1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ Bảo hiểm Xây dựng Lắp đặt tại BIC

51 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 693 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNGLẮP ĐẶT 1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG LẮP ĐẶT. 1.1.1. Đặc điểm của ngành xây dựnglắp đặt và vai trò của xây dựnglắp đặt trong nền kinh tế. 1.1.1.1. Đặc điểm của ngành xây dựnglắp đặt Hoạt động xây dựng lắp đặt diễn ra hàng ngày trong cuộc sống của con người, và được tiến hành từ khi con người xuất hiện trên trái đất cho tới ngày nay. Trải qua hàng triệu năm phát triển, ngành xây dựng đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn, sự phát triển của ngành xây dựng khẳng định sự tiến bộ của loài người. Sự văn minh, phát triển của một đất nước sẽ được đánh giá qua cơ sở vật chất hạ tầng, mà điều này được đảm bảo qua ngành xây dựng. Dưới đây là một số đặc điểm của ngành xây dựng lắp đặt: Ngành xây dựng lắp đặt trong quá trình sản xuất chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên, đây là một điều tất nhiên trong quá trình sản xuất. Vì vậy chịu rủi ro rất cao và ảnh hưởng đến chất lượng công trình cũng như tiến độ thi công. Sản phẩm của ngành xây dựng lắp đặt mang tính riêng biệt cao, ít có sự trùng hợp giữa các công trình xây dựng. Công trình xây dựng lắp đặt thường bao gồm nhiều hạng mục phức tạp, mỗi hạng mục có đặc tính riêng. Công trình xây dựng lắp đặt có tính cố định, khối lượng lớn, diện tích lớn, có tính nghệ thuật, tồn tại lâu bền và có giá trị lớn. Thời gian thi công công trình xây dựng lắp đặt thường kéo dài. 1.1.1.2. Vai trò của xây dựnglắp đặt trong nền kinh tế Ngành xây dựng có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ở Việt Nam hiện nay cũng như các nước trên thế giới ngành xây dựng lắp đặt quyết định quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, có ảnh hưởng và chi phối đến sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế. Vai trò của ngành xây dựng lắp đặt được thể hiện qua một số nội dung sau: Là một trong những ngành kinh tế lớn (ngành cấp I) của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định giúp các ngành khác có điều kiện hoạt động và phát triển. Xây dựng lắp đặt là một ngành sản xuất vật chất lớn trong nền kinh tế quốc dân, chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng GDP của nước ta. Hàng năm, nó chiếm một tỉ lệ lớn trong đầu tư của ngân sách nhà nước. Ở những nước phát triển, sản phẩm của ngành xây dựng chiếm khoảng 11% sản phẩm xã hội. Ngành công nghiệp xây dựng liên quan hầu hết đến tất cả các ngành khác trong nền kinh tế. Nó là ngành có ảnh hưởng và cải thiện cũng như nâng cao năng suất lao động của các ngành khác. Xây dựng cơ bản tạo điều kiện nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao hiệu quả của các hoạt động trong xã hội, giúp cải thiện vấn đề an ninh quốc phòng quốc gia. 1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xây dựng lắp đặt 1.1.2.1. Trên thế giới Trong quá trình xây dựng lắp đặt không thể tránh khỏi những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra. Để đối phó với những rủi ro đó, các chủ thầu đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả do những rủi ro trong quá trình xây dựng gây ra, một trong những biện pháp hữu hiệu nhất đó là bảo hiểm. Bảo hiểm xây dựng lắp đặt là một bộ phận của Bảo hiểm Kỹ thuật, ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. So với các loại Bảo hiểm Kỹ thuật khác như bảo hiểm cháy ra đời năm 1667, bảo hiểm hàng hải ra đời năm 1687, ... Bảo hiểm xây dựng lắp đặt ra đời muộn hơn rất nhiều, đơn Bảo hiểm xây dựng lắp đặt đầu tiên trên thế giới là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy móc được cấp năm 1859 ở miền Bắc nước Anh nơi có quá trình công nghiệp hóa diễn ra rất mạnh mẽ. Từ đó hình thành các đơn bảo hiểm xây dựng lắp đặt chuẩn được áp dụng rộng rãi trên thị trường. Nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ II và sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật là động lực thúc đẩy sự lớn mạnh không ngừng của lĩnh vực bảo hiểm này. Tuy ra đời muộn hơn so với các loại hình bảo hiểm truyền thống nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và kỹ thuật trong thế kỉ XX, đặc biệt khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì loại hình bảo hiểm kỹ thuật đã phát triển hơn bao giờ hết và không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay và tương lai. Sự lớn mạnh của loại hình bảo hiểm này đã được khẳng định dần qua thời gian. Bảo hiểm kỹ thuật đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế xã hội trên toàn thế giới, từ việc bảo hiểm các máy móc trong xí nghiệp sản xuất, các dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm các công trình xây dựng khổng lồ như sân bay, bến cảng, các con tàu vũ trụ hay các giàn khoan trên biển. Bảo hiểm kỹ thuật đứng về phía nghiệp vụ mà nói đã có sự phát triển rất nhanh và tương đối hoàn chỉnh do được nhiều cá nhân và các công ty quan tâm phát triển cả về loại hình cũng như nội dung, trong đó phải kể đến công ty Munich Re

Trang 1

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG-LẮP ĐẶT

XÂY DỰNG LẮP ĐẶT.

1.1.1 Đặc điểm của ngành xây dựng-lắp đặt và vai trò của xây dựng-lắp đặt

trong nền kinh tế.

1.1.1.1 Đặc điểm của ngành xây dựng-lắp đặt

Hoạt động xây dựng - lắp đặt diễn ra hàng ngày trong cuộc sống của con người, và

được tiến hành từ khi con người xuất hiện trên trái đất cho tới ngày nay Trải qua hàngtriệu năm phát triển, ngành xây dựng đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn, sự pháttriển của ngành xây dựng khẳng định sự tiến bộ của loài người Sự văn minh, phát triểncủa một đất nước sẽ được đánh giá qua cơ sở vật chất hạ tầng, mà điều này được đảm bảoqua ngành xây dựng Dưới đây là một số đặc điểm của ngành xây dựng - lắp đặt:

- Ngành xây dựng - lắp đặt trong quá trình sản xuất chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố

tự nhiên, đây là một điều tất nhiên trong quá trình sản xuất Vì vậy chịu rủi ro rất cao vàảnh hưởng đến chất lượng công trình cũng như tiến độ thi công

- Sản phẩm của ngành xây dựng - lắp đặt mang tính riêng biệt cao, ít có sự trùng hợpgiữa các công trình xây dựng

- Công trình xây dựng - lắp đặt thường bao gồm nhiều hạng mục phức tạp, mỗi hạngmục có đặc tính riêng

- Công trình xây dựng - lắp đặt có tính cố định, khối lượng lớn, diện tích lớn, có tínhnghệ thuật, tồn tại lâu bền và có giá trị lớn

- Thời gian thi công công trình xây dựng - lắp đặt thường kéo dài

1.1.1.2 Vai trò của xây dựng-lắp đặt trong nền kinh tế

Trang 2

Ngành xây dựng có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ở ViệtNam hiện nay cũng như các nước trên thế giới ngành xây dựng - lắp đặt quyết định quátrình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, có ảnh hưởng và chi phối đến sự phát triểncủa các ngành khác trong nền kinh tế Vai trò của ngành xây dựng - lắp đặt được thể hiệnqua một số nội dung sau:

- Là một trong những ngành kinh tế lớn (ngành cấp I) của nền kinh tế quốc dân,đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trìnhtạonên cơ sở vật chất kỹ thuật và tàisản cố định giúp các ngành khác có điều kiện hoạt động và phát triển

- Xây dựng - lắp đặt là một ngành sản xuất vật chất lớn trong nền kinh tế quốc dân,chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng GDP của nước ta Hàng năm, nó chiếm một tỉ lệ lớntrong đầu tư của ngân sách nhà nước Ở những nước phát triển, sản phẩm của ngành xâydựng chiếm khoảng 11% sản phẩm xã hội

- Ngành công nghiệp xây dựng liên quan hầu hết đến tất cả các ngành khác trong nềnkinh tế Nó là ngành có ảnh hưởng và cải thiện cũng như nâng cao năng suất lao động củacác ngành khác

- Xây dựng cơ bản tạo điều kiện nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, nâng cao hiệu quả của các hoạt động trong xã hội, giúp cải thiện vấn đề anninh quốc phòng quốc gia

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt

1.1.2.1 Trên thế giới

Trong quá trình xây dựng - lắp đặt không thể tránh khỏi những rủi ro bất ngờ cóthể xảy ra Để đối phó với những rủi ro đó, các chủ thầu đã có nhiều biện pháp khác nhaunhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả do những rủi ro trong quá trình xây dựnggây ra, một trong những biện pháp hữu hiệu nhất đó là bảo hiểm

Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt là một bộ phận của Bảo hiểm Kỹ thuật, ra đời và pháttriển gắn liền với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật So với các loại Bảohiểm Kỹ thuật khác như bảo hiểm cháy ra đời năm 1667, bảo hiểm hàng hải ra đời năm

1687, Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt ra đời muộn hơn rất nhiều, đơn Bảo hiểm xây dựng

Trang 3

- lắp đặt đầu tiên trên thế giới là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy móc được cấp năm 1859 ở miềnBắc nước Anh - nơi có quá trình công nghiệp hóa diễn ra rất mạnh mẽ Từ đó hình thànhcác đơn bảo hiểm xây dựng - lắp đặt chuẩn được áp dụng rộng rãi trên thị trường Nhu cầutái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ II và sự phát triển như vũ bão của khoahọc kỹ thuật là động lực thúc đẩy sự lớn mạnh không ngừng của lĩnh vực bảo hiểm này.

Tuy ra đời muộn hơn so với các loại hình bảo hiểm truyền thống nhưng với sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và kỹ thuật trong thế kỉ XX, đặc biệt khi khoa học

kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì loại hình bảo hiểm kỹ thuật đã phát triểnhơn bao giờ hết và không thể thiếu trong giai đoạn hiện nay và tương lai Sự lớn mạnh củaloại hình bảo hiểm này đã được khẳng định dần qua thời gian Bảo hiểm kỹ thuật đã cómặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế xã hội trên toàn thế giới, từ việc bảohiểm các máy móc trong xí nghiệp sản xuất, các dụng cụ tinh vi trong y tế, trong cácphòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm các công trình xây dựng khổng lồ như sân bay,bến cảng, các con tàu vũ trụ hay các giàn khoan trên biển

Bảo hiểm kỹ thuật đứng về phía nghiệp vụ mà nói đã có sự phát triển rất nhanh vàtương đối hoàn chỉnh do được nhiều cá nhân và các công ty quan tâm phát triển cả về loạihình cũng như nội dung, trong đó phải kể đến công ty Munich Re - một công ty tái bảohiểm hàng đầu thế giới đã sáng lập và phổ biến rộng rãi loại hình bảo hiểm này cùng vớicác công ty khác trên thị trường bảo hiểm London - trung tâm bảo hiểm của thế giới

Khi mới ra đời Bảo hiểm kỹ thuật chỉ bao gồm một số đơn bảo hiểm chính như:Bảo hiểm đổ vỡ máy móc, bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt Đếnnay, Bảo hiểm kỹ thuật đã phát triển rất đa dạng với nhiều loại sản phẩm khác nhau

Các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng - lắp đặt có liên quan chặt chẽ vớinhau, mỗi loại đảm bảo cho một giai đoạn hay một khâu trong quá trình sản xuất Có thểdiễn giải mối quan hệ đó theo sơ đồ sau:

Hình 1.1 Mối quan hệ của các loại hình bảo hiểm trong BHKT

3 Bảo hiểm xây dựng

(Khởi công XD công

Trang 4

Như vậy, BH XD-LĐ là một trong những loại hình bảo hiểm chính trong BHKT, nó

đảm bảo cho khâu xây dựng và lắp đặt của một công trình xây lắp Sự ra đời và phát triểncủa nó gắn liền với sự ra đời và phát triển của BHKT Tuy nhiên, trong số các nghiệp vụBHKT thì BH XD-LĐ là loại hình phát triển mạnh nhất về quy mô cũng như chất lượngnghiệp vụ Điều này lý giải bởi nhu cầu xây dựng và lắp đặt của các nước trên thế giớingày càng có xu hướng tăng lên ngay cả trong thời kỳ kinh tế khó khăn Theo con sốthống kê thì các nước trên thế giới đều duy trì đầu tư cho xây dựng ở mức trên dưới 10%GDP

1.1.2.2 Tại Việt Nam

Với sự ra đời và đi vào hoạt động của công ty Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (BảoViệt) năm 1965, thì Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt mới có điều kiện phát triển như hiện nay.Ban đầu, khi triển khai nghiệp vụ này, Bộ tài chính cho áp dụng đơn bảo hiểm, quy tắcbảo hiểm và biểu phí bảo hiểm của công ty Munich Re, tuy nhiên thì tại thời điểm này vẫnchưa có hợp đồng Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt nào được ký kết

Để tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm nói chung cũng như nghiệp vụ bảo hiểm xâydựng - lắp đặt nói riêng có điều kiện phát triển, Bảo Việt đã cải tạo sắp đặt lại tổ chức,nghiên cứu triển khai các nghiệp vụ mới Vào năm 1988, nghiệp vụ Bảo hiểm xây dựng -lắp đặt ra đời đúng vào thời điểm các công trình xây dựng được triển khai hàng loạt

Ngày 24.06.1995, Bộ tài chính ban hành quyết định 663/TC-QĐ-TCNH, kèm theo

là bộ quy tắc Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng , quy tắc Bảo hiểm mọi rủi ro trong lắpđặt, biểu phí Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Ngay sau đó, đơn Bảo hiểm xây dựng - lắp

BH thiết bị điên tử

BH bắt đầu SX (BH máy móc)

BH bảo hành

Bảo hiểm lắp đặt (công việc lắp

đặt)

Trang 5

đặt đầu tiên được cấp ở Việt Nam là đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt cho trạm thu phát vệtinh mặt đất Láng Trung – một công trình liên doanh giữa Tổng công ty Bưu chính viễnthông Việt Nam và tập đoàn Teltra của Australia Đây có thể coi là một mốc lịch sử đánhdấu sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm Xây dựng-lắp đặt tại Việt Nam Quyết định

33/2004/QĐ-BTC ban hành ngày 12.04.2005 thay thế quyết định 663/TC-QĐ-TCNH,với nhiều bổ sung sửa đổi tạo điều kiện cho Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt phát triển hơnnữa, tuy nhiên quyết định này đã hết hiệu lực

Lĩnh vực xây dựng - lắp đặt cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã có thểđạt tới những công trình khổng lồ như các toà nhà chọc trời, những đường hầm xuyên eobiển, các giàn khoan đồ sộ ngoài khơi, thậm chí là việc lắp ráp các con tàu vũ trụ khổnglồ Tất cả những công trình đó con người có thể làm được nhưng đòi hỏi một khối lượnglớn về tiền bạc và thời gian, chỉ cần một sơ suất nhỏ hay một rủi ro bất ngờ đều có thể phá

nát "giấc mơ của con người" gây thiệt hại không thể lường hết được cho các nhà đầu tư

và việc phá sản đối với họ là điều dễ hiểu

1.2.1 Đối với người được bảo hiểm (NĐBH)

Hoạt động xây dựng-lắp đặt có đặc điểm là cần nguồn vốn sử dụng lớn, bên cạnh

đó quá trình xây-lắp còn chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố nộisinh và ngoại lai Những yếu tố này thường không được biết trước hoặc khó dự đoán, nênrủi ro có thể xảy ra với các công trình xây dựng - lắp đặt thường rất lớn, giá trị tổn thất cao

và khi tổn thất xảy ra có thể làm cho chủ đầu tư không còn khả năng khắc phục tình hìnhtài chính, từ đó làm cho hoạt động thi công bị ngưng trệ, gây tổn thất lớn cho nhà đầu tư

Để tự bảo vệ mình, các chủ đầu tư mua bảo hiểm cho công trình của mình Tác dụng củabảo hiểm xây dựng - lắp đặt được thể hiện ở một số điểm sau đây:

- BH XD - LĐ có tác dụng như một tấm lá chắn cuối cùng cho các nhà đầu tư và chủthầu trước những nguy cơ thiệt hại về kinh tế do các rủi ro bất ngờ hoặc thiên tai, thậm chígiúp cho họ tránh được nguy cơ phá sản khi các thiệt hại đó quá lớn, giúp cho quá trìnhxây lắp diễn ra liên tục

Trang 6

- Giúp cho người được bảo hiểm nhanh chóng khắc phục, hạn chế tổn thất do nhữngrủi ro bất ngờ xảy ra Nhờ đó, họ nhanh chóng ổn định sản xuất kinh doanh.

- Người được bảo hiểm sẽ nhận được sự hỗ trợ từ phía công ty bảo hiểm trong côngtác đề phòng hạn chế tổn thất nhằm hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra tổn thất

- Người được bảo hiểm có thể tự chủ về tài chính, hạch toán kinh doanh một cáchchính xác hơn, đảm bảo kế hoạch kinh doanh mà không cần lãng phí một khoản tiền đầu

tư lớn dự trữ cho việc đối phó với tổn thất tài chính khi rủi ro xảy ra

1.2.2 Đối với Xã hội

Hoạt động xây dựng-lắp đặt không thể thiếu trong sự phát triển của một quốc gia,

có vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa của đất nước, gópphần làm mới bộ mặt của một quốc gia, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển Một biệnpháp nhằm giúp hoạt động xây dựng-lắp đặt được diễn ra một cách thuận lợi và liên tục là

BH XD-LĐ Vai trò của BH XD-LĐ đối với sự phát triển của xã hội được thể hiện ở một

số khía cạnh sau:

- Các công ty Bảo hiểm là một tổ chức trung gian tín dụng, ngoài chức năng chính làkinh doanh bảo hiểm còn thực hiện việc thu hút nguồn tiền nhàn rỗi và đầu trở lại nềnkinh tế

- BH XD-LĐ giúp cho nền kinh tế của mỗi quốc gia ổn định trong những điều kiệnkhó khăn khi xảy ra thiệt hại cho các công trình xây lắp lớn, đảm bảo cho các chươngtrình phát triển cơ sở hạ tầng của một quốc gia được thực hiện tốt và không bị gián đoạnthi công

- BH XD-LĐ ra đời còn tạo tâm lý ổn định và yên tâm hơn cho những người liênquan đến công trình xây lắp và là cơ sở quan trọng cho việc đầu tư vào những lĩnh vực,những công trình có độ rủi ro cao

- Tạo ra một khối lượng việc làm đáng kể, góp phần giải quyết công ăn việc làm chongười lao động và đảm bảo an sinh xã hội

DỰNG – LẮP ĐẶT

1.3.1 Các khái niệm cơ bản trong nghiệp vụ Bảo hiểm xây dựng-lắp đặt

1.3.1.1 Hợp đồng Bảo hiểm xây dựng-lắp đặt

Trang 7

Là thỏa thuận bằng văn bản giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm,trong đó quy định trách nhiệm của mỗi bên tham gia Hợp đồng bảo hiểm bao gồm giấyyêu cầu bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, các điều khoản sửa đổi, bổ sung (nếu có).

1.3.1.2 Công trình xây dựng:

Là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất (bao gồm cả mặt nước, mặtbiển và thềm lục địa) được tạo bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động Công trình xâydựng bao gồm một hoặc nhiều hạng mục công trình nằm trong dây truyền công nghệ đồng

bộ, hoàn chỉnh (có tính đến việc hợp tác sản xuất) để làm ra sản phẩm cuối cùng trong dựán

1.3.1.3 Chủ đầu tư (chủ công trình):

Là người chủ sở hữu vốn, chủ đầu tư có thể là một tổ chức hoặc cá nhân bỏ toàn

bộ hoặc một phần vốn còn lại để đầu tư theo quy định của pháp luật

- Trường hợp vốn đầu tư của dự án chủ yếu thuộc sở hữu Nhà nước thì chủ đầu tư làngười được cấp quyết định đầu tư, chỉ định ngay từ khi lập dự án và giao trách nhiệmquản lý, sử dụng vốn

- Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện hoặc thuê các tổ chức tư vấn về các doanhnghiệp xây lắp có tư cách pháp nhân lập hoặc thẩm định dự án do các tổ chức tư vấn kháclập, quản lý dự án, thực hiện dự án đầu tư theo hợp đồng kinh tế, theo pháp luật hiện hành

1.3.1.4 Chủ thầu:

Là người kí kết hợp đồng xây dựng lắp đặt với chủ đầu tư đảm nhận khâu thi công

một phần hay toàn bộ công trình Đó có thể là cá nhân hay tổ chức có tư cách pháp nhân.Trong trường hợp có nhiều chủ thầu và chủ đầu tư, có thể phân chia thành: chủ thầu chính

và chủ thầu phụ

- Chủ thầu chính: là người trực tiếp ký hợp đồng xây dựng lắp đặt với chủ đầu tư, là

người đứng ra bao thầu toàn bộ công trình, có trách nhiệm thi công công trình theo đúngmục đích, yêu cầu, chi phí và hoàn thành công trình theo đúng thời hạn của chủ đầu tư

- Chủ thầu phụ: là người ký kết các hợp đồng xây dựng lắp đặt với chủ thầu chính để

thực hiện một phần hoặc một hạng mục công trình

1.3.1.5 Người cung cấp:

Trang 8

Là các nhà cung cấp chế tạo và lắp ráp tại xưởng một số bộ phận của công trìnhhay các thiết bị máy móc để được đưa đến công trường phục vụ công tác xây dựng lắp đặt.

Họ có thể tham gia vào việc lắp đặt, điều chỉnh và chạy thử thiết bị của họ trong khu vựccông trường

1.3.1.6 Các kiến trúc sư, kỹ sư, cố vấn chuyên môn:

Là cá nhân hay tổ chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về kỹ thuật xây dựng lắpđặt, họ là người thiết kế dự án, thực hiện công tác nghiên cứu, khảo sát và thiết lập các kếhoạch sơ bộ, diễn giải công việc xây dựng lắp đặt, đồng thời họ có thể là người điều phối,chỉ đạo và giám sát công trình

1.3.1.7 Ban giám sát công trình:

Chủ đầu tư muốn đưa công trình vào khai thác sử dụng đúng hạn định, vì vậy họphải luôn giám sát để hạn chế và loại trừ những rủi ro làm cho công trường ngưng hoạtđộng, các nguy cơ có thể dẫn đến việc kiện cáo trong quá trình xây dựng lắp đặt Bangiám sát công trình thi công được thành lập theo yêu cầu của chủ công trình Công việcchính của họ là kiểm tra dự án, giám sát tại công trình để xác định những phương pháp, kỹthuật xây dựng-lắp đặt do nhà thầu lựa chọn có thích hợp với yêu cầu của dự án haykhông và viết báo cáo vào cuối mỗi công đoạn thi công

1.3.2 Những rủi ro trong xây dựng - lắp đặt

Bảo hiểm xây dựng lắp đặt nhận bảo hiểm cho mọi rủi ro liên quan tới quá trìnhxây - lắp công trình bao gồm 2 nhóm chính:

1.3.2.1 Nhóm rủi ro nội sinh (rủi ro có thể kiểm soát): bao gồm:

- Rủi ro sẵn có từ trước khi khởi công công trình như vấn đề về kỹ thuật, các sai sốthiết kế và tính toán, các phương pháp thi công không thích hợp, sử dụng vật liệu khôngthích hợp…

- Rủi ro về cháy, nổ, trộm cắp…

- Rủi ro về mặt trách nhiệm đối với công nhân hoặc bên ngoài: tai nạn lao động, rủi

ro phát sinh từ mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ công trình với kiến trúc sư, kỹ sư xâydựng…, trách nhiệm đối với bên thứ ba

- Rủi ro về sự thiếu hụt tài chính của những người tham gia

1.3.2.2 Nhóm rủi ro ngoại lai (rủi ro không thể kiểm soát)

- Các rủi ro tồn tại trước khi mở công trường: các số liệu về địa chất, các điều kiệnthủy văn hoặc đặc điểm của khu vực lân cận

- Các điều kiện thiên nhiên: thiên tai, khí hậu, sạt lở, lũ lụt…

Trang 9

- Các điều kiện về chính trị-xã hội: thay đổi chế độ luật pháp, thuế, …

Với hai nhóm rủi ro liên quan đến công trình xây dựng-lắp đặt trên, các nhà bảohiểm sẽ phân tích, đánh giá rủi ro để phân định thành rủi ro có thể được bảo hiểm và rủi rođược loại trừ khi thiết lập hợp đồng bảo hiểm

1.4.1 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng (CAR)

Mục đích của nghiệp vụ này là cung cấp sự bảo vệ về mặt tài chính cho:

 Các công trình xây dựng bao gồm tất cả các công trình dân dụng, công trình công

nghiệp, giao thông thủy lợi, năng lượng mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và sắtthép như:

- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, nhà hát, rạp chiếu phim, các côngtrình văn hoá khác,

- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phụ sản xuất

- Công trình giao thông: đường bộ, đường sắt, sân bay, cầu cống, đê đập, công trìnhthoát nước, kênh đào, cảng

 Trang thiết bị xây dựng phục vụ quá trình xây dựng như: Các công trình tạm thời

phục vụ quá trình thực hiện dự án như: lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng, giàngiáo, hệ thống băng tải, thiết bị cung cấp điện nước, rào chắn Các trang bị này được sửdụng nhiều lần cho nhiều công trình khác nhau nên chỉ một phần giá trị hao mòn của cáctrang bị đó được tính vào giá trị của công trình Khi yêu cầu bảo hiểm cho các thiết bị nàycần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

 Máy móc xây dựng: Bao gồm các máy móc có động cơ tự hành hoặc không tự hành

phục vụ công tác thi công (máy xúc, máy ủi, cần cẩu, xe chuyên dùng, ) thuộc quyền sởhữu của người được bảo hiểm hoặc do họ đi thuê Các loại máy móc này chỉ được bảohiểm trong thời gian sử dụng trên khu vực công trường Khi yêu cầu bảo hiểm cho cácmáy móc này cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

Trang 10

Các tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường thuộc

quyền sở hữu, quản lý, chăm sóc của người được bảo hiểm : Khi tiến hành bảo hiểm,người được bảo hiểm phải kê khai cụ thể giá trị trong phụ lục của đơn bảo hiểm (Điềukhoản bổ sung)

Chi phí dọn dẹp : Bộ phận này bao gồm các chi phí phát sinh phải di

chuyển, dọn dẹp các phế thải xây dựng, gạch đá, do sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểmgây ra trong khu vực công trường, nhằm mục đích làm sạch để có thể tiếp tục công việcthi công công trình Ví dụ khi xây dựng đường xá, mưa lũ làm sụt đường Các chi phí đểkhôi phục lại đoạn đường đó do nhà bảo hiểm gánh chịu nếu người được bảo hiểm yêucầu và đã được kê khai trong đơn bảo hiểm và thuộc phạm vi bảo hiểm

 Phần trách nhiệm đối với người thứ ba: Đây là phần II - một trong hai phần chủ

yếu của đơn bảo hiểm Nó bao gồm trách nhiệm pháp lý mà người được bảo hiểm phảigánh chịu do tổn thất thiệt hại về người và tài sản của bên thứ ba Với điều kiện các tổnthất này xảy ra trong khoảng thời gian bảo hiểm Tuy nhiên, các tổn thất gây ra cho côngnhân hay người làm thuê cho người được bảo hiểm không thuộc trách nhiệm bồi thườngcủa đơn bảo hiểm này Họ được bảo hiểm bằng đơn bảo hiểm tai nạn lao động và tráchnhiệm của chủ thầu đối với người làm thuê

Tùy theo từng hợp đồng bảo hiểm mà các hạng mục ngoài hạng mục xây dựngchính của công trình như máy móc thiết bị thi công, máy móc và nhà xưởng, chi phí dọndẹp… sẽ được bảo hiểm theo các điều khoản bổ sung

1.4.1.2 Phạm vi bảo hiểm

 Rủi ro được bảo hiểm: trong hoạt động bảo hiểm xây dựng rủi ro tác động đến đối

tượng bảo hiểm rất phức tạp Do vậy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của rủi ro màcác nhà Bảo hiểm thường xác định rủi ro bảo hiểm theo 2 nhóm:

- Rủi ro chính: là những rủi ro cơ bản phát sinh trong hoạt động xây dựng, có thể bao

gồm cả rủi ro nội sinh và rủi ro ngoại lai của công trình, bao gồm:

+ Rủi ro thiên tai: lũ lụt, mưa bão, đất đá sụt lở, sét đánh, động đất, núi lửa, sóngthần…

+ Rủi ro tai nạn: cháy nổ, đâm va, trộm cắp, sơ xuất của người làm thuê…

Trang 11

- Rủi ro riêng: tuỳ vào từng hạng mục, từng đơn bảo hiểm khác nhau, tuỳ từng công

trình, các rủi ro được bảo hiểm có thể được mở rộng, bổ sung thêm nếu chủ đầu tư hoặcchủ thầu yêu cầu với điều kiện họ phải đóng thêm phí, bao gồm: rủi ro chiến tranh, rủi rođình công, rủi ro do thiết kế chế tạo

 Rủi ro loại trừ: bao gồm những tổn thất xảy ra có thể quy cho các rủi ro sau:

- Do nội tỳ của nguyên vật liệu hoặc sử dụng sai chủng loại nguyên vật liệu: xi-măngkém chất lượng, sắt bị o-xi hóa…

- Chiến tranh hay những hành động tương tự như nội chiến, bạo loạn, đình công,hành động quân sự, tịch biên, tịch thu hay phá hỏng theo lệnh của Chính phủ

- Những hỏng hóc hay trục trặc về cơ khí, về điện của máy móc xây dựng phục vụthi công trên công trình

- Tiền phạt do chậm trễ vi phạm tiến độ thi công, tạm ngưng công việc…

- Do hậu quả của việc di chuyển, tháo dỡ máy móc và dụng cụ thi công dẫn đến tổnthất của máy móc và dụng cụ thi công

- Do mất mát tài liệu bản vẽ , bản thiết kế, chúng từ thanh toán…

- Do phản ứng hạt nhân, nhiễm phóng xạ

- Do hành động cố ý của người được bảo hiểm hay đại diện của họ

Một số rủi ro loại trừ này có thể được bảo hiểm bởi các điều khoản bổ sung tùytheo yêu cầu của người được bảo hiểm

1.4.1.3 Người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro trongxây dựng thường được cấp chung cho cả phầntổn thất vật chất và trách nhiệm đối với người thứ ba Thông thường, chủ công trình muabảo hiểm cho tất cả các bên liên quan đến công việc xây dựng theo những quyền lợi của

họ hoặc do những người có quyền lợi liên quan tới công trình mua bảo hiểm theo quyềnlợi của mình

Theo quyết định 33/2004/QĐ-BTC ngày 12.04.2004 Bộ tài chính quy định:

- Đối với bảo hiểm công trình xây dựng, bên mua bảo hiểm là chủ đầu tư, trườnghợp phí bảo hiểm được tính vào giá trúng thầu thì bên mua bảo hiểm là nhà thầu

- Đối với bảo hiểm vật tư thiết bị nhà xưởng phục vụ thi công thì bên mua bảo hiểm

là các doanh nghiệp xây dựng

- Người được bảo hiểm là tổ chức cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự được bảohiểm theo hợp đồng bảo hiểm

Trang 12

Người được bảo hiểm: Là các bên có liên quan đến công việc xây dựng và có

quyền lợi trong công trình xây dựng đã được nêu tên hay chỉ định trong bảng phụ lục bảo

hiểm, bao gồm: chủ đầu tư , nhà thầu chính ,nhà thầu phụ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, kỹ sư

tư vấn , ngoài ra, các tổ chức cho vay (các ngân hàng) là những người được hợp đồng nàybảo vệ một cách gián tiếp

1.4.1.4 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm

 Giá trị bảo hiểm của công trình xây dựng: là toàn bộ chi phí xây dựng tính tới khi

kết thúc thời gian xây dựng bao gồm: các khoản chi phí liên quan đến khảo sát, thiết kế,xây dựng, chi phí giải phóng mặt bằng…Các khoản chi phí này chỉ được xác định chínhxác vào thời điểm nghiệm thu chính thức công trình, trong khi đó vấn đề kỹ thuật ngay tạithời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm các nhà bảo hiểm phải xác định được giá trị bảo hiểm

để có cơ sở tính phí bảo hiểm Vì vậy, người được bảo hiểm thường lấy giá trị giao thầucủa công trình vào thời điểm bắt đầu thời hạn bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm.Đôi khi giá trị bảo hiểm cũng có thể được tăng thêm một khoản dự phòng để tránh việcbảo hiểm dưới giá trị

 Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng: là giá trị thay thế mới (New Replacement

Value), tức là giá trị một máy móc tương đương có thể mua tại thời điểm đó để thay thếmáy bị tổn thất (bao gồm cả chi phí vận chuyển, thuế, chi phí lắp ráp)

 Giá trị bảo hiểm đối với trang bị xây dựng: Do đặc điểm của trang bị xây dựng là

không cố định trên công trường, có những trang bị chỉ sử dụng một lần, sau đó chuyển đinơi khác Có thời điểm tập trung nhiều trang bị, có thời điểm lại tập trung ít Vì vậy việcxác định giá trị cho hạng mục này rất khó.Tuy nhiên có thể căn cứ vào các cách sau:

- Xác định giá trị theo từng giai đoạn của công việc

- Bảo hiểm toàn bộ giá trị của trang bị xây dựng cần dùng cho công trình

- Dự kiến giá trị của trang bị tại thời điểm tập trung cao nhất trong quá trình xâydựng (đây là cách tốt nhất để xác định giá trị bảo hiểm của trang bị xây dựng)

 Giá trị bảo hiểm của tài sản xung quanh và tài sản hiện có trên công trường: là giá

trị thực tế của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm

 Giá trị bảo hiểm đối với chi phí dọn dẹp: thường được xác định bằng một tỉ lệ nhất

định so với giá trị bảo hiểm của công trình xây dựng

 Số tiền bảo hiểm cho phần vật chất : được xác định theo giá trị bảo hiểm Trường

hợp phát sinh các yếu tố làm tăng thêm giá trị bảo hiểm như: biến động giá cả của nguyên

Trang 13

vật liệu, tiền lương …người được bảo hiểm phải khai báo kịp thời cho người bảo hiểm đểđiều chỉnh phí của hợp đồng, nếu không quy tắc tỷ lệ sẽ được áp dụng như trong trườnghợp bảo hiểm dưới giá trị.

 Số tiền bảo hiểm cho phần trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba: do sự thoả

thuận giữa các bên mà không có giá trị bảo hiểm để căn cứ Số tiền bảo hiểm trong bảohiểm trách nhiệm dân sự đối với Người thứ ba là giới hạn trách nhiệm bồi thường củaNgười bảo hiểm khi phát sinh trách nhiệm bồi thường Số tiền bảo hiểm cho hạng mụcnày thường được xác định bằng một tỷ lệ nhất định của giá trị bảo hiểm phần bảo hiểm vậtchất ở trên, nhưng tỷ lệ tối đa là 10%

1.4.1.5 Thời hạn bảo hiểm:

Thời hạn bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro trong cây dựng được chialàm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn thi công: Thời hạn bảo hiểm bắt đầu từ lúc khởi công việc xây dựng (san

nền, đào đắp ) Nhưng cũng có thể có hiệu lực cả thời gian lưu kho trước đó (nhưngkhông quá ba tháng) Riêng với các máy móc thiết bị xây dựng thì trách nhiệm của ngườiđược bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi tháo gỡ các máy móc thiết bị đó xuống khu vựccông trường và thời điểm kết thúc bảo hiểm là ngay khi công trình được hoàn thành, bàngiao và đi vào sử dụng nhưng không muộn hơn thời điểm ghi trong đơn bảo hiểm Trongtrường hợp công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng từng bộ phận thì trách nhiệm củangười được bảo hiểm đối với bộ phận đó sẽ kết thúc ngay sau khi nó được bàn giao đưavào sử dụng

- Giai đoạn bảo hành: nếu người được bảo hiểm yêu cầu thì thời hạn bảo hiểm có

thể được kéo dài trong thời gian bảo hành kể từ khi “tiếp nhận tạm thời” kết thúc khi “bàngiao chính thức” của công trình trong các điều khoản bổ sung

Hình 1.2 Sơ đồ biểu diễn thời gian bảo hiểm trong BHXD

Trang 14

1.4.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm mọi rủi ro trong lắp đặt (EAR)

Xây dựng và lắp đặt thường là hai công việc được tiến hành trong cùng một côngtrình, do đặc thù của lắp đặt khác với xây dựng ở chỗ lắp đặt là những cấu kiện đã đượcchế tạo sẵn lắp ghép với nhau, trong khi xây dựng thì công trường cũng là công xưởng Vìmột số lý do này mà đối với người bảo hiểm các rủi ro lắp đặt khác với các rủi ro trongxây dựng, từ đó hình thành các cách xử lý khác nhau Tuy nhiên trong những điều khoảnbảo hiểm thì sự khác biệt giữa hai loại bảo hiểm này không đáng kể

1.4.2.1 Đối tượng bảo hiểm

- Máy móc, các dây chuyền đồng bộ trong một nhà máy, xí nghiệp trong quá trìnhlắp ráp các máy móc, thiết bị đó

- Phần công việc xây dựng, phục vụ và/ hoặc cấu thành một bộ phận của quá trìnhxây lắp

- Các máy móc, trang thiết bị dụng cụ cho lắp ráp

- Tài sản sẵn có trên và trong phạm vi công trường thuộc quyền sở hữu, quản lý,trong nom, kiểm soát của người được bảo hiểm

- Chi phí dọn dẹp, vệ sinh

- Trách nhiệm đối với người thứ ba

1.4.2.2 Phạm vi bảo hiểm

 Rủi ro được bảo hiểm: Thông thường đơn bảo hiểm lắp đặt là đơn bảo hiểm mọi

rủi ro nên những tổn thất vật chất của bất kỳ hạng mục nào có tên trong hợp đồng bảohiểm hay bất kỳ bộ phận nào của hạng mục đó do các nguyên nhân sau đều được bảohiểm:

- Thiên tai, tai nạn bất ngờ: bão lụt, sạt lở, động đất, sóng thần, hỏa hoạn, trộm cắp

Trang 15

- Lỗi trong quá trình lắp đặt

- Bất cẩn, thiếu kỹ năng, thiếu kinh nghiệm, hành động ác ý của những người khôngthuộc bên bảo hiểm cũng như bên được bảo hiểm

- Các rủi ro về điện: đoản mạch, điện thế tăng đột ngột

Ngoài ra tuỳ vào từng hạng mục, từng đơn bảo hiểm khác nhau, tuỳ từng côngtrình, các rủi ro được bảo hiểm có thể được mở rộng, bổ sung thêm nếu chủ đầu tư hoặcchủ thầu yêu cầu với điều kiện họ phải đóng thêm phí

 Rủi ro bị loại trừ: Người bảo hiểm sẽ không bồi thường cho người được bảo hiểm

những thiệt hại hoặc những trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp gây ra bởi các rủi ro sau:

- Chiến tranh hay những hành động tương tự như nội chiến, bạo loạn, đình công, bạođộng quần chúng, hành động quân sự, tịch biên, tịch thu hay phá hỏng theo lệnh củaChính phủ

- Hành động cố ý hay sự cẩu thả cố ý của người được bảo hiểm hoặc đại diện của họ

- Phản ứng hạt nhân, phóng xạ hay ô nhiễm phóng xạ

- Các tổn thất có tính chất hậu quả của bất kì sự việc nào như: Tiền phạt do chậmtrễ, vi phạm hợp đồng, mất thu nhập do thời gian xây dựng kéo dài

- Những hỏng hóc về cơ khí, về điện hay trục trặc của máy móc, trang thiết bị xâylắp (nếu đơn bảo hiểm bao gồm cả máy móc xây dựng)

- Tổn thất do thiết kế sai, do nguyên vật liệu kém chất lượng hay sai chủng loại (rủi

ro này thuộc phạm vi của đơn bảo hiểm khác đó là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của

kỹ sư thiết kế )

- Hao mòn, rỉ, ôxi hoá, giảm giá trị do để lâu không sử dụng hay thiếu điều kiện bìnhthường về nhiệt độ, áp suất

- Tổn thất, mất mát hay thiệt hại về tài liệu, chứng từ thanh toán, tiền séc

- Các mất mát phát hiện khi kiểm kê

- Tổn thất về người và tài sản do việc di chuyển, tháo gỡ gây ra (không thể coi là tổnthất bất ngờ)

Một số rủi ro loại trừ này có thể được bảo hiểm bởi các điều khoản bổ sung tùytheo yêu cầu của người mua bảo hiểm

1.4.2.3 Người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm

Theo hợp đồng bảo hiêm mọi rủi ro trong lắp đặt (EAR) thì người mua bảo hiểm làchủ đầu tư hoặc chủ thầu nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan Trường hợp phíbảo hiểm được tính vào giá trúng thầu thì chủ thầu là người mua bảo hiểm

Trang 16

Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự được bảohiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người mua bảo hiểm cũng có thể là người được bảo hiểm

1.4.2.4 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm

- Giá trị bảo hiểm: là giá trị đầy đủ của mỗi hạng mục tại thời điểm hoàn thành việc

lắp đặt, bao gồm cả cước phí vận chuyển, thuế hải quan, chi phí lắp đặt, vận hành thử…

Việc xác định giá trị bảo hiểm của các hạng mục có liên quan trong bảo hiểm mọirủi ro trong lắp đặt tương tự như trong bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng

- Số tiền bảo hiểm: được xác định tương tự như bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng 1.4.2.5 Thời hạn bảo hiểm:

Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu từ lúc khởi công công trình hoặc

từ khi các hạng mục được bảo hiểm có tên trong hợp đồng bảo hiểm được dỡ xuống côngtrường cho dù thời hạn bắt đầu bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm có thể khác Thờihạn bảo hiểm sẽ kết thúc khi từng phần máy móc, thiết bị lắp đặt xong và vận hành thử đểđưa vào sử dụng và khi hoàn thành toàn bộ công việc lắp đặt, vận hành thử, công trìnhđược bàn giao và đưa vào sử dụng

Trong trường hợp một bộ phận của xưởng máy hay một số cỗ máy đã được chạythử hoặc vận hành hay bàn giao thì trách nhiệm của người bảo hiểm sẽ chấm dứt đối với

bộ phận đó nhưng vẫn tiếp tục bảo hiểm đối với các bộ phận còn lại

Trường hợp khi đã hết hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm mà công việc lắp đặtchưa tiến hành xong vì những lý do hợp lý thì người được bảo hiểm có thể xin gia hạn hợpđồng bảo hiểm bằng văn bản và phải đóng thêm phí bảo hiểm

Hình 1.3: Sơ đồ biểu diễn thời gian bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm lắp đặt

Trang 17

1.4.3 Cách tính phí trong BH XD-LĐ

 Phí bảo hiểm đối với phần vật chất:

Phí BH = phí tiêu chuẩn + các loại phụ phí + chi phí khác

Trong đó:

- Phí tiêu chuẩn: là phí bảo hiểm đối với các rủi ro tiêu chuẩn trong đơn bảo hiểm.

Hiện nay ở nước ta áp dụng theo đơn bảo hiểm xây dựng của MUNICH.RE

Phí tiêu chuẩn = phí cơ bản + phụ phí tiêu chuẩn

+ Phí cơ bản: là mức phí tối thiểu cho một công trình xây dựng được xác định bằng

tỷ lệ phần nghìn trên Giá trị bảo hiểm của công trình (khoảng 0,18‰ – 0,39‰), tuynhiên nếu công trình nào có mức độ rủi ro cao hơn thì phí cơ bản sẽ tính trên mức

độ rủi ro đó

+ Phụ phí tiêu chuẩn: là phần phụ phí tính cho rủi ro động đất, rủi ro bão và lũ lụt.

Đây là hai loại rủi ro thường mang lại tổn thất lớn cho công trình Phụ phí tiêu chuẩnthường được xác định theo tỷ lệ phần nghìn giá trị công trình theo năm, nếu thời hạn thicông công trình dưới 1 năm thì tính theo tháng

- Các loại phụ phí: như phụ phí cho rủi ro động đất, phụ phí cho rủi ro bão và lũ lụt,

phụ phí mở rộng tiêu chuẩn, phụ phí mở rộng ngoài tiêu chuẩn

Trang 18

- Chi phí khác: bao gồm chi phí quản lý, chi phí ký kết hợp đồng, chi phí hoa hồng

cho đại lý Các chi phí này được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với phí tiêu chuẩn củahợp đồng

 Phí bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba

Được tính bằng 5% phí bảo hiểm của phần thiệt hại vật chất với hạn mức tráchnhiệm không vượt quá 50% giá trị công trình được bảo hiểm ở phần thiệt hại vật chất vàkhông quá 3 triệu USD Tỷ lệ phí bảo hiểm này chỉ áp dụng đối với điều kiện bên muabảo hiểm tham gia bảo hiểm thiệt hại vật chất và trách nhiệm đối với người thứ ba trongcùng một hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp hạn mức trách nhiệm vượt quá giới hạn trên hoặc bên mua bảohiểm tham gia bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba bằng một hợp đồng bảo hiểmriêng biệt, phí bảo hiểm sẽ do doanh nhiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận

Trang 19

Kết luận chương 1

Hoạt động bảo hiểm nói chung và BH XD-LĐ nói riêng đã tồn tại trong nền kinh tế

xã hội từ lâu và nó như là một tất yếu khách quan, được coi là một phương thức hữu hiệunhất nhằm góp phần xử lý những rủi ro luôn tồn tại trong cuộc sống cũng như công cuộcxây dựng đất nước Bảo hiểm xây dựng – lắp đặt được coi là lá chắn hữu hiệu đảm bảo sự

an toàn về tài chính cho các chủ đầu tư trước những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra trong quátrình thi công công trình

Trong chương này ta đã khái quát một số nội dung chính của Bảo hiểm xây dựng –lắp đặt cũng như vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế Những cơ sở lý luận về Bảohiểm xây dựng – lắp đặt trên đây là tiền đề cho việc phân tích thực trạng triển khai nghiệp

vụ Bảo hiểm xây dựng – lắp đặt tại công ty bảo hiểm BIC sẽ được trình bày trongchương 2

Trang 20

Chương 2:

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

XÂY DỰNG - LẮP ĐẶT TẠI BIC

 Lịch sử hình thành BIC

Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC)

ra đời trên cơ sở chiến lược thành lập Tập đoàn tài chính mang thương hiệu BIDV thôngqua việc BIDV mua lại phần vốn góp của Tập đoàn Bảo hiểm Quốc tế QBE (Australia)trong Liên doanh Bảo hiểm Việt Úc và chính thức đi vào hoạt động với tên gọi BIC kể từngày 01/01/2006

Kế thừa kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm sau 6 năm của liên doanh và kinhnghiệm hoạt động trên thị trường tài chính hơn 50 năm qua của Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt nam, sau khi đi vào hoạt động, BIC tiếp tục thực hiện chiến lược cung cấp cácsản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ được thiết kế phù hợp trong tổng thể các sản phẩm dịch

vụ tài chính trọn gói của BIDV tới khách hàng

Theo thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, hiện nay BIC đang đứng thứ 6trên tổng số 29 công ty bảo hiểm phi nhân thọ về thị phần bảo hiểm gốc và là một trongnhững công ty bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thị trường trong 5 năm qua.BIC là công ty dẫn đầu thị trường về phát triển kênh Bancassurance và các kênh bảo hiểmtrực tuyến (E-business), đồng thời là công ty bảo hiểm đầu tiên có mạng lưới hoạt độngphủ kín tại thị trường Đông Dương (Hiện nay BIC có hai công ty con đang hoạt động tạiLào và Campuchia là Liên doanh Bảo hiểm Lào Việt (BIC góp vốn cùng Ngân hàngNgoại thương Lào - BCEL và Ngân hàng Liên doanh Lào Việt - LVB) và Công ty Bảohiểm Cambodia Việt Nam – CVI (BIC được giao quản lý và chịu trách nhiệm điều hànhtoàn bộ hoạt động kinh doanh của CVI).)

Trang 21

Từ ngày 01/10/2010, được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, BIC chính thức chuyểnđổi sang mô hình Tổng Công ty Cổ phần và tăng vốn điều lệ lên 660 tỷ đồng Hiện nay,BIC có hơn 500 cán bộ nhân viên, phục vụ khách hàng tại 21 Công ty thành viên, 75Phòng Kinh doanh và gần 1.000 đại lý bảo hiểm trên toàn quốc Định hướng phát triển củaBIC là sẽ trở thành 1 trong 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có thị phần, hiệuquả nhất và được ưa thích nhất Việt Nam, duy trì vị trí là 1 trong 2 trụ cột chính của hệthống BIDV.

Riêng tại TP.HCM khu vực có tiềm năng tăng trưởng về thị trường bảo hiểm caonhất nước, BIC có 2 công ty thành viên đang hoạt động là BIC Sài Gòn và BIC HCM.BIC Sài Gòn được thành lập đầu năm 2011, có trụ sở đặt tại lầu 8, số 472 Nguyễn ThịMinh Khai, Phường 2 – Quận 3- TP HCM và được xây dựng theo mô hình quản lý kinhdoanh theo thông lệ quốc tế Đặc biệt, BIC Sài Gòn sẽ tập trung mạnh vào xây dựng vàphát triển kênh khai thác qua môi giới và nhóm khách hàng có vốn đầu tư nước ngoài

 Lĩnh vực hoạt động

Kinh doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm phi nhân thọ trong

và ngoài nước, cụ thể như sau:

- Kinh doanh bảo hiểm gốc các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ

- Kinh doanh tái bảo hiểm: nhận tái và nhượng tái bảo hiểm phi nhân thọ

- Các hoạt động đầu tư tài chính

- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật: giám định hộ, điều tra, tính toánphân bổ tổn thất, đại lý giám định, xét giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba…

Trang 22

Dựa trên cơ sở là sự nỗ lực lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ công nhân viêncùng sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin Với mong muốn mang lại sự hài lòng chokhách hàng và đem lại cho mỗi thành viên của mình điều kiện phát triển tốt nhất về tàinăng và cuộc sống Những năm gần đây, BIC đã có những bước tiến đáng ghi nhận vàđược thể hiện trong một số chỉ tiêu sau đây:

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu cơ bản của BIC giai đoạn 2007-2009

Nguồn:Tổng công ty bảo hiểm BIC.

Nhìn chung, tất cả các chỉ số cơ bản của công ty bảo hiểm BIC tăng đều qua cácnăm đặc biệt là chỉ tiêu về tổng tài sản (sau 5 năm hoạt động, tổng tài sản của BIC tăng690%, tốc độ tăng trưởng bình quân là 68%/năm Đặt biệt năm 2007 và 2008 tốc độ tăngtrưởng trên 100% do BIC tăng quy mô vốn và tăng đẩy mạnh hoạt động ủy thác đầu tư) vàtổng quỹ dự phòng nghiệp vụ (tăng trưởng bình quân 59%/năm nhờ quy mô doanh thu phí

BH ngày càng tăng) điều này cho thấy năng lực tài chính của BIC ngày càng vững mạnh,củng cố niềm tin cho khách hàng và chính các cổ đông của công ty

 Cơ cấu tổ chức của BIC

Với tôn chỉ hoạt động “Tận tâm cho sự an tâm”, cùng với mong muốn mang lại

cho khách hàng của mình sự hài lòng nhất về chất lượng dịch vụ, BIC được tổ chức thành

3 cấp:

- Cấp Trụ sở chính bao gồm các khối nghiệp vụ, kế toán hành chính, đầu tư , trungtâm dịch vụ khách hàng… có vai trò định hướng, điều hành, quản lý, hỗ trợ kinh doanh,

Trang 23

nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh của cácđơn vị thành viên.

- Cấp Công ty thành viên thực hiện các hoạt động kinh doanh theo định hướng củaTổng Công ty, cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng; phát triển thị trường và xử lýsau bán hàng

- Cấp Phòng kinh doanh khu vực trực thuộc các Công ty thành viên thực hiện các hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khách hàng tại khu vực được giao phụ trách và chăm sóc khách hàng sau khi bán hàng theo phân cấp của Công ty

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BIC:

Trang 25

2.2 CÁC KÊNH KHAI THÁC

2.2.1 Khai thác trực tiếp :

Đây là kênh phân phối chính ,đóng vai trò quyết định trong việc tăng trưởng doanh

thu cũng như quản lý và phát triển các kênh phân phối khác Khai thác viên trực tiếp đếngặp khách hàng, tư vấn, và bán sản phẩm Hiểu rõ được tầm quan trọng của kênh khai thácnày, BIC đã tập trung phát triển các chi nhánh và phòng kinh doanh khu vực Hiện nayBIC đã có 21 công ty con và 75 phòng kinh doanh khu vực, theo kế họach trong tương laiBIC sẽ thành lập và đưa vào hoạt động các chi nhánh và phòng kinh doanh khu vực phủkín tất cả các Tỉnh-Thành phố trong cả nước Đội ngũ cán bộ nhân viên tại các chi nhánhhầu hết đều được đào tạo và có kinh nghiệm trong lĩnh vực Ngân Hàng, Bảo Hiểm đồngthời có quan hệ tốt với hệ thống ngân hàng BIC tại địa bàn

Nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật nói chung cũng như nghiệp vụ BH XD-LĐ nói riêng

là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm khó vì vậy đòi hỏi người bán bảo hiểm cần phải

có kỹ năng, kiến thức về nghiệp vụ vững chắc Chính vì vậy để đảm bảo uy tín cũng nhưchất lượng dịch vụ, công ty luôn ưu tiên và khuyến khích bán sản phẩm của loại hìnhnghiệp vụ này qua kênh khai thác trực tiếp

2.2.2 Khai thác qua đại lý, cộng tác viên:

Đại lý bảo hiểm là những người hoặc tổ chức trung gian giữa doanh nghiệp bảohiểm và người tham gia bảo hiểm, đại lý đại diện cho doanh nghiệp và hoạt động vìquyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm đại lý có thể là các tổ chức ngân hàng hay luật sư

Đối với công ty bảo hiểm BIC việc tuyển dụng, đào tạo và xây dựng đội ngũ đại lýchuyên nghiệp rất được quan tâm và có ý nghĩa quan trọng Vì vây BIC đã xây dựng kếhoạch phát triển đại lý với mục tiêu hướng đến chất lượng đại lý, xây dựng các đại lý giỏichuyên môn, vững nghiệp vụ đồng thời có những chính sách hỗ trợ đại lý trong quá trìnhkhai thác Tính đến nay công ty có trên 1000 đại lý (cá nhân và tổ chức) và cộng tác viênlàm việc khắp cả nước, doanh thu hằng năm đại lý mang lại cho công ty chiếm tỷ lệ rấtlớn trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của toàn công ty Đối với các công ty bảo hiểm nói

Ngày đăng: 22/11/2014, 09:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Quy trình khai thác tại BIC - Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ Bảo hiểm Xây dựng  Lắp đặt tại BIC
Hình 2.2 Quy trình khai thác tại BIC (Trang 28)
Hình 2.3 : Thị phần nghiệp vụ BH Tài sản kỹ thuật - 2010 - Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ Bảo hiểm Xây dựng  Lắp đặt tại BIC
Hình 2.3 Thị phần nghiệp vụ BH Tài sản kỹ thuật - 2010 (Trang 35)
Hình 2.4 : Doanh thu phí bảo hiểm nghiệp vụ TSKT (2007-2010) - Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ Bảo hiểm Xây dựng  Lắp đặt tại BIC
Hình 2.4 Doanh thu phí bảo hiểm nghiệp vụ TSKT (2007-2010) (Trang 36)
Hình 2.6 : Cơ cấu nghiệp vụ Tài sản kỹ thuật - Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ Bảo hiểm Xây dựng  Lắp đặt tại BIC
Hình 2.6 Cơ cấu nghiệp vụ Tài sản kỹ thuật (Trang 37)
Bảng 2.3  : Số tiền tổn thất và tỷ lệ tổn thất khối TSKT - Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghiệp vụ Bảo hiểm Xây dựng  Lắp đặt tại BIC
Bảng 2.3 : Số tiền tổn thất và tỷ lệ tổn thất khối TSKT (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w