Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH TUYÊN QUANG, NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG, ẤU TRÙNG SÁN LÁ GAN Ở NGOẠI CẢNH VÀ TRONG KÝ CHỦ TRUNG GIAN... Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán l
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HUÂN
TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN FASCIOLA SPP Ở TRÂU, BÒ TẠI
TỈNH TUYÊN QUANG, NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TRỨNG, ẤU TRÙNG SÁN LÁ GAN
Ở NGOẠI CẢNH VÀ TRONG KÝ CHỦ TRUNG GIAN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và NCS Phạm
Diệu Thuỳ dưới sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Thị Kim Lan Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ trong một học vị nào Các thông tin trình bày trong luận văn
này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoàng Văn Huân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường và sau một năm thực hiện đề tài tại cơ
sở, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi
- Thú y, Bộ môn Bệnh động vật, Bộ môn Dược lý và Vệ sinh an toàn thực phẩm, các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn và NCS Phạm Diệu thuỳ
đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo uỷ ban nhân dân, Trạm thú y
và nhân dân các huyện Hàm Yên, Yên Sơn và Thành phố Tuyên Quang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian triển khai đề tài tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn các em sinh viên khoá 40, chuyên ngành Chăn nuôi thú y và Thú y đã tham gia và hỗ trợ tôi thực hiện thành công đề tài này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2013
Học viên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Mục tiêu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học 4
1.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của sán lá Fasciola 5
1.1.3 Vòng đời của sán lá Fasciola 6
1.1.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola 9
1.1.5 Bệnh lý và lâm sàng bệnh ở trâu, bò 15
1.1.5.1 Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò: 15
1.1.5.2 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò: 16
1.1.5.3 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan: 17
1.1.6 Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra 18
1.1.7 Phòng và trị bệnh 19
1.1.7.1 Phòng bệnh 19
1.1.7.2 Điều trị bệnh 20
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 62.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 26
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 26
2.2 Vật liệu nghiên cứu 26
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 26
2.2.2 Dụng cụ và hoá chất 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.3.1 Thực trạng công tác vệ sinh thú y và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang 27
2.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò 27
2.3.2.1 Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu và bò 27
2.3.2.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian 27
2.3.2.3 Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh (khi chưa rơi vào môi trường nước) 27
2.3.2.4 Nghiên cứu thời gian Miracidium thoát vỏ và thời gian tồn tại của Miracidium trong nước 28
2.3.2.5 Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc – ký chủ trung gian 28
2.3.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp điều tra tình hình vệ sinh thú y và phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang 28
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang 28
Trang 72.4.2.1 Nghiên cứu dịch tễ học bệnh sán lá gan ở trâu, bò: Sử dụng phương
pháp dịch tễ học phân tích và dịch tễ học mô tả 28
2.4.2.2 Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò 28
2.4.2.3 Sơ đồ bố trí thu thập mẫu 29
2.4.2.4 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò qua xét nghiệm phân 30
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian 30
2.4.4 Nghiên cứu thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh (khi không rơi vào môi trường nước) 33
2.4.5 Nghiên cứu thời gian thoát vỏ và thời gian sống của Miracidium trong nước 35
2.4.6 Nghiên cứu về thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc - ký chủ trung gian 37
2.4.7 Phương pháp xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của thuốc Han - Dertil B và Bio - Alben 38
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 39
Chương 3 40
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Kết quả điều tra thực trạng công tác vệ sinh thú y và phòng chống bệnh giun, sán ở trâu, bò của tỉnh Tuyên Quang 40
3.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở các địa phương 42
3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo lứa tuổi trâu, bò 45
3.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ 47
3.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo tính biệt 49
Trang 83.3 Nghiên cứu về trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ
trung gian 51
3.3.1 Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng trại nuôi trâu, bò 51
3.3.2 Sự ô nhiễm trứng sán lá gan trên bãi chăn thả trâu, bò (ở đất bề mặt, ở vũng nước trên bãi chăn) 54
3.3.3 Xác định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá gan gan và sự phân bố của chúng 55
3.3.4 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt (nhiễm tự nhiên) 57
3.3.5 Tỷ lệ mẫu cỏ thuỷ sinh nhiễm Adolescaria 60
3.3.6.1 Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu, bò 61
3.3.7 Nghiên cứu về thời gian thoát vỏ của Miracidium và thời gian sống của Miracidium trong nước 67
3.3.7.1 Thời gian Miracidium thoát vỏ trong nước (thí nghiệm trong mùa thu và mùa đông) 67
3.3.7.2 Thời gian Miracidium sống trong nước (khi không gặp ký chủ trung gian)71 3.3.8 Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ký chủ trung gian 73
3.4 Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của 2 loại thuốc Han - Dertil B và Bio - Alben 77
3.5 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
4.1 Kết luận 80
4.2 Đề nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thu thập mẫu 29
Bảng 3.1 Thực trạng công tác vệ sinh thú y và phòng chống bệnh giun, sán ở trâu, bò ở 3 huyện, thành của tỉnh Tuyên Quang 40
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trên trâu, 42
Bảng 3.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo lứa tuổi củ nuôi tại tỉnh Tuyên Quang 45
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ ở trâu, 47
Bảng 3.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt ở trâu 49
Bảng 3.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt ở bò 50
Bảng 3.7: Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu 52
Bảng 3.8: Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và 53
Bảng 3.9: Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò 55
Bảng 4.10: Sự phân bố các loài ốc – ký chủ trung gian của sán Fasciola ở ba địa phương của tỉnh Tuyên Quang 56
Bảng 3.11: Tỷ lệ các loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán Fasciola tại ba địa phương của tỉnh Tuyên Quang 56
Bảng 3.12: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt 58
Bảng 3.13: Tỷ lệ mẫu cỏ thuỷ sinh nhiễm Adolescaria 60
Bảng 3.14: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu, bò 62
Bảng 3.15: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong đất 66
Bảng 3.16: Thời gian Miracidium thoát vỏ trong nước 69
Bảng 3.17: Thời gian tồn tại của Miracidium trong nước 72
Bảng 3.18: Thời gian hoàn thành các giai đoạn ấu trùng của sán lá gan 73
Bảng 3.19: Thời gian từ khi trứng sán lá gan vào môi trường nước đến khi hình thành Adolescaria 76
Bảng 3.20: Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của thuốc 77
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan 7
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nước ta phát triển khá mạnh trong những năm gần đây, góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, chăn nuôi trâu, bò có vai trò không thể thiếu trong việc giải quyết nhu cầu thực phẩm, sức cày kéo và tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với cư dân vùng cao, vùng trung du, miền núi
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi trâu, bò vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì bệnh
ký sinh trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể gia súc, chiếm đoạt chất dinh dưỡng làm cho vật nuôi gày yếu Một trong những bệnh ký sinh trùng thường xảy ra và gây
tác hại lớn đối với đàn trâu, bò là bệnh sán lá gan lớn (Fasciolosis)
Một tác động quan trọng của sán lá Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là
chiếm đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký sinh Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2 ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi súc vật có hàng trăm, hàng nghìn sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều
Ngoài tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác
Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề
kháng của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên
Trang 12Tuyên Quang là tỉnh miền núi phắa Bắc có số lượng trâu, bò tương đối lớn Hàng năm bệnh sán lá gan gây thiệt hại không nhỏ đến số lượng cũng như chất lượng đàn trâu, bò của tỉnh Tuyên Quang Thực tế trên đòi hỏi phải nghiên cứu về tình hình nhiễm sán lá gan ở tỉnh Tuyên Quang và đặc điểm dịch tễ của bệnh để có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị hiệu quả, tránh gây tổn hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về bệnh sán lá gan ở trâu, bò của tỉnh Tuyên Quang
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho đàn trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: ỘTình hình nhiễm sán lá gan Fasciola spp ở trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang, nghiên cứu sự phát triển của trứng, ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gianỢ
2 Mục đắch của đề tài
Đề tài xác định được một số thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh sán lá gan ở trâu, bò, từ đó có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu bò có hiệu quả cao
3 Mục tiêu của đề tài
Xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang và
sự phát triển của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh, sự phát triển các giai đoạn ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh sán lá gan do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica gây ra
Ký chủ của sán lá gan gồm ký chủ cuối cùng và ký chủ trung gian
* Ký chủ cuối cùng thường thấy là các gia súc nhai lại như trâu, bò, dê, cừu Người ta cũng đã thấy sán lá gan ký sinh ở lợn, ngựa, thỏ, một số động vật hoang dã và cả người
* Ký chủ trung gian của sán Fasciola là các loài ốc nước ngọt thuộc họ
Lymnaea: Lymnaea auricularia, L swinhoei, L viridis, Radix ovata
Sán Fasciola thường ký sinh ở ống dẫn mật Một số trường hợp thấy sán
ký sinh ở tim, phổi, hạch lâm ba, tuyến tụy
1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Skrjabin và cs (1977) [26], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] sán
lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolida Skrjabin và Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin và Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895 Phân họ Fasciolinae Stiles và Hassall, 1898 Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
Trang 151.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với
cơ quan tiêu hoá Sán không có hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sán chứa đầy trứng
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
* F gigantica : có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai” không có
hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang
F gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm,
u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như
loài khác của giống Fasciola Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối
của thân tù Giác bụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm
* F hepatica: trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra
phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn
F hepatica (nghĩa là sán lá ở gan) dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần
trước thân nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước
và phần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung
Trứng của loài F hepatica có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm
Trang 16Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá nói trên ký sinh ở ống dẫn
mật và gan gây ra Ngoài trâu, bò, dê, hai loài sán này còn gây bệnh cho các động
vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở người
F hepatica và F giantica là hai loài sán lá phổ biến ở các vùng thuộc
châu Á và châu Phi Theo Urquhart (1996) [53], tác hại của sán lá gan đối với gia súc nhai lại rất lớn, biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễm sán lá gan ở mức độ nặng
1.1.3 Vòng đời của sán lá Fasciola
Trong vòng đời phát triển, sán lá gan cần trải qua 5 giai đoạn Fasciola
trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau khi thụ tinh, mỗi sán
đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước , nhiệt độ 15 - 300
C, pH = 5 - 7,7, có ánh
sáng thích hợp sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông
và di chuyển được trong nước Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc
Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst)
Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản
vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu) Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn
giản Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật
chủ trung gian Ở nhiệt độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và
dừng phát triển Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 300C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến
thành vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria
Trang 17Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng
trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh
Trong cơ thể Cercaria còn có những hạt Glycogen cung cấp năng
lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không
ngừng của đuôi Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu Theo một số tác giả,
đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trường nước, nhờ sự
hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh,
tạo thành kén (Adolescaria)
Tóm tắt sơ đồ vòng đời của sán lá Fasciola
Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi
trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và
Fasciola
o, pH
Mao ấu
Ốc nước ngọt
Nang ấu
Rời KCTG sau 2giờ
20-28 ngày
Vĩ ấu (lơ lửng trong nước hoặc bám vào
cây cỏ thuỷ sinh)
Trang 18
0,23 mm chiều rộng Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất
nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh Lúc này
Cercaria đã biến thành Adolescaria
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có
giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết Adolescaria thường ở
trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh Nếu trâu, bò, dê nuốt phải
Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được
giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:
Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật
Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật
Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày
Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật nhai lại
3 - 5 năm, có khi tới 11 năm
Khoa học thú y nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan Theo Phan Địch Lân (1985) [16] trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 -
300C), có ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ
cuối cùng (trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau:
- Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium)
trong khoảng 14 - 16 ngày
- Ở trong ốc vật chủ trung gian:
Mao ấu (Miracidium) phát triển thành bào ấu (Sporocyst) cần 7 ngày Bào ấu (Sporocyst) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày
Trang 19Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 - 14 ngày,
thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén
(Adolescaria) sau 2 giờ
- Ở trâu, bò: khi trâu, bò, bê, nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88
ngày trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài
Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và gây bệnh của sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên) Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, cứ trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trong trâu, bò lại tạo ra một đời sán mới Con vật trong khi đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò
1.1.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola
Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [34] cho biết, trâu trưởng
thành mắc bệnh sán lá gan do F gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70% Theo
Phan Địch Lân (1985) [16], mổ khám 1043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng sán quá nhiều Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Hà Nam, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 - 57,5%
Đoàn Văn Phúc và cs (1980) [24] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà
Nội, thấy tỷ lệ nhiễm sán Fasciola là 73,43% Tác giả còn cho biết, bệnh sán
lá gan đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [25] cho biết, trâu, bò thuộc khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41%
Trang 20Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53% Trong đó, trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh (1996) [35])
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ:
Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan Điều kiện
ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh sản thuận lợi
Trịnh Văn Thịnh (1963) [33], Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [34] Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4], Nguyễn Thị Kim Lan và
cs (1999) [10] đều cho biết, gia súc nhai lại nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra
- Yếu tố vùng và địa hình:
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ với nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi Về nguyên
Trang 21nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả (Trịnh Văn Thịnh, 1963 [33]; Phạm Văn Khuê và cs, 1996 [4]; Soulsby, 1982 [52]; Kaufmann, 1996 [45] ) đều giải thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn
so với đồng bằng
Phan Địch Lân (2004) [17] đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh miền Bắc Việt Nam, kết quả thấy: trâu bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễm sán ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%, vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%, vùng núi từ 14,7% đến 44,0%)
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng:
Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán
lá gan Fasciola Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai, hoẵng ) Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả
người cũng có thể nhiễm sán
Ở nước ta, theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [34], Phạm Văn Khuê và
cs (1996) [4], loài súc vật nhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bò
ít hơn (36%), dê ít nhất (20%) Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính
ưa nước của chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ưa nước hơn
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ, các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng lên Một điều dễ nhận thấy là, súc vật tuổi càng tăng lên (thời gian sống càng dài) thì sự tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh càng nhiều, cơ hội
gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao Mặt khác, sán Fasciola trưởng
thành có thời gian ký sinh ở súc vật nhai lại tương đối dài (3 - 5 năm, thậm chí tới 11 năm) Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho quy luật nhiễm theo tuổi
vật chủ của sán lá Fasciola spp
Trang 22Phan Địch Lân (2004) [17] cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ nhiễm sán
lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2 - 40,2%, trâu 5
- 8 năm tuổi nhiễm 42,4 - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 - 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh (loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do có quá nhiều sán ký sinh) Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [11], tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan cũng tăng lên theo tuổi dê
Nguồn gieo rắc bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu ) và
những dã thú mang Fasciola Trứng sán lá gan theo phân của súc vật ra ngoài
tự nhiên Hàng năm, mỗi sán lá gan ký sinh đẻ khoảng 6000 trứng Vì vậy, mỗi súc vật mang sán hàng năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và các bãi chăn thả Những đồng cỏ ẩm thấp, lầy lội là những nơi cần thiết để mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào súc vật, đồng thời thuận lợi cho trứng
nở thành Miracidium và thuận lợi cho vật chủ trung gian của Fasciola tồn tại
và phát triển
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào các vùng địa lý khác nhau Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [4],
Kaufmann (1996) [45], vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt họ Lymnaea: L auricularia, L swinhoei, L viridis, Galba
truncatula, Radix ovata
Phan Địch Lân (1985) [16], đã tổng hợp và cho biết: loài ốc - vật chủ
trung gian của F gigantica ở Ấn Độ là L acuminata, ở châu Phi là L
natalensis, ở Pakistan là L permisca, ở Apganixtan là L luteola, ở Malaixia
là L auricularia, ở Nhật Bản là L pervia, ở Indonexia và Philippine là L
viridis, ở Hungari là G truncatula
Theo Jorgen Hansen và cs (1994) [44], nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của ốc là 15 - 260C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất lớn
Trang 23Trứng nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trưởng thành Một con ốc trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc Ở dưới 100C, ốc không phát triển và ngừng hoạt động Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn và sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng
Phan Địch Lân (1985) [16] đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc - vật
chủ trung gian của F gigantica ở miền Bắc Việt Nam Tác giả cho biết, vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L swinhoei) và ốc chanh (L viridis) Loài
L swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai Loài
L viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, dài 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 -
5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn Năm 2009,Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tìm thấy 3 loài ốc sau:
Ốc L viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ở
7 - 10 trứng, sau 7 ngày nở thành ốc con ốc L swinhoei thường sống trôi nổi
ở cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng Trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra
Phan Địch Lân (2004) [17] cho biết: ốc L swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung du
và ven biển Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều xuất hiện trong cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1 m2) khác nhau theo
vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L swinhoei cao hơn và phân bố đều trong năm, còn ốc L viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi, trung
du, ven biển Từ đó, tác giả nhận xét rằng, L swinhoei chịu nước hơn, còn L
viridis chịu cạn hơn
Sự tồn tại và phát triển quanh năm ở tất cả các vùng của ốc - vật chủ trung gian là điều kiện quan trọng nhất làm cho tỷ lệ nhiễm sán lá gan của súc
Trang 24vật nhai lại ở nước ta cao và phổ biến ở tất cả các vùng Phan Địch Lân (2004) [17] đã tổng hợp và cho biết, nước ta được xếp vào một trong 5 nước ở châu Á trồng lúa nước có đàn trâu, bò nhiễm bệnh sán lá gan với tỷ lệ cao nhất Kết quả điều tra ở một số vùng cho thấy:
Ở 11 tỉnh miền núi, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu bò là 39%
Ở 4 tỉnh trung du, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu bò là 42,2%
Ở 5 tỉnh thuộc vùng đồng bằng, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 57,5%
Ở 6 tỉnh thuộc vùng ven biển, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 36,7%
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [6], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối tương quan thuận, nghĩa là, nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan được thải theo phân súc vật nhai lại ra môi trường ngoại cảnh Trứng sán rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau 8 - 9 ngày
Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày Ở môi trường ẩm ướt,
trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng) Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ thấp (-50C → - 150
C) Nhiệt độ 10 - 200 C, trứng ngừng phát triển Nhiệt độ 40 - 500C, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [4]
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của chúng tăng lên rõ rệt Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -40C → -60
C Ở
điều kiện nhiệt độ bình thường, những Adolescaria có trong cỏ khô bị ẩm và
trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann, 1996) [45]
Trang 251.1.5 Bệnh lý và lâm sàng bệnh ở trâu, bò
1.1.5.1 Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò:
Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng và tác động mang trùng Khi súc vật mới nhiễm bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số ấu trùng có thể theo máu di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ gây tổn thương
và xuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào
cơ thể Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu
Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin trên cơ thể, gây viêm ống mật Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản
Trong quá trình ký sinh, sán thường xuyên tiết độc tố Độc tố tác động vào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm, Globulin tăng Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán còn tác động vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo ) Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thùy gan và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày
Trang 26lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan Khi súc vật nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang phúc mạc tích nước
Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký sinh Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2 ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi súc vật có hàng trăm, hàng nghìn sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác
Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề
kháng của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên
Gia súc bị suy nhược và thiếu máu là do độc tố của F gigantica, độc
tố của sán còn tác động gây hiện tượng protein trong huyết thanh biến chất,
lượng Albumin giảm và Globulin tăng Quá trình dị ứng của cơ thể súc vật là kết quả tác động của các kháng nguyên sinh ra từ sán với kháng thể xuất hiện trong tổ chức gan, và các chất sinh ra từ tổ chức khác bị huỷ hoại Quá trình
dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên, biểu hiện bằng hiện tượng suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, bằng sự tăng quá nhiều bạch cầu ái toan trong cơ thể
1.1.5.2 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò:
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây
bệnh của sán Fasciola Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ còn phụ
Trang 27thuộc vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi súc vật, tình trạng chăm sóc, quản lý
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê
và Phan Lục, 1996) [4], trong giai đoạn sán non di hành hoặc khi nuôi dưỡng, chăm sóc kém
Súc vật biểu hiện: ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Súc vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc và suy nhược cơ thể
- Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi súc vật được nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số lượng ít Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng
Phan Địch Lân (2004) [17] đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan nặng, thấy các triệu chứng thường lặp đi lặp lại như: gày rạc, suy nhược cơ thể (37/37); phân nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng (32/37); niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài (27/37); lông xù, da mốc, lông dễ rụng (26/37); phân đen, thối khắm (22/37); mắt sâu, có dử (18/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37); thuỷ thũng ở nách, hai chân trước, gan to (11/37); thuỷ thũng ở ngực, ức liên tục (9/37)
Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết
1.1.5.3 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan:
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có sự khác nhau
Đối với trâu, bò nhiễm sán nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan sưng to, màu nâu sẫm, sung huyết Trên mặt gan có thể thấy những đường
di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong có sán non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết
Trang 28Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt nhợt nhạt
Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: nhu mô gan mất màu, liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong
u chứa nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc tố mật và máu Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật: tổ chức liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [4]
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu, bò, Phan Địch Lân (2004) [17] cho biết: khi mổ khám trâu, bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan
to rất nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần) Gan màu đỏ sẫm, biểu hiện sung huyết Dưới vỏ gan thấy ứa nước, trên mặt gan còn giữ lại những đường ngoằn ngoèo do sán di hành Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo đặc biệt Trong gan còn thấy những sán non không đến được ống dẫn mật, đóng kén và chết trong kén to bằng hạt đậu Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo do biến chất thoái hoá Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan Trường hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng)
Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1996) [31] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu bị bệnh sán lá gan, kết quả thấy: số lượng hồng cầu giảm, hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, công thức bạch cầu thay đổi nghiêng về bạch cầu ái toan
1.1.6 Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra
Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã chết Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp
* Đối với súc vật còn sống:
Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp
như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học
Trang 29Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: kiệt sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức Tuy nhiên, các biểu hiện trên
không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên Vì vậy, triệu chứng lâm sàng
không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh
Việc xét nghiệm phân tìm trứng Fasciola là biện pháp có tính quyết
định trong chẩn đoán Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4], phương pháp này phổ biến nhưng
chưa phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những
súc vật nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non Khi xét nghiệm phân, cần
phân biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ (phân
biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước)
Phương pháp miễn dịch học để phát hiện súc vật nhiễm Fasciola đã
được sử dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng ở nơi tiêm để kết luận Các phương pháp khác như: phương pháp miễn dịch men ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang Tuy nhiên, do khó khăn về phương tiện và việc chế kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít được dùng trong bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng
* Đối với súc vật chết:
Khi súc vật chết, mổ khám tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng Phương pháp này chính xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành
1.1.7 Phòng và trị bệnh
1.1.7.1 Phòng bệnh
Cơ sở khoa học đề ra quy trình phòng ngừa tổng hợp bệnh sán lá gan cho
trâu, bò là phải nắm được cụ thể chu kỳ sinh học của sán Fasciola, sinh học
của ốc - vật chủ trung gian và tình hình dịch tễ của bệnh
Biện pháp phòng ngừa tổng hợp gồm:
Trang 30- Định kỳ tẩy sán lá gan cho trâu, bò để ngăn chặn mầm bệnh phát tán rộng rãi, đồng thời phòng ngừa cho súc vật không bị tái nhiễm
Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4], hàng năm nên tẩy sán cho toàn đàn ít nhất hai lần, lần đầu vào mùa xuân (trước mùa vật chủ trung gian phát triển), lần thứ hai vào cuối mùa thu nhằm diệt những sán đã nhiễm trong
vụ Xuân - Hè, ngăn ngừa bệnh phát ra ở mùa đông Trên những đồng cỏ có căn bệnh tiềm tàng, có thể tiến hành chăn dắt luân phiên giữa súc vật mẫn
- Ủ phân theo phương pháp sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinh nhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ vi sinh vật để tiêu diệt trứng sán lá gan trong phân trâu, bò Biện pháp này có hiệu quả và đơn giản nhất để phòng
bệnh do sán Fasciola gây ra
- Xử lý các cơ quan có sán ký sinh: nếu gan nhiễm nhiều sán phải huỷ bỏ (chôn, rắc vôi bột, đốt) hoặc không huỷ bỏ mà để lại chế biến chín làm thức
ăn gia súc
- Diệt vật chủ trung gian của sán lá Fasciola: tháo cạn nước, làm khô
những đồng cỏ, bãi chăn lầy lội, ẩm ướt Dùng một số chất hoá học có khả năng diệt ốc (vôi bột, sulfat đồng ), đẩy mạnh chăn nuôi thuỷ cầm (vịt, ngan, ngỗng) và cá trắm đen
- Không nhập trâu, bò từ vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra và điều trị triệt để
1.1.7.2 Điều trị bệnh
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho trâu, bò bằng một trong các loại thuốc sau:
- Thuốc Dertil: Dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan
Fasciola Tên gọi khác: Menichlofolan, Bayer ME 3625, Bayer 9015A,
Bilevon M Dertil được bào chế thành viên to, màu xanh lá cây đậm Viên Dertil “O” có chứa 100 mg hoạt chất, viên Dertil “B” chứa 300 mg hoạt chất
Trang 31Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở trâu, bò, với liều cao còn diệt được cả sán non đang di hành trong nhu mô gan Thuốc chỉ cần dùng một lần, không cần điều trị lặp lại Được chỉ định điều trị bệnh sán lá gan cấp tính và mãn tính cho trâu, bò
Liều lượng:
Bò: 5 - 6 mg/kgTT; Trâu: 8 - 9 mg/kgTT
Cho từng cá thể uống thuốc, hoặc gói thuốc vào lá chuối non, đưa sâu vào miệng cho con vật nuốt
- Thuốc Fasinex (chế phẩm của Trilabendazole): Thuốc có tác dụng diệt
cả sán non và sán trưởng thành ký sinh ở ống dẫn mật hoặc đang di hành trong các nhu mô gan
Fasinex được chỉ định dùng điều trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò
Liều lượng: 10 - 12 mg/kgTT Cho uống một lần duy nhất Thuốc có hiệu lực cao và an toàn cho gia súc dùng thuốc
Ngoài các thuốc trên, Albendazole, Bithionol, Closantel cũng có tác
dụng tẩy sán lá Fasciola ở trâu, bò
Lương Tố Thu và cs (1997) [36] đã nhận định về các thuốc trị sán lá gan
và kết quả thử nghiệm ở trâu, bò Việt Nam Các tác giả khuyến cáo rằng, trên thị trường Việt Nam hiện nay nên sử dụng Fasinex - 900 dạng viên (1 viên/75
- 100 kgTT) hoặc Fasinex - 900 dạng sữa (10 ml/100 kgTT), cho hiệu lực cao
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước đây, ở nước ta có nhiều cuộc điều tra về tỷ lệ nhiễm sán lá gan Phan Địch Lân (1985) [16] tổng kết tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò cho thấy tỷ lệ nhiễm tăng theo lứa tuổi và tăng dần từ miền biển đến miền núi, trung du và đồng bằng; tỷ lệ nhiễm dao động từ 13,7 - 61,3%
Kết quả điều tra của Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1987) [38]
ở các tỉnh miền Nam cho thấy tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan từ 1,4 - 36,2%
Trang 32Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [25] thông báo trâu, bò ở khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 33,9%
Nguyễn Trọng Kim và Phạm Ngọc Vĩnh (1997) [7] công bố tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò ở Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An từ 25,27 - 32,65%;
tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở miền Bắc Việt Nam là 43,56%
Lương Tố Thu và cs (2000) [37] cho thấy bò ở khu vực Hà Nội bị nhiễm với tỷ lệ 42,3 - 73,3%, ở trâu là 32,3 - 76,8%
Kết quả nghiên cứu của Lê Hữu Khương và cs (2001) [5] cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan trung bình trên cả nước ở trâu là 46,23%, dao động từ 8,74 - 61,09%, ở bò là 30,64%, tỷ lệ này tăng dần từ Nam ra Bắc
Gần đây, Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [22] thông báo tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở Đaklak từ 34,2 - 62,6%; tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò xung quanh
Hà Nội là 28% (ở bò từ 3 - 24 tháng tuổi) và 39% (ở trâu, bò trưởng thành)
Theo Phan Địch Lân (1985) [16], ốc L viridis phân bố rộng ở tất cả các vùng, ở vùng núi chiếm 75% trong số 2 loài ốc Lymnaea thu được, còn ở
vùng trung du chiếm 66,5%, ven biển chiếm 51,5% và vùng đồng bằng là
42,0% Còn L swinhoei phân bố hẹp hơn, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và
ven biển, còn ở vùng núi và trung du ít hơn, đặc biệt ở miền núi rất ít, có nhiều nơi không có, vùng đồng bằng chiếm 58%
Nguyễn Trọng Kim (1997) [6] đã công bố tỷ lệ nhiễm trung bình ở các
tỉnh miền Bắc ở ốc L swinhoei là 20,8% và ở ốc L viridis là 19,6%
Theo Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1987) [38], cả 2 loài ốc
ở các tỉnh miền nam đều là vật chủ trung gian của sán lá gan, nhưng tỷ lệ nhiễm rất thấp (1,1%)
Kết quả điều tra trong nhiều năm của Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1996) [31] ở Cổ Nhuế, Hà Nội cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở 2 loài ốc chỉ từ 0,7 - 3,0%
Trang 33Nguyễn Thị Lê và cs (1995) [21] cho biết: tác giả đã không tìm thấy ấu
trùng sán lá gan trong hơn 1000 ốc Lymneae ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Theo Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [22], tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasiola của
ốc L swinhoei ở ĐakLak là 0,45%;
Kết quả điều tra của Phạm Ngọc Doanh và Nguyễn Thị Lê (2005) [1]
cho thấy, chỉ 0,06% và 1% ốc L viridis ở Đông Anh và Phú Xuyên (Hà Nội)
bị nhiễm ấu trùng sán lá gan
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong tổng kết về bệnh sán lá gan, Kendall (1954, 1965) [46] kết luận
rằng F gigantica phổ biến trên toàn thế giới và ký chủ trung gian của chúng
là các loài ốc không dễ dàng phân biệt về mặt hình thái hoặc sinh thái Tác giả cho rằng, các loài của vật chủ trung gian chính ở Nam, Tây và Đông châu Phi
là L natalensis, ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan là L rufescens Một loài ốc tương tự, L ollula, là vật chủ trung gian của F gigantica ở Nhật Bản (Ueno et
al., 1975) và Hawaii (Alicata, 1938)
Trong nghiên cứu phòng thí nghiệm, Boray (1985) [41] gây nhiễm
thành công F gigantica ở ốc L stagnalis mới nở
Một nghiên cứu hình thái tỷ mỉ và chính xác đã được thực hiện để phân
biệt 2 loài F hepatica và F gigantica: (1) xem xét vùng phân bố địa lý của ốc
Lymnae (2) chỉ sử dụng sán ở cùng một vật chủ; (3) Để tránh sai số kỹ thuật, sán được cố định, nhuộm và gắn tiêu bản bằng cùng một phương pháp, trứng được xem tươi; (4) Sử dụng hệ thống phân tích hình ảnh qua máy tính (CIAS)
để có các số đo 2 chiều, 3 chiều và cung cấp các tỷ lệ có ý nghĩa cho các chỉ số
Nghiên cứu cho thấy, khi chỉ xem xét đặc điểm hình thái, mà không chú ý đến sự tương quan giữa các số đo kích thước của sán trưởng thành thì
có thể không phân biệt được 2 loài Từ kết quả phân tích tương quan, giá trị
cực đại của đa số các cơ quan liên quan đến chiều dài cơ thể (BL) ở F
gigantica thường lớn hơn rất nhiều so với F hepatica Ngược lại, F hepatica
Trang 34có các số đo cực đại liên quan đến chiều rộng cơ thể (BW) Những giá trị cực
đại này cho thấy, đặc điểm đặc trưng của F gigantica là phát triển theo chiều dài hơn so với F hepatica Mặc dù kích thước từ mút trước cơ thể đến giác
bụng dường như không khác nhau nhiều giữa 2 loài, song nghiên cứu tương
quan cho thấy đặc điểm hình thái khác nhau cho phép phân biệt 2 loài F
hepatica và F gigantica ở trong cùng một vật chủ Nghiên cứu về tỷ lệ phát
triển cho thấy, chỉ có tỷ lệ chiều dài/chiều rộng (BL/BW) là giá trị chính xác
để phân biệt 2 loài
Một câu hỏi đặt ra là, liệu có 2 loài F hepatica và F gigantica không?
Đa số các nhà phân loại học mô tả dựa trên quan niệm về loài theo Linnaeus
và duy trì cho đến ngày nay Thậm chí, việc sử dụng các phương pháp và kỹ
thuật mới có giá trị phân loại Fasciola (Mas-Coma et al., 2005) [48]
Như vậy, phân loại sán lá Fasciola chủ yếu dựa trên hình thái sán trưởng
thành, kích thước trứng, vật chủ chính, vật chủ trung gian và phân bố địa lý Về hình thái sán trưởng thành, các chỉ số tương quan và sự khác biệt về tỷ lệ chiều
dài/chiều rộng (BL/BW) có thể giúp phân biệt 2 loài F hepatica và F gigantica
Về vật chủ chính, F hepatica và F gigantica có chung nhiều loài vật
chủ ăn cỏ và ăn tạp (Mas-Coma, 1995) [47] Tính mẫn cảm và đặc điểm bệnh
lý do sán lá gan gây ra khác nhau đáng kể ở các vật chủ khác nhau Nghiên
cứu về Enzyme cho thấy, F hepatica và F gigantica khác nhau Sự khác biệt
giữa 2 loài chỉ có 5 vị khác khác nhau ở ITS-1 và 5 vị trí khác nhau ở ITS-2
(Mas-Coma và Bargues, 2005) [48] Có nhiều bằng chứng cho thấy, F
hepatica có liên quan với nhóm Galba nguồn gốc từ Bắc cực, Trung và Nam
Mỹ với G truncatula là vật chủ trung gian Ngược lại, F gigantica dường như liên quan đến nhóm ốc Radix, chủ yếu là loài R natalensis ở châu Phi và loài R auricularia ở Palaearctic Sự chuyên biệt về ốc vật chủ trung gian này giải thích sự phân bố địa lý của 2 loài sán lá gan Trái lại, F hepatica có thể lan rộng từ châu Âu đến tất cả 5 lục địa, F gigantica chỉ giới hạn ở châu Phi
Trang 35và châu Á (kể cả Hawaii) Yêu cầu sinh thái của ốc cũng giải thích tại sao F
hepatica lại phổ biến ở vùng ôn đới và như vậy phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ
và châu Đại dương, trong khi F gigantica thích nghi ở vùng nhiệt đới và ẩm
ở châu Phi và châu Á
Tóm lại, những bằng chứng trên cho thấy tính đặc hiệu của 2 loài F
hepatica và F gigantica, chúng là 2 loài khác nhau Tuy nhiên, có thể có sự
lai giữa 2 loài ở châu Phi và châu Á, một quy luật chung khi có sự tiếp xúc giữa 2 loài ở trong cùng một vật chủ Chúng duy trì khả năng lai chéo vì với thời gian vài nghìn năm từ khi tách biệt từ tổ tiên chung thì chưa đủ để có bộ gen hoàn toàn khác biệt
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh sán lá gan (Fasciolosis) ở trâu, bò
- Trứng và ấu trùng sán lá gan Fasciola spp
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ và các trại chăn nuôi trâu, bò gia đình tại ba huyện, thành của tỉnh Tuyên Quang: Huyện Hàm Yên, huyện Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
+ Bộ môn Bệnh Động vật và phòng Chẩn đoán bệnh – Khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
+ Phòng ký sinh trùng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hà Nội
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mẫu nghiên cứu
- Mẫu phân trâu, bò, mẫu đất (cặn) nền chuồng, mẫu đất ở xung quanh
chuồng trâu, bò
- Mẫu đất bề mặt, mẫu nước chỗ trũng trên bãi chăn thả trâu, bò, mẫu
cỏ thuỷ sinh
- Mẫu ốc thu thập từ các ao, ruộng, suối trong khu vực chăn thả trâu, bò
- Trứng sán lá Fasciola spp phân lập từ phân của trâu, bò bệnh (để bố
trí các thí nghiệm)
2.2.2 Dụng cụ và hoá chất
- Kính hiển vi quang học
Trang 37- Buồng đếm trứng giun sán Mc.Master
- Dụng cụ xét nghiệm mẫu: Cốc thuỷ tinh, đĩa Petri, lam kính, la men, lưới lọc phân và các dụng cụ thí nghiệm khác
- Các bình thủy tinh kích thước 60 x 30 x 30 cm để nuôi ốc thí nghiệm
- Các chậu thủy tinh, khay nhựa, khay men để bố trí các thí nghiệm theo dõi thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu, bò và trong môi trường đất
- Thuốc Han-Dertil B, Bio-Alben
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Thực trạng công tác vệ sinh thú y và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang
2.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò
2.3.2.1 Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu và bò
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt trâu, bò
2.3.2.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian
- Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng trại, bãi chăn thả
- Xác định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá gan
Fasciola spp và sự phân bố của chúng ở tỉnh Tuyên Quang
- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt
- Tỷ lệ mẫu cỏ thủy sinh nhiễm Adolescaria
2.3.2.3 Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh (khi chưa rơi vào môi trường nước)
- Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu, bò
- Thời gian sống của trứng sán lá gan trong đất
Trang 382.3.2.4 Nghiên cứu thời gian Miracidium thoát vỏ và thời gian tồn tại của Miracidium trong nước
- Thời gian Miracidium thoát vỏ từ khi trứng rơi vào môi trường nước
- Thời gian Miracidium tồn tại trong nước (khi không gặp ký chủ trung gian)
2.3.2.5 Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc – ký chủ trung gian
- Thời gian hoàn thành các giai đoạn ấu trùng của sán lá gan trong ốc -
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra tình hình vệ sinh thú y và phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang
- Trực tiếp quan sát
- Kết hợp phỏng vấn và phát phiếu điều tra
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Tuyên Quang
2.4.2.1 Nghiên cứu dịch tễ học bệnh sán lá gan ở trâu, bò: Sử dụng phương
pháp dịch tễ học phân tích và dịch tễ học mô tả
2.4.2.2 Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò
- Tuổi trâu, bò: Trâu, bò được phân ra 4 lứa tuổi:
+ Dưới 2 năm tuổi
+ 2 năm – 5 năm tuổi
Trang 39+ 5 năm – 8 năm tuổi
+ Trên 8 năm tuổi
- Mùa vụ: mùa vụ trong năm được theo dõi gồm 4 mùa:
2.4.2.3 Sơ đồ bố trí thu thập mẫu
- Bố trí thu thập mẫu tại 3 huyện, thị xã của tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, phân tầng
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thu thập mẫu
Loại mẫu
Số mẫu/huyện, thành
Số huyện, thị xã
Số xã/huyện
Mẫu đất bề mặt, xung quanh chuồng 932 3 4
Mẫu được thu thập ngẫu nhiên tại các nông hộ, trang trại chăn nuôi trâu, bò tại tỉnh Tuyên Quang
Trang 40- Các loại mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học
2.4.2.4 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò qua xét nghiệm phân
* Phương pháp thu thập mẫu phân
Thu nhập mẫu phân ngẫu nhiên ở trâu, bò nuôi ở các nông hộ, trại tập thể và gia đình Lấy phân trực tiếp từ trực tràng con vật Để riêng mỗi mẫu vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có nhãn ghi: loại gia súc (trâu, bò), địa điểm, tuổi, trạng thái phân, thời gian lấy mẫu và các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò (nếu có) Ngoài ra, căn cứ vào những yếu tố cần xác định có liên quan đến đặc điểm dịch tễ để lấy mẫu cho tương đối đồng đều về các yếu tố khác
* Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan
Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) : Cho từng mẫu phân vào cốc thủy tinh, thêm 5 – 10 lần nước, khuấy tan, lọc qua lưới lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc được để yên 15 – 20 phút cho lắng xuống, gạn nước trên đi, lại cho nước vào, làm đi làm lại nhiều lần cho đến khi nước trong suốt, gạn nước đi, cho cặn lên phiến kính, soi kính hiển vi để tìm trứng sán lá gan Những mẫu phân tìm thấy trứng sán lá gan được xác định là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm
- Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm sán lá gan
Xác định cường độ nhiễm sán lá gan bằng phương pháp đếm trứng Mc Master (đếm số trứng/gam phân trên buồng đếm Mc.Master theo tài liệu của Jorgen Hansen và cs, 1994) [44]
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh
và trong ký chủ trung gian
2.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở nền chuồng
và khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu, bò
- Phương pháp thu thập mẫu