khi bổ sung 10 % bột lá sắn đã đáp ứng thỏa đáng sự tăng trưởng, phát triển và còn làm cho màu da gà vàng hơn

Ở Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều nhà khoa học nghiên cứu chế biến và sử dụng bột lá thực vật trong chăn nuôi

Từ Quang Hiển (1995) [7], đã nghiên cứu chế biến bột lá sắn để nuôi gà thịt, gà đẻ trứng, lợn thịt cho kết quả tốt Tác giả đã kết luận có thể phối hợp

4 - 6 % trong khẩu phần ăn gà thịt, 10 - 15 % trong khẩu phần của lợn

Trần Thị Hoan (2011) [12], khuyến cáo sử dụng bột lá sắn trong khẩu phần với tỷ lệ từ 2 đến 4 % đối với chăn nuôi gà thịt; từ 6 % đến 8 % bột lá sắn đối với

gà đẻ sẽ giảm được chi phí thức ăn mà không ảnh hưởng đến sức sản xuất của đàn gà

Theo Dương Thanh Liêm (1998) [70] khi sử dụng bột lá sắn với tỷ lệ 0; 2; 4; 6 % bổ sung vào thức ăn cho gà sinh sản thì có tác dụng tốt, tỷ lệ caroten

và vitamin A trong lòng đỏ trứng tăng theo tỷ lệ bổ sung bột lá sắn vào thức

ăn Theo tác giả thì mức thích hợp là 3 % sẽ đem lại hiệu quả cao nhất

Đường Hồng Dật (2004) [3] cho biết bổ sung BLS vào khẩu phần thức

ăn cho gà thịt làm tăng sắc tố thịt gia cầm, tăng khả năng sinh trưởng và làm tăng thị hiếu người tiêu dùng Ngoài ra khi bổ sung BLS vào khẩu phần ăn cho gà mái đẻ làm tăng sắc tố lòng đỏ trứng

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nguyễn Đăng Vang (2002) [34] cho rằng tỷ lệ tối đa của bột lá sắn trong thức ăn hỗn hợp gia cầm từ 10 - 20 %

Theo Bùi Đức Lũng (2005) [17] nếu cho bò ăn khẩu phần có chứa 2,25 - 2,5 % bột lá, ngọn sắn thì sẽ khắc phục được bệnh tiêu chảy và giảm độ cảm nhiễm ký sinh trùng

Tóm lại, một số công trình nghiên cứu về chế biến và sử dụng lá sắn trong và ngoài nước, cho thấy sắn là loại thức ăn cho gia súc, gia cầm rất tốt, đặc biệt là với gà sinh sản Sắn và lá sắn sau khi đã sử lý để làm giảm hàm lượng độc tố HCN bằng cách phơi khô nghiền thành bột, có thể bổ sung vào thức ăn hỗn hợp cho gia cầm mà kết quả tăng trọng, sản lượng trứng vẫn bình thường và làm tăng chất lượng trứng

1.3.2 Các kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ stylo trong chăn nuôi gà

Gà mái không có khả năng tổng hợp sắc tố, nhưng có khả năng vận chuyển khoảng 20 - 60 % các sắc tố từ thức ăn ăn vào cho lòng đỏ (Bartov và Bornstein, 1980) [42] Đối với gia cầm đẻ, thiếu bột cỏ trong khẩu phần có thể dẫn tới đẻ trứng giảm, lòng đỏ nhạt không đáp ứng thị hiếu và giá thấp Việc bổ sung lượng nhỏ (ít hơn 5 %) của bột lá cây họ đậu trong khẩu phần ăn

sẽ làm tăng màu lòng đỏ trứng, da thịt gà đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng (Smallstock in development, 2006) [90]

Việc đầu tiên xem xét khi cho gà đẻ ăn bột cây họ đậu là hàm lượng protein, đặc biệt là các axit amin Nếu cung cấp khoảng 13 % protein trong khẩu phần bằng protein bột cỏ họ đậu sẽ giảm đáng kể kích cỡ trứng trong khi mức protein thấp hơn sẽ làm giảm rõ rệt sản lượng trứng (Leeson và Summers, 1997) [68], (Perry và cs, 1999) [82] D'Mello (1995) [49], đã thử nghiệm bột cây họ đậu làm thức ăn cho gà đẻ và cho rằng, ngoài hàm lượng protein cao, tính chất quan trọng của bột cây họ đậu là hàm lượng carotenoid cao, được sử dụng cho gia cầm như một nguồn sắc tố Bởi vì, các sắc tố ở trong trứng, gia cầm không tự tổng hợp được, mà phải cung cấp từ bên ngoài

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong nghiên cứu trước đây, D’Mello (1995) [49] (trích dẫn Springhall

và Ross (1969) [85] cho biết gà mái có khả năng hấp thụ xanthophylls tối đa trong khẩu phần chứa 5,0 % bột lá Leucaena

Trong ngành công nghiệp gia cầm của Thái Lan, cây họ đậu thường được thêm vào khẩu phần ăn của gia cầm như một nguồn protein bổ sung hoặc là nguồn bổ sung carotenoid để cải thiện màu sắc lòng đỏ chúng cũng có thể là nguồn chất dinh dưỡng khác.Wisitiporn và Suksombat và Kruan Bua Keeree (2006) [97] đã nghiên cứu tác động của việc bổ sung bột cỏ Lucerne trong khẩu phần ăn của gà mái đẻ trứng và chất lượng trứng

Trong các cây họ đậu thì cỏ Stylosanthes là cây được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi đại gia súc và có tiềm năng lớn trong việc sản xuất bột cỏ sử dụng trong khẩu phần của gia cầm Cỏ stylo giàu protein (16 - 24 %), các yếu

tố kháng dinh dưỡng không đáng kể (chưa tìm thấy chất kháng dinh dưỡng) Bột cỏ Stylosanthes có chứa β - caroten, động vật chuyển đổi thành vitamin A với hiệu quả khác nhau Vitamin A và các xanthophylls là nguồn sắc tố cho lòng đỏ trứng Đối với gà đẻ, bột cỏ stylosanthes đã được sử dụng thành công dưới mức 10 % trong khẩu phần ăn (Onwudike và Adegbola, 1978) [81] Onwudike và Adegbola (1978) [81] nghiên cứu những tác động của việc tăng số lượng bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần đến sản xuất trứng, vitamin A trong lòng đỏ, màu sắc lòng đỏ và tỷ lệ ấp nở của gà mái đẻ Kết quả cho thấy nếu bổ sung dưới 10 % không ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ Nếu bổ sung bột cỏ Stylosanthes hơn 10 % trong khẩu phần làm giảm khả năng sản xuất trứng (P < 0,01) Nhưng màu sắc lòng

đỏ, vitamin A trong lòng đỏ và tỷ lệ ấp nở được cải thiện đáng kể khi ăn bột

cỏ Stylosanthes

Ở nước ta hiện nay, hầu như chưa có nhiều tác giả nghiên cứu về việc sử dụng bột cỏ stylo trong chăn nuôi gia cầm

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo Hồ Thị Bích Ngọc, (2012) [21] khẩu phần chứa đến 8 % bột cỏ stylo CIAT 184 không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của gà đẻ, tỷ lệ trứng giống cao, màu sắc lòng đỏ từ 10,28 điểm trong khẩu phần chứa 0 % đến 13,28 điểm trong khẩu phần chứa 8 % Tỷ lệ gà con loại 1 đạt từ 92,82 % đến 93,68 %

Hồ Thị Bích Ngọc (2012) [21] cho biết: sử dụng 0 – 8 % bột cỏ Stylo

CIAT 184 trong khẩu phần nuôi gà thịt không ảnh hưởng đến sức khỏe và

tỷ lệ nuôi sống của gà (95,56 % trở lên) Khẩu phần có chứa bột cỏ thì tăng

khối lượng đạt cao nhất (2321,5g/con) Bột cỏ Stylo CIAT 184 không ảnh

hưởng đến thành phần hóa học của thịt Chất lượng thịt được cải thiện, đặc biệt là màu sắc thịt Xét về hiệu quả kinh tế, tăng khối lượng và tiêu tốn

thức ăn/kg tăng khối lượng thì có thể sử dụng 2 – 4 % bột cỏ Stylo CIAT

184 trong khẩu phần cho gà lương phượng nuôi thịt

Việc nghiên cứu chế biến và sử dụng bột cỏ trong chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đã được nhiều tác giả quan tâm Các vấn đề từ công nghệ và phương pháp chế biến bột cỏ, vấn đề sử dụng bột cỏ hợp lý, vấn đề chất lượng bột cỏ và các yếu tố hạn chế, thành phần hoá học và thành phần dinh dưỡng của bột cỏ, các ảnh hưởng tốt của bột cỏ tới sinh trưởng, sinh sản, sức khoẻ, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng và chuyển hoá thức ăn, hiệu quả kinh

tế của chăn nuôi gia súc, gia cầm… đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu

và đưa ra những khuyến cáo phù hợp với từng điều kiện cụ thể Tuy nhiên, cỏ

Stylo CIAT 184 là loài mới, các nghiên cứu về năng suất, giá trị dinh dưỡng, đặc

biệt là sử dụng bột cỏ trong khẩu phần của gia cầm ở nước ta còn rất hạn chế

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

- Bột lá sắn giống KM94

- Bột cỏ stylosanther guianensis CiAT 84

- Gà bố mẹ Lương Phượng giai đoạn từ 41 đến 50 tuần tuổi (tuần đẻ 17 - 28)

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định ảnh hưởng của BLS và BC stylo đến năng suất, sản lượng trứng

- Xác định ảnh hưởng của BLS và BC stylo đến một số chỉ tiêu lý học, hóa học của trứng

- Xác định ảnh hưởng của BLS và BC stylo đến chất lượng trứng giống

2.3 Phương pháp nghiên cứu

đến 50 (tuần đẻ 17 - 28)

Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.1

Trang 35

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

TN2(BCstylo)

Thức ăn thí nghiệm được tự phối hợp từ các nguyên liệu như: Ngô, cám

mỳ, khô dầu đậu tương, bột cá, bột lá, dầu đậu tương và các thức ăn bổ sung khác Thức ăn được phối hợp như sau:

Lô đối chứng: Thức ăn không có bột lá

Thí nghiệm 1 (TN1): Thức ăn hỗn hợp có 6 % BLS

Thí nghiệm 2 (TN2): Thức ăn hỗn hợp có 6 % BC stylo

Công thức thức ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp sử dụng cho thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.2

Trang 36

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 2.2: Công thức và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm

Thành phần nguyên liệu Đơn vị ĐC (Không có bột lá) (6 % BLS) TN1 TN2 (6 % BC stylo)

Giá trị dinh dƣỡng của thức ăn

Năng lượng trao đổi (ME) kcal/kg 2708 2707 2710

Trang 37

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Chế biến BLS và BC stylo: Phơi khô lá sắn và cỏ stylo dưới ánh nắng mặt trời, trên nền xi măng đến khi khô giòn, có thể bóp vụn bằng tay, sau khi phơi khô lá vẫn còn màu xanh, không có mùi mốc, loại bỏ cành và cuống lá, nghiền thành bột

+ BLS và BC stylo phối hợp vào khẩu phần theo công thức thức ăn hỗn hợp (xem bảng 2.2) Dùng dầu thực vật để điều chỉnh năng lượng trao đổi (ME) của lô TN1 (BLS) và TN2 (BC stylo) ngang bằng với lô đối chứng

* Chỉ tiêu theo dõi:

Trang 38

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chỉ số lòng đỏ

* Các chỉ tiêu hóa học:

Phân tích thành phần hóa học của trứng 3 đợt vào các ngày 1; 10 và 20 kể

từ lúc bắt đầu thí nghiệm, riêng carotenoid thì phân tích 7 đợt vào các ngày thí

nghiệm thứ 1; 3; 5; 7; 9; 10 và 20 Mỗi đợt phân tích thành phần hóa học 3 mẫu/1 lô và đo điểm số quạt của lòng đỏ trứng 10 mẫu/1 lô Các chỉ tiêu phân tích như sau:

Trang 39

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.3.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

Vật chất khô, protein, lipit, xơ, dẫn xuất không đạm, khoáng tổng số,

carotenoid của thức ăn và của trứng được phân tích theo các phương pháp

Xơ tổng số (%) : TCVN 4329: 2007 (ISO 6865: 2002) [32]

Dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN): TCPTN - HPLC

Carotenoid: TCPTN - HPLC (ISO 6985: 2005) [33]

Mỗi chỉ tiêu phân tích 3 lần sau đó tính trung bình

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu đối với gà bố mẹ

Mỗi ngày thu nhặt trứng 2 lần theo nhóm và theo lô (1 lô có 3 nhóm) Cộng số trứng thu được của toàn kỳ thí nghiệm theo nhóm và theo lô

+ Năng suất trứng:

Năng suất trứng được xác định theo công thức dưới đây:

Năng suất trứng (quả) =

Số trứng thu được trong kỳ (quả)

Số mái bình quân trong kỳ (con)

Trang 40

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng và gà giống

Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng và 10 trứng giống được tính theo các công

thức sau:

Tiêu tốn thức ăn/ 10 quả trứng =

Tiêu tốn thức ăn trong kỳ (kg)

× 10

Số trứng thu được trong kỳ (quả)

Tiêu tốn thức ăn/ 10 quả trứng giống =

Tiêu tốn thức ăn trong kỳ (kg)

× 10

Số trứng giống thu được trong kỳ (quả)

Tiêu tốn thức ăn/ 1 gà giống loại I =

Tiêu tốn thức ăn trong kỳ (kg)

Số gà loại I trong kỳ (con)

+ Chi phí thức ăn/ 10 quả trứng (đồng) = Tiêu tốn thức ăn/ 10 trứng (kg)

x đơn giá 1 kg thức ăn (đồng/kg)

+ Chi phí thức ăn/ 10 quả trứng giống (đồng) = Tiêu tốn thức ăn/ 10 quả trứng giống (kg) x đơn giá 1 kg thức ăn (đồng/kg)

Ngày đăng: 22/11/2014, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hà Châu (1999), “Ảnh hưởng của việc bón đạm tưới nước đến năng suất, phẩm chất của cỏ họ đậu Stylosanthes guianensis cv. Cook trồng trên đất hộ gia đình chăn nuôi bò sữa TP Hồ Chí Minh”, Báo cáo khoa học – Viện chăn nuôi – Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, tr. 156 – 174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc bón đạm tưới nước đến năng suất, phẩm chất của cỏ họ đậu Stylosanthes guianensis cv. Cook trồng trên đất hộ gia đình chăn nuôi bò sữa TP Hồ Chí Minh”, "Báo cáo khoa học
Tác giả: Lê Hà Châu
Năm: 1999
2. Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly (2001), “Kết quả nghiên cứu chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam cho trâu bò”, Hội thảo về dinh dưỡng cho gia súc nhai lại, Hội chăn nuôi Việt nam, Chương trình link (BC) và Viện chăn nuôi, Hà Nội, tr. 31 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp quan trọng ở Việt Nam cho trâu bò”, "Hội thảo về dinh dưỡng cho gia súc nhai lại
Tác giả: Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly
Năm: 2001
3. Đường Hồng Dật (2004), “Cây sắn từ cây lương thực chuyển thành cây công nghiệp”, Nxb Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cây sắn từ cây lương thực chuyển thành cây công nghiệp”
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nxb Lao Động Xã Hội
Năm: 2004
4. Nguyễn Ngọc Hà (1996) “Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo giậu (Leucaena) làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi”. Luận án PTS khoa học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo giậu (Leucaena) làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi”
5. Từ Quang Hiển (1982), “Nghiên cứu sử dụng bột lá săn chăn nuôi lợn” KHKT Viện chăn nuôi Hà Nội T4, tr. 61 – 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu sử dụng bột lá săn chăn nuôi lợn”
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1982
6. Từ Quang Hiển (1983), “Kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng”, trích những kết quả nghiên cứu về cây sắn, Thông tin KHKT trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái, tr. 54 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng”, trích những kết quả nghiên cứu về cây sắn, "Thông tin KHKT trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1983
7. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), Thức ăn và dinh dưỡng gia súc (Giáo trình dùng cho học viên cao học –ĐHNL), Nxb Nông Nghiệp, tr. 118 – 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng gia súc (Giáo trình dùng cho học viên cao học –ĐHNL)
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
8. Từ Quang Hiển, Phạm Sỹ Tiệp (1998), “Nghiên cứu thành phần hóa học, độc tố của củ, lá sắn và sử dụng sắn trong chăn nuôi lợn thịt F1 (ĐB x MC)”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về chăn nuôi tập I, Nxb Nông nghiệp, tr. 122 – 143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần hóa học, độc tố của củ, lá sắn và sử dụng sắn trong chăn nuôi lợn thịt F1 (ĐB x MC)”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về chăn nuôi tập I
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phạm Sỹ Tiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
9. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Nguyễn Thị Liên, Ngô Thị Hoán (2001), Giáo trình Thức ăn dinh dưỡng gia súc, Nxb Nông nghiệp, tr.15 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thức ăn dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Nguyễn Thị Liên, Ngô Thị Hoán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
10. Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung (2002), Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc, Nxb Nông nghiệp, tr. 15 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, Trần Trang Nhung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
11. Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009), “Năng suất chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Pennisetum perpereum, Panicum maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) trồng tại Đắc Lắc”, Tạp chí khoa học và phát triển 2009: Tập 7, số 3: 276 – 281, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc "(Pennisetum perpereum, Panicum maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) " trồng tại Đắc Lắc”, "Tạp chí khoa h"ọ"c và phát triển
Tác giả: Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn
Năm: 2009
12. Trần Thị Hoan (2012) “Nghiên cứu trồng sắn thu lá và sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng”, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu trồng sắn thu lá và sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng”
13. Nguyễn Đức Hùng (2005), “Xác định thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng của bột lá keo giậu (Leucaena leucocephala) đã qua xử lý đến sức sản xuất của gà broiler và gà sinh sản”, Luận án tiến sỹ Nông Nghiệp, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xác định thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng của bột lá keo giậu (Leucaena leucocephala) đã qua xử lý đến sức sản xuất của gà broiler và gà sinh sản”
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng
Năm: 2005
14. Nguyễn Hữu Hỷ (2002), “Xây dựng mô hình trồng sắn (Manihot esculenta Crantz) có năng suất cao ổn định trên đất đỏ Bazan và đất xám phù sa cổ của vùng Đông Nam Bộ”, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng mô hình trồng sắn (Manihot esculenta Crantz) có năng suất cao ổn định trên đất đỏ Bazan và đất xám phù sa cổ của vùng Đông Nam Bộ”
Tác giả: Nguyễn Hữu Hỷ
Năm: 2002
15. Trương Tấn Khanh và cs (1999), “Tuyển chọn và sản xuất mở rộng một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu tại vùng M’Drak”, Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng và thức ăn, tr.144 – 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và sản xuất mở rộng một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu tại vùng M’Drak”, "Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng và thức ăn
Tác giả: Trương Tấn Khanh và cs
Năm: 1999
16. Nguyễn Khắc Khôi (1982), “Sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn”, KHKT Viện chăn nuôi Hà Nội T4, tr. 53 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn”, "KHKT Viện chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Khắc Khôi
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 35)
Bảng 2.2: Công thức và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 2.2 Công thức và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (Trang 36)
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua 10 tuần thí nghiệm (%) (Trang 44)
Bảng 3.2: Tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.2 Tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (%) (Trang 45)
Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.1 Đồ thị tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.3: Năng suất và sản lượng trứng của gà thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.3 Năng suất và sản lượng trứng của gà thí nghiệm (Trang 48)
Hình 3.2: Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.2 Biểu đồ sản lượng trứng và trứng giống của các lô thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lý học của trứng - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu lý học của trứng (Trang 50)
Bảng 3.5: Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.5 Thành phần hóa học của lòng đỏ trứng (Trang 52)
Bảng 3.6: Thành phần hóa học của lòng trắng trứng - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.6 Thành phần hóa học của lòng trắng trứng (Trang 54)
Bảng 3.7: Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.7 Hàm lượng carotenoid và điểm số quạt của lòng đỏ trứng (Trang 55)
Hình 3.3: Đồ thị carotenoid trong lòng đỏ trứng theo thời gian thí nghiệm - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Hình 3.3 Đồ thị carotenoid trong lòng đỏ trứng theo thời gian thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 3.8: Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.8 Tỷ lệ trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) (Trang 59)
Bảng 3.9: Tỷ lệ nở/trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.9 Tỷ lệ nở/trứng có phôi ở các giai đoạn thí nghiệm (%) (Trang 60)
Bảng 3.10: Tỷ lệ gà con loại 1/số gà con nở ra ở các giai đoạn thí nghiệm (%) - so sánh ảnh hưởng của bột lá sắn và bột cỏ stylo trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ bố mẹ lương phượng
Bảng 3.10 Tỷ lệ gà con loại 1/số gà con nở ra ở các giai đoạn thí nghiệm (%) (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm